Chuyển đến nội dung chính

 

1968: 6 Sĩ Quan Thân Tín Của PTT Nguyễn Cao Kỳ Tử Nạn Tại Chợ Lớn Vì Máy Bay Mỹ Bắn Lầm?

  • Đào Văn

06/11/2021

Dao Van

ĐT Văn Văn Của (Đô trưởng Sài Gòn 1968): Sáng hôm sau, Đ/tá Hoành trở lại gặp tôi ( tại nhà thương), đưa cho xem bản phúc trình của phi công nói vắn tắt rằng sở dĩ có tai nạn là vì trục trặc kỹ thuật. Tôi xin được giáp mặt phi công thì Đ/tá nói rằng phi vụ đó chỉ có một phi công và người đó đã về Mỹ ngay tối ngày 2/6.
Tổng thống Johnson: Chuyện gì đã xảy ra về chiếc trực thăng đó  –  Các ông có tin là Kỳ có thể nghĩ rằng  phía Mỹ cố tình làm điều đó hay không? (Do you believe Ky may think we did that deliberately?),
General Wheeler: Nam Việt Nam kêu gọi trực thăng hỗ trợ. Một tên lửa gặp trục trặc, bắn trúng khu vực bộ chỉ huy và gây tử thương một số người. Đây là một tai nạn. Thật là không may.  This was an accident. It was unfortunate.

Bộ trưởng Clifford: Tổng thống có thể bày tỏ sự quan tâm về vụ này. Một trong những người bị giết là em rể của Kỳ. Tổng thống có thể cử một số quan chức Chính phủ đến dự lễ tang. Kỳ có thể không nghĩ đó là một tai nạn – Ky may not think it was an accident.

* Cựu PTT Ng Cao Kỳ: Tôi cũng nghe những tin đồn cho rằng Thiệu là người chủ mưu, Ông ta mưu toan kết hợp với người Mỹ hy vọng giết được tôi. Vài năm sau, tôi nghe nói, một Đại tá Trần văn Hai nào đó đã có mặt trên chiếc trực thăng. Tôi chỉ biết sơ về Ông này.


Câu chuyện về biến cố tại trường tiểu học Phước Đức Chợ Lớn vào mùa hè năm 1968 đã làm tốn không biết bao nhiêu giấy mực về nguyên  nhân dẫn đến sự kiện đau thương này. Phía Mỹ thì cho rằng  sự việc đáng tiếc này xảy ra là do trục trặc kỹ thuật, tuy nhiên dư luận thì không đồng tình với ý kiến này, và rằng  tại sao ” Ky may not think it was an accident”. Tuy nhiên, để rộng đường dư luận, người viết sẽ trình bày các diễn biến chính trị  trước và sau ngày xảy ra vụ “This was an accident” tại trường Phước Đức Chợ Lón, năm 1968.  Phần  trình bày sau người viết tóm lược trích đoạn dựa vào tài liệu của thư viện Johnson giải mật phổ biến trên thư viện online của Bộ Ngoại Giao, và dựa vào tài liệu của CIA giải mật  tài liệu liên quan  đến mối bất hòa giữa TT Thiệu và PTT Kỳ  công bố  vào các năm 2016 – 2019. Nhưng trước hết mời bạn đọc lược qua phần trình bày về vụ trực thăng Mỹ bắn lầm hồi tháng 6.1968 trên trang mạng của Hội Ái Hữu Petrus Ký Úc Châu.

Dao Van 2

* Vụ  trực thăng Mỹ bắn lầm tại trường Phước Đức

” Vào đầu tháng 6-1968, đợt 2 của cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân của phe Cộng sản tại Sài Gòn đang diễn ra ác liệt.  Một lực lượng khá lớn của Việt Cộng đã chiếm đóng một khu phố quan trọng của vùng Chợ Lớn, bao gồm các con phố chánh là Đồng Khánh, Tổng Đốc Phương và Khổng Tử.  Ngày 2-6-1968, LĐ 5 BĐQ đã giải tỏa được phần lớn khu phố nhưng đơn vị Việt Cộng đang chiếm đóng Nhà hàng Soái Kình Lâm vẫn cố thủ. Các tiểu đoàn của LĐ 5 BĐQ không tiến lên được.  Vào lúc 6 giờ chiều, BCH của LĐ 5 BĐQ, đặt tại Trường Phước Đức trên đường Khổng Tử, ngay phía sau nhà hàng Soái Kình Lâm, bắt buộc phải kêu trực thăng võ trang của Mỹ đến oanh kích yểm trợ.  Một gunship Mỹ được phái đến, đã bắn lầm một rocket vào ngay Trường Phước Đức (thay vì bắn vào nhà hàng Soái Kình Lâm), gây tử thương cho 6 sĩ quan cao cấp của QLVNCH:

  • Trung Tá Đào Bá Phước, Chỉ Huy Trường LĐ 5 BĐQ
  • Trung Tá Nguyễn Văn Luận, Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành
  • Trung Tá Lê Ngọc Trụ, Trưởng Ty Cảnh Sát Quận 5, Sài Gòn
  • Trung Tá Phó Quốc Chụ, Giám Đốc Nha Thương Cảng Sài Gòn
  • Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Sinh, Phụ Tá Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành
  • Thiếu Tá Nguyễn Bảo Thùy, Chánh Sở An Ninh Quân Đội Đô Thành (em ruột của Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị)

và làm bị thương 2 sĩ quan cao cấp sau đây:

  • Đại Tá Văn Văn Của, Đô Trưởng Sài Gòn
  • Trung Tá Trần Văn Phấn, Phụ Tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia  

– Những Câu Hỏi Không Có Câu Trả Lời – Đây có phải là một vụ thanh toán chính trị?

Khi vụ việc xảy ra, lập tức có ngay một luồng dư luận cho rằng đây là một vụ thanh toán mang tính chính trị, nói rõ hơn là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thanh toán phe Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ.”  Tại sao lại có dư luận này? 

Trước hết là vì một sự thật không thể chối cãi được là tất cả những người chết đều là người thuộc phe của ông Kỳ.  Thứ hai là vị việc này xảy ra ngay vào đúng giai đoạn ông Thiệu bắt đầu ra mặt đối phó và tìm mọi cách tiêu diệt vây cánh của ông Kỳ.  Từ tháng 3-1968, sau vụ Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân của Việt Cộng, qua một nhân viên CIA (Central Intelligence Agency = Cơ Quan Trung Ương Tình Báo của Hoa Kỳ), ông đã gián tiếp báo cho người Mỹ biết là ông sẽ không để cho phe ông Kỳ tiếp tục đe dọa và phá hoại uy quyền tổng thống hiến định của ông nữa.  Ṓng nhứt quyết loại bỏ dần người của ông Kỳ và thay bằng người của ông.  Việc đầu tiên ông thực hiện là thay một loạt 14 tỉnh trưởng qua chương trình cải tổ hành chánh trong tháng 3-1968.  Ngày 7-5-1968, Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan, cánh tay mặt của ông Kỳ, người đang giữ  cùng một lúc cả 3 chức vụ trọng yếu về an ninh là Đặc Ủy Trưởng Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia và Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội, đã bị bắn trọng thương tại khu Tự Đức.  Trong cùng ngày 7-5-1968, Đại Tá Đàm Văn Quí, Phụ Tá Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, cánh tay mặt của Tướng Loan, cũng bị tử thương trong một cuộc lục soát trên đường Lục Tỉnh.  Kế tiếp, lấy lý do chính phủ đã bất lực để xảy ra vụ Việt Cộng tấn công vào thủ đô Sài Gòn lần thứ hai (thường được báo chí gọi là vụ Mậu Thân đợt 2) vào đầu tháng 5-1968, ông giải nhiệm Chính phủ Nguyễn Văn Lộc và đề cử ông Trần Văn Hương thành lập chính phủ mới vào ngày 25-5-1968. Trong vụ trực thăng Mỹ bắn lầm này, một lần nữa, có khá nhiều người chết hay bị thương thuộc lực lượng cảnh sát, tức là tay chân của Tướng Loan.  Ngoài ra, ngay sau vụ trực thăng Mỹ bắn lầm này, ông bổ nhiệm liên tiếp người của ông vào 2 chức vụ quan trọng sau đây: 1) Ngày 4-6-1968, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Minh, nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, được bổ nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô thay cho Đại Tá Nguyễn Văn Giám; và 2) Ngày 7-6-1968, Đại Tá Đỗ Kiến Nhiểu được bổ nhiệm Đô Trưởng thay cho Đại Tá Văn Văn Của, và Đại Tá Trần Văn Hai được cử thay Tướng Loan trong chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia.  Hai tháng sau, ngày 5-8-1968, Trung Tướng Đỗ Cao Trí được cử thay Trung Tướng Lê Nguyên Khanh làm Tư Lệnh Quân Đoàn III.

– Tại sao người của Ṓng Kỳ có mặt tại Trường Phước Đức vào ngày hôm đó?

Trong số các sĩ quan cao cấp của VNCH chết và bị thương trong vụ trực thăng Mỹ bắn lầm này, ngoài Đại Tá Giám, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, và Trung Tá Phước, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 5 BĐQ, sự hiện diện của các vị sĩ quan còn lại tại bộ chỉ huy của cuộc hành quân này của BĐQ thật rất khó giải thích.  Phần lớn các vị này đều thuộc ngành Cảnh Sát và hoàn toàn không có vai trò gì hết trong cuộc hành quân này, vậy họ đến đây để làm gì?  Chắc chắn đây không phải là một buổi họp mặt bạn bè để vui chơi, ăn nhậu với nhau vì đây là một địa điểm đang có giao tranh ác liệt giữa các tiểu đoàn của Liên Đoàn 5 BĐQ với các lực lượng đang cố thủ của VC.  Nhưng đây cũng dứt khoát không thể là một cuộc gặp gỡ nhau tình cờ, mà nhất định phải do có hẹn với nhau trước.  Vậy ai là người đã đứng ra tổ chức cuộc hẹn này, và hẹn gặp nhau có mục đích gì? 

Chúng ta hãy nghe lời kể lại của một sĩ quan BĐQ, cựu Thiếu Tá Hà Kỳ Danh, Trưởng Ban 3 (hành quân) của Liên Đoàn 5 BĐQ, có mặt tại Trường Phước Đức hôm đó và may mắn sống sót.  Lời tường thuật của Thiếu Tá Danh được ghi lại trong một cuộc phỏng vấn dành cho Tập San BĐQ như sau:

“Nhưng có điều nầy tôi nghĩ cũng nên nói cho các anh nghe, khi BCH/HQ/LĐ5 vừa đến trường Phước Đức thì có một phái đoàn ký giả và phóng viên chiến trường quốc tế đủ mọi thứ Anh, Mỹ, Pháp v.v.. kéo đến.  Có lẽ họ biết BCH/LĐ5 đến trường Phước Đức vì Tr/tá Phước gọi về BKTĐ xin pháo binh bắn vào Soái kình Lâm nhưng vì đã có lệnh từ trước là không dùng phi pháo vì sợ thiệt hại cho dân chúng.  Có lẽ đám ký giả này đang ở BTL/BKTĐ nên họ biết và kéo đến đây lấy tin, họ nói chuyện với Tr/Tá Phước một lúc rồi kéo nhau đi.  Khi đám ký giả đi rồi thì các ông Lê ngọc Trụ Trưởng ty Cảnh Sát quận 5 đến và sau đó là Th/Tá Phó quốc Chụ giám đốc thương cảng Sài Gòn, Đại tá Phấn, ông Luận thuộc Tổng nha cảnh Sát và Nha cảnh Sát Đô Thành, Th/tá Xinh CSQG, Th/tá Nguyễn bảo Thùy Phân Khu Đô Thành, Th/tá Tô, Biệt đội trưởng CSDC và có cả Đại tá Văn văn Của Đô trưởng Sài Gòn. Sau đó tôi được biết Đại tá Giám, Tư lệnh BKTĐ sẽ đến BCH/LĐ5 để thị sát tình hình và cho chỉ thị.  Khi Đại tá Giám đến thì tất cả các vị nói trên đều có đủ mặt.” 

Qua lời kể bên trên của Thiếu Tá Danh, chúng ta được biết hai chi tiết quan trọng sau đây:

  • Các vị sĩ quan bị thương vong trong vụ này rõ ràng là có hẹn nhau từ trước, rõ nhất là trường hợp của Đại Tá Giám, Tư Lệnh BKTĐ, vì ngay từ lúc ông chưa đến thì Thiếu Tá Danh đã biết là ông sẽ đến; nhưng ai nói cho ông Danh biết thì ông Danh không có nói ra.
  • Trước khi các vị sĩ quan này đến hiện trường thì có một phái đoàn ký giả và phóng viên chiến trường quốc tế đến rồi sau đó bỏ đi trước khi các vị sĩ quan này đến.  Tại sao họ bỏ đi ?  Chắc chắn là do yêu cầu của Trung Tá Phước.  Tại sao Trung Tá Phước yêu cầu họ rời đi?  Có thể vì Trung Tá Phước không muốn cho họ gặp các vị sĩ quan đó chăng ?

Trong lời tường thuật của Thiếu Tá Danh trong cuộc phỏng vấn nói trên còn có thêm một số chi tiết khá đặc biệt, rất đáng quan tâm về Đại Tá Nguyễn Văn Giám, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô như sau:

  • “…Sau khi Đại tá Giám đến nơi và biết rõ tình hình thì đích thân ông gọi máy lên QĐIII xin cho gunship yểm trợ .”
  • “…sau khi chuẩn bị xong xuôi hết rồi thì cũng là lúc đại tá Giám nói với tôi: ” Anh Danh à, anh vẽ cho tôi cái sơ đồ khu vực hành quân của các anh lên bản đồ của tôi để tôi đem về theo dõi.” Tôi đang ngồi tại hành lang trường học cùng các ông ấy, khi nghe vậy, tôi đứng lên và cầm bản đồ của ông bước vào trong để vẽ thì cũng là lúc gunship chuẩn bị bắn.  Trong lúc tôi đang lui cui vẽ khoảng 2 phút sau thì đại tá Giám bước vào đến bên cạnh tôi và hỏi: ”Anh Danh vẽ xong chưa, đưa cho tôi để tôi còn về BTL/BKTĐ.”  Tôi trả lời: ” Khoan chút đã đại tá, để vẽ thêm mấy chi tiết nữa và ghi chú đàng hoàng rồi đại tá hãy lấy.”  Bỗng nhiên ngay lúc đó nghe một tiếng nổ rầm thật lớn và tiếp theo là tiếng súng đại liên.”
  • “…Ngoài ra tôi cũng còn nhớ là lúc tôi chạy ra khỏi phòng thì đại tá Giám cũng đã vọt ra trước và lên xe chạy về BKTĐ rồi.”


Như vậy, Đại Tá Giám chính là người đã gọi về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III để xin trực thăng đến oanh kích yểm trợ.  Ông đã rời bậc thềm Trường Phước Đức và vào bên phòng trong để xem Thiếu Tá Danh vẽ bản đồ nên không bị thương vong.  Và một điều bất ngờ, tương đối kỳ lạ và khó giải thích là ngay sau đó ông vội vàng lên xe bỏ chạy về BKTĐ ngay, bỏ mặc các chiến hữu của ông đang bị thương vong tại hiện trường.  Có lẽ vì thế về sau đã có những dư luận nghi ngờ không tốt dành cho ông. 

Nguyên nhân của tin đồn về “ông Thiệu thanh toán phe ông Kỳ,” như trên đã nói, là do sự kiện các sĩ quan bị thương vong này đều là người của ông Kỳ.  Từ đó có thêm nhiều chuyện thêu dệt để tăng thêm sự khả tín của tin đồn: nào là Đại Tá Trần Văn Hai, lúc đó là Tư Lệnh BĐQ và sau đó được cử làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia thay cho Tướng Loan, có mặt trên chiếc trực thăng đã bắn lầm đó; nào là Tướng Khang, Tướng Viên, và cả Tướng Kỳ củng đang trên đường đến Trường Phước Đức khi biến cố xảy ra”.{a}

– Thông cáo của phái bộ Hoa Kỳ tại Sài Gòn.

Theo báo Chính Luận xuất bản ngày 5.6.1978 – ” Hôm nay mồng 4 tháng 6, phái bộ HK lại Saigon thông cáo rằng: Sau khi điều tra thêm về tai nạn xảy ra hôm Chủ Nhật  2-6 tại Chợ Lớn làm cho một số sĩ quan cảnh và quản lực Việt Nam Cộng Hòa bị tử thương và bị thương, giới quân sự HK xác nhận lời tuyên bố về tai nạn này của phái bộ HK  hôm thứ Hai 3-6 vừa qua nói rằng hỏa tiễn bị trục trặc máy móc do 1 trực thăng của HK bắn đi rơi nhầm vào chỗ sĩ quan cảnh sát và quân lự VNCH nói trên. Cuộc điều tra nói trên căn cứ vào lời khai của phi hành đoàn và những nhân viên ở dưới đất, cùng việc giảo nghiệm những mảnh đạn thu lượm được nơi xảy ra tai nạn . 

” Nhân danh đại sứ HK E. Bunker và Thống Tướng Westmoreland đương bận công vụ vắng mặt, và nhân danh toàn thể phái đoàn HK tại VN, Đại sứ   Samuel Burger và Đại Tướng Abrams trân trọng tỏ bày sự hối tiếc của chính Phủ HK với TT VNCH Nguyễn Văn Thiệu và PTT Nguyễn Cao Kỳ  về tai nạn đã xảy làm cho VNCH phải mất một số sĩ quan và viên chức cao cấp ưu tú.” {b} –{a,b}[1] (kèm bản chụp Thông cáo trên báo Chính Luận)



Sau đây là diễn tiến vụ ‘bắn lầm’ theo lời kể  của cựu Đô Trưởng Sài Gòn Văn Văn Của (1968) và của  Cựu PTT Nguyễn Cao Kỳ  được phổ biến trên trang mạng của Hội Quán Phi Dũng.

* Tường thuật  của Đại Tá bác sĩ Văn Văn Của, Đô trưởng Sài Gòn (1968) – “Trích từ tập sách Mộng không thành của BS Văn văn Của – lúc đó, là Đô Trưởng Sài Gòn và là một nạn nhân’ trực tiếp trong vụ bắn lầm…”  –  “. Cuộc họp diễn ra tại tam cấp của trường Phước đức. Ngồi trên bậc cao nhất (và được tường của phòng học trên lầu che một phần cơ thể) là Đại tá Giám và Đại tá Phấn, tham mưu trưởng hành quân của Tổng nha Cảnh Sát và đại diện cho Tướng Loan; 2 vị Đại Tá này chủ toạ buổi họp. Từ bậc dưới kế đó đến bậc thấp nhất chia ra 2 bên là các Trung Tá Đào bá Phước, Lê ngọc Trụ, Phó quốc Chụ và Nguyễn văn Luận, các Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Sinh, Nguyễn Bảo Thùy. Tôi (ĐT Của) ngồi ở bậc thấp nhất. Một bản đồ thành phố Sài Gòn được trải ở giữa..

Buổi họp sắp chấm dứt, các nhiệm vụ chính yếu và nhu cầu cho ngày hôm sau đã được quyết định, chỉ còn phân chia ranh giới khu vực bố trí quân ban đêm là việc giữa BĐQ, CS Đô thành và CS Quận 5, thì hạ sĩ quan truyền tin BĐQ đến đưa máy liên lạc Không quân, nói chuyện với trực thăng đến yểm trợ cho Tr Tá Phước. Thì ra trực thăng Mỹ ở Tân Sơn Nhất đến giúp…

Tôi nghe rõ ràng Tr/Tá Phước cho tọa độ khu Ngọc Lan Đình, nói rõ cao ốc hình hộp 4 tầng duy nhất trong khu, trục bắn từ Đông sang Tây theo đại lộ Đồng Khánh…

Cũng trong lúc ấy có tiếng trực thăng đến gần, tôi nhìn lên thấy một trực thăng từ hướng Đông bay đến, đúng theo trục Đồng Khánh, lúc ấy cách chỗ họp còn chứng 30 giây bay, nghĩa là sắp đến lúc bắn yểm trợ..

.. Lúc bấy giờ, nhiệm vụ của cấp Đại Tá coi như đã xong. Trên bực cao nhất, ĐT Giám đứng lên bước vào sâu trong hàng hiên nơi đặt máy truyền tin liên lạc riêng của hệ thống BKTĐ. ĐT Phấn, lúc trước chồm người vào chỗ bản đồ, bây giờ ngồi thẳng người lên, thân mình được che khuất bởi tấm vách của phòng học, chỉ còn chân thò ra ngoài. Phần tôi, thấy cần phải đi ra ngoài kiểm soát lại đám cháy ban trưa..

Sau khi ra lệnh cho sĩ quan cứu hỏa ở chỗ xe jeep đỏ chỉ huy đậu sát lề đường ngay trước cổng trường, tôi quay trở vào chỗ họp. Vụa qua khỏi cổng còn bốn, năm bước nữa mới đến tam cấp tôi bỗng cảm thấy một sức ép không khí nặng nề đè lên người xô tôi ngã ngửa..

ĐT Của viết tiếp về vụ ‘điều tra’ tai nạn như sau :

Chiếc trực thăng Mỹ thay vì bắn vào mục tiêu theo trục Đồng Khánh (từ Đông sang Tây) thì đổi hướng Bắc-Nam qua đầu chỗ đang họp tham mưu mà không thông báo cho dưới đất biết, vì thế bắn 2 quả roc kết thì quả đầu vào Ngọc lan đình, quả sau vào tường phòng họp bên trên tam cấp nổ chụp lên đầu nhóm đang họp. Tất cả sĩ quan tham dự buổi họp đều tử nạn chỉ trừ ĐT Giám lúc ấy đang đứng khuất trong hiên, ĐT Phấn nhờ ngồi thẳng người lên nên chỉ nát 1 gối phải cưa chân, và tôi bị thương ở đầu, mặt, ngực toàn phần mềm không trúng tạng phủ và nặng nhất là gãy khuỷu trái. Trung sĩ y tá Trần trúc Trâm đi hộ vệ Đô trưởng cũng bị một mảnh
 đạn vào tim.

Sáng ngày 3/6 tôi được ĐT Hoành trưởng đoàn thanh tra của Bộ TTM QLVNCH đến Bệnh viện Grall điều tra về tai nạn bắn lầm. Tôi kể lại sự việc từ lúc Trung tá Đào bá Phước điện đàm với trực thăng đến lúc tôi bị thương và yêu cầu làm sáng tỏ các vấn đề sau đây:

Là một trực thăng của Quân đội Mỹ và phi công là người Mỹ, gây tử thương cho một số sĩ quan VN mà phái đoàn chỉ có Việt Nam ?

Tại sao không bắn theo hướng và trục yêu cầu?

Tại sao đổi hướng bắn mà không thông báo cho dưới đất biết để lấy những biện pháp an toàn cần thiết?

Dưới đất đã ấn định rõ mục tiêu duy nhất, trường Phước Đức không có trong mục tiêu yêu cầu, mà nơi đó lại dễ nhận định là bạn vì có nhiều xe jeep (hơn chục chiếc) : đủ mầu, mầu quân đội
mầu trắng và xanh của cảnh sát, mầu đỏ của Cứu hỏa, trên không có thể thấy rõ, không thể lầm lẫn với mục tiêu yêu cầu, mà tại sao lại quyết định bắn qua đầu? Không có một góc độ nào khác để bắn vào mục tiêu mà không qua đầu trường Phước Đức?

Có một yêu cầu nào khác từ dưới đất thêm trường Phước Đức là mục tiêu thứ 2?

Tôi yêu cầu nhất định được giáp mặt với các phi công của trực thăng để đối chất trước sự hiện diện của một Ban điều tra hỗn hợp Việt-Mỹ.

Sáng hôm sau, Đ/tá Hoành trở lại gặp tôi, đưa cho xem bản phúc trình của phi công nói vắn tắt rằng sở dĩ có tai nạn là vì trục trặc kỹ thuật: quả đạn rocket thứ hai phát hỏa chậm. Chấm hết. Còn tất cả các câu hỏi khác đều không được trả lời.

Tôi xin được giáp mặt phi công thì Đ/tá nói rằng phi vụ đó chỉ có một phi công và người đó đã về Mỹ ngay tối ngày 2/6 (sao về gấp thế ? nếu chỉ là lỗi kỹ thuật ?) Tôi nhấn mạnh tại sao đổi hướng bắn mà không cho dưới đất biết thì Đ/tá VN trả lời thay cho Mỹ rằng… thủ tục đó…không có trong Quân đội Mỹ!…” 
{a}

* Cựu PTT Nguyễn Cao Kỳ kể lại nội vụ…

“Tướng Nguyễn Cao Kỳ (Trong thời gian xẩy ra vụ bắn lầm, giữ nhiệm vụ Phó Tổng Thống) ghi lại sự kiện này trong tập sách Buddha’s Child, trang 269-270. Câu chuyện của Ông Kỳ có nhiều điều huyền bí và Ông quy trách nhiệm về vụ này cho ĐT Trần văn Hai (?) :

‘ .. Khoảng 3 tháng sau cuộc tấn công của địch quân, một sỉ quan trong Bộ Chỉ Huy của Biệt Khu Thủ Đô mời tôi và một số sĩ quan trung cấp đến thăm một trường học của người Hoa tại Chợ lớn để xem một cuộc triển lãm các vũ khí và đạn dược tịch thu được. Tôi cho Ông ta biết là đến đón chúng tôi tại Dinh vào sáng hôm sau, khoảng 8 giờ sáng. Đến dự các buổi lễ này là để chứng tỏ tinh thần huynh đệ chi binh và cổ vỏ cho tinh thần binh sĩ..

Đêm hôm đó, tôi mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ. Tôi đang bay và máy bay của tôi bất ngờ nhào xuống bị hút vào một giếng lớn. Tôi cảm thấy không chống lại được, không thể thoát được khỏi giếng sâu, mày bay sẽ bị rơi và tôi sẽ chết. Vào đúng lúc đó, Đại tá Cương, Chỉ huy trưởng Căn cứ Tân Sơn Nhất, đã nói với tôi, từ ghế sau của chiếc máy bay mà tôi đang bay.

Ngay trong giấc mơ, Tôi đã rất ngạc nhiên, vì cách đó vài tháng, có lẽ ngay trong tuần đầu của cuộc Tấn công Tết, Cương đã chết vì trúng một quả đạn B40 của VC.

Vào lúc đang trong giấc mơ, khi tôi tự nói với tôi là tôi sắp chết, Cương nói ”Không sao, Thiếu tướng, tôi sẽ đưa Ông lên’ và sau đó phi cơ của tôi bay lên được khỏi cái giếng. Và khi chúng tôi đang bay trên không, Cương chỉ tay về một nơi ở dưới đất đang có giao tranh. Anh ta nói: ‘Ông nhìn đi, ông có thấy nơi có đám khói vàng kia không? Hãy cẩn thận, đó là nơi mà họ sẽ oanh kích.’

‘ Khói vàng là đánh dấu quân bạn mà’, tôi đáp ‘tại sao lại oanh kích quân bạn?’

‘ Ông nói đúng,’ Anh trả lời. ‘Nhưng nhớ kỹ lời tôi.’

Và sau đó Anh cho tôi xem một bức hình có 7 người gục chết trên mặt đất.

Tôi thức giấc trước khi trời sáng, người toát mồ hôi và mệt nhoài, tôi có cảm giác là đang có một vấn đề khó hiểu, một cảnh tượng..bị cấm hay tôi đã quên một việc tối quan trọng.

Khoảng 7 giờ 30 sáng, một sĩ quan đến để đưa tôi đi Chợ Lớn với cùng nhóm. Tôi nói:’ Hôm nay Tôi bị đau, cứ đi tôi không đến được’, và trở về giường, ngủ tiếp thêm vài tiếng. Đến 10 giờ sáng, tin từ Chợ lớn báo về: Những người thân cận ủng hộ tôi, đến trường học của người Hoa đã bị trúng đạn rocket phóng đi từ một trực thăng Mỹ. 6 người chết và 2 bị thương nặng. Khi tôi xem một bức hình báo chí chụp cảnh sân trường, vài phút sau sự việc, thì đó chính là bức hình tôi đã thấy trong giấc mơ- chỉ khác là trong giấc mơ có 7 xác người tử nạn, và nơi sân trường chỉ có 6. Tôi không hiểu thế nào hay tại sao, nhưng tôi chắc chắn là Cương đã cứu mạng tôi.

Tôi không bao giờ biết được là ai đã điều hành chiếc trực thăng võ trang Mỹ buổi sáng hôm đó hay tại sao trực thăng Mỹ lại tấn công quân bạn tại sân trường giữa một thành phố đã bình định. Tôi cũng nghe những tin đồn cho rằng Thiệu là người chủ mưu, Ông ta mưu toan kết hợp với người Mỹ hy vọng giết được tôi. Vài năm sau, tôi nghe nói, một Đại tá Trần văn Hai nào đó đã có mặt trên chiếc trực thăng. Tôi chỉ biết sơ về Ông này. Thiệu sau đó cho Ông ta làm Tư lệnh Cảnh Sát quốc Gia, thay cho Tướng Loan, cần nhiều tháng mới lành được thương tích…”
{b} – {a,b} [2]

Như đã viết, để rộng đường dư luận trước khi bàn về các báo cáo và phúc trình từ phía Mỹ liên quan đến tình hình chính trị thuộc cấp cao nhất của VNCH (trong năm 1968), người viết sẽ tóm lược trích đoạn về việc Mỹ chuẩn bị đối phó trước tin tức  tình báo của Mỹ  ghi nhận về việc VC sẽ  tổng tấn công Tết Mậu Thân (đợt 1); Dựa vào tài liệu  do cơ quan CIA giải mật công bố 2016 và 2019 để bạn đọc tiện bề so sánh với tuyên bố  của Tướng Westmoreland trên Little Sài Gòn Radio tháng 9.1965 rằng:” Chúng tôi đã biết trước cuộc tổng công kích sẽ xảy ra.  Và tôi sẽ thú tội với mọi người khi nghĩ lại, là tôi đáng lý ra đã phải loan báo những tin tức này đến mọi người. Và tôi biết rất rõ  ràng những chi tiết. Tôi biết biết rõ ràng khi nào họ sẽ tấn công, và tôi cũng có đầy đủ những chi tiết để tiên đoán hậu quả của cuộc tấn công này.” <Việt Báo ngày 03.9.2021>

Ghi chú: Các tuyên bố của Tổng thống Johnson, General Wheeler, Bộ trưởng Clifford phần tiểu mục trên trích từ  bản văn cuộc họp vào ngày 04.6.1968  gồm có sự hiện diện của: The President, Secretary Rusk, Secretary Clifford, General Wheeler,CIA Director Helms, Walt Rostow, Justice Fortas, General Taylor, George Christian, Tom Johnson.   Nội dung bản văn  sẽ trình bày tại bài viết sau cùng với  báo cáo của CIA về việc  phía Mỹ chuẩn bị đối phó  về việc VC mở cuộc   tổng tấn công Tết Mậu Thân (đợt 1):” … ALL Seventh Air Force bases were put on a maximum state of alert, and the 7th AF Director of Intelligence testifies that this step“saved Tan Son Nhat”.  (Ngày 1 Tết Mậu Thân là ngày 30.1.1968).

Còn tiếp

Đào Văn

NGUỒN:

[1]- Hội A.H. Petrus Ký Australia: Vụ Trực Thăng Mỹ Bắn Lầm Tại Trường Phước Đức, Chợ Lớn Chiều Ngày 2-6-1968

[2]- Hội Quán Phi Dũng: Vụ ‘bắn lầm’ trong Trận Mậu thân (đợt 2) 

Nguồn: https://vietbao.com/a310125/1968-6-sq-than-tin-cua-ptt-ng-cao-ky-tu-nan-tai-cho-lon-vi-may-bay-my-ban-lam-

Phi vụ “quần tắm” và lời thầy bói – Phamanh

Phamanh-canhthep.com

Sáng nay vào Cánh Thép coi có gì lạ. Thấy cái tựa “Bản án tản thất quân dụng” tưởng được đọc một bài về kinh nghiệm vui vui nào của các bạn Không quân. Nào ngờ đó là bài có mùi Vịt con và đã bị “deleted”. Nhớ lại bài “Phi vụ áo thung” nên liều mạng viết về “Phi vụ quần tắm và lời thầy bói” này. Xin báo trước cùng quý vị: Tôi chưa hề viết văn bao giờ. Phi vụ này không thể so sánh với cái hào hùng đầy cao quý “Không Bỏ Anh Em, Không Bỏ Bạn Bè”. Viết lên đây để quý vị đọc chơi thôi.

Index of /Images6/MY/MY86-6

Hồi đó (thời Không Quân cực thịnh xăng nhớt dư thừa, huấn luyện thả cửa) các phi đoàn vận tải ở TSN thường có những phi vụ huấn luyện “SAMA” (mưu sinh thoát hiểm trên biển!). Các phi hành đoàn được phép mang theo “gia đình” để tắm biển. Khi thì Nha Trang, Vũng Tàu lúc Côn Sơn. Chắc các bạn thừa biết huấn luyện một thì du hí mười. Nói là “gia đình” nhưng thật ra đa số mang theo “đào”. Hôm đó chúng tôi đi Nha Trang. Khi ra bãi biển, tôi bỏ hết quần áo, ví, nhẫn(ra trường Keesler) vào túi xách để trên bờ rồi cùng đào xuống tắm. Khi lên bờ thì…túi xách biến mất chỉ còn đôi giầy!. Hỏi, không ai thấy tên gian phi nào cả. Thế là tôi như “Táo quân”, hên có người cho mượn cái áo thung. Đi flying boot mặc quần tắm bay về TSN.

Vì mất thẻ Quân nhân, trên nguyên tắc là bị 7 ngày trọng cấm. Nhớ lại lúc còn ở quân trường. Ngô Vĩnh Trung coi bói bảo tôi năm 32 tuổi sẽ bị ở tù! Phen này chắc ở tù thật. Nghĩ lại thì mình còn lâu mới tới 32 tuổi. Chắc là hắn nói sai. Chẳng biết anh Thượng sĩ ở phòng nhân viên có cảm tình gì hay vì tốt bụng. Khi tôi nói bị mất thẻ căn cước quân nhân, anh bảo tôi:”Tôi sẽ làm căn cước gỉa cho ông khỏi bị tù”. Tôi hỏi anh: Sao lại căn cước giả? Lỡ bị bắt thì sao? Anh cười nói: “Giả nhưng là thật”. Thấy tôi không hiểu anh nói tiếp: “Giấy căn cước phòng nhân viên cấp là giấy thật. Tôi chỉ không bá cáo ông bị mất giấy thôi.” Thế là tôi thoát nạn. Đến khi Ngô Vĩnh Trung bị rớt chết ở gần Nha Trang. Tôi chợt nhớ đến lời hắn bảo trong khi coi bói cho tôi:”Tao sẽ chết trẻ. Mày biết tại sao không? Tại vì giọng nói của tao the thé như gà mái.” Từ đó Trung có cái tên “Trung gà mái”. Thấy lời Trung nói chết trẻ đúng. Tôi tự nghĩ: Thế là cái ở tù của tôi sẽ đúng!

Gunship Wanted: Fairchild AC-119K Stinger For An Aviation Museum Display

Bẵng đi một thời gian. Tình hình chiến sự sôi động nên dù ở vận tải (lúc này tôi bay Hắc Long) cũng bay liên miên. Một hôm đi lãnh lương, thấy tiền lương nhiều hơn mọi tháng. Tôi hỏi ông chuẩn uý phát lương (cùng là ông thượng sĩ làm giấy căn cước giả cho tôi. Bây giờ đã lên chuẩn úy) Ông bảo tôi: “À đó là tiền ông ở tù! 14 ngày trọng cấm!” Lần đần tiên trong đời tôi được nghe chuyện ở tù mà được lãnh thêm tiền! Thấy tôi ngơ ngác, ông bèn giải thích: “Khi sĩ quan ở tù Quân đội cấp cho tiền ăn. Ông bị Bộ Tổng Tham Mưu phạt 14 ngày trọng cấm vì tội mất giấy căn cước! Rồi ông cười nhắc lại chuyện làm giấy gỉa mấy năm trước. Ông bảo là mấy tháng trước Không Quân đề nghị cho tôi lên thiếu tá nên hồ sơ phải gởi sang Bộ Tổng Tham Mưu. Họ tìm ra vụ mất giấy nên phạt gấp đôi! Tôi hỏi ngây thơ: “Vậy chừng nào tôi đi tù?” Ông trả lời: “Ơ.. ông ở tù rồi! tháng trước!” Nghĩ lại tháng trước mình có ở tú ngày nào đâu. Đi bay mút mùa mà. Ờ nhưng mà tháng trước mình đúng 32 tuổi!

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1200339133&first=1620&last=1679

Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh TQLC Lôi Hỏa sang Lào – MX Đoàn Trọng Cảo

MX Đoàn Trọng Cảo

https://i1.wp.com/tqlcvn.org/images/td1pB%20TRANS.gif

Tháng 2/1971, toàn bộ Lữ đoàn 369 trở về Saigon để trang bị thêm các quân dụng cần thiết cho một trận chiến mới, đó là mặt trận Lam Sơn 719 Hạ Lào. Chỉ nghỉ ở Hậu Cứ 1 ngày, toàn bộ Lữ đoàn 369 được không vận ra phi trường Khe Sanh. Mặt trận Lam Sơn 719 đã bắt đầu trước khi Lữ đoàn 369 ra.

Tham dự mặt trận này gồm có: Sư đoàn 1 Bộ binh, Sư đoàn Nhảy Dù, các Liên đoàn Biệt Động Quân và 1 Lữ đoàn Kÿ binh, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến đã có 2 Lữ đoàn tham chiến, đó là Lữ đoàn 147 do Đại tá Hoàng Tích Thông làm Lữ đoàn trưởng, gồm có các Tiểu đoàn 2, 4, 7 + Tiểu đoàn 2 Pháo binh – Lữ đoàn 258 do Đại tá Nguyễn Thành Trí làm Lữ đoàn trưởng, gồm có các Tiểu đoàn 1, 3, 6 + Tiểu đoàn 3 Pháo binh.

https://live.staticflickr.com/65535/51671366513_28c15d3b1d_z.jpg

Lữ đoàn 369 do Đại tá Phạm Văn Chung là Lữ đoàn trưởng, gồm các Tiểu đoàn 5, 8, 9 và Tiểu đoàn 1 Pháo binh làm trừ bị cho Quân Đoàn và bảo vệ Bộ Tư lệnh Hành quân gồm các Bộ Tư lệnh hành quân của các Sư đoàn 1, Sư đoàn Nhảy Dù, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư đoàn Biệt Động Quân, các cứ điểm tiếp vận và phi trường Khe Sanh.

Trận đánh làm tôi nhớ nhiều nhất và theo tôi đó là trận rút lui tuyệt vời của Lữ đoàn 147, sau khi các Sư đoàn 1, Sư đoàn Nhảy Dù, Lữ đoàn Thiết kÿ, Sư đoàn Biệt Động Quân rút hết. Tất cả các lực lượng địch dồn lại bao vây và pháo kích dữ dội vào Lữ đoàn 147 và 258. Đại tá Bùi Thế Lân đã táo bạo ra lệnh cho Lữ đoàn 147 rút ban đêm để tránh địch truy kích. Núi cao, vực thẳm, rừng rậm, nhiệt đới, làm không ai có thể di chuyển ban đêm như vậy được. Vào lúc 3 giờ chiều, tôi không nhớ rõ ngày, Đại tá Tư lệnh phó ra lệnh cho tôi đi lãnh khẩn cấp 5.000 quả đạn chiếu sáng. ở Khe Sanh, 4 giờ là sương đã bắt đầu xuống. Khi những xe đạn đầu tiên về bãi thì trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ loại CH 53 Skorsky gồm 24 chiếc đã tới và cứ lưới đạn nào xong thì trực thăng bốc lên liền, chở thẳng sang Cô-Roc là căn cứ hỏa lực của Tiểu đoàn 3 Pháo binh. Chúng tôi chỉ tiếp tế lên cho Tiểu đoàn 3 được gồm 60 chuyến, độ hơn 3.000 quả thì trời đã tối. Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến do Trung tá Nguyễn Năng Bảo được lệnh di chuyển về phía Tây Nam độ 4 km, bố trí chờ đón các đơn vị của Lữ đoàn 147 về. Vừa tối sẩm là Tiểu đoàn 3 Pháo binh được lệnh của Tư lệnh phó bắn chiếu sáng liên tục trên đầu Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến. Tất cả Lữ đoàn 147 được lệnh theo hướng đạn chiếu sáng nổ mà tới sẽ có người đón. Thật là ngoài sự ước mong, cả Bộ chỉ huy Lữ đoàn, 3 Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến + 1 Tiểu đoàn Pháo binh và các đơn vị yểm trợ Lữ đoàn như Truyền tin, Công binh, Viễn thám đã về tới điểm hẹn mà chỉ mất tích hơn 50 chiến binh. Chính Trung tướng Hoàng Xuân Lãm đã nói với Đại tá Hoàng Tích Thông là:

– Sao Thủy Quân Lục Chiến nó về được nhiều thế nhỉ !!!

MX Đoàn Trọng Cảo

Nguồn: http://tqlcvn.org/chiensu/cs-loihoa-sanglao.htm

Chuyện khó tin : Giác hơi và Thuốc chủng Covid ? –  Trần Minh Quân

                                                         Trần Minh Quân

   Covid 19 đang gây ra nhiều thảm họa cho thế giới và tại Hoa Kỳ ngoài vấn đề dịch bệnh gây tử vong còn rất nhiều hệ lụy kể cả về chính trị liên quan đến thuốc chủng ngừa. Rất nhiều tin tức trên các báo chí, kể cả các Tập san Y học nhiều uy tín, đối nghịch nhau..

   Trần Minh Quân vừa nhận một bản tin rất thú vị :

“Combining ancient and modern medicine, scientists use cupping to deliver COVID-19 vaccine in lab tests” (MedicalXpress Breaking News-and-Events Nov 5,2021)

Bản tin để cập đến cupping và ứng dụng cupping vào việc điều chế thuớc chủng .

  • Cupping là gì ?

   Với TMQ, cupping có những kỷ niệm khó quên khi mới đến Hoa Kỳ xin được việc làm Nhân viên liên lạc Cộng đồng tại một Học Khu khá lớn của một Tiểu bang Miền Tây; nhiều lần phải đến văn phòng hiệu trưởng để giải thích về các vết tròn đậm màu trên tay, lưng các em học trò, mà cô giáo cho là bị bố mẹ hành hạ (abuse) và đòi đưa phụ huynh đến Sở Cảnh sát.. Cupping chỉ là.. Giác hơi rất quen thuộc với người Việt .

    Wikipedia giải thích về Cupping như một phương thức trị liệu dùng sức hút (suction) tạo trên da bằng dùng một chai nhỏ (cup) hơ nóng áp dụng tại Á châu và xem như một “khoa học giả=pseudoscience” hay “lang băm” (quackery)..

     Đông và Tây .. không gặp nhau ! East is East, and West is West (Rudyard Kipling)

Các Ông Thầy Tây Y : Bác Sĩ, Nhà nghiên cứu Dược học.. lên tiếng chê bai ‘Giác hơi’ bằng đủ mọi lời phê bình !

                Xin đọc : https://en.wikipedia.org/wiki/Cupping_therapy

   Y Dược học Đông Phương như Tàu (Traditional Chinese Medicine=TCM), Việt Nam.. có những lý luận rất khác với Y học Tây phương.   TCM gọi cupping là báguàn, và trị bệnh bằng giác hơi là..”hỏa liệu pháp” ?. Phương pháp trị liệu dùng các cốc (chuyên dùng)=cup đặt trên da người bệnh, tạo một áp suất ‘âm’ bên trong các cup, gây sung huyết mạch máu tại chỗ, phá ứ huyết và khai thông Khí tắc (Qi flow).. giúp giảm đau, giải độc trị phong tà..

                                             Bộ Dụng cụ Giác Hơi cổ truyền

   Về kỹ thuật giác hơi :

  • Giác hơi ‘khô’ (Fire cupping) : đun nóng bên trong ‘cup’ bằng que lửa (dùng kẹp bông gòn thấm alcohol, hay bùi nhùi, giấy; khi lửa dùng hết oxy trong cup sẽ  tắt: ‘thầy’  giác hơi nhanh chóng úp cup vào da người bệnh : khi không khí bên trong cup nguội, sẽ tạo áp suất âm’ để hút da vào bên trong cup. Các vết sậm trên da có thể xuất hiện nơi úp cup
  • Giác hơi ‘khí’ : thay vì dùng lửa, dùng một bơm hút chuyên dùng để tạo chân không bên trong cup. Cách giác hơi này cần các dụng cụ riêng.

                                                        Giác hơi khí

  • Giác hơi ‘ướt’  (wet cupping): phương pháp đi kèm với lể’ nơi huyệt đạo ngoài da, trước khi đặt cup. Khi cup úp vào da, bị hút lên và một lượng máu nhỏ có thể rỉ ra bên trong cup. (giúp hút bỏ chất độc ?

 Theo y-lý TCM :

  • Cupping có tác dụng điều chỉnh âm-dương; sơ kinh thông lạc, phù chính khử tà; hoạt huyết khứ ứ; giải trừ đau nhức..
  • Cupping kích thích nhiệt độ cơ thể, giúp tạo phản ứng tại chỗ và toàn thân.. điều chỉnh được chức năng cơ thể..

Giác hơi hiện vẫn được chính thức sử dụng tại các bệnh viện Trung Hoa (từ 1950)

Một số lực sĩ nổi tiếng đã quảng bá cho Giác hơi và xác nhận sự hiệu nghiệm như

  • Cầu thủ football (kiểu Mỹ) NFL DeMarcus Ware
  • Các lực sĩ Thế vận Mỹ Alexander Naddour, Michael Phelps ( Vô địch Bơi lội)

và đã bị các Thầy thuốc ‘chính thống’ đả phá !

  • Cupping và Vaccins ?

Đúng hơn có lẽ là : Áp dụng y lý cupping vào việc chế tạo Vaccin chống Covid-19

Covid-19

Theo bài báo của Medical X press :

   Các nhà nghiên cứu tại ĐH Rutgers khi tìm hiểu về Covid-19 đã tìm ra một phương pháp mới để đưa các phân tử DNA vào các tế bào da, dùng kỹ thuật ‘hút’ theo cách trị liệu cổ truyền ‘cupping.’

    Trong thử nghiệm trên loài gặm nhấm (rodents), nhóm nghiên cứu đã dùng kỹ thuật ‘cupping’ để  đưa một thuốc chủng loại DNA chống SARS-CoV-2 vào con thú, tạo được một phản ứng miễn nhiễm mạnh gấp 100 lần khi chỉ dùng riêng thuốc chủng.

Dựa trên kết quả sơ khởi, Công ty Sinh-Hóa dược GeneOne Life Science Inc (Công ty tài trợ cho thử nghiệm) đã đăng ký bản quyền kỹ thuật để ứng dụng vào trị liệu nơi người. Một cuộc thử nghiệm lâm sàng (clinical) đang vào Giai đoạn II, chú trọng vào mức độ an toàn (rất cao) và khả năng tạo miễn nhiễm (immunogenicity)

  Giáo Sư Lin Hao, của Khoa Cơ Khí & Không gian (Mechanical & Aerospce Engineering) cũa ĐH Rutgers (New Brunswick) cho biết : ‘Kỹ thuật ‘hút’ được áp dụng bằng cách tạo ra một áp suất âm nhẹ nơi da sau khi chích acid nucleic, dùng phương thức không gây tổn hại (non-invasive) cho nợi chích”

   Phương pháp dễ sử dụng, ít tốn phí và có thể áp dụng dễ dàng trong các ứng dụng tại phòng thí nghiệm và lâm sàng.. đồng thời có thể phát triển sau đó dùng cho mọi loại thuốc chủng..

   Y học sử dụng nucleic acid là kỹ thuật của thế hệ sắp tới dùng DNA, RNA và các phân tử có khả năng kiểm soát các tín hiệu di truyền.. Y học này đang phát triển rất mạnh nhất là hiện nay các thuốc chủng gốc nucleic acid đang được dùng để chủng ngừa chống Covid-19.

    Nucleic-acid ‘Medicine” hoạt động  bằng cách đưa các nucleic-acid (tổng hợp hay đã được biến đổi yếu tố di truyền) vào tế bào ký chủ và sau đó dùng các ‘sinh hoạt của tế bào’ hướng dẫn việc tạo ra những protein đã được mã hóa (encoded)  , lập tức tạo một phản ứng miễn nhiễm .. (trường hợp của thuốc chủng). Giai đoạn quan trọng nhất là ‘tranfection’ hay ‘chuyển giao (delivery) các nucleic acid đã tinh khiết hóa, vượt qua hệ thống vách cản nơi màng tế bào để đến được tế-bào-chất (cytoplasm)  và nhân (DNA) của các tế bào ký chủ (host cells)

    Nếu các phân tử DNA và RNA được chích vào mô tế bào, các phân tử này không tự động đi vào host cells và đa số sẽ tự hoại nhanh chóng, ngoại trừ khi chúng được bảo vệ, Ví dụ như trường hợp các thuốc chủng ngừa Covid gốc mRNA (Pfizer và Moderna) các hạt lipid nano (nanoparticles) được dùng bọc các mRNA bảo vệ và giúp đưa chúng vượt qua màng để vào bên trong host cells.. và tạo các phản ứng miễn nhiễm cần có..

  Một phương pháp đã thử dùng, không hiệu quả và gây phản ứng phụ sưng-đau là ‘tạo một ‘điện trường (electric field) để đưa DNA vào trong host cells

  Trong thí nghiệm, mô tả trong bài này, sau khi tiêm DNA tinh khiết, các nhà nghiên cứu đã tạo một sức hút ngay nơi chích, tạo một áp suất ‘âm’ nơi da tại chỗ..Sức hút làm các lớp da thư giãn, kích khởi sự hấp thu các phân tử DNA qua da..Thật đơn giản, rẻ tiền và.. không đau chút nào ? chỉ chủng ngừa và kèm theo cây bút.. cupping !

                                                   Bút Cupping thử nghiệm tại Rutgers..

    Đông và Tây .. có cơ hội gặp nhau (East meets West) chăng ?

                                                                                      Trần Minh Quân

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Tướng Lương Xuân Việt được Sở Di Trú vinh danh ‘Công Dân Tiêu Biểu’

November 11, 2021

LOS ANGELES, California (NV) – Thiếu Tướng Lương Xuân Việt vừa được bà Ur Jaddou, giám đốc Sở Di Trú Hoa Kỳ (USCIS), vinh danh “Công Dân Tiêu Biểu” (Outstanding American by Choice Recognition) cho những đóng góp nổi bật của ông, theo trang Facebook USCIS, hôm 10 Tháng Mười Một.

Danh hiệu “Outstanding American by Choice Recognition” của USCIS được khởi xướng năm 2006 nhằm vinh danh công dân Hoa Kỳ có những thành tựu hay đóng góp tiêu biểu cho đất nước trong nhiều lĩnh vực.

Bà Ur Jaddou (phải), giám đốc Sở Di Trú Hoa Kỳ (USCIS), trao danh hiệu “Công Dân Tiêu Biểu” cho Thiếu Tướng Lương Xuân Việt. (Hình: Facebook USCIS)

Trên trang Facebook cá nhân, ông Việt bày tỏ niềm vinh hạnh với ghi nhận của USCIS.

“Tôi giải ngũ từ Tháng Mười, sau 34 năm phục vụ trong quân đội. Khoảng thời gian ấy không mấy dễ dàng, nhưng tôi nhất định vẫn chọn phục vụ trong quân đội nếu có dịp lần nữa. Chúng ta đang sống trong một quốc gia tuyệt vời,” ông bày tỏ qua Facebook.

Thiếu Tướng Lương Xuân Việt trở thành tướng Mỹ gốc Việt đầu tiên trong quân đội Hoa Kỳ, làm phó tư lệnh Sư Đoàn Kỵ Binh Số 1 Hoa Kỳ, phụ trách hành quân tác chiến sau khi được chính phủ và Bộ Quốc Phòng thăng cấp chuẩn tướng Lục Quân Hoa Kỳ, ngày 6 Tháng Tám, 2014.

Tính đến ngày giải ngũ, ông Việt giữ chức tư lệnh Lục Quân Hoa Kỳ tại Nhật được ba năm.

Trong buổi lễ chia tay quân ngũ tại Camp Zama, Nhật, ông được trao tặng nhiều danh hiệu và huân chương phục vụ xuất sắc, giấy chứng nhận nghỉ hưu, thư chúc mừng, và một lá cờ.

Thiếu Tướng Lương Xuân Việt là con trai duy nhất trong gia đình có bảy chị em gái.

Định cư tại Mỹ năm 1975, cậu bé Lương Xuân Việt lúc đó chưa đầy 10 tuổi, cùng gia đình chọn thành phố Mountain View, California, sinh sống.

Sau khi tốt nghiệp cử nhân sinh học và cao học khoa học quân sự tại đại học USC, ông tình nguyện vào quân đội, mang cấp bậc thiếu úy Bộ Binh năm 1987, đóng tại Colorado.

Ông lần lượt giữ chức vụ trung đội trưởng rồi đại đội phó.

Sau đó, ông được chuyển sang Sư Đoàn 101 Biệt Kích Dù, lần lượt giữ các chức vụ đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, và lữ đoàn trưởng.

Trước khi được thăng cấp đại tá và được bổ nhiệm vào chức vụ lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn 3, Sư Đoàn 101 Không Kỵ, ông Việt làm tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 505 Bộ Binh Nhảy Dù Hoa Kỳ vào năm 2005 và chiến đấu tại chiến trường Iraq với cấp bậc trung tá.

Sau khi thăng cấp đại tá, ông trở thành lữ đoàn trưởng và chiến đấu tại chiến trường Afghanistan. Năm 2012, ông được cử về đại học Stanford University để tham gia huấn luyện chính trị cao cấp.

Thiếu Tướng Lương Xuân Việt phát biểu trong lễ chia tay quân đội. (Hình: Facebook US Army Japan)

Tháng Năm, 2017, ông được thăng cấp thiếu tướng, làm phó tư lệnh Quân Đoàn 8 đóng tại Nam Hàn.

Ngày 28 Tháng Tám, 2018, ông được bổ nhiệm làm tư lệnh Lục Quân Mỹ tại Nhật, đóng quân tại căn cứ Camp Zama, kế nhiệm thiếu tướng James Pasquarette. (T.Nhiên) [đ.d.]

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/tuong-luong-xuan-viet-duoc-so-di-tru-vinh-danh-cong-dan-tieu-bieu/

Cuộc gặp Trump-Phúc qua lời kể của cựu Đại sứ Ted Osius

Hiếu Chân dịch
18 tháng 10, 2021

Tổng thống Donald Trump tiếp Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tại Tòa Bạch ốc ngày 31 tháng Năm 2017. Ảnh Olivier Douliery-Pool/Getty Images)

Ông Ted Osius, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam giai đoạn 2014-2017 vừa cho ra đời cuốn hồi ký “Nothing is Impossible: America’s Reconciliation with Vietnam” (Không gì là không thể: Cuộc Hòa giải của Hoa Kỳ với Việt Nam) gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước.

Chính quyền Hà Nội đã lệnh cho báo chí trong nước không được “khai thác” nội dung của cuốn sách; trong khi người đọc ngoài nước chú ý đến phát ngôn mang tính kỳ thị của ông Trump khi tiếp ông thủ tướng Việt Nam tại Phòng Bầu dục trong Tòa Bạch ốc. Tác giả Ted Osius đã chứng kiến và viết về cuộc gặp đó như thế nào? SGN trích dịch các trang từ 268-272 về sự kiện trên để bạn đọc tham khảo.

Bìa cuốn sách “Nothing Is Impossible: America’s Reconciliation With Vietnam” của ông Ted Osius, cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam. (Hình: VOV)

… Khi tôi còn là nhân viên chính sách đối ngoại của Phó Tổng thống Al Gore, tôi đã ra vào Phòng Bầu dục nhiều lần. Với tư cách đại sứ, tôi đã tháp tùng lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam tới gặp Tổng thống Barack Obama. Nhưng không gì có thể chuẩn bị cho tôi sẵn sàng với sự kỳ lạ của cuộc gặp giữa Tổng thống Donald Trump với Thủ tướng Việt Nam vào ngày 31 Tháng Năm năm 2017.

Phòng Bầu dục trông vẫn vậy. Các khung cửa sổ cao đến trần nhà vẫn tiếp tục nhìn ra The South Lawn (bãi cỏ phía Nam). Chiếc bàn “Cương quyết” (Resolute) nổi tiếng vẫn chiếm hết căn phòng. Nhưng nó không giống Phòng Bầu dục mà tôi nhớ. Vào thời của Tổng thống Obama, các phòng bên ngoài Phòng Bầu dục luôn náo nhiệt với nhiều hoạt động, trong khi chính Phòng Bầu dục lúc nào cũng yên tĩnh. Bây giờ tình hình đã đảo ngược. Cánh Tây (West Wing – nơi đặt văn phòng các ban của Tòa Bạch ốc – ND) có vẻ yên lặng một cách kỳ lạ nhưng bên trong Phòng Bầu dục, dòng người nhốn nháo ra vào. 

Phó Cố vấn An ninh Quốc gia Dina Powell và một nhóm các cố vấn khác quây quần xung quanh chiếc bàn “Cương quyết”, nơi các tổng thống Rutherford Hayes, Franklin Roosevelt và John Kennedy đã từng ngự trị. Không ai nhường chỗ cho những người mới đến và căn phòng dường như mỗi lúc một đông hơn.

Đứng sau một nhóm phụ tá và cố thu hút sự chú ý của tổng thống, Cố vấn An ninh Quốc gia, Tướng H. R. McMaster đã gắng giới thiệu tôi với Tổng thống Trump: “Thưa Tổng thống, đây là đại sứ của chúng ta tại Việt Nam.” Tôi nhìn chằm chằm vào mái tóc màu cam có hình một chiếc mũ bảo hiểm cứng khi tổng thống ngước lên và nói,“Bạn thật may mắn. Đó là một công việc tốt.” “Vâng, thưa ngài, tôi rất may mắn. Tôi yêu công việc của mình và cảm thấy được làm việc đó là một đặc ân,” tôi đáp.

“Vậy, chúng ta sắp gặp ai?” Tổng thống hỏi. 

“Thủ tướng Việt Nam,” Cố vấn McMaster trả lời.

“Tên của ông ta là gì?”

“Nguyễn Xuân Phúc. Phát âm như ‘book’,” một quan chức cấp cao của Hội đồng An ninh Quốc gia nói.

“Ý bạn là như Fook You? (*)” Tổng thống Trump hỏi. “Tôi biết một người tên là Fook You. Thật đấy. Tôi cho anh ta thuê một nhà hàng. Khi nhấc máy trả lời điện thoại, anh ấy nói ‘Fook You’. Việc kinh doanh trở nên tồi tệ. Mọi người không thích điều đó. Anh ta đã mất nhà hàng”

Tất cả những người có mặt đều gượng cười. “Thưa Tổng thống,” Cố vấn McMaster ngắt lời, “chúng ta chỉ có năm phút cho cuộc họp này.”

Thêm nhiều người đi vào đi ra. Tôi tự hỏi làm sao mọi người có thể tập trung được trong cảnh hỗn loạn như vậy. Sau khi biết Việt Nam xuất siêu với Hoa Kỳ và nhập siêu với Trung Quốc, Tổng thống xen vào: “Người Trung Quốc luôn nhận được những hợp đồng lớn. Ngoại trừ với tôi. Tôi đã có một hợp đồng rất lớn với Trung Quốc.”

Tổng thống Trump sau đó chỉ thị cho ông Lighthizer [Robert Lighthizer là Đại diện Thương mại Hoa Kỳ] “đưa thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Việt Nam xuống số không trong bốn năm.” Lighthizer gật đầu, có lẽ ông ta không biết phải trả lời như thế nào. Đó là một nhiệm vụ bất khả thi. Sau đó ông ấy cố gắng chuyển hướng chú ý của Tổng thống. “Đại sứ [tại Việt Nam] đang cố gắng hoàn thành một thỏa thuận xây dựng một đại sứ quán mới,” ông Lighthizer nói. “Chúng ta có thể tổ chức lễ động thổ khi ngài đến thăm Việt Nam.”

Một nhân viên của Lighthizer đã nói với tôi một cách nghiêm túc rằng Tổng thống Trump thích lễ động thổ. Ông ấy rất thích cầm chiếc xẻng mạ vàng để các nhiếp ảnh gia chụp ảnh.

“Tôi đến đó ư?” Tổng thống hỏi, dường như ông ấy không nhớ rằng ông đã đồng ý tham dự hội nghị cấp cao Diễn đàn Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) tại Việt Nam trong mùa thu sắp tới. Sau đó ông ta biến mất vào một căn phòng khác.

Jared Kushner, con rể của tổng thống và là cố vấn của Tòa Bạch ốc, chú ý tới cuộc trò chuyện của chúng tôi về việc xây dựng đại sứ quán mới tại Hà Nội. “Nó có giá bao nhiêu?” Kushner hỏi. Tôi trả lời rằng đại sứ quán Hoa Kỳ ở Bắc Kinh trị giá hơn $1 tỷ. Một đại sứ quán mới ở Hà Nội có thể được xây dựng với giá thấp hơn – có thể là một nửa, tùy thuộc vào giá đất. 

“500 triệu đôla ư?” Kushner có vẻ ngạc nhiên. “Như thế là rất nhiều. Tại sao chúng ta chi tiêu quá nhiều như vậy? Nếu như chúng ta cho họ cái đó, chúng ta cần phải lấy lại cái gì đó.” 

Tôi tự hỏi liệu anh ấy có hiểu rằng, chúng ta đang xây dựng một tòa nhà đại sứ quán mới cho Hoa Kỳ chứ không phải cho Việt Nam hay không. “Tòa nhà chúng ta thuê hiện đã hư hỏng,” tôi nói với anh ta.“Hai mươi năm trước khu nhà đó chỉ được coi là nơi làm việc tạm thời. Nó không an toàn nữa. Một xe bom có thể lao vào đó và làm chúng tôi nổ tung trong giây lát. Giống như ở Benghazi.”

Kushner vẫn giữ quan điểm. “Nếu họ có cái [đại sứ quán] đó thì chúng ta cần một cái gì đó đổi lại. Hãy nói với họ rằng chúng ta sẽ xây dựng nó nếu họ đưa thâm hụt thương mại của chúng ta về số 0”, Kushner nói. Tôi nhắc lại lập luận của mình về an ninh cho công dân Mỹ, nhưng đôi mắt đen của Kushner đã chuyển đi nơi khác. Anh ta không còn nghe nữa.

Ra khỏi Phòng Bầu dục, tôi đứng ở hành lang và trò chuyện với Phó Tổng thống Mike Pence. Ông ấy vừa trở về từ Jakarta, Indonesia, nơi ông ấy đã nói chuyện với Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tôi nói với ông Pence rằng Việt Nam đã đón nhận bài phát biểu của ông ấy một cách nồng nhiệt. Ông Pence mỉm cười, đôi mắt xanh của ông ấy nhìn thẳng vào tôi; ông Phó Tổng thống đã thể hiện một khả năng kỳ lạ khiến tôi cảm thấy cứ như tôi là người quan trọng nhất thế giới.

Chúng tôi chờ đợi trong khi Tổng thống Trump và Thủ tướng Phúc gặp nhau mặt đối mặt tại Phòng Bầu dục, với các phiên dịch viên và khoảng một trăm nhà báo truyền hình và báo in. Tổng thống Trump lưu ý rằng Hoa Kỳ đang có “thâm hụt thương mại lớn với Việt Nam, hy vọng sẽ cân bằng trong một thời gian ngắn. Chúng tôi mong đợi có thể làm được điều đó”.

Thủ tướng Phúc cho Tổng thống Trump xem bản đồ Biển Đông như một lời nhắc nhở rằng Việt Nam quan tâm hơn hết tới các hành vi liên quan của Trung Quốc.

Tổng thống và Thủ tướng sau đó chuyển đến Phòng Nội các, nơi phó tổng thống, các thành viên nội các, và tôi cùng tham gia cuộc gặp. Tổng thống Trump lại thúc giục Thủ tướng Phúc giảm thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Việt Nam từ $32 tỷ xuống $0 trong bốn năm. Ông khuyến khích Việt Nam gia tăng áp lực lên Bắc Hàn và ông yêu cầu Việt Nam đẩy nhanh việc nhận lại những người tị nạn Việt Nam bị trục xuất: Tôi biết nguồn gốc của yêu cầu thứ ba: Tôi đã thấy Miller bước vào và thì thầm vào tai tổng thống khi anh ta đi vào Phòng Nội các. [Steve Miller là cố vấn của Tổng thống Trump, phụ trách các chính sách về di dân và nhập cư – một người được cho là có quan điểm cực kỳ bảo thủ và chống người nhập cư – ND]

Chỉ còn ông thủ tướng Cộng sản Việt Nam ca tụng các đức tính của thương mại tự do và công bằng. Ông Phúc nói thương mại “dẫn đến tăng trưởng và việc làm. Hai nền kinh tế của chúng ta bổ sung cho nhau nhiều hơn là cạnh tranh với nhau.”

Tổng thống Trump lại nói về thâm hụt thương mại và bảo, “chúng ta phải đạt được nhiều tiến bộ hơn trước hội nghị cấp cao APEC.” Tổng thống nói với Thủ tướng Phúc rằng nước Arab Saudi đã đặt hàng trị giá $450 tỷ trong chuyến thăm gần đây của tổng thống tới đó. “Jared [Kushner] và Rex [Tillerson] đã làm việc rất chăm chỉ,” ông nói. Thông điệp rất rõ ràng: các chuyến thăm của tổng thống luôn có giá.

Khi Cố vấn McMaster gợi ý một “chuyến thăm của hàng không mẫu hạm Mỹ sẽ có ý nghĩa lịch sử và biểu tượng quan trọng,” ông thủ tướng thận trọng trả lời rằng Việt Nam “đánh giá cao sáng kiến gửi một tàu sân bay tới thăm. Khi chúng tôi có khả năng, chúng tôi sẽ đón nhận nó”. Nhưng ông ta nói thêm, “Chúng tôi vẫn chưa sẵn sàng để làm như vậy.”

Các nhà lãnh đạo Việt Nam trước tiên cần đo lường phản ứng của Trung Quốc trước khi đưa ra cam kết đón tiếp chuyến thăm của hàng không mẫu hạm Mỹ. Trong bản tuyên bố chung được đưa ra sau chuyến thăm Tòa Bạch ốc của Thủ tướng Việt Nam, phía Việt Nam chỉ nói rằng hai nhà lãnh đạo đã “xem xét khả năng một chuyến thăm cảng Việt Nam của một tàu sân bay Hoa Kỳ.”

Khi Tổng thống Trump đưa tiễn Thủ tướng Phúc ra khỏi Cánh Tây, nhóm này đã giáp mặt với Marc Kasowitz, một trong những luật sư của tổng thống. Kasowitz cũng đại diện cho Falcone. Vào tháng Mười Hai 2016, các luật sư Kasowitz và Falcone đã sắp xếp để Tổng thống đắc cử Trump nói chuyện qua điện thoại với Thủ tướng Việt Nam.

Kasowitz cười toe toét khi nhìn thấy Thủ tướng Phúc. Ông ấy dường như đã chờ bên ngoài để chứng tỏ ông ta đã có quyền ra vào Cánh Tây Tòa Bạch ốc và do đó ông ta “gần gũi” với ông tổng thống hiện tại.

Ngạc nhiên khi nhìn thấy ông ta, Thủ tướng Phúc mỉm cười, đầu nghiêng sang một bên.

“Ngài biết anh ta à?” Tổng thống hỏi, và ông thủ tướng thừa nhận họ có quen biết. Kasowitz bắt tay tôi rất chặt. “Bạn cũng biết anh ta?” Tổng thống hỏi tôi. Tôi gật đầu.

Sau cuộc điện thoại [Trump-Phúc] hồi tháng Mười Hai năm 2016, tôi đã viết thư cho các sếp của mình ở Bộ Ngoại giao trong chính quyền Obama, bày tỏ nỗi lo ngại rằng một cuộc gọi như vậy, do Falcone sắp xếp, chứng tỏ sự tiếp cận của thủ tướng Việt Nam với tổng thống mới của Hoa Kỳ có thể đã bị mua bán. Tôi không bao giờ có được câu trả lời.

Sau cuộc họp ngày 12 tháng Giêng năm 2017 tại Hà Nội với Kasowitz, Falcone và một nhóm những luật sư về bất động sản của New York liên kết với Tổng thống Trump, một đồng nghiệp tại đại sứ quán và tôi đã so sánh các mẩu ghi chú. “Tôi cảm thấy mình cần đi tắm,” cô đồng nghiệp nói. Chính tôi cũng muốn gột rửa mùi tham nhũng.

Trước khi gặp tôi, Kasowitz đã hỏi một người bạn của tôi, “Chúng tôi cần có đòn bẩy nào với đại sứ? Chúng tôi cần cung cấp cho ông ấy những gì để kéo ông ấy về phe của chúng tôi?” Bạn tôi nhẫn nại giải thích rằng bất kỳ đại sứ Hoa Kỳ nào cũng có trách nhiệm giúp các doanh nghiệp Hoa Kỳ thành công. Không một đòn bẩy hoặc “lại quả” nào là cần thiết để tôi thực hiện công việc của mình.

(*) Phát âm như Fuck You – là tiếng chửi rất nặng trong ngôn ngữ Mỹ

Nguồn: https://saigonnhonews.com/nhin-lai-lich-su/cuoc-gap-trump-phuc-qua-loi-ke-cua-cuu-dai-su-ted-osius/

Hoa Kỳ và Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Phần I: Thành Quả Xây Dựng Ban Đầu Của Việt Nam Cộng Hoà, 1954-1960)

  • Đỗ Kim Thêm

08/11/2021

Bối cảnh

Trong những năm đầu của thập niên 1950, chính giới Mỹ chủ yếu quan tâm đến hậu quả của chủ thuyết Domino. Ngay sau khi Hiệp định Genève năm 1954 được ký kết, Hội đồng An ninh Quốc gia của Mỹ lập luận là nếu Cộng sản chiếm được một nước trong khu vực Đông Nam Á, tình hình an ninh của nước Mỹ và phương Tây sẽ bị đe doạ.

Để đối phó kịp thời với phong trào Cộng sản đang bành trướng, Mỹ phải nhanh chóng soạn thảo một chính sách an ninh chung cho khu vực mà xây dựng cho miền Nam thành một tiền đồn chống Cộng  là ưu tiên.

“… Việt Nam là nền tảng của Thế giới Tự do ở Đông Nam Á, … chúng ta không được phép bỏ rơi và bỏ qua nhu cầu của Việt Nam….”

Đó là lời tuyên bố của Nghị sĩ John F. Kennedy trong năm 1956. Dĩ nhiên, đây không phải là biểu lộ về một niềm tin hay thiện cảm cá nhân, mà là phản ảnh sự đồng thuận về quan điểm chung của chính giới tại Washington trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh đang thành hình.

Ý tưởng ban đầu của chính giới Mỹ là miền Nam phải có thể chế dân chủ và tự do, hoàn toàn độc lập với ảnh hưởng chính trị của thực dân Pháp, có một chính quyền bao gồm tất cả các đại diện cho các xu hướng chính trị hiếu hoà mang tinh thần đoàn kết dân tộc và kiên quyết xa lánh Việt Minh.

Công luận của Mỹ cho rằng thách thức này là một thực tại khách quan và giải pháp tìm ra là những lý tưởng cao đẹp mà một quốc gia còn non trẻ như Việt Nam Cộng Hoà cần theo đuổi.

Nhìn chung, trong giai đoạn này, thế giới phương Tây đang ở thế mạnh về thực lực kinh tế và chủ thuyết ngăn chận của Tổng thống Harry S. Truman là thích hợp về sách lược chính trị. 

Nhưng thực tế cho thấy là chủ trương xây dựng hiếu hoà của miền Nam khó có thể xoa dịu được hung đồ xâm lược của miền Bắc. Lý do chính là Liên Xô và Trung Quốc đồng thuận về chủ trương bành trướng ý thức hệ và yểm trợ dồi dào phương tiện  để thực hiện. 

Trong những năm cuối của thập niên 1950, trọng tâm trong chính sách đối ngoại của các nước là hướng về hợp tác và phát triển quốc tế.

Thoạt đầu, Liên Xô, một cường quốc có trang bị vũ khí nguyên tử, luôn có những biện pháp độc tài tàn bạo để đàn áp người dân trong nước và can thiệp quân sự tại nước ngoài, mà hai thí dụ điển hình là tại Cộng hoà Dân chủ Đức năm 1954 và Hung năm 1956. Sau khi Stalin chết, giới lãnh đạo mới đề ra chủ thuyết “Sống chung Hoà bình”, tỏ ra có thay đổi hoà dịu khi giảm dần việc thanh trừng giới đối lập trong nước và can thiệp các nước Đông Âu.

Trong cộng đồng thế giới, vấn đề độc lập cho các quốc gia bị thực dân cai trị trở thành sách lược ưu tiên chung. Các cuộc đấu tranh vũ trang giành độc lập dân tộc của Algérie và Việt Nam gây nhiều thương tổn và uy tín cho Pháp, trong khi thực dân Anh, thông qua hình thức hợp tác trong khối Thịnh vương Chung (Commonwealth of Nations), tránh được nhiều thiệt hại về nhân mạng. Khi Anh đồng thuận, Ấn Độ thu hồi độc lập năm 1947, Mã Lai và Ghana năm 1957, các nước khác cũng lần lượt tiếp theo.

Trong chiều hướng này, Thủ tướng Anh Harold Macmillan cũng nhận ra là gió đã xoay chiều (wind of change); tình thế đổi thay, nên các nước Á- Phi sinh ra nhiều biến động.

Để vượt qua các nghịch cảnh và bất hoà, các nước Á-Phi cũng ý thức là không còn muốn bị thúc ép trong khuôn khổ xung đột ý thức hệ Đông-Tây. Chính sách ngoại giao của Ấn Độ năng động hơn sau khi giành được độc lập là một tấm gương mới trong mối quan hệ quốc tế. Thủ tướng Jawaharlal Pandit Nehru chọn thái độ trung lập, đó là hiếu hoà, không liên kết quân sự, chỉ lo hợp tác kinh tế để phát triển và tiếp tục ủng hộ chính trị cho các nước đấu tranh giành độc lập.  

Tiếp theo lời kêu gọi của Nehru trong hội nghị Bandung tháng Tư năm 1955, “Phong trào các Quốc gia Phi liên kết” được thành hình. Từ nay, các quốc gia Á- Phi chủ trương là không còn phân biệt hệ thống xã hội và cùng nhau theo đuổi một mục tiêu chung là phụng sự cho hoà bình thế giới, mà chống thực dân, phân biệt chủng tộc và tân trang vũ khí nguyên tử là phương tiện.

Trong khi thế giới đang chuyển mình trong một bối cảnh đầy năng động và đa dạng, chính giới Mỹ tỏ ra không phản ứng mềm dẻo cho phù hợp với biến chuyển của tình thế. Tổng thống Dwight D. Eisenhower và Ngoại trưởng John Foster Dulles vẫn còn tiếp tục lo sợ về các hiểm hoạ xâm lăng của Cộng Sản và luôn cảnh báo các nước theo phe Trung lập là sẽ bị sa lưới. Thực tế cho thấy là các biện pháp đe doạ quốc tế hay trấn áp trong nước theo kiểu của Stalin trước đây không còn tái diễn.  

Đến cuối thập niên 1950, ngay trong nội tình nước Mỹ cũng không đạt được những tiến bộ khích lệ về mặt phúc lợi xã hội; ngược lại, các thách thức thuộc về kỳ thị chủng tộc và bất công xã hội ngày càng gia tăng. Các đòi hỏi của người da đen và Martin Luther King về quyền hội nhập và bình đẳng sắc tộc không được giải quyết thoả đáng; người dân có cảm tưởng chung là xã hội Mỹ đang từ ổn định biến thành trì trệ và từ bảo thủ chuyển sang bất động.

Luận điểm căn bản về lý thuyết viện trợ của Mỹ 

Ngay từ năm 1949, Tổng thống Harry S.Truman đã đề ra chương trình phát triển kinh tế, mà nội dung chính là cần phân biệt hai khu vực trung tâm và ngoại vi để tiến hành. 

Các đại học Mỹ bắt đầu đặt trọng tâm nghiên cứu về các chương trình phát triển cho các nước chậm tiến. Các khái niệm về “Viện trợ phát triển” hay “Thế giới thứ Ba” được thảo luận sâu rộng.

Chính quyền Mỹ nhận ra một luận điểm lý thuyết chung cho viện trợ phát triển: điều kiện tiên quyết làm ổn định chính trị cho chế độ là tăng trưởng kinh tế cho toàn dân. Cho đến nay, tiền đề này vẫn còn đúng.

Trong chiều hướng này, tác phẩm The Stages of Economic Growth (1959) của Kinh tế gia Walt W. Rostow ra đời. Đó là một thí dụ điển hình.

https://vietbao.com/images/file/TLLxJKuj2QgBACcE/w400/do-kim-them.jpg

Ảnh bìa sách, nguồn ảnh Amazon

Theo Rostow, phát triển kinh tế đất nước phải trải qua các giai đoạn từ sản xuất nông nghiệp, sang công nghiệp và cuối cùng là cung ứng dịch vụ. Cuộc cách mạng công nghiệp tại Tây Âu làm thay đổi mọi mặt về kinh tế, văn hoá và xã hội là thành quả chứng minh. Một xã hội nông nghiệp dần dà được hiện đại hoá, mà Rostow gọi là sẽ cất cánh (Take-off) thành một xã hội công nghiệp. 

Theo suy luận này, tiến trình phát triển tại các nước chậm tiến cũng sẽ tương tự như tại phương Tây; nhất định ảnh hưởng của trào lưu hiện đại hoá sẽ lần lượt lan toả đến các nước thuộc Thế giới thứ Ba.

Do đó, may ra, nếu có được hai biện pháp vừa công nghiệp hoá và viện trợ Mỹ cùng lúc, thì tốc độ phát triển càng nhanh. Lý thuyết của Rostow đã thuyết phục được giới khoa bảng và chính giới tại Washington.

Để thực thi, Mỹ đưa ra hằng loạt các chương trình viện trợ phát triển kinh tế, kỹ thuật và văn hoá cho các nước đang phát triển. Nhìn chung trong bối cảnh này, triển vọng cho các nước nhận viện trợ Mỹ là lạc quan, điển hình là miền Nam.

Thực tế về thành quả xây dựng của miền Nam

Miền Nam đang bắt đầu chuyển mình trong bối cảnh mới: Pháp phải ra đi và Mỹ sắp đến, một nền dân chủ cộng hoà cho chế độ chưa thành hình và sự đồng thuận của toàn dân trong việc xây dựng quốc gia chưa đạt được.

Ý thức được thách thức nảy, Tổng thống Eisenhower ủng hộ cho Thủ tướng Diệm thực thi một chương trình cải cách toàn diện, đặc biệt nhất là cố tạo ra một ý thức về tinh thần quốc gia cho người dân miền Nam.

Đúng như Tổng thống Eisenhower kỳ vọng, chỉ trong hơn ba năm sau ngày chấp chánh, Tổng thống Diệm đã tạo ra những thành tựu đáng kể. Nổi bật nhất là tình hình trật tự tại miền Nam được vãn hồi, các giáo phái không còn chống đối, các đơn vị vũ trang được sát nhập vào quân đội quốc gia và phân tán, các tổ chức phiến loạn đã được dẹp tan, sự phân hoá trong quân đội không còn.

Các biện pháp táo bạo của ông Diệm để đem lại trật tự cho xã hội là đóng cửa hai sòng bạc Đại Thế giới và Kim Chung tại Sải Gòn (15-1-1955), chiến dịch Đinh Tiên Hoàng (5-6-1955- 20-12-1955) mang lại an ninh cho các tỉnh miền Tây Nam phần, chiến dịch Hoàng Diệu (21-9-1955- 21-10-1955) hoạt động tại khu Rừng Sát nhằm truy sát sào huyệt của Bình Xuyên.

Nâng cao thanh thế cho ông Diệm là cơ cấu hành chánh quốc gia bắt đầu hoạt động và dân sinh cải tiến; do đó, chế độ thu phục nhân tâm nhiều hơn.

Thành công trong chương trình tái định cư cho 818.131 đồng bào miền Bắc là một kỳ tích lịch sử cho Việt Nam Cộng Hoà. Với 565.000 mẩu đất hoang được khai khẩn thành khu canh nông dinh điền giúp cho đồng bào có cơ hội bắt đầu làm lại cuộc đời mới tại miền Nam, mà Cái Sắn, La Ngà, Pleiku, Cà Mau, Đồng Tháp Mười là những thí điểm lập nghiệp điển hình.

Cho đến năm 1960, Việt Nam bắt đầu có tiếng nói trên chính trường quốc tế. Việt Nam trở thành hội viên của 30 tổ chức quốc tế và khu vực, đặt 16 sứ quán tại hải ngoại.Với 42 nước công nhận chế độ, Sài Gòn có 22 nước đặt sứ quán.

https://lh6.googleusercontent.com/0ji75kp9f7GPhSspdKbs0m-pm5zGwZ42JJC0Mz5vyD1mlxFDKMt4XBrxZrDxtWvWmxCpQ-d94X5xlzE-oZUv09giBsDZ50vSitcOUfMVR4lKr5QgXc0DSCcO8A2C0rZExt3c68I

Ảnh Tổng thống Eisenhower đón tiếp Tổng thống Ngô Đình Diệm tại phi trường, nguồn ảnh Wikipedia


Đáng kể nhất là năm 1957 khi ông Diệm công du chính thức Hoa Kỳ lần đầu tiên với cương vị Tổng thống Việt Nam Cộng hoà. Với  khả năng hùng biện lưu loát bằng Anh ngữ, ông Diệm đã xuất sắc nêu cao chính nghĩa quốc gia và thuyết phục được chính giới Mỹ. Trước Quốc hội và các cơ quan truyền thông, ông gây được tiếng vang cho Việt Nam.

Không những trong nước Mỹ, mà nhiều quốc gia khác bắt đầu dành nhiều thiện cảm cho sự trỗi dậy của Việt Nam. Cho đến nay, trong lịch sử bang giao Mỹ-Việt, chưa có một nhà lãnh đạo nào của Việt Nam có thể đạt được thành quả ngoại giao tương xứng. 

Kinh tế Việt Nam trên đà xây dựng thuận lợi khi cơ chế thị trường nội địa bắt đầu hoạt động hữu hiệu. Các nhà máy công nghiệp như sản xuất đường Biên Hoà, cát trắng Khánh Hoà, than đá Nông Sơn, xi măng Hà Tiên đi vào sản xuất. Gạo Việt Nam xuất cảng gia tăng và gây tiếng vang trong thị trường nông phẩm thế giới. Kinh tế xuất khẩu gia tăng mang lại thặng dư cho ngân sách và cải tiên dân sinh.

Dù đang trong bước đầu, nhưng thành qủa xây dựng vượt trội của Việt Nam Cộng Hoà làm cho tất cả các quốc gia khác trong khu vực đã không sánh kịp. .Singapore, Nam Hàn và Thái Lan kém xa Việt Nam Cộng Hoà về mọi lĩnh vực. 

Kỳ tích này cũng đã được Tổng thống Eisenhower ca ngợi. Trong thư đề ngày 22 tháng 10 năm 1960 gửi thư cho Tổng thống Ngô Đình Diệm, Eisenhower nêu lên:

“Chúng tôi đã chứng kiến sự can đảm và táo bạo mà Ngài và nhân dân Việt Nam đã biểu dương để đạt tới độc lập trong một tình huống nguy hiểm đến độ mà nhiều người đã coi như là vô vọng. Chúng tôi còn ngưỡng mộ khi tình trạng hỗn loạn ở miền Nam đã nhường chỗ cho trật tự, và tiến bộ đã thay thế cho tuyệt vọng, tất cả với một tốc độ quá là nhanh chóng.”

Sở dĩ xã hội miền Nam biến đổi nhanh chóng trong một thời gian ngắn như vậy một phần lớn là do viện trợ của Mỹ đóng góp đầy hào phóng.

Xem bài kế tiếp: 

Hoa Kỳ và Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Phần II ): Cơ cấu viện trợ Mỹ và chính quyền Việt

Hoa Kỳ và Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Phần III): Những biểu hiện suy thoái của chế độ Ngô triều

Nguồn: https://vietbao.com/p302901a310141/hoa-ky-va-tong-thong-ngo-dinh-diem-phan-i-thanh-qua-xay-dung-ban-dau-cua-viet-nam-cong-hoa-1954-1960-

Tôi Đi Lính NHẢY DÙ – MĐ Trần Ngọc Chỉ

MĐ Trần Ngọc Chỉ

https://i0.wp.com/www.nhaydu.com/MuDo68/toidilinhnhaydu.jpg

Tiếng ồn ào và la hét của đám trẻ cùng xóm đã đánh thức Long dậy, tối qua bị thức khá khuya vì ngồi tán dóc với đám bạn cùng xóm, cả bọn 6 đứa, nhậu chung hết 1 chai bia 33, phì phà hết 1 điếu thuốc lá Capstan. Long trở mình lăn qua lăn lại, cố gắng nằm nướng thêm tí nửa, người mệt đừ như có ai dộng vào người Long, đầu nhức giống búa bổ, hình như có hằng trăm, hằng ngàn con kiến đang bu và cắn khắp đầu Long vậy.
-Long ơi, mầy dậy chưa vậy? Lại giọng thằng Mừng.
Long nằm im giã vờ ngủ say.
-Dậy đi coi biểu diển Nhảy Dù ở ngoài sông Hương! . Đúng đài rồi, Long lật đật :
-Mừng ơi, mầy chờ tao với.

Dịp may vừa đến Long không thể bỏ qua được, lâu lắm rồi Long mới có cơ hội đi xem các
“Thiên Thần Mũ Đỏ “ nhảy dù biểu diễn từ trên Trời cao xuống, oai lắm oai thật là oai vậy đó.
Long nói vọng ra:
-Mừng ơi, chờ tao chú, à mà mày nghỉ là mình nên rũ tụi con Oanh, con Tuyết, con Loan đi theo không? Tao nghỉ có tụi nó đi chắc xôm tụ hơn, ướt át hơn!
Rủ thêm thằng Hoàng khều, thằng Tí mập, thằng Nhơn rỗ, thằng Sáu còm, rồi cả bọn chở nhau trên 6 chiếc xe đạp cũ kỷ, ọp ẹp có cõng thêm 3 người đẹp nhắm hướng Phu Văn Lâu trực chỉ.
Nghe đâu còn hai tiếng nữa chương trình mới bắt đầu mà người đứng, người ngồi chờ xem đông ngẹt cả ra đường lộ.
Tiếng Long liếng tháu hãnh diện:
-Có Anh Khối cũng nhảy nửa đó (Khối hồi trước làm lơ xe đò cho nhà Long ) Ừ Anh Khối giỏi thiệt đó, bây giờ tụi mầy nhìn Ảnh không ra đâu, nghe đâu Ảnh nhờ ăn cơm lính Nhảy Dù nên to con và cao lớn lắm !.
Thằng Tí mập chen vô:
-Ôi Trời ơi! Ảnh còn trắng ra và đẹp trai nữa đó, thiệt là cơm nhảy dù ngon quá chúng mầy hí, lớn lên tao xin gia nhập sư đoàn Nhảy Dù , Hoàng khều thêm: tao cũng vậy! Và cã bọn cứ nhao nhao lên.
Tiếng con Oanh la lớn:
– Ê tụi mầy, tao nghe tiếng gì ù ù như tiếng máy bay đó .
Một bầu không khí căng thẳng và yên lặng bao trùm hết cả vùng . Một trái khói màu vàng được tung ra, gió thổi tạt nhè nhẹ về hướng Nam. Trên bầu Trời cao và trong xanh, từng đoàn phi cơ xuất hiện,
-Đó, đó tao thấy rồi, tụi mầy thấy chưa? Thằng Nhơn rỗ la hoảng.
Cả bọn xúm lại, đâu? đâu? Sao tụi tao chưa thấy gì cả.

Từ trên cao tít cao, những đốm đen nhỏ xíu bắt đầu xuất hiện, cã bọn hồi hộp chờ đợi. À thì ra họ cho mấy người nhảy dù điều khiển trước, nào dù màu xanh, màu vàng, màu đỏ để biểu diển mà, sau đó rồi từng chiếc dù màu xám xanh lần lượt tung ra từ những chiếc máy bay khổng lồ mà ít đứa biết là máy bay gì. Các cánh dù tỏa những làn khói màu vàng và màu đỏ, vẻ thành hình của lá cờ Việt Nam, bay phất phới ngạo nghể trên Trời cao.
Từng chiếc, rồi từng chiếc, các máy bay thi nhau nhả ra trên bầu Trời xanh biếc trông xa như hình các cây nấm mọc chi chít. Trong phút chốc các Thiên Thần rồi cũng đáp xuống đất, có người thì đứng chửng chạc trên đôi chân của mình, nhưng cũng lắm kẽ lăn cù ra kìa.
Chiều đến anh Khối ra nhà Long thăm ông cụ Long, trông anh chững chạc, rắn chắc, đen đũi hơn nhiều không trắng trẽo như Tí mập đoán mò, nói bừa nhưng rất oai phong và hiên ngang trong bộ đồ rằn ri với chiếc mũ đỏ oai hùng đội trên đầu .
Long mượn anh Khối cái mũ đỏ (cái mũ đỏ màu đỏ thắm đã được anh Khối cẩn thận tẩm bia 33 cứng ngắt , rớt xuống, đụng chân chắc phải vào nhà thương và đội nghiêng nghiêng trên đầu mình, xong Long chạy khắp xóm để khoe cái mũ đỏ tỏ ra mình có quan hệ mật thiết với binh chủng Dù. Hơn một giờ sau Long trở về nhà để còn kịp nghe anh Khối thao thao bất tuyệt về thành tích chiến đấu của anh trong binh chủng Nhảy Dù ( mặc dầu anh gia nhập Binh Chủng này mới hơn một tháng ) Nào là anh từng giết hằng trăm tên Việt Cộng, nào là từ trên máy anh đã xạ kích xuống, nào anh đã xạ kích lúc đứng cửa máy bay chờ giờ nhảy, nào là anh cũng xạ kích lúc đang lơ lửng trên không, nào là là anh đã đi khắp 4 vùng chiến thuật, nào là, nào là …… tụi nhỏ suýt soa, ngẩn người nghe say đắm và thán phục .

Thời gian thắm thoát thoi đưa, 5 năm sau, tụi nhỏ giờ nầy đã 18,19 tuổi rồi, có đứa có mảnh bằng trung học trong tay, có đứa may mắn hơn có được cái tú tài 1, có đứa xui xẻo chẳng được gì đúng là “ học tài thi phận “, nhưng không nghe đứa nào còn say mê hay nhắc nhở đến binh chủng Nhảy Dù nửa .
Nghe theo tiếng gọi của non sông, cả bọn rủ nhau nhập ngủ. Long tình nguyện vào Võ khoa Thủ Đức, sau thời gian chấm dứt giai đoạn 1, được gắn alpha trên cầu vai, anh được Quân Chủng Không Quân vào tuyển mộ tại Quân Trường để đi học làm hoa tiêu trực thăng ( thời gian này Mỹ giao cho Việt Nam rất nhiều máy bay trực thăng, nhưng thiếu phi công trầm trọng ). Nhưng Long từ chối, Anh đã quyết chọn binh chủng Nhảy Dù làm đường binh nghiệp tiến thân.
Mổi tuần, khi về phép anh thích đi la cà mấy tiệm bán quần áo lính ở Sàigòn, để ngắm nhìn, lựa chọn cho mình bộ đồ Dù và cái nón Đỏ vừa ý nhất. Long thích nhất là bộ quần áo màu huyết dụ, cái mũ đỏ hiệu của Pháp với cái bằng dù cánh màu vàng có mấy vòng tròn bên dưới cánh dù. Coi lại thì giá tiền hơi mắc, cái này chắc phải đợi thêm thời gian nửa mới để dành tiền đủ để mua.
Nhiều đêm Long nằm ngủ mơ thấy mình oai nghiêm trong bộ đồng phục màu huyết dụ, trên đầu cái nón đỏ đội nghiêng nghiêng ( tẩm bia 33 cứng ngắt ), ngực sáng chói với bằng dù có mấy vòng tròn, từ trên trời cao Long nhảy xuống sông Hương có giòng nước xanh lơ, lững lờ chảy, dưới đất có những cô gái xứ Huế tha thướt xinh đẹp ngây ngất ngắm từng người hùng trong đó thế nào cũng có em Hương của Long, nhưng trong giấc mơ Long cũng giật mình chợt nhớ ra là mình chưa được đào tạo để lấy bằng Dù, biết làm sao mà xuống đất được đây. Không biết rồi đây học lấy bằng Dù có khó không nửa, giá mà giờ này có Anh Khối ở đây thì đở cho Long biết mấy tha hồ mà học tha hồ mà hỏi .
Thằng Mừng đi Đồng Đế ở Nha Trang ra Tiểu Khu Gia Định, vai đeo chữ V, coi cũng oai ra phết lắm chứ, thằng Nhơn thì đi Thủy Quân Lục Chiến, coi rất ngầu với chiếc nón mầu xanh, thằng Tí thì đi Thủ Đức sau Long 1 khóa. Long hỏi nó:
-Ê Tí, mầy chọn đi binh chủng nào?, nó nhăn mặt mắc cở :
-Ờ tao chọn Sư Đoàn 1 cho gần nhà, ba tao muốn vậy, ông sợ đi Nhảy Dù dể lên bàn thờ quá.
Nhát gan quá , Hèn gì con Thủy mầy bõ đi lấy chồng, cho nên mày thất tình não ruột
Nếu biết rằng em đã có Chồng
Anh về lấy Vợ , thế là xong
Vợ anh không đẹp bằng Em lắm
Nhưng cũng “ xêm xêm “ Thẩm Thúy Hằng.
Long vừa ngâm thơ, vừa cười hô hố , vừa nói: mầy cứ ra đó trước đi, sau nầy khi tao lên làm tư lệnh quân đoàn 1 tao sẽ nâng đỡ mầy, cho mầy lên lon (làm như lon bia không bằng ) bạn bè mà, tao không quên mày đâu. Long tiếp:
-Nhớ ghé nhà thăm ông cụ tao giùm tao, có lẻ tao sẽ bận hành quân liên miên đó .
Tí đứng chụm hai chân lại cái rụp, trong thế nghiêm vừa chào vừa nói :
-Vâng, nghe Tư Lệnh.
Xong cả hai thằng ôm nhau cười ngã nghiêng, rất hồn nhiên.

Còn ba tuần nửa thì đến ngày ra trường, Thiếu Tá Phạm Ngọc Lân và ba bốn thiếu úy, bốn năm ông thượng sỉ, lái những chiếc xe díp có gắn huy hiệu Nhảy Dù đến Trường để tuyển mộ tân sinh viên sỉ quan cho Binh Chủng Nhảy Dù. Trông oai hùng quá, tụi Long hồi hộp quá trống ngực đánh liên hồi .
Thiếu Tá Lân lôi trong cặp ra một tập hồ sơ và bắt đầu xướng danh. Long thấy quá hồi hộp, ông Thiếu Tá sao đẹp trai quá, giọng ông Thiếu Tá sao rang rảng thế chứ, nghe chắc nịch và oai nghiêm quá.
Ông đọc hơn hai chục tên rồi ông ngừng lại, làm cho Long cũng như ngừng thở. Long cố đứng nhón trên hai đầu ngón chân và hai tay cố khuỳnh ra, mong sao cho mình được cao lên vài ba tất được to ra thêm chút xíu. Long hồi hộp chờ đợi giây phút này cả năm sáu năm nay rồi, kỳ này mà hụt thì chết, lại còn không biết nói năng ra làm sao với nàng Hương đây, lỡ khoe ầm lên rồi, đã lỡ hứa hẹn sẽ trở về cưới nàng làm vợ trong bộ quần áo của “Thiên Thần Mũ Đỏ “. Phần nàng dầu nhiều cám dổ đến nhưng cũng chấp nhận chờ chàng vì lời thề trăng hẹn biển năm nào. Nhớ ngày nào mới làm quen Hương, Long đã chép nguyên văn bài thơ “ sến “ của anh chàng thi sĩ nào mà Long không nhớ tên , để tặng nàng, thơ rằng :
Đêm không trăng làm bầu trời đen tối
Sông không đò làm lở chuyến sang ngang
Lòng không Yêu là một cánh đồng hoang
Yêu không tỏ là muôn vàn đau khổ.
Nàng nhận được thư, ngẩn ngơ mất cả tuần, đêm đêm cứ ôm khư khư bài thơ, để nghĩ tới “hoàng tử gấu “ hay “hoàng tử lưng gù “ trong các truyện Thần Tiên.
Trở lại với đoàn tuyển mộ, sau gần nửa giờ giải lao, ban tuyển mộ đã trở lại làm việc, Lại ngồi xuống, lại lôi giấy tờ ra. Gớm, sao mà “rùa” quá vậy, hồi hộp, Long nuốt nước miếng nghe ừng ực, sao lâu quá chưa thấy tên mình, nhón chân và khuỳnh tay đã mỏi, Long bỏ vội tay xuống, vừa lúc đó ông Thiếu Tá tằng hắng giọng và kêu lớn tên Long .
Long vội vàng la lớn:
-có mặt, và bước nhanh ra ngoài, quên cả nhón chân và khuỳnh tay ( cho được to con thêm 1 chút ).
Một ông Thượng sĩ, bước tới, nắn tay chân Long, bảo Long đứng lên ngồi xuống như lựa gà lựa vịt để mua không bằng. Ông Thiếu Tá thì ngồi yên nheo nheo con mắt, gật gật cái đầu. Cuộc tuyển lựa kéo dài thêm một tiếng nửa rồi chấm dứt, ra về tất cả bốn mươi mốt tân sinh viên sỉ quan được chọn về Binh Chủng Nhảy Dù. Long thở ra thoải mái, vậy là xong.

Rồi thì ngày ra trường cũng phải đến, sau chín tháng với mấy ngày lẽ, Long lễ mễ túi xách, balô dời Quân Trường đi nghỉ phép mãn khóa. Sau hơn tuần lể nghỉ phép đã đời, dĩ nhiên là Long chơi luôn bộ đồ huyết dụ, với cái nón đỏ, đỏ tươi dắt một bên vai kể cả lúc ăn lúc ngủ.
Long lấy vé máy bay quân sự, để bay về Sàigòn trình diện Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù.
Vừa xuống phi trường, Long hỏi đường về Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù, may quá Long được Trung Úy Hoàng Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù (đi cùng chuyến máy bay ) cho quá giang xe Jeep, về Trung Tâm Huấn Luyện.
Ở đây người ta cho Long về nhà nghỉ, sáng mai tới sớm để thi. Long thắc mắc, lại thi nửa, thi cái gì đây chớ.
Đồng hồ báo 5 giờ sáng, Long vội nhỏm dậy, vệ sinh cá nhân và lên đường. Thấy mọi người đã tụ lại tập họp Long cũng vội vàng chạy vào hàng. Trung Sĩ nhất Ngọ, người huấn luyện viên cất cao giọng để điểm danh, và sau đó Trung Sĩ nhất Ngọ nói về kỹ luật ở bải tập, nói về chương trình tập dợt gồm có 3 tuần lễ: Tuần 1 tập dưới đất, Tuần 2 tập lưng chừng và Tuần 3 tập trên không. Tất cả la lớn: Nhận rõ.
Nhìn quanh Long thấy rất đông, nhưng không nhớ là bao nhiêu người, Sĩ Quan có Hạ Sĩ Quan có và có cả anh em Binh Sĩ nữa, Long thấy một số Sĩ Quan mới ra trường, vai mang “ quai chảo “ giống Long, chàng nhìn quanh nhưng chưa nhận ra ai quen cả. Sau đó Trung Sĩ nhất Ngọ sắp thành 10 hàng và chia ra mổi hàng là mười lăm người, đứng đầu mổi hàng có vài ba ông tân Sĩ Quan. Long lại được đứng đầu hàng số 3. Và số của Long là 1/3 làm trưởng toán.
Sắp hàng và chia toán xong, bây giờ Trung Sĩ nhất Ngọ mới nói về “ Cuộc Thi nhập môn “ Chạy bộ, Tất cả theo Trung Sĩ nhất Ngọ nhắm hướng phi trường trực chỉ .
Tới nơi Trung Sĩ nhất Ngọ nói: Đây là cuộc thi sức khoẽ đầu tiên, các bạn (xin lổi các vị Sĩ Quan cho tôi được gọi chung là các bạn, được không ạ? ) bây giờ mình bắt đầu chạy vòng quanh sân bay, bạn nào chạy chậm hay bõ cuộc, sẽ bị đánh rớt . Chúng ta bắt đầu chạy, Trung Sĩ nhất Ngọ dẩn đầu, vừa chạy vừa hô to: Nhảy Dù, diệt thù, Sát. Xong ông bắt tụi Long hô theo “Sát” thiệt lớn, rồi: Nhảy Dù, chỉ thích chạy bộ không thích đi xe ( xe đâu mà đi chứ ) Cả đoàn hô theo: Chỉ thích chạy bộ không thích đi xe.
-Chạy lẹ la lớn lên, Trung Sĩ nhất Ngọ hét lên.
Chạy mấy vòng Long không nhớ, hình như là 8 vòng tất cả nhưng Long đoán biết là khoãng chừng 8 cây số .
Đoàn người mệt lã, rã rời, vừa chạy vừa đi kéo cái đuôi người dài thường thược. Chuẩn Úy Thanh vừa chạy vừa bám vào Long than:
-Tao mệt quá rồi, chắc tao bõ cuộc quá!
Long khuyến khích bạn: mầy ráng lên chỉ còn chút xíu nửa là tới rồi. Trung Sĩ nhất Ngọ ra hiệu tất cả kéo về Trung Tâm Huấn Luyện.
Ông chờ Long đi ngang gần ông , ông lên tiếng: Chuẩn Úy , Long dừng lại ngay chổ ổng , ổng nói ngày mai Chuẩn Úy nhớ đi mua bộ đồ bằng vải kaki thường để đi huấn luyện nghe, mà Chuẩn Úy học lấy bằng Dù ở đâu vậy ? Chuẩn Úy đã biết nhảy giỏi, và có cả bằng Dù của Huấn Luyện viên nửa ?? Ngày mai Chuẩn Úy nên bõ bộ đồ này ở nhà đi, mặc bộ đồ vải thường mà đi học nha.
Long mắc cở nên ầm ừ cho qua chuyện.
Về tới Sư Đoàn, Trung Sĩ nhất Ngọ tuyên bố: Có vài người hơi yếu nhưng vì sự cố gắng của anh em theo tinh thần Nhảy Dù nên tôi không đánh rớt ai cả. Tất cả vổ tay ầm lên, hoan hô Trung Sỉ nhất Ngọ, kỳ này cho ông lên Thượng Sĩ luôn, cả bọn cười ầm lên. Sau đó tất cả chọn cặp , và bắt đầu cuộc chạy đua 10 thước có cõng người bạn mình trên vai, để sau này lúc ra trận có dịp sẽ cõng bạn mình nếu họ bị thương, Long chọn Thanh vừa nhỏ con vừa không được cao.
Rồi những ngày kế tiếp Long và cả toán học bò, học chạy, học lăn lộn dưới đất học té xuống đất, học cách chống dù lôi, qua tuần lể thứ 2 thì học nhảy từ trên máy bay (đã bị hư người ta cho khóa sinh thực tập ) học đi giây tử thần, học té từ trên cao xuống đống cát và tập nhảy chuồng cu tuần lể thứ 3 thi thực tập trên máy bay thiệt .
Long còn nhớ hôm đó 4 giờ sáng là tất cả đã phải có mặt, được phát dù, mặc dù và kiểm soát cho nhau cẩn thận. Gần 9 giờ sáng thì chiếc phi cơ C47 xuất hiện , tất cả lặng lẽ sắp hàng 1 lên máy bay , Trung Sĩ nhất Ngọ bắt cao giọng bài “đường trường xa” và đánh nhịp ,tất cả cất cao giọng hát to và nhịp nhàng coi rất oai hùng , nhưng khi máy bay bắt đầu rời phi đạo thì không ai bảo ai ,không không khí thật nặng nề tất cả đều giử im lặng mặt mũi rất thành khẩn và nghiêm trang , Long nghe có tiếng thì thầm lâm râm cầu kinh nguyện Chúa và Phật , có kẻ còn kêu tên vợ con , cha mẹ nửa .

Bãi nhảy Ấp Đồn hiện ra dưới ánh nắng ban mai rực rở và huy hoàng , thần kinh căng thẳng , không khí im lặng bao trùm , Long được Trung Sĩ nhất Ngọ lôi ra đứng ngay cửa , ông thắt một sợi giây nối liền ngang bụng ông ta rồi cột vào lòng phi cơ . Tiếng động cơ gào thét ầm ỉ, tiếng gió thổi lồng lộng từ cái cửa mở toan ra , thổi vào phành phạch làm đầu tóc ổng rối tung lên . Minh nhìn ngang hông máy bay thấy 2 bóng đèn 1 xanh 1 đỏ , Long thấy hơi hoảng , nhưng tự ái , tư cách và danh dự của 1 Sĩ Quan Long đành phải bấm bụng làm ra vẻ ta đây , nhưng trong bụng đã thầm cầu cứu với Thượng Đế xin giúp đở ban ơn lành và xin Chúa biệt phái Thiên Thần tới giúp đở . Dưới đất người ta đốt 1 trái khói màu vàng, theo hướng gió thổi ngược về phía trường tiểu học gần đó . Dưới đất xe cộ, nhà cửa đều nhỏ như kiến , đang mãi mê suy nghỉ , vừa thoáng nghe tiếng “ go “ của Trung Sĩ nhất Ngọ thì như có ai nhấc bổng Long và ném ra ngoài cửa máy bay,Long hơi hoảng quên cả những con số mà huấn luyện viên đã dạy đếm lúc huấn luyện, cái dù giật mạnh , tung Long lên cao, và từ từ hạ xuống. Long thấy mặt đất vù vù dâng cao lên dần như giòng nước lụt. Canh theo hướng trái khói tõa Long chụm chân lấy thế đáp xuống đất, nhưng chân vừa chấm đất Long đã ngã chổng cẳng, phải bò dậy vội vàng vừa chạy nửa vòng tròn để tránh bị tình trạng dù lôi .
Rồi ngày qua ngày, Long đã đủ 6 lần nhảy để được cấp bằng, cái bằng có cánh dù màu trắng, không đẹp như cánh dù màu vàng, hay cánh dù có ngôi sao, nhưng đây là cánh dù thật sự của Long đã khổ công luyện tập hơn 3 tuần lể. Long đã biết thế nào là “ lể độ “ không dám huyênh hoang như anh Khối của Long ngày nào, súng phải cột chặt vào người, không tác xạ bừa bải như “ cậu Khối “. Long lại được cấp sự vụ lệnh về trình diện Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù, ngay trong khuôn viên Sư Đoàn Nhảy Dù.
Long nhớ một vài câu thơ tả cảnh ra trình diện đơn vị mà Long quên tên tác giả :
Năm xưa mẹ vá cho con áo
Dành dụm đưa con tới học đường
Ngày nay vá lại non sông rách
Mẹ lại đưa con ra Chiến Trường
Lòng của Long nao nao hãnh diện như “ Kinh Kha “ ngày xưa sang sông “ Dịch “ .
Long và bảy tân Sĩ Quan cùng khóa được gặp Thượng Sĩ nhất Cần , Chỉ Huy hậu cứ Tiểu Đoàn .
Ba ngày sau đó Long được đưa ra trình diện Tiểu Đoàn Trưởng và tăng cường hành quân cho Tiểu Đoàn đang hành quân ở Huế .
Ở đây Long gặp và trình diện Thiếu Tá Nguyễn Thế Nhả – Tiểu Đoàn Trưởng, Thiếu Tá Nguyễn Đình Bảo – Tiểu Đoàn Phó, Đại Úy Nguyễn Văn Đỉnh – Sĩ Quan Ban 3, Trung Úy Phan Nhật Nam – Đại đội 90, Đại Úy Lê Văn Mể – Đại đội 91, Trung Úy Nguyễn Văn Thành – Đại đội 92, Trung Úy Vũ Quang Khuyến – Đại đội 93 và Đại Úy Vỏ Văn Thừa – Đại đội 94. Ông nào coi cũng ngầu cả, Long lại càng thấy mình bé nhỏ lại.
Tối hôm đó Long được đưa về đại đội 94 dưới sự chỉ huy của Đại Úy Vỏ Văn Thừa -Anh về Trung đội 1. Đại Úy Thừa nói và ổng tiếp:
– Đêm nay đại đội mình sẽ đóng quân ở tại Sân vận động Tự Do ( của Thành Phố Huế )
Đại Úy Thừa người miền Nam nhưng ăn nói nhỏ nhẹ, nói ít nhậu nhiều, nói nhỏ nhẹ nhưng rất có uy, tại đây Long gặp Trung Úy Nguyễn Đức Tâm, Trung Úy Lê Mạnh Đường, Thượng Sĩ Thạch Sanh người Việt gốc Miên làm Trung Đội Phó, Hạ Sĩ Khinh, Hạ Sĩ Chi, ông người nẩu, Binh nhì Thính, Binh nhất Sa, Binh nhì Hoàng Hạ Sĩ Khê và âm thoại viên Binh nhất Kiệt và còn nhiều nửa Long không nhớ hết, tất cả đều dể thương, dể mến .
Long được chỉ định theo học nghề (làm Trung Đội Trưởng ) với Thiếu Úy Phương .
Long được Thiếu Úy Phương đem ra trình làng, cả trung đội 17 người im phăng phắc nghe anh lính sữa tâm sự, xong rồi Thiếu Úy Phương cho lệnh tan hàng kiếm chổ ngủ qua đêm, sau khi dặn dò những đều cần phải làm và đặt các toán canh gác, toán tiền đồn . Thượng Sỉ Thạch Sanh tặng Long lá bùa hộ mạng, Hạ Sĩ Chi đem tặng Long một cậy tre để chống khi đi rừng.
Rồi ngày qua ngày, Long bắt đầu chỉ huy Trung Đội, rồi đại đội, qua các “ triều đại “ của Nguyễn Thế Nhả, Phạm Hi Mai, Trần Ngọc Trí, Trần Hửu Phú, Nguyễn Văn Nhỏ và Lê Mạnh Đường, làm quen đời lính với những trận chiến kinh hồn vào sinh ra tử , với những trận pháo như mưa trút, với những địa danh lừng lẩy, tập quen với “ Sinh Bắc Tử Nam “ rồi “ Hàng Sống Chống Chết “ “Xung Phong “ “ Diệt Thù Sát “.

5 Tiểu Đoàn Dù Vượt Mỹ Chánh Tái Chiếm Hải Lăng, Quảng Trị – dòng sông cũ

Ba tháng sau, bọn Việt Cộng xé rào, Tết Mậu Thân, đã đồng loạt tấn công trên toàn lãnh thổ. Vào thời điểm này, chiến tranh leo thang khắp nơi, cường độ gia tăng, cuộc chiến ngày càng gây cấn, khốc liệt.
Thời gian đã “ trui luyện “ anh lính sữa ngày nào, giờ đã trở thành một chiến sĩ dũng cảm của Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù tung hoành trên các chiến trường khắp các nẽo đường đất nước, xâm nhập và đánh phá hậu cần, các kho vũ khí, tiếp liệu được Việt Cộng chôn dấu ở các Quốc Gia láng giềng như Lào ( Hạ Lào ) và Cambốt.
Vài vị Sĩ Quan đàn anh đã hy sinh cho Tổ Quốc, trong số đó có bạn bè cùng khóa và anh em trong Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù của Long. Tất cả đã ra đi còn để lại bao thương nhớ trong lòng mọi người. Long còn nhớ Minh và Trứ đại đội 91, Minh ốm và Minh đầu bạc ( gọi đầu bạc vì đầu anh bạc phơ như ông cụ 90 tuổi ) đại đội 92, Tài ( Miên lai ) Thanh ( lùn ) đại đội 93 Văn và Long về đại đội 94. Cuối cùng còn lại Trứ ( Nguyễn Hoàng Trứ ) và Long cùng các bạn như Nguyễn Ngọc Trọng, Lê Đình Ruân, Đinh Văn Tường, Phạm Bá Hồi, Nguyễn Hửu Thăng, Nguyễn Thành Út, Bùi Quang Thống, Lý Khôn Sơn, Vủ Long Sơn Hải, Nguyễn Tấn Vinh, Nguyễn Thành Thiện, Lê Hoàng Kiệt, Chu Y Quý, Nguyễn Văn Bình, Mạc Bìa và Lê Tấn Khinh.
Giòng Hương Giang vẩn cứ mầu xanh lơ muôn thuở và lặng lờ trôi, mặc cho con Tạo xoay vần nhưng trong sự hững hờ của bên ngoài, chứa đựng niềm thương nhớ khôn nguôi (giống tâm tư của người dân Huế ) những bóng dáng quen thân của các “Thiên Thần Mũ Đỏ” năm nào. Như hình bóng của “ Hòn Vọng Phu “ ngóng trông chồng về giải cứu Quê Hương.

Viết xong ngày 15 tháng 12 năm 2012 tại Thành Phố Houston , Tiểu Bang Texas .
Kính tặng : Quý Niên Trưởng , Quý khóa đàn anh
Quý Sỉ Quan đồng khóa
Quý Sỉ Quan, Hạ Sỉ Quan, Binh Sỉ và các Thương Bệnh Binh
Thuộc Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù.
Đã đồng đóng góp mồ hôi và xương máu viết nên những trang sử oai hùng cho Sư Đoàn Nhảy Dù, cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để lại những tấm gương anh dủng cho hậu thế .

Nguồn: http://www.nhaydu.com/MuDo68/ToiDiLinhNhayDu.html

Tiểu Ðoàn 3 Pháo Binh TQLC tại Căn Cứ Hỏa Lực Hồng Hà – MX Trần Thiện Hiệu

MX Trần Thiện Hiệu

https://i2.wp.com/tqlcvn.org/images/TD3PB%20TRANS.gif

Ðầu năm 1971, Thủy Quân Lục Chiến tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 với toàn bộ Sư đoàn. Tiểu đoàn 3 pháo binh yểm trợ Lữ đoàn 258 do Ðại tá Nguyễn Thành Trí làm Lữ đoàn trưởng. Khi sang Lào, Lữ đoàn đóng tại căn cứ Hồng Hà trên đỉnh Koroc, chỉ có chỗ chiếm đóng cho một pháo đội mà thôi. Tôi tình nguyện sang Lào với pháo đội I, mặc dù tôi có thể ở lại Khe Sanh. Tôi đã bỏ dịp du học Hoa Kỳ lần thứ hai, chấp nhận tham dự hành quân thì phải sang Lào tuy biết rằng nhiều nguy hiểm đợi chờ. Lúc đó tình hình nhiều bất lợi cho ta: Cộng quân đã tập trung đại quân và sẵn sàng đánh lớn, Lữ đoàn thiết kÿ đã bị chặn lại trên đường số 9, một Lữ đoàn Dù đã phải di tản chiến thuật ở đồi 30, Lữ đoàn trưởng và tiểu đoàn trưởng Pháo binh bị địch bắt sống. Tôi không quên được cái nhìn lo âu của người hạ sĩ tài xế lúc anh đưa mũ sắt và áo giáp cho tôi trước khi ra bãi đáp, hai thứ này để trên xe nhưng tôi chưa bao giờ dùng đến.

Vừa nhảy từ trực thăng xuống căn cứ Hồng Hà, tôi leo lên đỉnh cao nhất với tên trên bản đồ là Koroc. Tôi nhận ra đây là vị trí của một pháo đội 155 ly vừa di chuyển đi nơi khác, với 4 ụ súng tôi chọn ụ súng trên cao để đặt Bộ chỉ huy tiểu đoàn và đài tác xạ pháo đội I, còn 3 ụ súng kia mỗi ụ nhét vào 2 khẩu 105 ly vì không có thì giờ để làm thêm ụ súng, và hướng Tây là hướng tác xạ chính không trở ngại cho việc bắn yểm trợ các cánh quân bạn. Mười phút sau, những chiếc trực thăng đã câu 6 khẩu 105 ly tới, mặc cát bụi mịt mù, gió thổi như bão của những cánh quạt trực thăng khổng lồ, các pháo thủ phải đẩy pháo vừa thả sang một bên để có chỗ cho khẩu thứ hai xuống. Sau đó ráng xoay xở làm sao để có thể tác xạ được cả pháo đội 6 khẩu. Nửa giờ sau, Pháo đội I đã sẵn sàng tác xạ, các pháo thủ đều tắm một màu bụi đỏ khắp người.

Ðỉnh Koroc rất nhỏ, hai chiều ngang dọc chỉ chừng trên dưới 100 mét mà phải chứa cả Bộ chỉ huy Lữ đoàn 258, Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 3 pháo binh, pháo đội I cộng thêm Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến . Hơn một ngàn con người chen chúc trên mãnh đất như lòng bàn tay ! Thế mà sáng hôm sau còn phải chuẩn bị chỗ cho một pháo đội 155 ly 4 khẩu nữa. Cũng may, buổi chiều trực thăng lại câu lên cho một chiếc xe ủi đất nhỏ, nhờ dùng nó để ủi xuống sườn núi nên làm được 4 ụ súng 155 ly và một bãi đáp nhỏ cho trực thăng. Bãi đáp này cũng là nơi nhận tiếp tế lương thực và đạn dược, nhất là đạn pháo binh mà sáng nay các pháo thủ đã phải xuống chân núi vác lên từng trái, rất lâu và quá tốn sức.

Khi hành quân sang đất Lào, sĩ quan cố vấn Mỹ đều ở lại Khe Sanh, tuy nhiên vẫn thường liên lạc vô tuyến, anh bạn Mỹ của tôi rất tốt, tôi cần bao nhiêu phi vụ trực thăng đều có đủ. Nhờ vậy chúng tôi có đầy đủ lương thực, đạn dược, nước uống cũng dư một chút để lau mình. Và cũng nhờ sự tận tình lo lắng của anh mà suốt cuộc hành quân chúng tôi được tiếp tế, tải thương nhanh chóng và ngày cuối không phải đi bộ về Khe Sanh.

Toán tiền sát đi với Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến vừa nhảy ra khỏi trực thăng thì bị địch pháo kích, làm bị thương một pháo thủ (chiếc ba lô có cái soong nấu cơm của anh cũng bị thủng), tôi gọi về Khe Sanh xin thay thế người và vật dụng. Vừa tác xạ yểm trợ cho Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3, chúng tôi còn phải tăng cường hỏa lực cho anh bạn Mũ Ðỏ, anh bạn này xài hoang, bắn bao nhiêu cũng chê ít, thật sự thì anh đang đụng nặng. Chập tối, mức đạn thấp đi , dĩ nhiên chúng tôi phải dè xẻn… Ngày mai với 30 phi vụ tiếp tế đạn dồi dào chúng tôi có thể tiêu sang, nhưng cũng thương cho các pháo thủ phải vất vã ngày đêm, có em vác trái đạn mà không đủ sức nạp vào nòng và ngã xuống…

Tuần lễ thứ nhất, căn cứ Hồng Hà hầu như yên tĩnh, chưa một trái pháo kích nào gây thiệt hại đáng kể. Cánh quân của Tiểu đoàn 1 tiến chậm về hướng Tây Nam chỉ bị pháo nhẹ nhưng không chạm địch, cánh quân của Tiểu đoàn 3 tiến về hướng Tây cũng vô sự. Từ trên đỉnh cao nhìn xuống thung lũng dưới chân núi, chúng tôi quan sát pháo địch tác xạ thường trực vào vị trí Tiểu đoàn pháo binh 200 ly của Hoa Kỳ. Cứ mỗi lần mấy anh pháo thủ Mỹ vào thế bắn là pháo 130 ly của Cộng quân ào ào đáp lễ. Hình như có tiền sát viên địch ở đỉnh núi nào đó rất gần vị trí quân ta, chúng tôi dò tìm tần số để phá thì chúng lanh lẹn đếm số gọi nhau về chỗ khác. Lính truyền tin mình và địch cãi nhau, chữi nhau ngày đêm trên hệ thống vô tuyến.

Trận Hạ Lào, đặc biệt Cộng quân chấp nhận đánh ban ngày, ban đêm hầu như ngưng bắn khắp mặt trận. Có lần tìm được một tần số truyền tin cán bộ cấp cao của địch, chúng tôi chỉ đấu lý và không chửi bới thô tục. Anh chàng sĩ quan người Hà Nội kể chuyện miền Bắc rồi ngâm những bài thơ anh làm khi vượt suối băng rừng. Ðổi lại chúng tôi mở máy thu băng cho anh nghe những bản nhạc miền Nam. Anh ta tâm sự khi còn ở Hà Nội, ban đêm anh hay lên sân thượng nghe đài miền Nam nên biết tên nhiều bài hát và các ca sĩ nổi tiếng. Anh yêu cầu cho nghe bài “Sao rơi trên biển”, chúng tôi hơi quê vì không biết bản nhạc này, đành nói không có mang theo. Chúng tôi hẹn nhau nói chuyện mỗi đêm, một hôm tôi ví chủ nghĩa Cộng sản như củ cà rốt và anh ta chỉ là con ngựa kéo xe, anh giận và tắt máy. Hôm sau tôi xin lỗi và nối tiếp câu chuyện, nhưng ngay lúc đó tiếng ầm ầm của B52 nổi lên như sấm động, tôi mất liên lạc với anh ta từ lúc đó. Tôi thầm cầu mong cho anh bạn bên kia chiến tuyến bình an, nhưng tôi cũng nghĩ rằng anh sẽ chẳng còn dịp để đọc bài thơ anh làm cho người con gái hậu phương miền Bắc. Anh đã ứng lời thề: Sinh Bắc Tử Nam!

Qua tuần lễ thứ hai, tình hình chiến sự trở nên nặng nề, Cộng quân đã bôn tập bao vây mình. Chúng tôi nhìn thấy rõ địch lấy nước thổi cơm dưới chân núi, nhưng đỉnh Koroc cao quá nên khi ném lựu đạn chỉ nổ ở lưng chừng núi. Khi chúng tôi gọi pháo rót xuống thì chúng chui nhanh vào lỗ vào hang, phi cơ oanh kích vừa rời vùng là lính Cộng đi tới đi lui. Chúng tôi ngồi nhìn bất lực bom lửa thiêu rụi cả ngọn đồi, nhưng khi chiến xa Mỹ mở đường tiếp tế thì cũng từ ngọn đồi đó cộng quân dùng đại bác không giật, hỏa tiễn cầm tay bắn cháy chiếc dẫn đầu. Xe tăng Mỹ lui lại phía sau, phi cơ lại đến oanh tạc, khói lửa mịt mùng… Suốt cả buổi chiều, đoàn chiến xa Mỹ không đến được vị trí pháo binh để tiếp tế.

Căn cứ hỏa lực Ðống Ða cũng đang bị đe dọa, trực thăng không thể đáp xuống tiếp tế và tải thương. Tôi chỉ có một pháo đội 105 ly và 4 khẩu 155 ly, không đủ hỏa lực để yểm trợ hữu hiệu. Thiếu tá Ðạt tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Pháo binh, than nho nhỏ trong máy truyền tin khi tôi hỏi tình hình:

– Mưa nắng quá anh ơi.

Anh chẳng cần than tôi cũng nhìn rõ qua ống nhòm, chỗ anh ở ánh chớp của đạn pháo lóe liên tiếp, khói lửa bốc ngập trời. Ðịch đã dồn hết hỏa lực vào căn cứ Ðống Ða. Trời về chiều, máy bay đã ngừng, chỉ còn thỉnh thoảng một phi vụ B52, không đủ làm câm những họng pháo địch đã được dấu sâu vào khe núi.

Ðã đến lúc Cộng quân hỏi thăm vị trí của chúng tôi, pháo địch đã bắn tới, nhờ đỉnh núi cao nên đạn chỉ rơi dài, rơi ngắn, có khi trúng là phải gọi trực thăng, lính tiểu đoàn Ó Biển tải thương ngày đêm. Một trái rơi trúng hầm đạn pháo nhưng may pháo thủ dập tắt lửa kịp thời. Ðịch vẫn đốt lửa nấu cơm dưới chân núi, tin cho biết có cả một trung đoàn địch sẽ chận đường về nếu phải đi bộ rút lui. Pháo thủ chúng tôi cả chục năm không đi bộ, cũng chuẩn bị ba lô sẵn sàng…Tôi tiên đoán sẽ có nhiều khó khăn nên chỉ thị Bộ chỉ huy tiểu đoàn trang bị thật nhẹ, chỉ đủ để hoạt động.

Tại căn cứ Ðống Ða, tình thế hầu như tuyệt vọng, đã 3 ngày không tải thương tiếp tế gì được. Cả không quân lẫn B52 chỉ có thể làm chậm phần nào sự tấn công vào căn cứ chứ không đẩy lui địch và làm tê liệt pháo binh của chúng được. Ðạn pháo đã cạn, các bánh xe hầu hết bị xẹp, hơn nữa pháo địch trút xuống không ngớt và pháo thủ mình chỉ còn nước chui vào hầm chịu trận. Ðoàn trực thăng tiếp tế cho Ðống Ða không được đành thả những lưới đạn xuống vị trí chúng tôi. Tôi dư đạn nhưng pháo thủ của tôi phải vác đạn không kịp thở. Chúng tôi đang bắn yểm trợ tối đa hỏa lực vào những chiếc T54 xung phong vào căn cứ Ðống Ða thì bỗng nhiên mất hết liên lạc trên hệ thống truyền tin. tần số Thiếu tá Ðạt yên lặng, tần số Lữ đoàn cũng im, tôi đoán toàn bộ Lữ đoàn 147 đã rút lui chiến thuật. Dò tìm một lúc lâu, tôi bắt liên lạc được với một trung đội của Tiểu đoàn 2, anh Trung sĩ xưng ngay tên họ bạch văn chỉ cho anh cách nào liên lạc với đơn vị của anh. Tôi chỉ hướng đi cho anh và hứa sẽ giúp anh tìm về đơn vị gốc.

Một giờ sau tôi bắt được tần số của Ðạt, anh vừa thở vừa than mệt . Tôi mừng cho anh đã thoát khỏi vòng vây của địch, nhưng đường về còn xa và địch còn đầy rẫy khắp nơi. Tôi hứa cung cấp đạn soi sáng suốt đêm, cứ noi theo ánh sáng hỏa châu mà đi, Tiểu đoàn 3 Sói Biển sẽ đón trên đường về. Lắng nghe tôi nhận ra đủ tên các Pháo đội trưởng và Tiểu đoàn phó của Ðạt. Lúc này cả Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến đều thức để theo dõi bước chân của những chiến binh Lữ đoàn 147 qua máy truyền tin. Ðại tá Bùi Thế Lân từ Khe Sanh nhắc nhỡ theo sát tình hình và báo cáo ngay nếu có sự gì xảy ra. Sự gì ở đây là chạm địch, vì trên đường triệt thoái mà chạm địch sẽ bị nhiều tổn thất và hỗn loạn.

– Hà Nội soi sáng!

– Vẫn liên tục soi sáng, sao lâu quá không nghe tiếng Ðà Lạt?

– Ðà Lạt đây. Tiếng Thiếu tá Ðạt thều thào trong máy, tôi hiểu pháo thủ đã băng đồng chạy bộ. Ðạt mệt lắm rồi, đệ tử phải dìu anh đi.

Khoảng 3 giờ sáng, Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến báo cáo đã tiếp nhận một toán của Tiểu đoàn 2, như vậy là trên đường triệt thoái không có địch chận đánh. Ðến 7 giờ sáng tôi mới nghe tin Ðạt về tới điểm tập trung, anh quá mệt, gần như ngất xỉu. Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trâu Ðiên, đã tập họp binh sĩ bảo vệ bãi đáp để trực thăng bốc toàn thể quân nhân của Lữ Ðoàn 147 về Khe Sanh.

Căn cứ hỏa lực Ðống Ða đã triệt thoái, bây giờ địch dồn hỏa lực vào vị trí chúng tôi trên đỉnh Koroc này. Rất may đỉnh núi cao, vị trí pháo địch xa nên sự tản đạn lớn, pháo địch rơi vào chúng tôi rất ít. Tuy vậy tôi cũng gọi trực thăng tản thương liên tiếp. Tôi có tần số thường trực với sĩ quan cố vấn của tôi nằm ở Khe Sanh và chiếc trực thăng chỉ huy bay trên cao nên mọi sự tiếp tế, tải thương tôi gọi đều nhanh chóng dễ dàng. Cứ mỗi sáng, khoảng 6 giờ tôi đã nghe tiếng gọi của anh Mỹ trên chiếc C&C, chào hỏi và nhờ tôi tin cho anh những vị trí súng phòng không địch. Về hướng Nam căn cứ Hồng Hà, trên một đỉnh núi cao, cách xa chừng 1 cây số thôi, có một ổ phòng không địch đào sâu vào khe đá, chúng tôi dùng mọi hỏa lực mà cả 3 ngày không làm sao dập tắt được. Bom đánh không trúng, hỏa tiễn trực thăng cũng không trúng, pháo 105 của tôi mấy trăm trái chỉ làm nó im tiếng, chui sâu vào khe núi, rồi khi trực thăng bay ngang lại bị chúng bắn. Chỉ còn cách dùng Bộ binh leo lên ném lựu đạn vào miệng hầm của bọn lì lợm này, nhưng leo lên rất khó, núi đá cao vút cây rừng mọc chen nhau và phải mất vài ngày mới leo tới đỉnh núi, việc đó không phải của pháo binh !

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã vào giai đoạn cuối. Tất cả các cánh quân đang trên đường rút lui. Chúng tôi ở ngay biên giới nên sẽ rút sau cùng. Tôi được lệnh phải để lại một trung đội pháo, rút sau chót với 1 đại đội của tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến. Việc này thật không đúng, pháo nặng nề cùng đạn dược và quân dụng… Ðại úy Hùng than thở với tôi, phải can thiệp, tôi hiểu Lữ đoàn chẳng có quyết định gì về vấn đề này, cả Thiếu tá Trước chỉ huy trưởng Pháo binh Sư đoàn cũng vậy, ai dám cãi lệnh ông Ðại tá Bùi Thế Lân. Tôi nói nhỏ với Hùng trước khi lên trực thăng, câu hết đại bác về, nếu mai này có gì chúng ta cùng ra tòa án quân sự, tội thương pháo thủ của tôi, không thể để pháo ở tiền đồn để trực xạ. May mắn phút chót đổi lệnh, Pháo và toàn bộ tiểu đoàn 8 cùng được trực thăng vận về Khe Sanh sáng ngày mai. Tôi yên tâm nhưng tối nay không sao ngủ được, Hùng qua hầm tôi nói chuyện gẫu. Nhà bếp nói còn mấy con vịt xin làm thịt nấu cháo. Dĩ nhiên là tôi OK , mai về rồi để nó làm gì. Sau chầu cháo vịt, quá nửa đêm tôi tuyên bố giải tán: Sáng sớm mai mà không bị pháo kích nặng thì mình sẽ có trực thăng bốc về, còn như rủi ro bị pháo nặng trực thăng không đáp được hoặc bị phòng không địch bắn hạ vài chiếc là tụi Mỹ dám bỏ mình lắm, ta về bằng chân, các bạn cứ sẵn sàng…

Tôi thức giấc khi nghe tiếng gọi của anh bạn cố vấn Mỹ:

– India 6, India gọi bạn, trả lời.

– India, đây India 6, tôi nghe bạn rõ…

Tôi hét to gọi Dũng, Sĩ quan Ban 3 tiểu đoàn rồi điện thoại cho các pháo đội xếp đạn đại bác vào lưới, phải mang về tối đa, kiểm soát lại giây câu đại bác, còn bao nhiêu lưới đạn ở tiền trạm gửi lên chuyến trực thăng thứ nhất.

– Dũng sẵn sàng đem Bộ chỉ huy tiểu đoàn xuống bãi đáp, về trước với Bộ chỉ huy Lữ đoàn, để lại cho tôi một máy PRC25, tôi sẽ về khi trực thăng câu hết pháo.

Tôi lên nóc hầm đài tác xạ với người hiệu thính viên, không mũ sắt, không áo giáp, không phải vì nó quá nặng, tôi tin vào may mắn, đạn sẽ tránh người… Nửa đêm không bị pháo kích nhiều tức là không có dấu hiệu sẽ tấn công bằng lực lượng chính quy. Chỉ e ngại trực thăng bị phòng không bắn rớt, hoặc bãi đáp bị pháo nhiều, tụi phi công Mỹ không dám đáp xuống bốc mình về và trung đoàn Cộng sản đang chờ mình dưới chân núi.

– India 6, đây là India 22, chiếc C&C, trực thăng chỉ huy đã lên bao vùng và gọi tôi.

– India 22, India 6 nghe bạn rõ

– Cho biết vị trí phòng không địch.

– Vẫn như hôm qua, coi chừng khẩu 12 ly 7 ở phía Nam nó sẽ nổ các bạn đấy. Tốt nhất bay từ hướng Bắc đáp xuống rồi quay trở lại hướng Tây trước khi bay về Ðông Bắc. Nhớ tránh xa hướng Nam.

– 22 nhận rõ, con cào cào đang tới bạn chuẩn bị 155 đi trước.

Ðáp hiểu. Tôi gọi máy cho pháo đội 155 ly ném trái khói. Con cào cào, loại trực thăng cấp cứu mạnh nhất bay tới từ hướng Ðông Bắc, nó đã nhìn thấy khói vàng, từ từ đáp và như đậu trên đầu khẩu pháo 155 rồi hạ móc sắt. Người khẩu trưởng đã nhanh nhẹn móc sợi dây câu đại bác vào cái móc đó, nhảy xuống đất vẫy tay cho phi công bay lên. Chiếc trực thăng bốc lên nặng nhọc, máy nổ ầm ĩ, cánh quạt thổi bụi đỏ mù mịt. Anh phi công không chịu quay trở lại, từ từ bay ngang miệng lỗ phòng không. Xạ thủ khẩu 12 ly 7 khai hỏa lập tức, tôi vừa nhìn thấy ánh lửa chớp ở đỉnh núi cao vội gọi chiếc trực thăng chỉ huy:

– India 22, phòng không địch hoạt động. Hai chiếc trực thăng võ trang nhào ngay xuống phóng hỏa tiễn ào ào, nhưng chiếc trực thăng câu khẩu 155 ly đã bị trúng đạn, khói đen từ đuôi vẽ một vệt dài trên trời, chúng tôi lo âu nhìn theo, may thay nó lết được về đến Khe Sanh. Khi chiếc thứ hai bay đến, tôi gọi chiếc chỉ huy:

– India 22, bạn bảo phi công chịu khó quay lại, đừng có đùa với Vẹm. Tôi cá với bạn mấy phát hỏa tiễn chưa thịt được khẩu 12 ly 7 đó.

Và lần này, sau khi móc đại bác, chiếc trực thăng ngoan ngoãn quay đầu bay trở lại. Hai chiếc trực thăng võ trang vẫn tiếp tục bắn hỏa tiễn vào vị trí súng phòng không địch, một chiếc lại nhè ngay tiền đồn của tiểu đoàn 8 tặng cho một phát.

– Ðừng bắn vào quân bạn, tụi nó ném trái khói rồi đó !

Tôi hét vào trong máy truyền tin. Trong khi trực thăng loại lớn câu pháo thì những chiếc trực thăng nhỏ đáp xuống bãi đáp dưới chân núi để chở quân sĩ Thủy Quân Lục Chiến. Từng đoàn vài chục chiếc như sắp hàng trên trời, lần lượt mỗi chiếc chỉ đáp xuống có 30 giây, chở 6 người rồi quay đầu bay nhanh. Khi khẩu đại bác cuối cùng về đến Khe Sanh, tôi nói với Hùng, pháo đội trưởng pháo đội I:

– Tôi về trước, trực thăng bốc lưới đạn cuối thì bạn về. Dùng danh hiệu India 6 để liên lạc với trực thăng, có gì gọi tôi ở Khe Sanh.

Nhìn quanh đỉnh Koroc lần chót, phía Tây các chiến binh Quái Ðiểu đang từ từ xuống núi vào bãi bốc. Pháo địch vẫn quấy rối suốt từ sáng nhưng không gây trở ngại cho việc chuyển quân, vài binh sĩ bị thương nhưng trực thăng thì vô sự. Bây giờ tôi nhận thấy địch tác xạ cả súng cối 82 ly, đạn nổ nhỏ nhưng đó là dấu hiệu bộ binh địch đã khá gần. Cuộc di tản chạy đua với thời gian, nếu không vì khẩu 12 ly 7 ác ôn trên cao kia thì cuộc chuyển quân đã nhanh hơn nhiều.

Tôi vẫy tay ra hiệu cho người lính truyền tin theo tôi xuống đồi. Ðến bãi đáp tôi thấy Thiếu tá Ðệ, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến đang điều động binh sĩ Quái Ðiểu lên trực thăng. Tôi giơ tay ra hiệu dành 2 chỗ cho thầy trò tôi về. Ðệ gật đầu, một tay đẩy tôi ra bãi đáp, một tay vẫy trực thăng đáp xuống. Tôi vừa lên cửa trực thăng thì anh xạ thủ đại liên đã nhanh nhẹn kéo tôi lên, mỗi bên chỉ có 3 người vừa nhảy lên là trực thăng bay ngay. Vì chở nhẹ, trực thăng quay đầu dễ dàng, chui ra khe núi và trực chỉ Khe Sanh.

Mười lăm phút sau, tôi đặt chân xuống phi trường, hạ sĩ Thành đã đứng cạnh xe Jeep chờ tôi. Về đến Bộ chỉ huy tiểu đoàn, anh bạn Mỹ chui ra khỏi chiếc hầm nhỏ bắt tay chào tôi. Tôi ngỏ lời cám ơn sự giúp đỡ của anh và đãi anh một chầu chiều nay. Bây giờ tôi cần làm vệ sinh thân thể trước hết.

Về đến Khe Sanh tưởng như được yên tâm, nhưng vẫn có những tin làm hoang mang binh sĩ như: địch sẽ bao vây Khe Sanh cắt đường về Ðông Hà, Sư đoàn Dù đã triệt thoái khỏi Khe Sanh, Sư đoàn 1 Bộ binh tan nát, lực lượng Biệt Ðộng Quân rã rời… quân sĩ Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến không khỏi xuống tinh thần. Trận đánh sang Hạ Lào không thể coi là hoàn toàn thắng theo ý riêng của tôi.

Trong một buổi họp các đơn vị trưởng, tôi nhận thấy một vài người lớn tuổi mất tinh thần chiến đấu, buông lời bi quan. Những ông này sau đó giải ngũ hoặc thuyên chuyển khỏi Thủy Quân Lục Chiến. Lúc đó Tướng Lê Nguyên Khang có mặt, ông đã nói những lời thật khích lệ mà với ngày tháng trôi qua tôi không còn nhớ hết chi tiết, nhưng đại ý như sau:

– Chúng ta gặp khó khăn, nhưng địch cũng có cái khó khăn của nó, không dễ gì nó đủ sức vây hãm chặn đường về của ta. Hơn nữa tôi nói cho các anh rõ, nhân dân miền Nam tin ở Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Quân đội tin vào lực lượng trừ bị nòng cốt là Sư đoàn Nhảy Dù và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, mà Sư đoàn Dù đã triệt thoái, tại đây các anh đại diện cho Quân Lực, Nhân dân miền Nam đang trông chờ các anh…

Cả phòng họp im lặng, tôi cũng như mọi người cảm thấy mình còn trách nhiệm nặng nề. May mắn và đúng như lời Tướng Khang, địch không đủ sức bao vây, cắt đường, chúng âm thầm rút về phía Bắc để tránh bom và bổ xung quân số. Chúng tôi ở lại Khe Sanh một tuần lễ, chờ cho Sư đoàn 1 Bộ binh rút về hết, Thủy Quân Lục Chiến về sau cùng. Lữ đoàn 258 và Tiểu đoàn 3 pháo binh của tôi về căn cứ Mai Lộc phòng thủ tuyến phía Tây của tỉnh Quảng Trị.

Sau cuộc hành quân mang tên Lam Sơn 719, lực lượng Thủy Quân Lục Chiến luôn luôn có 2 Lữ đoàn túc trực tại vùng Hỏa Tuyến. Các Tiểu đoàn luân phiên về hậu cứ tại Thủ Ðức dưỡng quân vài tuần lễ . Riêng các Tiểu đoàn pháo binh không bao giờ được về hậu cứ, cả 3 pháo đội tác xạ, do lẽ tốn nhiều phương tiện, chúng tôi hoán đổi cả xe và pháo để dễ dàng bảo trì. Do đó các tiểu đoàn pháo binh thường có một đứa con nuôi, một pháo đội của tiểu đoàn pháo binh khác. Tuy nhiên việc chỉ huy và phối hợp hỏa lực yểm trợ không có gì trở ngại. Sĩ quan pháo thủ vẫn coi đàn anh là ông thầy, luôn kính trọng và nghe lời.

MX Trần Thiện Hiệu

Nguồn: http://tqlcvn.org/chiensu/cs-td3pb-hq-lamson719.htm

Nghệ “ đen hay trắng” ? = Zedoary (Curcuma zedoaria)  –  Trần Minh Quân

Trần Minh Quân

Nghệ đen hay Nga truật : Curcuma zedoaria = C. pallida

   Tên Zedoary theo các sách vở về thực vật và về gia vị Âu- Mỹ thì thường được gọi là White turmeric hay Nghệ trắng . Tên Nghệ trắng có thể gây nhầm lẫn cho cách gọi tên nghệ trong nước :

    Theo ” Sách Tra cứu Tên cây cỏ Việt Nam” của Võ văn Chi :    – Nghệ trắnglà tên của Curcuma aromatica  (còn có tên Ngải trắng, Nghệ sùi).

                                 Nghệ trắng là tên của Curcuma aromatica              

    – Nghệ đen hay Nga truật : Curcuma zedoaria = C. pallida

    Sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” của Viện Dược liệu VN, tập 2

    cũng ghi Curcuma zedoaria = Nga truật là Nghệ đen, nghệ tím, ngải tím..

Bài này xin giữ nguyên tên Zedoary và các dữ kiện trong bài được dựa theo tài liệu chính là tập sách “ Top 100 Exotic Food Plants” của Ernest Small (CRC Press), các tài liệu phụ sẽ được liệt kê trong phần cuối bài)

  • DANH PHÁP

    * Tên khoa học : Curcuma zedoaria ( Christm.)Roscoe họ thực vật Zingiberaceae

Các tên khoa học đồng nghĩa  Curcuma pallida Lour., Amomum zedoaria..

            C. zerumbet ( Tên C.pallida được Joao de Loureiro dùng mô tả cây trong Flora

            Cochinchinensis từ 1790)

(Một số sách đã xem C. zanthorrhiza như đồng nghĩa với C. zedoaria nhưng đây

là một cây khác có dược tính cũng khác. Xin xem Gardens’ Bulletin Singapore           Số 59-2007 có bài phân loại rất chi tiết về các cây thuộc chi Curcuma).

* Vài chi tiết về tên gọi :

  • Zedoary : từ ngữ phát xuất từ tiếng Ả rập zadwaar , gốc xa hơn từ tiếng Parsi (Iran) zedwaar  (tên gọi của gia vị).
  • Zedoary có khi ‘bị’ gọi là Củ dong Ấn = Indian arrowroot (nhiều củ khác cũng bị gọi tên này)
  • Zedoary khi dùng làm gia vị có đến ..hàng chục tên như zedoar, zeduale, citoval, serwall,cetewale..
  • Một trong những tên, không thể đọc nổi là tên tiếng Tamil của zedoary khi dùng làm gia vị : karppurakkiccilikkilangku!
  • Tên tiếng Đức cổ của cây : Christus-wurzel = Rễ cây của Chúa Kitô.
  • Củ có mùi thơm của xoài nên được người Ấn gọi là amb halad (amb = xoài).
  • Tên gọi của Chi Curcuma do tiếng Arab kurkum = màu vàng ..
  • Các tên trên thế giới : zedoaire, curcuma blanc (Pháp); zitwer (Đức); zedoaria (Ý); cedoaria (Tây ban Nha); kentjur (Indonesia)..péng-é-zhú =bồng nga truật (Tàu)..
  • Vài hàng lịch sử :

  Zedoary có nguồn gốc tại vùng Nam Á và Đông Nam Á nhưng sau đó trở thành cây bản địa tại nhiều nơi kể cả Florida (Mỹ) .Cây là một trong những cây thực phẩm của dân Ấn-Úc, và lan trồng từ thời tiền sử đến các hải đảo Thái Bình Dương và Madagascar. Người Ả  rập đem cây vào Âu châu khoảng thế kỷ thứ 6 sau đó trở thành thông dụng trong thời Trung cổ.

  • ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT

* Mô tả thực vật :

Tuy cây được mô tả chi tiết trong các sách chuyên khoa Việt-Mỹ, chúng tôi dùng bài của TS Võ văn Chi trong “Từ điển Cây thuốc Việt Nam” trang 837.

TS Chi dùng tên Nghệ đen :  “Cây thảo cao đến 1.5 m. Thân rễ hình nón có khía chạy dọc, mang nhiều củ có thịt màu vàng tái. Ngoài những củ chính, còn có những củ phụ có cuống hình trứng hay hình quả lê màu trắng. Lá có đốm đỏ ở gân chính, dài 30-60 cm, rộng 7-8 cm . Cụm hoa ở đất, thường mọc trước khi có lá. Lá bắc dưới xanh nhạt, lá bắc trên vàng đỏ. Hoa vàng, môi lõm ở đầu, bầu có lông mịn..”

Image en ligne
Image en ligne

Cây nghệ đen, hoa nghệ đen và củ nghệ đẹn

Nguồn gốc và phân bố :

  Chi Curcuma gồm khoảng 50 loài phân bố khắp vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tại Á châu, Bắc Úc và các hải đảo Thái bình dương (Việt Nam có 15 loài).

Zedoary (Nga truật) có nguồn gốc từ Đông-Bắc Ấn độ. Cây mọc tự nhiên và được trồng tại Ấn, Malaysia, Thái Lan, Philippines.. Indonesia, Việt Nam..  Tại Việt Nam cây phân bố rộng tại các vùng Trung du và Thượng du Bắc Việt (Lai châu, Tuyên Quang, Sơn la, Cao bằng..). Tại Nam VN cây gặp tại Quảng Nam, Bình định..

  • THÀNH PHẦN HOẠT CHẤT

Thành phần hoạt chất trong Zedoary được liệt kê khá chi tiết trong sách (đã dẫn) của Viện Dược liệu VN (tập 2, trang 360).
Chúng tôi xin ghi thêm vài chi tiết từ :

  • Planta Medica Số 80-2014 “Bioactive constituents from the rhizomes of Curcuma zedoaria” . Trong ‘căn hành’ có các sesquiterpenoid (13-hydroxycurzerenone và 1-oxycurzerenone) và 11 hợp chất, xác định bằng máy đo quang phổ gồm các hợp chất loại  curzerenone, germacrone, curculone, các hỗn hợp nhóm stigmata-dione…
  • PDR for Herbal Medicines ghi ‘cô đọng’ hơn :

– Tinh dầu dễ bay hơi (1.0-1.5 %) : các chất chính như zingiberene, 1,8-cineole, D-camphor, D-camphene, D-borneol, alpha-pinene và các hợp chất khác như curcumol, zederone, curcumeneol, curculone, furanodienone, isofuranodienone..

– Curcuminoids : curcumin, desmethoxycurcumin, bisdesmethoxy curcumin.

– Tinh bột (50%), tanin, hợp chất đắng.

                –    Cây còn chứa nhiều khoáng chất gồm 11 loại và cả các nguyên tố vi

                      lượng như selenium, molybdene, cobalt..

Xin đọc chi tiết trong bài Nghệ trắng của GS Nguyễn Thanh Vân :

https://duocthaothucdung.blogspot.com/2016/11/nghe-trang-white-turmeric-zeodary.html

  • SỬ DỤNG :

* Dược học dân gian    Zedoary đã được sử dụng làm thuốc trong dược học dân gian tại nhiều quốc gia trên thế giới.  Một số Công ty Health Supplement Nhật, Hàn đã khai thác cây này và bán ra thị trường các gói Zedoary, giá rất đắt như Okinawa Zedoary của Umeken (80 USD/hộp/ 60 gói) (quảng cáo là zedoary được trồng riêng tại một nông trại tại Okinawa?).

   James A. Duke trong “Handbook of Medicinal Herbs” ghi nhận  Zedoary được dùng trị đến trên 60 chứng bệnh trong dược học dân gian thế giới!

   Tại Trung Hoa, Zedoary hay Nga truật dùng trị mỏi mệt, giảm sưng, tăng lưu thông khí huyết và giảm đau khi kinh kỳ. Tại Taiwan, cây dùng trị các bệnh tim, thổ tả, lậu mủ, kinh nguyệt không đều và rắn cắn. Tại Việt Nam, Lào và Cambodia cây cũng dùng trị mỏi mệt, giúp có kinh nguyệt và làm thực phẩm. Tại Mã lai cây trị .. ma ám; Indonesia dùng làm thuốc bổ cho sản phụ sau khi sanh Philippines  dùng trị vết thương và ung loét ngoài da..

   Một phương thức giản dị để dùng zedoary là tự làm trà dược zedoary : lấy 1 thìa canh căn hành, băm vụn, thêm 1 pint (0.47 lít) nước sôi, để ngâm trong 30 phút , lược bỏ bã và uống nước đã lược. Uống 30 phút trước bữa ăn.. ngày 2-3 lần.

   Cũng theo Duke : liều lượng sử dụng : 1-2 g bột rễ /ngày  ; 14-28 ml trà dược ngâm từ rễ ; 1-1.5 g rễ trong 30 ml nước..

   Theo Herb Encyclopedia, Flora Health : Zedoary theo truyền thống dân gian dùng trị đau bụng đầy hơi, ăn không tiêu , tuy không phổ thông như gừng. Do vị đắng, cây giúp bài tiết dịch bao tử làm tiêu hóa thực phẩm chống đau bao tử/ruột.

* Dược học Âu- Mỹ :Các nghiên cứu tại Âu Mỹ chú trọng vào hai hoạt tính chính là chống sưng-viêm, trị đau và chống ung thư.

1- Chống sưng-viêm :Vài thử nghiệm đáng chú ý như : (cũng theo C. Wiart).

  • Tác dụng chống sưng-viêm được xác nhận : curdione ngăn chặn sự tạo prostaglandin E 2 do đại thực bào (macrophage) RAW264.7, kích ứng do lipopolysaccharides vi khuẩn. IC 50= 1.1 micro M.
  • Sesquiterpene ly trích từ cây như furanodiene, furanodione có hoạt tính chống sưng khi thử trên tai chuột bị gây phù bằng 12-O-tetradecacoyl phorbol-13-acetate..
  • Dehydrocurdione trích từ cây có hoạt tính làm giảm đau và gây hạ nhiệt khi thử trên chuột qua các thử nghiệm dùng acetic acid gây co bóp cơ bụng và dùng men cấy qua da.. Dehydroxycurdione cũng chống sưng khi thử bằng chích carrageenan vào chân chuột.

2- Chống ung thư :Các nghiên cứu về hoạt tính của Zedoary được  Christopher Wiart tóm lược như sau :

  • Nước chiết từ căn hành có hoạt tính chống biến đổi gen gây ra bởi benzo pyrene khi thử trên chuột, có thể do các arylheptanoids trong cây.
  • Các heptanoids như curcumin, demethoxycurcumin và bisdemethoxy curcumin giúp tăng thời gian sinh tồn cho tế bào ung thư buồng trứng nơi người, khi thử trong ống nghiệm.
  • Hoạt chất ‘tổng cộng’ trích từ căn hành bảo vệ chuột, thỏ chống lại sự hư hại tế bào gan gây ra khi thử bằng thử nghiệm D-galactosamine/ bacterial polysaccharide.
  • Theo Kee Chang Huang  ( The Pharmacology of Chinese Herbs).

                       * Thử nghiệm lâm sàng trên 209 bệnh nhân bị ung thư cổ tử cung cho

                        thấy 64.4 % hiệu nghiệm. Cây cũng giúp tăng hoạt tính hệ miễn nhiễm                        ung thư và bảo vệ bạch bào khi trị ung thư bằng chiếu xạ.

                       * Curcumoids ngăn sự phát triển của tế bào ung thư ruột gây ra bởi                        azomethane, khối ung thư cũng thu nhỏ.

                       * Tại Trung Hoa, Zedoary được dùng trị ung thư buồng trứng, ung thư da

                         ung thư gan, tuyến giáp trạng, bao tử và phổi.. Cây hiệu nghiệm trong

                         các dạng ung thư giai đoạn đầu, gần như không tác dụng khi ung thư ở

                         vào giai đoạn cuối.. Khi dùng zedoary sau khi chích các tế bào quanh

                         vùng ung thư cải thiện rõ, khối u bướu giảm, tế bào ung thư hoại tử, một

                         khoảng phân cách được tạo ra giữa các tế bào lành và tế bào ung thư..

                         Zedoary giúp tác động trị liệu bằng radium, nên được dùng để giảm phải

                         chiếu xạ sâu : dầu zedoary 1.25% chích quanh vùng ung thư cổ tử cung

                         liều 5-10 ml /ngày; khi dùng tiêm truyền 10ml dầu được pha trong dung

                         dịch glucose 5%..Nhũ dịch 3% dầu zedoary cũng được dùng thoa trực                         tiếp vào vùng cổ tử  cung.                  

          3- Vài hoạt tính khác :

                 – Dịch chiết từ toàn cây có tác dụng kháng khuẩn và chống nấm khi thử trong

                   ống nghiệm, có thể do ethyl p-methoxycinnamate.

            (Quý vị có thể đọc các bài nghiên cứu về hoạt tính của Zedoary trong :

                   – Curcuma zedoaria : Journal of Natural Products Số 61-1998.

                   – Inflammation Research  Số 47-1998.

                   – Journal of Ethnopharmacology Số 99-2005.                   – Phytomedicine Số 9-2002.* Dược học phương Đông

* Y học cổ truyền Trung Hoa        Y học cổ truyền Trung Hoa dùng chung một số cây thuộc chi Curcuma làm thuốc ..Vị thuốc ỳu jín hay Uất kim  bao gồm các cây Curcuma  longa, C. aromatica, C. kwangsinensis và cà C. zedoaria !

  • Sách Chinese Herbal Medicine Materia Medica của Dan Bensky trang 271 ghi Uất kim có tính hàn, vị đắng, tác động vào các kinh mạch thuộc Tâm, Phế và Can. Vị thuốc có thể bổ huyết, phá ứ huyết dùng trị đau; giúp vận hành Khí trong trường hợp Can khí bị nghẽn gây tức ngực, đau bụng đau lưng (như GERD của Tây Y); thanh Tâm và hàn Huyết dùng trị đàm ứ tại tâm khổng gây âu lo, buổn phiền, tâm thần bất an.

(Theo Bensky thì Uất kim dùng tương tự như Khương hoàng =Nghệ)

     –     Sách Oriental Materia Medica của Hong-Yen Hsu  phân biệt rõ hơn trang

           490 ghi Zedoary = E-shu (Nga truật) ghi trong Thái bảo bản thảo (973), tả  

           cây trồng tại Hải Nam (tên địa phương  peng-o-mou), các đặc tính trị bệnh           và công dụng được ghi giống Bensky.
   Dược học cổ truyền Việt Nam, hay Thuốc Nam, dùng Nga truật hay Ngải tím làm thuốc chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi, bế kinh, tích huyết.. Dùng dưới dạng bột khô căn hành tán mịn hay dạng thuốc sắc 3-6 g/ngày.
   GS Nguyễn văn Dươngtrong “Medicinal Plants of VietNam, Cambodia and Laos (trang 435)  ghi Curcuma zedoaria = Nga truật, Ngải tím, nghệ đen , cho biết căn hành được dùng và ghi trong nhiều sách chế dược Âu châu : Vị thuốc có ghi trong công thức của Alcoolat de Fioravanti (Chế dược thư Pháp 1949) Căn hành dùng kiện vị, trị các chứng ăn không tiêu, nôn ói và ọc sữa nơi trẻ em.

* Y học Ấn độ và Ayurvedic

    Theo SK Jain trong Medicinal Plants of India (trang 615) , Ấn độ sừ dụng 5 cây chi Curcuma làm thuốc trong đó có Curcuma zedoaria , tên hindi là Kachura, sanskrit là Sati . Căn hành nghiền nát trộn thêm nước trị vàng da.

    Medicinal Plants of India and Pakistan (JF Dastur) ghi tên địa phương gandhmul, kachur, karchur. Tại Pakistan lá ép lấy nước trị nóng sốt, căn hành dùng lọc máu, tiêu thực, long đờm, lợi tiểu.. nhai rễ làm sạch và thơm miệng.

Zedoary trộn chung tiêu pipa, quế, mật ong dùng làm thuốc ho..   Theo Dược học Ayurveda thì khi ‘kapha dosha” hoạt động quá mức do dịch trong cơ thể đưa lên tạo đờm nơi phổi , chất nhày chặn thông mũi, gây khó thở và ho.. Zedoary tạo cân bằng cho kapha và vata .. thêm năng lực cho dosha nên giúp trị ho, bổ gan, lọc máu.. (Ayurveda and Natural products drug discovery trong Current Science 86-2004).

* Gia vị :

   Căn hành (rhizome) là phần chính dùng làm gia vị, tên gọi gia vị được giữ nguyên theo tên cây : zedoary, mùi pha trộn giữa nghệ và xoài (?). Zeodary bán tại các tiệm chạp phô Tàu, dưới tên kentjur , dạng bột khô và dạng lát mỏng sấy khô, bên ngoài màu xám còn bên trong từ vàng đến xám nhạt. Tại Ấn độ thị trường gia vị có 2 dạng : củ ‘tròn’ nhỏ, có nhánh dạng như gừng và củ ‘dài’ thon hơn giống như nghệ vàng.

  Căn hành phơi khô đã từng là món hàng trao đổi quan trọng tại Á châu từ thế kỷ thứ 6. Tuy được biết rộng rãi hơn trong thời Trung cổ, nhưng gia vị và cây zedoary chưa được phổ biến tại phương Tây ! Tàu và Nhật nuôi trồng nhiều hơn vì dùng cây làm thuốc.  Gia vị zedoary (căn hành phơi khô, tán thành bột mịn) được dùng làm phụ gia  tăng vị cho món ăn và cả rượu.Zedoary thơm mùi long não nhẹ, vị hơi nóng, đắng nhẹ gần tương tự như gừng (?), nhưng cũng có vẻ như pha trộn giữa gừng giã nát và hơi chua như xoài xanh. Zedoary hiện nay ít thông dụng tại Âu châu vì bị thay dần bởi gừng, và do vị khá ‘mạnh’ nên ít khi dùng riêng mà thường pha trộn cùng các gia vị khác. Zedoary được trộn với nghệ vàng (turmeric) và gừng tạo thêm vị trong các món cà ri trừu và cà ri gà.
Ấn và Indonesia là 2 quốc gia ‘chuyên’ dùng gia vị zedoary. Tại Ấn, zedoary có thể dùng tuơi hay ngâm giấm..chua. Dịch chiết từ căn hành trộn trong một hỗn hợp tinh bột làm  thành Shoti dùng làm đặc món ăn, chutney.
   Tại Indonesia, zedoary , dạng bột khô trộn trong hỗn hợp ca-ri trong các món hải sản ; đọt non thái nhỏ thêm vào salad.

   Thái Lan,ăn củ tươi như rau sống..Bếp Thái có nhiều món ăn dùng căn hành (rhizome) Zedoary, dạng nguyên củ hay thái chỉ, trộn trong sốt Thái Namprik

    Java nhai..căn hành tươi, lá có vị chanh dùng nấu canh chua cá..

* Công dụng khác :

Công nghiệp mỹ phẩm và hương liệu đã dùng tinh dầu cất từ toàn cây từ thế kỷ 19. Tinh dầu Zedoary được sử dụng khá phổ biến trong các công nghiệp nước hoa và cả tạo vị cho thực phẩm. Tinh dầu được lấy theo phương pháp chưng cất bằng hơi nước căn hành của cây : tinh dầu thu được có màu vàng kim loại, dạng nhớt lỏng cùng mùi gỗ thơm pha trộn long não và cineol, tạo cảm giác ấm.

Tinh dầu được dùng pha trong nước hoa, trong savon thơm.  Zedoary làm cây cảnh : Cây đã được nghiên cứu nuôi trồng tại Florida (còn có tên Hidden lily) nhiều chủng trồng đã được lai tạo và biến chủng để làm cây trang trí.. Tuy nhiên tên Hidden Lily cũng dùng để gọi các cây khác thuộc nhóm curcuma kiểng  như Curcuma petiolata (Queen lily ginger)..

Trần Minh Quân  5/2019

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Thị trưởng gốc Việt 22 tuổi trẻ nhất trong lịch sử của hội đồng thành phố Maribyrnong, tiểu bang Victoria, Úc Châu

DOWNLOAD 10.66 SUBSCRIBE

Mayor Cr Anthony Tran

Mayor Cr Anthony Tran Source: Maribyrnong Council

Anthony Tran, một gương mặt trẻ của cộng đồng người Việt Tự do, vừa tròn 22 tuổi, trưởng thành từ khóa lãnh đạo hai nguồn gốc đã trở thành thị trưởng trẻ nhất trong lịch sử của hội đồng thành phố Maribyrnong, tiểu bang Victoria.

By Bích Ngọc-SBS.

Tự hào đại diện cho người Việt

Thị trưởng Anthony Trần sinh ra và lớn lên tại Maribyrnong trong một gia đình có nguồn gốc tị nạn. Anh tốt nghiệp ngành luật và thương mại tại đại học Latrobe.

Là một hạt giống của khóa lãnh đạo hai nguồn gốc DILP, một sáng kiến do VCA khởi xướng, Anthony từng bước dấn thân vào con đường chính trị.

“Tôi cảm thấy vô cùng hân hạnh ghi được trao trọng trách đại diện cho hội đồng thành phố, nơi mà tôi đã sinh trưởng. Tôi mãi biết ơn sự giúp đỡ và hỗ trợ của những người bạn, cộng đồng người Việt, VCA đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt chiến dịch tranh cử.

Tôi hạnh phúc được đại diện cho cộng đồng người Việt nói riêng và cộng đồng đa văn hóa khác ở Maribyrnong”.

Là thị trưởng trẻ nhất trong lịch sử Maribyrnong, bên cạnh những nghị viên gạo cội và dày dạn kinh nghiệm, Anthony Tran chia sẻ với SBS đó là một cơ hội chứ không phải áp lực.

“Tôi không hề cảm thấy áp lực vì mình còn rất trẻ. Lý do là vì không chỉ tôi mà có rất nhiều nghị viên khác là những người lần đầu tiên giữ chức vụ nghị viên.

Tất cả nhân viên, thành viên của hội đồng thành phố Maribyrnong đã giúp cho tôi và những nghị viên mới cảm thấy rất dễ dàng trong quá trình chuyển tiếp vào làm việc tại hội đồng thành phố. Không có bất kỳ trở ngại nào ngoài việc tôi rất hào hứng về những điều mới mẻ sắp tới”, Anthony Tran nói với SBS.

Việc giữ vị trí là một nghị viên độc lập ở cấp độ lãnh đạo địa phương giúp tôi có thể phản ánh một cách chính xác những gì mà cộng đồng kỳ vọng, mà không có bất kỳ ảnh hưởng từ quan điểm chính trị hay các vấn đề nghị sự của đảng phái nào.

Trao đổi với SBS về những nỗ lực mà thị trưởng 22 tuổi sẽ bắt tay ngay sau khi nhận vị trí lãnh đạo, anh cho SBS biết:

“Với cộng đồng gốc Việt, tôi sẽ ra sức hỗ trợ dự án Viện bảo tàng Người Việt. Tôi đã có nhiều thảo luận với ban dự án Vietnamese Museum Australia (VMA), để giải quyết một số vấn đề khó khăn. Không có dự án nào là hoàn hảo cả. Những người dân sống xung quanh khu vực xung quanh đất để xây dựng bảo tàng có những quan điểm khác nhau.

Do đó, tôi sẽ làm việc chặt chẽ với VMA và cộng đồng người Việt Tự do VCA để khi có bất cứ điều gì xảy ra, nó đều được giải quyết để mang lại lợi ích cho cộng đồng người Việt và cư dân ở trong vùng.

Với các cộng đồng đa sắc tộc khác, hội đồng thành phố chuẩn bị ra mắt dự án với tên gọi Next project, một tòa nhà phức hợp Footscray Library, Cultural and Community Hub để tổ chức các hoạt động văn hóa, sự kiện. Đây là một dự án lâu dài. Không chỉ tôi mà tất cả hội đồng thành phố khác cũng rất ủng hộ dự án này.”

Mang lại sinh khí, hơi thở và bản sắc cho Maribyrnong

Thị trưởng Anthony mong muốn mang lại lễ hội Tết nguyên đán cho người Việt vào năm 2022.

“Hội đồng thành phố Maribyrnong trước giờ được biết đến với tên gọi Festival City. Chúng tôi mong muốn mang lại bản sắc này và nhiều lễ hội, sự kiện trong thời gian tới, hỗ trợ cho doanh nghiệp và các con phố sầm uất buôn bán trở lại, việc ăn uống ngoài trời.

Maribyrnong sẽ chấp thuận các kế hoạch xây dựng khuôn viên ăn uống ngoài trời cho thực khách, do hội đồng thành phố hỗ trợ hoặc các doanh nghiệp tự bỏ tiền, hay hình thức chung sức của hai bên.

Chúng tôi sẽ nỗ lực bằng mọi giá để giúp các tiểu thương và doanh nghiệp địa phương hồi phục, làm việc và liên hệ với các Hội thương gia Á Châu Footscray và Footscray Traders Association.

Vào thời điểm này tôi chưa thể trả lời có lễ hội Tết hay không. Điều này còn phụ thuộc vào tình hình COVID và các hướng dẫn an toàn cũng như giới hạn của chính phủ. Nhưng chúng tôi trông đợi sẽ tổ chức lễ hội Tết nguyên đán. Tôi rất muốn nói có vì tôi mong chờ được cùng gia đình mình tham dự lễ hội tết này, hy vọng như vậy”.

Thị trưởng Anthony Trần nhấn mạnh việc là ứng viên độc lập giúp anh tận tâm với cộng đồng.

“Vào thời điểm này tôi muốn giữ vị trí là một ứng viên độc lập hơn. Lý do cho việc giữ vị trí là một nghị viên độc lập ở cấp độ lãnh đạo địa phương là tôi có thể phản ánh một cách chính xác những gì mà cộng đồng kỳ vọng, mong muốn, mà không có bất kỳ ảnh hưởng từ quan điểm chính trị hay các vấn đề nghị sự của đảng phái nào cả”.

Nguồn: https://www.sbs.com.au/language/vietnamese/audio/thi-truong-goc-viet-22-tuoi-tre-nhat-trong-lich-su-maribyrnong

Tỷ phú Việt hiến tặng đại học Anh: ‘Không ý nghĩa gì nhiều’

  • VOA Tiếng Việt

Bà Nguyễn Thị Phương Thảo trong buổi ký kết hiến tặng cho Linacre College
Bà Nguyễn Thị Phương Thảo trong buổi ký kết hiến tặng cho Linacre College

Số tiền trên 200 triệu đô la mà một nữ tỷ phú Việt Nam hiến tặng cho một trường đại học Anh, ‘không giúp ích nhiều cho nghiên cứu, sáng tạo’ trong khi ‘chỉ có tác dụng hạn chế trong việc nâng cao hình ảnh Việt Nam’ trong mắt quốc tế, một nhà nghiên cứu Việt ở Mỹ cho biết.

Sự kiện bà Nguyễn Thị Phương Thảo, người nắm trong tay hãng hàng không giá rẻ Vietjet Air, hiến tặng 211 triệu đô la (tức 155 triệu bảng Anh) cho Đại học Oxford, hồi cuối tháng 10 nhân dịp bà tháp tùng chuyến công cán của Thủ tướng Phạm Minh Chính đến Anh, đã gây nhiều tranh cãi trong dư luận.

Bà Thảo là một trong những người giàu nhất Việt Nam hiện nay. Nơi nhận số tiền tài trợ của bà là Linacre College, một phân viện của Đại học Oxford. Sau khi nhận tiền hiến tặng của bà Thảo, trường này sẽ xin giấp phép để đổi tên thành Thao College nhằm tri ân bà.

Theo tờ The Guardian, đây là khoản hiến tặng lớn nhất cho Oxford trong vòng 500 năm qua.

‘Hơi lãng phí’

Trao đổi với VOA từ Eugene, thủ phủ bang Oregon, Tiến sỹ Nguyễn Lương Hải Khôi, hiện đang là nghiên cứu viên tại Viện các vấn đề Toàn cầu thuộc Đại học Oregon ở Eugene, cho rằng vì số tiền này là tài sản cá nhân của bà Thảo, nên việc bà hiến tặng cho ai hay chi tiêu như thế nào ‘hoàn toàn là quyền cá nhân của bà’.

Tuy nhiên, ông bày tỏ nghi ngờ về ý nghĩa của hành động này và tác dụng của nó trên thực tế.

Ông Khôi đã tham khảo báo cáo hoạt động hàng năm của Linacre College và chỉ ra rằng phân viện sau đại học này ‘không phải là nơi nghiên cứu và đào tạo chính quy mà chỉ là một không gian cư trú đặc thù của Oxford’.

“Nói đơn giản thì nó là ‘ký túc xá’ nhưng là ký túc xá ‘sang chảnh’, có thư viện, có hội trường dành cho sinh hoạt học thuật, có máy tính và Internet, thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo học thuật, các bài giảng dành cho công chúng,” ông Khôi cho biết trong email gửi cho VOA.

Ông dẫn ra thông báo của Linacre College cho biết số tiền hiến tặng của bà Thảo ‘chủ chủ yếu sẽ được chi dùng cho hỗ trợ các sinh hoạt hàng ngày, xây dựng một cơ sở sau đại học mới’ để chỉ ra rằng việc hiến tặng cho hoạt động của một khu ký túc xá là ‘hơi lãng phí’.

Với khoảng 7 triệu trong số tiền 155 triệu bảng sẽ dành để cấp học bổng, ưu tiên cho sinh viên Việt Nam và các nước lân cận, ông Khôi cho là đây chỉ ‘một phần nhỏ’.

Do đó, trả lời câu hỏi của VOA liệu việc hiến tặng của bà Thảo có được coi vì ‘public good’, tức là đóng góp chung vào sự phát triển chung của nền học thuật và giáo dục thế giới và như thế Việt Nam cũng được lợi, hay không, ông Khôi nói ‘nhìn từ bên ngoài thì có vẻ như vậy’.

“Nếu số tiền 155 triệu bảng được hiến tặng cho một khoa, viện nghiên cứu nào đó của Đại học Oxford, lập quỹ học bổng cho các nhà nghiên cứu Việt Nam và quốc tế tại các viện nghiên cứu của Oxford với các yêu cầu tương đối rõ ràng (ví dụ nghiên cứu về năng lượng xanh, nghiên cứu về phát triển, xoá đói giảm nghèo, hay một ngành khoa học, kỹ thuật cụ thể nào khác…) thì sẽ phát huy được nhiều hiệu quả hơn,” ông Khôi lập luận.

Xây dựng hình ảnh Việt Nam?

Khi được hỏi liệu hành động này có góp phần xây dựng hình ảnh Việt Nam từ một quốc gia lâu nay hay đi xin xỏ, nhờ vả khắp nơi trên thế giới thành một nước đóng góp lại cho thế giới hay không, ông Khôi nói ‘xét về mặt mục đích, có thể coi là như thế’.

Tuy nhiên, ông cho rằng hình ảnh quốc gia ‘không thể xây dựng đơn giản bằng cách hiến tặng tiền bạc cho một nơi đứng ở chóp của thế giới’ mà ‘cần chiến lược bài bản và dài hạn’.

Ông cho rằng cho dù Việt Nam có cố gắng vung tiền đến đâu đi nữa mà vẫn xảy ra những sự việc như 39 người Việt Nam chết trong thùng container lạnh khi tìm cách trốn vào Anh, hay tỷ lệ cao của du học sinh Việt Nam học tiếng ở Nhật Bản phải lao động như nô lệ và ăn cắp vặt để sinh tồn qua ngày, hoặc các tờ quảng cáo có thể cưới vợ Việt Nam với ‘giá rẻ’ ở Hàn Quốc, Trung Quốc thì thế giới vẫn nhìn vào Việt Nam với hình ảnh tiêu cực.

“Cách xây dựng hình ảnh quốc gia tốt nhất chính là nỗ lực để không còn những người chấp nhận rủi ro tính mạng để ly hương,” ông Khôi, vốn bảo vệ luận án Tiến sỹ ngành Triết học tại Đại học Nihon, Tokyo, Nhật, và hiện đang nghiên cứu lịch sử và các vấn đề Việt Nam đương đại ở Đại học Oregon, nhấn mạnh.

Nên giúp chỗ cần hơn?

Nhìn chung, học giả này khẳng định, việc bà Nguyễn Thị Phương Thảo hiến tặng tiền cho Đại học Oxford ‘cũng là điều tốt’. Tuy nhiên, ông cho rằng sẽ tốt hơn nếu ‘tài trợ cho những người có khả năng tạo ra giá trị của Việt Nam có thể kết nối với Oxford’, cụ thể là giúp các nhà nghiên cứu, giảng viên đại học, giáo viên phổ thông hay tiểu học, các nhà sáng tạo nghệ thuật Việt Nam… có thể tiếp cận và trải nghiệm môi trường văn hoá giáo dục ở Oxford.

Nhìn về Việt Nam, ông nói số tiền đó là một số tiền lớn và có thể giúp các trường đại học trong nước tuyển dụng, chiêu mộ nhân sự quốc tế để phát triển trong dài hạn. “Việc Việt Nam có nhiều trường đại học tốt cũng có thể góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhân loại và xây dựng hình ảnh quốc gia của Việt Nam một cách thực chất,” ông Khôi viết trong email.

Ông đặt vấn đề tại sao bà Thảo không dùng số tiền đó để giúp cho những đối tượng cần giúp hơn bởi vì ‘sinh viên và nhà nghiên cứu của Oxford lâu nay vốn thường được xem là những người có nhiều lợi thế trong một thế giới bất bình đẳng’.

Ông dẫn số liệu của Bộ Giáo dục-Đào tạo Việt Nam cho biết ở Việt Nam hiện nay ‘có 33,6% số trường thiếu phòng học, 31% số trường thiếu nhà vệ sinh hoặc nhà vệ sinh tạm bợ, 61% số trường có nhà vệ sinh không đạt chuẩn’.

“Số tiền 155 triệu bảng có thể xây dựng được khoảng 7.300 ngôi trường cho trẻ em vùng nghèo khó ở Việt Nam,” ông phân tích.

Tại sao ít đại học trong nước được hiến tặng?

Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, nếu bà Thảo hiến tặng đại học trong nước mà không có tư duy quản lý đúng đắn khiến số tiền đó bị lạm dụng thì ‘tài trợ cho nơi dùng đúng mục đích vẫn tốt hơn’.

Ông chỉ ra rằng các đại học tư thục ở Việt Nam vốn thuộc sở hữu của các doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận sẽ khó lòng được hiến tặng bởi lẽ ‘các nhà hảo tâm chỉ hiến tặng khi chắc chắn tiền của mình được phục vụ cho lợi ích công cộng, không trở thành lợi nhuận của các nhà đầu tư giáo dục’.

Còn về hệ thống trường công lập, vị tiến sỹ này cho rằng ‘cũng khó kêu gọi tài trợ’ do ở Việt Nam trường đại học ‘được xác định phục vụ cho hệ thống chính quyền’, ‘vận hành dưới sự kiểm soát của đảng’ và ‘có cơ sở đảng trong trường’ nên nhà hảo tâm khó lòng biết rằng số tiền của mình có phục vụ cho mục đích chính trị hay không.

“Theo tôi được biết thì cho đến nay hiến tặng cho giáo dục đại học chưa phải là thói quen và xu hướng hành động của giới nhà giàu Việt Nam,” ông cho biết và chỉ ra rằng khác với các nước phát triển, khi hiến tặng cho các trường đại học các nhà hảo tâm Việt Nam không được khấu trừ thuế nên điều này không tạo động lực cho họ.

Tiến sỹ Khôi dẫn chứng trường hợp doanh nhân Phan Văn Bên, chủ công ty lúa gạo Cỏ May ở Đồng Tháp, hiến tặng khoảng 2 triệu đô la để xây dựng khu học xá cho sinh viên ở Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, hay như Giáo sư-Tiến sỹ Trần Thanh Vân, một nhà vật lý tên tuổi ở Pháp, đã hiến tặng khoảng 2 triệu đô la để xây dựng Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành hồi năm 2013.

Ngoài ra, cũng có trường hợp tỷ phú nước ngoài hiến tặng cho đại học Việt Nam như tỷ phú Mỹ Chuck Feeney đã hiến tặng một nửa kinh phí xây dựng Trường Đại học RMIT Việt Nam, khoảng 33 triệu đô la, ông Khôi chỉ ra.

Ở các nước phát triển, việc các đại học công lập được các mạnh thường quân hiến tặng là ‘việc rất bình thường’, ông Khôi cho biết, vì tiền thu học phí từ các sinh viên chỉ đủ cho việc duy trì đào tạo chứ không thể nào ‘tạo ra tri thức, công nghệ và các giá trị văn hoá mới’.

“Các đại học tư, phi lợi nhuận như Đại học Johns Hopkins, Đại học Cornell, Đại học Stanford, Đại học Chicago, Đại học Rockefeller đều được xây dựng và phát triển từ các nguồn tài trợ của những người giàu có,” ông dẫn chứng.

“Nhà trường nhận tiền tài trợ sẽ phải thực hiện việc chi tiêu một cách đúng đắn, liêm chính, đúng mục đích khoa học, giáo dục và văn hóa mà các bên đã thống nhất, tránh lợi dụng tiền tài trợ để làm việc bất chính,” ông cho biết thêm.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/t%E1%BB%B7-ph%C3%BA-vi%E1%BB%87t-hi%E1%BA%BFn-t%E1%BA%B7ng-%C4%91%E1%BA%A1i-h%E1%BB%8Dc-anh-kh%C3%B4ng-%C3%BD-ngh%C4%A9a-g%C3%AC-nhi%E1%BB%81u-/6309007.html

Vị Đệ Nhất Phu Nhân và Bệnh Viện Vì Dân – Vũ Đình Trọng

  • Vũ Đình Trọng
    17 tháng 10, 2021

Share: Share on facebook Share on twitter Share on linkedin Share on telegram Share on whatsapp

Nền Cộng Hòa của Miền Nam Việt Nam 1955-1975, chỉ có duy nhất một Đệ Nhất Phu Nhân: Bà Nguyễn Thị Mai Anh, vợ cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001).

Bà vừa tạ thế tại Nam California, hưởng thọ 90 tuổi.

Nhân dịp này, Saigon Nhỏ xin ghi lại vài dòng thăng trầm của cuộc đời ông bà, và di sản quý giá bà đã để lại cho đời: Bệnh viện Vì Dân, một bệnh viện duy nhất hoạt động đúng nghĩa Vì Dân cho đến năm 1975.

Một người vợ của gia đình, một nhà hoạt động xã hội

Phu nhân Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu – Bà Nguyễn Thị Mai Anh

Bà sinh năm 1931 tại thành phố Mỹ Tho, là con gái thứ bảy trong gia đình có mười anh chị em, nên còn được gọi là Cô Bảy Mỹ Tho. Dù là gia đình Công giáo toàn tòng, nhưng anh chị em của bà được giáo dục theo văn hóa Á Đông, chịu ảnh hưởng rất lớn về nề nếp, gia phong phong kiến, nhất là trong cách đối nhân xử thế rất khiêm tốn, mực thước.

Thời thanh xuân, bà Mai Anh cùng người em gái Tám Hảo thường xuyên lên Sài Gòn học hành và thăm thân nhân. Lúc đó, dược sĩ Huỳnh Văn Xuân là người quen biết rất thân với gia đình, làm việc tại Viện bào chế Trang Hai, nên hai chị em bà được ông giới thiệu vào Viện bào chế Roussell của Pháp làm trình dược viên. Mối lương duyên của bà Mai Anh với viên Trung úy Nguyễn Văn Thiệu cũng do ông Xuân tác hợp.

Lúc đầu tưởng không thành do ông Thiệu không phải tín đồ Công giáo, nhưng cuối cùng hôn lễ cũng được tổ chức vào đầu năm 1951. Mãi đến năm 1958 ông Thiệu mới cải đạo, theo đạo Công giáo của vợ. Lúc này ông giữ chức Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với cấp bậc Trung tá. Một năm sau, ông được thăng cấp Đại tá.

Trả lời báo chí ngày 11 Tháng 3 năm 1970, Đệ Nhất Phu Nhân Nguyễn Thị Mai Anh nói rằng bà không bao giờ bàn luận với chồng về công việc của chính phủ. “Sự quan tâm của chồng tôi là chính trị, còn sự quan tâm của tôi là phúc lợi xã hội, và tôi có thể giúp chồng tôi theo cách này.” – Ảnh Bettmann/CORBIS

Ngày 1 Tháng Mười Một năm 1963, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu tham gia lực lượng đảo chính lật đổ Chính quyền Ngô Đình Diệm. Sau đảo chính, ông được thăng cấp Thiếu tướng và là Ủy viên trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng.

Trải qua nhiều binh biến trong chính trường, ông Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp Trung tướng và trở thành Quốc Trưởng VNCH vào năm 1965. Năm 1967, trong một cuộc bỏ phiếu phổ thông toàn Miền Nam Việt Nam, ông được bầu làm Tổng thống, đứng chung liên danh với ông là tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Phó Tổng thống, và tuyên bố thành lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam. Ông giữ chức Tổng thống cho đến ngày 21 Tháng Tư 1975.

Sau khi chồng đắc cử Tổng thống, với cương vị Đệ Nhất Phu Nhân, bà Mai Anh hoàn toàn không can dự vào chính trường mà rất chăm hoạt động xã hội. Qua những hoạt động có tính nhân đạo đó, bà cảm thông với sự thiếu thốn các cơ sở điều trị của dân chúng khi đau ốm, nhất khi thấy tầng lớp nghèo khó không có tiền chữa bệnh, nên có ý tưởng, khởi xướng thành lập một bệnh viện phục vụ người dân ngay tại thủ đô Sài Gòn của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.

Vợ chồng cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Năm 1971, Bệnh viện Vì Dân ra đời trong nỗi lo toan của vị Đệ Nhất Phu Nhân, và mặc dù đó là bệnh viện tư, nhưng được điều hành như bịnh viện công, người dân vào đây được khám chữa  hoàn toàn miễn phí.

Ngày 21 Tháng Tư năm 1975, do những áp lực từ chiến trường, khi Việt cộng đã ở cửa ngõ vào Sài Gòn, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu buộc phải tuyên bố từ chức và rời Việt Nam đêm 25 Tháng Tư sang Đài Loan với tư cách đặc sứ Việt Nam Cộng Hòa đến Đài Bắc phúng điếu Tổng thống Tưởng Giới Thạch.

Sau khi ở Đài Bắc một thời gian, gia đình cựu Tổng thống đến Anh định cư và sống ở đó 15 năm. Đầu những năm 1990, gia đình chuyển sang Foxborough, tiểu bang Massachusetts, Mỹ và sống một cuộc sống thầm lặng, ít giao tiếp.

Gia đình Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu – Ảnh: Internet

Ông bà có ba người con là:

* Nguyễn Thị Tuấn Anh (trưởng nữ)

* Nguyễn Quang Lộc (trưởng nam)

* Nguyễn Thiệu Long (thứ nam)

Ngày 29 tháng 9 năm 2001, ông Thiệu từ trần tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess Medical Center tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ, sau khi đột quỵ tại nhà. Hưởng thọ 78 tuổi, được an táng tại Boston.

Có lần bà Mai Anh tâm sự: “Tôi mong có dịp về lại Việt Nam thăm mồ mả ông bà và mang tro cốt của ổng [chồng, Nguyễn Văn Thiệu] về khi đất nước bình yên; Ông Già có trối rằng nếu được thì đem chôn tại quê ông ở Phan Rang nếu không thì rải một nửa xuống biển và một nửa trên núi,” bà nói như vậy về ước vọng của bà như một phụ nữ Việt bình thường không quên ơn tổ tiên dòng họ.

Bà Nguyễn Văn Thiệu (phải), vợ của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, học cách băng bó vết thương trong buổi tập huấn sơ cứu được tổ chức tại Dinh Độc Lập của Tổng thống ở Sài Gòn. Bên trái là Trung úy Trần Bình Điệp, một bác sĩ quân đội đã chỉ dẫn cho Đệ nhất phu nhân và vợ của hầu hết các bộ trưởng nội các – Ảnh: Lim Thanh Vân, UPI

Một người từng phục vụ trong Dinh Độc Lập dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhận xét: “Tôi luôn luôn giữ lòng quý mến đối với Tổng thống Phu nhân. Bà lúc nào cũng giữ nếp sống bình dị của người đàn bà phúc hậu, bao dung của sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đối với tôi, bà Thiệu là hình ảnh một người mẹ, một người vợ hiền đảm đang hơn là một vị Đệ Nhất Phu Nhân sống trong tột đỉnh của quyền thế và nhung lụa giàu sang. Bà là điển hình của mẫu người phụ nữ lớn lên trong gia đình được hấp thụ trọn vẹn một nền giáo dục Khổng Mạnh (tuy bà là người Công giáo) mà chúng ta thường thấy trong xã hội miền Nam thời thập niên 40.”

Các nhà lãnh đạo VNCH vui Tết Trung thu với thiếu nhi trong vườn Tao Đàn. Từ trái qua: Dân biểu Nguyễn Bá Lương Chủ tịch Hạ Viện, Bà Tuyết Mai và Phó TT Kỳ, TT Thiệu và phu nhân là Bà Mai Anh, Nghị sĩ Nguyễn Văn Huyền Chủ tịch Thượng Viện, Bà Trần Thiện Khiêm và Thủ tướng Khiêm.

“Bà Thiệu luôn luôn tỏa ra sự trong sáng và vui tươi. Bà không bao giờ câu nệ về cách ứng xử của nhân viên thuộc cấp. Mỗi lần gặp mặt, bà luôn luôn lên tiếng hỏi thăm sức khỏe chúng tôi trước, không kịp để chúng tôi chào bà. Điều đặc biệt là bà không bao giờ đề cập đến bất cứ chuyện gì có liên hệ đến việc làm của ông Thiệu với chúng tôi. Trong suốt thời gian làm việc tại đây, chỉ có một lần duy nhứt tôi nghe bà than phiền với ông Thiệu bằng lời lẽ rất ôn tồn về một nhân vật có đầy quyền thế tại Phủ Tổng thống trong lúc tôi đang đứng bên cạnh.”

“Bà Thiệu là một người đứng cạnh chồng, một người chỉ biết lo cho gia đình, không phải người của quần chúng, không có cái kênh kiệu vênh váo của một người có quyền thế.”

Đệ Nhất Phu Nhân để lại cho đời một bệnh viện Vì Dân đúng nghĩa

Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng bệnh viện Vì Dân được cử hành ngày 17 Tháng Tám năm 1970. Nhờ sự tín nhiệm và giúp đỡ của các nhà hảo tâm, các cơ quan từ thiện trong nước và ngoài nước, các cơ quan quốc tế, và các quốc gia bạn nên việc xây cất và trang bị tiến triển nhanh chóng.

Trước năm 1954, khu vực ngã Tư Bảy Hiền vốn là một đồn phòng thủ. Đây là khu đất rộng ba mẫu (30,000 m2)  tại góc đường Phạm Hồng Thái (Cách Mạng Tháng 8) và Nguyễn Văn Thoại (Lý Thường Kiệt).

Năm 1970, nhận thấy ngay tại thủ đô Sài Gòn mà vẫn còn thiếu nơi chữa bệnh cho dân chúng, nhất là giới lao động mỗi khi bệnh tật luôn lo đau đáu tiền chữa bệnh, bà Mai Anh mới nghĩ cách xây một bệnh viện để người nghèo có thể an tâm trị bệnh mà không phải lo nghĩ đến viện phí. Nhờ uy tín và tấm lòng “thương nước yêu dân” của bà, ý tưởng tốt đẹp này được rất nhiều thân hào nhân sĩ, giới thương gia, kỹ nghệ gia trong và ngoài nước ủng hộ.

Bệnh viện Vì Dân nhìn từ trên cao.

Kiến Trúc Sư Trần Đình Quyền được chọn là người thiết kế bệnh viện đặc biệt này. Ông là một trong những kiến trúc sư tài danh của Sài Gòn trước năm 1975. Ngoài bệnh viện Vì Dân, ông còn tham gia thiết kế và lập đồ án sửa chữa nhiều bệnh viện khác như Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, các Bệnh viện Long An, Nhà Bè, Hóc Môn, Nhi Đồng 1, Bình Dân… nên được giới trong nghề gọi là “cha đẻ của các bệnh viện.”

Lễ đặt viên đá đầu tiên được cử hành vào ngày 17 Tháng Tám năm 1970. Nhờ sự tín nhiệm và giúp đỡ của các nhà hảo tâm, các cơ quan từ thiện trong nước và ngoài nước, các cơ quan quốc tế, và một số quốc gia thân hữu nên việc xây cất và trang bị tiến triển nhanh chóng.

Ngày 4 Tháng Chín năm 1971, Bệnh viện Vì Dân được khánh thành với 400 giường bệnh, gồm các khu Ngoại chẩn, Thí nghiệm và Quang tuyến X…

Ngày 4 Tháng Chín năm 1971, Bệnh viên Vì Dân đã khánh thành và điều hành ngay các khu Ngoại chẩn, Thí nghiệm và Quang tuyến X…
Đích thân Bà Nguyễn Thị Mai Anh phát biểu trong buổi lễ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là người cắt băng khánh thành.

Đích thân Bà Nguyễn Thị Mai Anh phát biểu trong buổi lễ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là người cắt băng khánh thành.

Bệnh viện Vì Dân là bệnh viện tư, nhưng được điều hành như bệnh viện công, nghĩa là không thu viện phí, không thu tiền khám chữa bệnh, không thu tiền các loại thuốc thông dụng có sẵn ở bệnh viện. Những thuốc đặc trị thì bác sĩ ghi toa, gia đình bệnh nhân phải đi mua ở các nhà thuốc Tây. Như thế, nếu không cần thuốc đặc trị, dân chúng đến đây trị bệnh được miễn 100% viện phí kể cả tiền thuốc thông thường.

Bệnh viện Vì Dân là nơi người ta làm từ thiện bằng tiền và bằng tấm lòng. Người có tiền thì tặng tiền, có nhiều tặng nhiều, có ít góp ít. Người có tài thì đến bệnh viện làm việc không công như bác sĩ, y tá. Tuy làm việc không công, nhưng muốn vào đây làm việc, các bác sĩ, y tá vẫn phải vượt qua sự khảo sát về trình độ chuyên môn và đạo đức. Người có lòng thì đến giúp dọn dẹp, nấu cơm nước rồi phát miễn phí cho bệnh nhân. Mỗi người một việc trong tình yêu thương, chia sẻ. Bệnh viện Vì Dân như một ngôi nhà chung, mà người dân lao động ở Sài Gòn và các tỉnh gần đó luôn đặt niềm tin vào khả năng chữa bệnh của bác sĩ, tình thương của y tá. Họ gọi đây là “Bệnh viện Bà Thiệu” để tỏ lòng biết ơn vị Đệ Nhất Phu Nhân lúc bấy giờ.

Ngày khánh thành Bệnh viện Vì dân, 4 Tháng Chín năm 1971.

Tuy vậy, việc đứng ra xây dựng bệnh viện của bà Thiệu cũng khó tránh khỏi sự bàn tán của dư luận, đặc biệt là người ta luôn nghi ngờ sự tranh chấp chính trị khi lấy việc xây dựng bệnh viện đả kích nhau. Và cũng có những nhận định cho rằng, đây có thể là ván bài tâm lý an dân của gia đình Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong thời điểm chính trường có nhiều bất động.

Nhưng dù có bàn tán gì đi chăng nữa, Bệnh viện Vì Dân vẫn khánh thành và đi vào hoạt động, phục vụ những lợi ích thiết thực của xã hội, người được hưởng lợi nhiều nhất vẫn là dân cần lao.

Sau năm 1975, đoàn quân từ miền Bắc vào tiếp quản Sài Gòn, miền Nam đổi chủ, Bệnh viện Vì Dân cũng được đổi tên thành Bệnh viện Thống Nhất. Từ đó đến nay, bệnh viện này chủ yếu nhận chữa trị cho cán bộ cao cấp, trung cấp của đảng CSVN, chính quyền và quân đội.

Tổng hợp từ: https://www.cochinchine-saigon.com/vai-hang-nho-lai-ba-nguyen-thi-mai-anh-phu-nhan-cua-tong-thong-nguyen-van-thieu/embed/#?secret=cxaFX3dJik

https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_Thi%E1%BB%87u

https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Th%E1%BB%8B_Mai_Anh

https://www.yeuchua.net/2018/12/de-nhut-phu-nhan-nguyen-thi-mai-anh.html

Nguồn: https://saigonnhonews.com/nhin-lai-lich-su/vi-de-nhat-phu-nhan-va-benh-vien-vi-dann/

Mờ trong khói lửa – Quái Điểu Bồng Sơn


Quái Điểu Bồng Sơn.

Bát thập vấn vương đời quân ngũ
Bao năm Cọp Biển đó là danh
Ưỡn ngực nhìn quanh đời chẳng thẹn
Nước mắt chỉ rơi khóc bạn mình.
Thế giới bên kia ra sao nhỉ
Nơi đây vẫn nhớ những địa danh
Xác ta, xác địch phơi như núi
Đêm đêm vẫn thắp nén nhang tình.

Quảng Trị - ARVN Marines, Vietnam War 1972 | ARVN Marines on… | Flickr

Tôi mê say đời Cọp Biển, đó là lẽ sống của tôi và cũng như rất nhiều chiến binh Mũ Xanh khác của binh chủng. Kỷ niệm nhiều lắm, nhắc không hết, giờ đây vào tuổi gần 80 cũng có khi quên. Nhưng không làm sao quên được những chiến hữu, những cấp chỉ huy, những đồng đội đã hy sinh đền nợ nước. Đêm về, hay có những giấc mơ đẹp, chuyện mấy chục năm trước nó hiện ra như mới hôm qua. Rồi những giấc mơ tôi gặp lại đàn anh, đồng đội, đàn em trong cảnh máu đổ thịt rơi, tôi hét lên, bật người dậy làm người vợ hiền thức giấc trong cái giá lạnh buốt thấu xương nơi thành phố tôi ở. Tôi tiếc, tiếc vô tận, tôi muốn nói chuyện với các anh, tôi muốn nói rằng tôi rất nhớ các anh. Quê hương tôi ngày ấy lửa đạn ngút trời, những chiến sĩ, những anh hùng của tôi đã đi vào lịch sử. Rời quân trường, tôi có nhiều “ngả đi”, lắm “ngả về”, nhưng vốn mê Mũ Xanh từ những ngày còn bé, còn là Thiếu Sinh Quân nên tôi quyết về với Mũ Xanh. Cái mũ và màu áo đó tôi đã “chung thủy” cho đến ngày gẫy súng, ngục tù rồi theo bộ quân phục TQLC theo tôi trên đường tỵ nạn CS. Đến Hoa Kỳ, dù bận rộn công việc gì chăng nữa tôi cũng dẹp qua một bên để sắp xếp về tham dự những Đại Hội TQLC. Nơi đấy, tôi đã tìm lại tôi, tìm lại những đồng đội, tìm lại những anh em đã cùng tôi một thời khói lửa.

Ai nói rằng người già không còn “lửa”, nhưng với tôi thì chưa. Lửa Binh Chủng trong tôi còn đầy đủ, bừng bừng khí thế như tuổi “đôi mươi”. Khi có tí men cay, lửa trong tôi sôi sục như những ngày băng rừng, vượt núi Trường Sơn, những năm tháng ngập mình trong sình lầy của Vùng U Minh, Chương Thiện. Cái thuở bắt đầu làm Mũ Xanh tôi theo Kình Ngư băng rừng, lội suối. Bấy giờ, tôi mới học được một điều, mà ở quân trường không có, hay chỉ nói thoáng qua, đó là sự mất mát, cái tiễn biệt. Cái cảm giác này khó chịu lắm, và cũng đau khổ lắm!

Ngày ấy…TĐ4 Kình Ngư của TĐT Võ Kỉnh hành quân cùng đoàn tầu tuần giang của Mỹ Riverine Force. Đoàn tàu bị phục kích ở Rạch Nước Trong, Tỉnh Chương Thiện, ĐĐ1 của ĐĐT Cam Ranh và tôi, ĐĐP, hai chúng tôi đồng loạt phản phục kích từ hai cánh quân khác nhau, bằng cách xung phong thẳng vào mục tiêu, tìm sinh lộ trong tử lộ nhưng không hiểu như thế nào mà hai anh em ĐĐT&ĐĐP cùng hội tụ vào một mục tiêu là cái mương dừa, ở đó có hai tên VC đang trú ẩn. Khi chúng tôi nhào tới thì chúng nó bị tê cứng vì sợ hãi, chúng chưa kịp bóp cò thì Hạ Sĩ Đồng cận vệ của tôi nhanh như cắt lia một loạt M16, cứu hai chúng tôi khỏi lưỡi hái Tử Thần, tịch thu 2 AK47 ngon ơ.

Trong khi ĐĐ1 bị phục kích thì Anh Lộc, ĐĐT/ĐĐ3 đem quân tiếp cứu chúng tôi. Nhưng… tiếc thương thay, Anh Lộc đã nằm xuống để cho chúng tôi và các chiến hữu đồng minh được sống. Huy chương Đồng (Bronze Star with V) tôi mang cũng do anh mà tôi có.

Khi anh Lộc hy sinh, tôi đang là DĐP/ĐĐ1 thì được TĐT Võ Kỉnh cho trực thăng đón tôi sang tạm nắm Quyền ĐĐT/ ĐĐ3 trước khi tôi về Trường Sinh Ngữ Quân Đội để chuẩn bị đi du học ở Hoa Kỳ.

Cái chết đến với những người chiến binh chúng tôi như một cơn gió thoảng, nhanh và gọn lắm. Cười đó, vui đó, gương mặt đầy nhiệt huyết, sáng rực như một vì sao, đâu ai biết rằng, mất và còn chỉ trong phút chốc, nó như là một giấc mơ làm mọi người ngơ ngác hỏi nhau: “Anh Lộc mất rồi sao? Mất rồi hả?” Để rồi cuối cùng phải ngậm ngùi rằng Anh đã mất thật rồi!

Chúng tôi kính cẩn đứng nghiêm chào tiễn biệt anh, người đàn anh của tôi. Anh Lộc ơi! Nếu có kiếp sau, chúng ta vẫn là Mũ Xanh anh nhé.

Ngoài Kình Ngư, đời Cọp Biển của tôi dính chặt với Quái Điểu. Đã có lúc Lạng Sơn điều tôi về làm “xếp” Biệt Đội Sóng Thần, nhưng cuối cùng, tôi vẫn phải về “xóm cũ”, sống hùng, sống mạnh, sống tả tơi với Quái Điểu. Qua nhiều trận, nhất là trận Triệu Phong, tưởng chừng như tôi “đã được Chúa gọi về”. Nhắc đến Quái Điểu, với tôi, thì phải nhắc đến Tây Sơn-Tr/Tá Nguyễn Đằng Tống. Tôi trình diện Ông năm 1970 khi Quái Điểu đang hành quân bên Cam Bốt. Ông là một sĩ quan tài ba, cam đảm, trầm tĩnh, một cấp chỉ huy thương lính, thương đàn em. Cả đời Ông lúc nào lăn mình vào chiến trận.

Tuy nghiêm nghị để chỉ huy, nhưng Tây Sơn cũng có khi vui tính, khôi hài, nói những câu buồn cười cho vui đời rừng núi. Tiếc thay, “anh hùng luôn bạc mệnh”, vì vết thương cũ trong ruột ở trận Bồng Sơn khiến Ông qua đời trong nhà tù giá lạnh ở Yên Bái. Phu nhân Tây Sơn có đủ điều kiện để đi năm 1975. Nhưng …. Bà cũng đã ở lại với ông cho trọn chữ phu thê, giữ trọn lời thề.

Ngày 30/4/1975, tại doanh trại Phạm Khắc Dật, trước khi buông súng theo lệnh của “Tổng Tư Lệnh” Dương Văn Minh, Tiểu Đoàn Trưởng cuối cùng của Quái Điểu là Hưng Yên và tôi, Bồng Sơn, đã tập họp đơn vị xong, xin nghiêm chỉnh đứng nghiêm, chào tay: “Vĩnh Biệt Tây Sơn Nguyễn Đằng Tống”.

Tây Sơn Nguyễn Đằng Tống một thời Cam Bốt, rồi Lam Sơn 719 Hạ Lào, cho đến một ngày của mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Tây Sơn bị thương. Hương Giang Nguyễn Đăng Hòa nhận lệnh, nhận chức TĐT/TĐ1/TQLC thay Tây Sơn

Kỷ niệm với Hương Giang thì nhiều, nhưng đáng nhớ nhất là trận Triệu Phong. Quái Điểu vào vùng bằng trực thăng vận. Một cuộc chuyển quân đầy gay go và thử thách. Mặc dù đã có hải pháo từ Hạm Đội, máy bay B-52 trải thảm, oanh tạc cơ đủ loại dọn bãi. Nhưng Quái Điều ngày hôm đó thê thảm chưa từng thấy. Địch rụng như sung, mà ta cũng rụng như sao!

Quảng Trị - ARVN Marines, Vietnam War 1972 | ARVN Marines, b… | Flickr

Lúc ấy, tôi vẫn còn là ĐĐT/ ĐĐ1. Chúng tôi được quân chính quy BV đón tiếp rất “nồng hậu”. Tiếng đạn bay không còn kịp nhận định được phương hướng. Đạn pháo nổ inh ỏi, ù cả hai tai. Tôi cầm bản đồ ra lệnh cả ĐĐ xung vào vào mép làng. Cả trăm mạng chạy về phía trước bất cần “thân thể”. Nếu không chiếm được mấy vị trí ven làng, thì chỉ làm bia cho thượng liên của địch. Tôi chạy thế nào mà ngay họng súng thượng liên, Thượng Sĩ Phước, thường vụ ĐĐ, từ phía sau nhìn thấy, xô tôi ngã lăn quay, người cận vệ chạy phía sau tôi lãnh đủ loạt đạn đó!

Lại môt người thân thiết như ruột thịt của tôi ra đi thay cho tôi!

Thương tiếc em, nhớ ơn em, đồng đội củng tôi, “hận thù đằng đằng”, vùng lên quyết tiến và đã tiễn được một đám bộ đội chính quy BV “về quê với Baác”.

Tôi có một căn hầm, làm BCH/ĐĐ ngon lành, nhưng khi nhận được tin không vui, Hương Giang đã bị thương, tôi vội vàng di chuyển nhanh đến một vị trí khác để dành căn hầm tốt đẹp đó cho Hương Giang dùng làm BCH/TĐ. Giờ đây, 2018, mấy chục năm rồi, không biết thời gian có còn làm cho Hương Giang nhớ không? Hôm trước Đại Hội, gặp lại anh, tôi không kềm được nước mắt khi thấy Anh không được khỏe. Hương Giang nói:

-Anh yếu lắm rồi!

Quả thật, anh đứng ngồi không vững. Thời gian là liều thuốc chữa lành những vết thương lòng (thất tình), nhưng thời gian không thể xóa những vết thương đã thành sẹo trên thân thể lính chiến chúng tôi. Thời gian và vết đạn thù cùng những ngày trong n gục tù gian khổ khiến chúng tôi già trước tuổi, chúng tôi, tuy vẫn còn mong “tiến bước”, nhưng sức không còn để “yêu” mà yếu quá rồi, quá nhanh! Tuy vậy, tôi vẫn cầu chúc cho anh, mong anh: “Chân cứng, đá mềm”.

Hương Giang và tôi còn có tình nghĩa sâu đậm của thời Thiếu Sinh Quân, nợ tình theo đuổi ngay cả khi cuộc chiến sắp tàn. Khi Hương Giang về nắm TĐT/TĐ8 vào những ngày cuối cùng ở Vùng I, quân ta rút lui khỏi Quảng Trị rồi Thừa Thiên – Huế. TĐ1 rút về đến đèo Phước Tường, đóng quân được vài ngày, tôi nhận lệnh quay lại dưới chân rặng Núi Bạch Mã để đón TĐ8, tôi lại một lần nữa đón Hương Giang. Khi gặp anh, tôi hỏi ý anh ra sao, anh bảo: “ Chúng ta cùng đi”. Thế là, tôi và cánh B/TĐ1 lại cùng anh và BCH/TĐ8 về đến đèo Hải Vân.

Có một chuyện xảy ra cùng lúc đó là trong lúc điều quân “lui binh”. Tôi vẫn còn suy nghĩ “hung hăng con bọ..” chờ đón quân địch, chờ giờ quật khởi, thì Đại Bàng Chương Thiện, Tr/ Tá Nguyễn Văn Cảnh TĐT/TĐ14 vào máy nội bộ của chúng tôi nói rằng “Cocacola”. Tôi chẳng hiểu gì cà, hỏi ngược lại thì Chương Thiện hét to trong máy cho tôi hiểu, như ra lệnh cho tôi “tiến chiếm mục tiêu”

Cảm ơn ĐB Chương Thiện, không có anh, tôi và cánh B không biết sẽ sao!

Ngoại trừ những lúc trên chiến trường. Tôi có những kỷ niệm thật vui với Phu Nhơn Nguyễn Văn Phán. Có lần TĐ8 đấu bóng tròn giao hữu với Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa ở Huế. Anh gọi tôi về đá cho TĐ của anh. Rồi sau đó, có lúc, Phu Nhơn làm Trưởng phái đoàn Thể Thao của TQLC, tôi làm Phó kiêm Thủ Quân của đội Bóng Tròn Sư Đoàn TQLC. Bóng tròn là “nghề” của tôi từ khi còn là Thiếu Sinh Quân, cho đến khi vào Võ Bị, tôi ham mê đá banh vô cùng.

Cùng mê Mũ Xanh, cùng mê đá banh nên Phu Nhơn với tôi như cùng tần số, dù chưa một lần được hân hạnh “bóp cò” dưới lệnh của anh. Nhưng mỗi khi gặp nhau, chưa kịp hỏi thăm anh, anh chưa biết đi đâu thì câu “đầu tiên” Phu Nhơn hỏi tôi: “Tiền đâu? Có tiền đi phép không?”. Ôi sao mà có những câu hỏi dễ thương và dễ trả lời chi lạ. Tôi chẳng dại gì trả lời là “có”. Phu Nhơn lại lần mò các túi, vơ vét được bao nhiêu, dúi cho tôi, rồi xúi dại:

-Cho mày uống rượu.

“Nam vô tửu như cờ vô phong”, Phu Nhơn muốn tôi có lửa để xung phong nên sẵn sàng móc túi cho tôi tí tiền lẻ, mà dù tiền lẻ hay “lẽ” của anh cũng giúp tôi thêm gió. Dù cho chuyện này làm tôi hay bị mấy đàn em chọc quê:

-Như vậy là Bồng Sơn đi đá banh mướn.

Mấy chú em này không hiểu chuyện nên mới choọc quê tôi, chứ nếu như ngày trước Phu Nhơn là phò mã của “Tổng Thống Nguyễn Đình Quát mà Phu Nhơn thuê tôi đá banh thì nay tôi cũng rủnh rỉnh đồng ra đồng vào, không bằng Messi cũng đâu có thua Ronaldo.

Sau này, mỗi khi gặp lại Phu Nhơn, tôi hay nhắc chuyện cũ, chúng tôi cùng cười thật là vui với những kỷ niệm đó. Cười vang to cho thỏa mãn với kỷ niệm khó quên.

Bộ quân phục TQLC do Phu Nhơn tặng khi vừa tái ngộ ở Mỹ, tôi vẫn giữ, vẫn trân quý cho đến ngày hôm nay, dù đã 28 năm rồi. Tôi biết anh có tài chỉ huy, gan dạ cũng như các cấp chỉ huy TQLC khác, nhưng….anh không chống lại được với thời gian, chống lại cái lão hóa của con người. Kính mong Phu Nhân giữ gìn sức khỏe, để đàn em còn có dịp nhắc lại chuyện xưa. Xin hứa: “Không xin tiền anh nữa”.

Nơi tôi ở thành phố Urbana, IL, trên quê hương thứ hai này, nó lạnh, lạnh hơn những ai chưa từng đến đây nghĩ nhiều. Mùa Đông năm nay có lúc xuống còn 0 độ F (- 18 độ C). Băng giá nó tàn phá thiên nhiên thì chớ, nó cũng tàn phá “sắc đẹp” của con người. Nhất là vào cái tuổi “đôi mươi” nhân bốn của tôi hiện tại.

Nhìn ra bên ngoài sân, ngoài vườn cái gì cũng trắng xóa. Màu trắng nó xóa nhòa tất cả mọi cảnh vật, che đi sự sống của mọi thứ chung quanh. Dù ai cũng biết rằng, sau mùa Đông sẽ là mùa Xuân đẹp đẽ, cây cỏ nẩy mầm, “hoa lá đơm Bông”. Rồi sẽ là Mùa Hè rực rỡ. Nhưng con người sẽ không được như vậy. Tất cả sẽ “xuống đồi” theo năm tháng. Bắp thịt sẽ mềm, xương cốt sẽ rỗng, và sắc đẹp sẽ tàn phai.

Tôi chấp nhận hết, vì chúng ta là con người, con đường trước mặt sẽ ngắn đi, và “Mục tiêu cuối cùng trước sau gì cũng chiếm được”. Chỉ nhớ anh em, nhớ đồng đội, những người đã cùng tôi một thời Cọp Biển.

Yêu ai, yêu cả cuộc đời

Tôi yêu Cọp Biển hết đời của tôi.

TĐT Quái Điểu cuối cùng là Hưng Yên Dương Văn Hưng. Anh đã cùng tôi chịu đắng cay của ngày oan nghiệt 30-4 -1975. Anh cũng là một vị chỉ huy tận lòng với Cọp Biển, với Quái Điều, với mọi anh em binh sĩ của Tiểu Đoàn. Dù thời gian anh chỉ huy Quái Điểu không nhiều, nhưng cho đến chiều ngày 30/4 anh cùng tôi vẫn đứng đó, đứng chết trân nhìn đàn em từ từ lau nước mắt vĩnh biệt doanh trại Trần Khắc Dật.

Quái Điểu Bồng Sơn.

Source: http://www.tqlcvn.org/dsst2018/163-1…khoi%20lua.pdf-https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/vn/item/104-m-trong-khoi-l-a-quai-di-u-b-ng-son

Gỉa Từ Vũ Khí – MĐ Tường Vy

MĐ Tường Vy

GiaTuVuKhi

MĐ Tường Vy

TRONG CĂN CỨ, HOÀNG- HOA- THÁM.
Tháng ba, những ngày cuối xuân; trời trong và gió nhẹ, không khí mát mẻ, chan hòa nắng ấm. Cây cối đâm chồi, nẩy lộc, đơm bông, kết trái. Những doanh trại nằm ẩn mình sau các hàng cây ngô đồng, trồng hai bên đường, chạy dọc, ngang trong căn cứ, bao phủ một màu lá non, xanh tươi, bát ngát , làm nổi bậc ngọn Cờ vàng ba sọc đỏ vương cao trên kỳ đài, bay phất phới trước bộ tư lệnh Sư đoàn.
Sáng nay, tôi cùng đi với phái đoàn đến thăm anh em thương binh đang nằm điều trị tại bệnh viện Đỗ-Vinh của Sư đoàn, có mang theo một ít quà bánh và đồ dùng cá nhân để làm quà tặng, thăm hỏi và an ủi anh em, mỗi khi Tiểu đoàn có dịp về hậu cứ. Và trên đường về lại Tiểu đoàn, tôi ghé thăm ngôi Chùa của Sư đoàn.
Trước sân Chùa , mấy khóm hồng và thược dược, hoa vẫn nở rực rỡ muôn màu. Đôi bướm trắng đuổi bắt nhau, lượn quanh mấy gốc cây kiển trên hòn non bộ, rồi biến mất sau mái hiên Chùa. Dưới hồ, mấy chú cá vàng vẩy đuôi ngôi lên mặt nước miệng há to đớp bóng đòi ăn khi thấy có người xuất hiện, dạn dĩ và quen thuộc như bạn của con người.
Tôi yêu khoảng không gian yên tĩnh của ngôi Chùa; nơi có mùi hương trầm bay thoang thoảng trong gió, có tiếng mõ lốc cốc chen lẫn tiếng tụng kinh nho nhỏ của vị sư già. Tôi thường dừng chân nơi hòn non bộ, xem cách bài trí khéo léo của người đời, thật giống như một khung trời thu hẹp; cũng có núi, có sông, có chiếc cầu tre bắc ngang qua suối, cũng có chú tiều phu đốn củi nuôi thân và trên tản đá dưới gốc cây tùng già, một ông lão đang ngồi câu cá.
Cảnh vật vẫn vậy, có thay đổi gì đâu? Sao tôi cứ thích dừng chân đứng nhìn, mỗi lần đến Chùa Lễ Phật.
Tôi cầu xin:
– Phật Tổ phù hộ: Quốc thái, dân an,
– Cho Nước nhà, hết cảnh đao binh.
– Cho Hoà bình trở về với dân tộc
– Để người dân được hưởng thái bình.
– Và xin sư ông làm lễ; siêu sinh tịnh độ cho các vong linh tử sĩ; được nghìn thu an nghỉ nơi cõi Vĩnh hằng.
Tôi trở về doanh trại, vào văn phòng Đại đội, hỏi Kế toán trưởng xem; Tiểu đoàn có gọi, hợp hành gì không?
– Không nghe gì hết, Đích thân. Trung sĩ nhất Yên trả lời.
Lay hoay chẳng biết làm gì, tôi bước ra ngoài, đứng trước cửa văn phòng, dưới bóng mát cây ngô đồng, châm thuốc hút và nhìn mấy chú bồ câu gật đầu gạ gẫm…gù gù trên mái vòm câu lạc bộ Hạ Sĩ Quan Tiểu Đoàn. Đôi chim sẻ từ sân cờ bay vụt lên đậu nơi cành cây, miệng kêu chim chíp, chân nhảy nhót không ngừng. Lấp ló dưới đài hoa năm cánh, những quả non xanh biết nhu nhú bóng loáng, trông thật dễ thương. Mùa Xuân lại hiện về theo giòng tư tưởng của tôi qua truyện Kiều của cụ Nguyễn Du:
– Ngày Xuân con én đưa thôi,
– Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Vào những ngày Xuân, trên cánh đồng lúa nơi quê tôi, có rất nhiều chim én. Chúng từ đâu đến rồi đi lúc nào tôi cũng không còn nhớ rõ. Thửa ấy, cứ mỗi chiều tan học trên đường về nhà, chúng tôi thường dừng chân xem bầy én bay lượn trên cánh đồng. Chúng lao vút từ trên cao xuống ruộng lúa, rồi lại cất lên nhanh nhẹn khác thường. Và đám học trò mãi mê xem đàn én nhỏ săn mồi, về đến nhà thì trời đã tối, nên thường hay bị người lớn la rầy.
Tất cả hòa quyện vào nhau tạo thành môt bức tranh thật sinh động, dạt dào tình tự quê hương, dân tộc. Và đó chỉ là cái nhìn của một người lính trong khuôn viên nhỏ hẹp, tại hậu cứ Sư Đoàn Nhảy Dù, trong những ngày cấm trại nhàm chán.
Còn ở ngoài đường phố có gì khác hơn không?. Thưa, nơi đó có khung trời rộng mở. Những tà áo dài được giới thiệu qua nét đẹp duyên dáng của người con gái Việt Nam, uyển chuyển trong dáng đi, thước tha trong màu lụa mỏng, thì người thơ như; thi sĩ Nguyên Sa cũng không giữ được bình tĩnh, quên mất cái không khí mùa Hè ôi bức của Thủ đô Sài gòn. Thản thốt ghi vội;
– Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát.
Bỡi vì em mặc áo lụa Hà Đông.
Nhưng hôm nay, lụa Hà Đông không còn làm mát lòng anh trai nữa và người em gái cũng không còn lòng dạ nào mặc áo lụa dạo chơi dưới trời nắng ấm. Bỡi vì, người người đang âu lo cho sự tồn vong của đất nước…Miền Nam Việt Nam đang lên cơn sốt, do sự phản bội của nhiều thế lực: Trong cũng như ngoài nước.
Hôm nay, mùng năm tháng tư. Xuân đã đi qua và đàn én cũng đã bay xa. Tiểu đoàn vẫn giá: ba-lô, súng đạn…. chờ ngày đi hành quân.
Thời gian Tiểu đoàn tham chiến tại Thường Đức, Quảng Nam, ngày đêm tôi lo đánh nhau với Việt cọng, báo chí không có, tin tức chiến sự mù tịt.
Hôm nay, Phạm Bình Minh; một ngưới bạn mất một con mắt ở trận Hạ Lào, đã giải ngũ, nhưng gia đình anh vẫn còn cư ngụ trong cư xá Sĩ quan Tiểu đoàn, mới từ Sài Gòn về, thảy cho tôi tờ báo Diều hâu hay Tia sáng gì đó. Lâu quá rồi tôi cũng không còn nhớ rõ.
Tôi kéo chiếc nghế đến gần sát cửa sổ văn phòng Đại đội, tìm chút ánh sáng để đọc chữ cho rõ. Tôi lật qua trang tổng kết tình hình chiến sự, tìm đọc những tin tức quan trọng, chím gần hết trang giấy. Tôi giáng mắt vào những giòng chữ và đọc một hơi không ngừng, mắt không chớp;
Đọc tới đâu, tôi buồn tới đó, vì toàn những tin xấu, làm đầu óc tôi tê cứng, dù có nhiều tin tôi đã nghe qua và cũng đã biết rồi.
– Tiền đồn trấn giữ biên giới nổi tiếng như Tống Lê Chân bỏ ngõ ngày 11/5/74. Đến tháng 8/74 Quân lỵ Thường Đức, Quảng Nam rơi vào tay địch.
– Đầu năm 75, ngày 6/1 Tĩnh lỵ Phước Long bị địch lấn chiếm, Bộ Tổng Tham Mưu điều động Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù vào tiếp ứng, giống như; thảy viên sói nhỏ vào hồ nước mênh mông. Có thấm vào đâu khi lực lượng địch trên cấp Sư đoàn, có tăng, có pháo yểm trợ đang tràng ngập Tĩnh lỵ Phước Long.
Và cứ thế, thừa thắng xông lên: Ngày 10/3 địch điều động 3 sư đoàn tấn công Buôn-Mê-Thuộc. Lực lượng phòng thủ chỉ có một Trung đoàn của Sư đoàn 23 và Địa Phương quân, Liên đoàn Biệt Động Quân trấn giữ Buôn-Hô cũng đang bị địch tấn công. Quân ta đã chiến đấu rất anh dũng, bắn đến viên đạn cuối cùng, nhưng quân số địch quá đông! Một… chọi mười, làm sao ta chịu nổi, cũng đành thất thủ mà thôi. Tan hàng- Đau đớn!
Địch đang ở thế mạnh: quân số, đạn dược, khối Cọng tiếp liệu đầy đủ. Ba sư đoàn tiến như thác lũ, làm sao Lữ đoàn 3 Nhảy Dù cản nổi. Mà địch dại gì đương đầu với quân Dù. Chúng nó coi rừng núi là nhà, len lổi trong rừng sâu, núi thẳm là nghề của bọn chúng, đi đâu mà chẳng được… Rốt cuộc; địch ở sau lưng ta, làm Lữ đơàn 3 Nhảy Dù tắt nghẽn đường về.

CẤM TRẠI, 100/100.

Trung tuần tháng ba, Lữ đoài I Nhảy Dù rời vùng I chiến thuật di chuyển về Sài Gòn bằng đường không vận và khi về đến Hậu cứ, binh sỉ không được nghỉ bốn ngày phép “Ân thưởng hành quân” như thường lệ, mà toàn bộ Tiểu đoàn cấm trại 100/100. Binh sĩ lo làu chùi vũ khí, đạn dược, đổi quân trang, quân dụng, có trang bị thêm cưa, để cưa cây làm hầm hố cho chắc chắn. Phen này, quyết ăn thua đủ với địch.
Mọi người đoán già, đoán non, địch sẽ tiến vào Sài Gòn, nên tôi đem vợ con vào sống nơi cư xá Sĩ quan Tiểu đoàn, trong vòng đai phi trường Tân-Sơn-Nhất. Địch có tấn công như tết Mậu Thân, chúng cũng phải trả giá đắc lắm, mới hạ gục được chúng tôi.
Và theo tình hình hiện tại, Mỹ cắt hết viện trợ, vì vậy phương tiện tiếp tế, tiếp liệu cho các Quân đoàn bị hạn chế, nên Tổng Thống ra lệnh; “Gom quân”, chỉ giữ vùng đồng bằng đông dân cư mà thôi, theo kế hoạnh; “Đầu bé đít to”gì đó?
– Quân đoàn II di tảng theo đường Pleiku – Phú Bổn – Phú Yên, con đường bỏ hoang lâu năm, cầu cống bị hư hại, đoàn quân di chuyển chậm chạp, địch có thời gian chuyển quân truy kích, chận đánh và pháo kích liên tục.
Kết quả: Quân ta bị tổn thất nặng nề.
– Quân Đoàn I chật vật chiến đấu, sau khi Sư Đoàn Nhảy Dù rời vùng. Tình hình đang rất nguy ngập, vì lệnh lạc: Tiến…thoái “ bất cập” Tinh thần các cấp chỉ huy cao cấp:“ Nửa tỉnh – nửa mê ” thiếu dức khoát, làm Quân và Dân: Mất tinh thần.
Tình hình chiến sự thay đổi nhanh chóng, mỗi ngày một thêm rối rấm, làm tinh thần tôi cũng căng thẳng theo và trong một lúc nào đó đấu óc của tôi thật sự trống rổng, không còn biết mình phải đối phó bằng cách nào? Nhiều câu hỏi được đặt ra, nhưng không có câu trả lời:
– Không biết đơn vị rồi sẽ tử thủ tại đây, hay được tăng cường cho một chiến trường nào đó? Thú thật, có lúc tôi đã nghĩ đến giây phút cuối cùng, khi không còn lối thoát, đành phải hy sinh cả gia đình.
Như mọi khi, Tiểu đoàn ở tại hậu cứ. Ban ngày, binh sĩ lo học tập, huấn luyện cách đánh trong thành phố, học xử dụng những loại vũ khí chống chiến xa. Ban đêm, ra nằm tại vòng đai phòng thủ, phía Bà quẹo, đầu phi trường Tân Sơn Nhất.
Hai tuần lễ trôi qua, mọi người sống trong lo âu, lòng nặng chĩu dưới áp lực địch; càng ngày càng tăng, âm thầm chịu đượng bầu không khí ngạt thở với nhiều tin tức chiến sự dồn dập gởi về không mấy tốt đẹp.
So sánh lực lượng giữa ta và địch: Một chống năm….mười, khó cầm chân địch, nói chi đến việc giành chiến thắng vẻ vang cho đơn vị.
Nhưng rồi, trưa ngày 7/4, Tiểu đoàn ban lệnh hành quân. Tôi đứng nhìn anh em binh sĩ giá ba-lô, súng đạn trước sân cờ, chờ xe di chuyển đến vùng hành quân. Mà lạ thật, cứ mỗi lần có lệnh hành quân; thay vì lo âu, tôi thấy anh em binh sĩ, họ rất vui và còn thoải mái nữa, mới là lạ. Coi bộ họ cũng không có một chút lo lắng nào dù sắp sửa phải xông vào vùng lửa đạn và dĩ nhiên bão táp chiến trường cũng sẽ mang đến cho đơn vị nhiều mất mác đau thương, nhưng anh em vẫn thản nhiên đùa vui tỉnh bơ.
Tôi rất tự hào và tin tưởng vào khả năng chiến đấu của anh em binh sĩ, dù ở trong trường hợp nào và bất cứ nơi đâu, họ luôn sát cánh với các đống đội; chiến đấu với lòng dũng cảm, can trường chống trả địch quân để bảo vệ tự do, hạnh phúc cho người dân và sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì Tổ Quốc. Nhưng trong giờ phút này và với tình hình hiện tại, tôi tự hỏi: Làm sao để giành phần thắng đây? Chỉ có trời mới biết. Và đối với người lính Nhảy Dù, chúng tôi luôn sẵn sàng đối đầu với địch trong bất cứ hoàng cảnh nào với tinh thần: Cố gắng – Danh dự và Trách nhiệm.
Tôi dặn vợ tôi, sau khi tôi đi hành quân rồi, về sống nhờ bên Ngoại. Gia đình tôi ở tận Miền Trung, xa xôi quá và cũng đang trong tình trạng chạy loạn, không biết hiện giờ họ đang ở đâu? Và tôi thật sự lo lắng đến an nguy của họ. Buồn thay!.
Đoàn xe chuyên quân khởi hành trong đêm, lúc người dân Sài Gòn còn đang yên giấc. Trời sáng, đoàn xe mới qua khỏi thành phố Biên Hòa, dừng quân trong khu rừng cao su, Trung tá Tiểu đoàn Trưởng gọi tôi lên chiếc xe Jeep của ông, chạy một vòng quanh khu vực. Ông chỉ cho tôi biết những điểm chính như: Phi trường Biên Hòa, ngả ba Dầu Dây, những căn cứ của ta và hướng nào địch dễ xâm nhập. Thú thật vào lúc đó, tôi không hiểu ý ông muốn nói với tôi điều gì? Vì nhìn trên bản đồ tôi cũng biết vị trí chính xác các nơi này rồi. Và lúc ấy, tôi cũng không có thắc mắc, hay nói đúng ra, tôi không biết hỏi điều gì, vì cuộc hành quân mới bắt đầu chưa biết mục tiêu và nhiệm vụ chính.TIỂU ĐOÀN 9 NHẢY- DÙ TẠI MẶT TRẬN LONG- KHÁNH.

Theo tin cho biết, Quân đoàn 3 có kế hoạch tổ chức một chiến đoàn đặc nhiệm gồm: Một thiết đoàn chiến xa phối hợp với Lữ đoàn 1 Nhảy Dù tùng thiết; Mở đường qua ngả 3 Dầu Dây vào Xuân Lộc, nhưng không biết tại sao?. Sau đó kế hoạch này, bị hủy bỏ.
Sáng ngày 12/4 lệnh từ Tiểu đoàn cho binh sĩ gọn gàng, di chuyển ra Quốc lộ# I. Chúng tôi dừng quân tạm thời trong vườn cây cao su non, chia toán để được trực thăng vận vào Long Khánh. Khoảng mười một giờ (11), toàn bộ Tiểu Đoàn nhảy xuống đồi chuối, cách ngả 3 Tân Phong 2 cây số về phía Đông và cách Thị xã Xuân Lộc khoảng 3 cây số.
Tiểu Đoàn triển khai đội hình, di chuyển về hướng Bắc, tiến lên giải tỏa ấp Bảo Định đang bị địch bao vây. ( Ấp Bảo Định do Tổng thống Ngô Đình Diệm thành lập năm 1954, để định cư người miền Bắc di cư vào Nam ).Trong ấp có nhà thờ và giáo dân được vũ trang, họ chống Cọng quyết liệt, nên Việt cọng không vào được, hay chưa muốn vào vì đang dốc toàn lực tấn công Sư đoàn 18 của Thiếu tướng Lê Minh Đảo.
Tôi nhận lệnh; Đại đội 93 bên trái, di chuyển băng qua khu vườn cây ăn trái, men theo Quốc lộ #I, lục soát sâu vào rừng cao-su, tiến chiếm ngôi làng, nằm về phía Đông thị xã Xuân Lộc.
Bên cánh phải, Đại đội 94 của Trung úy Nguyễn Hữu Thăng tiến song song, lấy Quốc lộ#I làm chuẩn, di chuyển trong khu rừng cao su được khai quang, chỉ còn lại phần gốc, chen lẫn các bụi cây dại mọc chen chúc như rừng chồi, tương đối dễ quan sát hơn.
Xa bên trong, cách Quốc lộ#I khoảng 500 mét là rừng cao-su mênh mông nối liền với ấp Bảo Bình về hướng Đông- Bắc Liên Tĩnh lộ 2 dẫn về Bình Giã, Bà Rịa,Tĩnh Phước Tuy.
Khi Đại 94 tiến gần ấp Bảo Định, thì súng bắc đầu nổ. Những loạn đạn bắn ra từ trong ấp nghe không giống Ak hay B40 mà là tiếng nổ đì đẹc của súng Carbine M-1, hay tiếng đì đùng của Garand và súng cối 60ly. Dân quân trong ấp không có máy truyền tin để liên lạc với quân Dù. Sau mấy loạt đạn đầu bắn ra từ trong ấp không chính xác, anh em Dù nằm yên nghe ngóng,. Dân quân không thấy bên ngoài phản ứng nên họ ngưng tác xạ. Sau đó hai bên nhận diện, vui mừng bắt tay nhau.
Tếng súng của dân làng cũng báo động và theo phản ứng tự nhiên, Anh em Đại đội 93 tựa vào các gốc cây cao-su nằm thủ thế. Địch liền khai hỏa bằng súng cối và súng nhỏ. Đại Đội vừa bắn vừa hô xung phong đè bẹp chốt của Việt Cộng, tịch thu một súng cố 61 ly, một số AK và B40. Có 3 tên chết, số còn lại chạy vào trong làng.
Nhưng có một điều không may là Trung tá Tiểu Đoàn trưởng; Nguyễn Văn Nhỏ bị thương bỡi một mảnh cối 61ly, tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng phải được di tản về bệnh viện để điều trị. Thiếu tá Tiểu đoàn phó Lê Mạnh Đường lên thay, dẫn dắc Tiểu đoàn và Đại đội nhận được lệnh dừng quân, bố trí, chờ lệnh.
Buổi chiều cùng ngày, Tiểu đoàn đóng quân đêm tại đây. Đại đội 93 của tôi, di chuyển về hướng Tây 300 mét làm tiền đồn. Vị trí này nằm sát mí vườn cao-su, đối diện với ngôi làng qua một khoảng trống. Đêm hôm đó không có gì xảy ra, tình hình vẫn yên tĩnh.
Qua ngày hôm sau,Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù lên thay thế.Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù. di chuyển về làm trừ bị cho Lữ Đoàn, Riêng Đại Đội 93 của tôi được giữ lại tại vị trí cũ làm tiền đồn cho Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù.
Ngày 14/4 Tiểu đoàn 8 Dù tiến quân vào làng thì đụng nặng với một Tiểu đoàn Việt cọng, Trận chiến xảy ra suốt ngày, địch tổn thất phân nửa chết và bị thương, đang cố thủ trong vườn cây ăn trái của gia đình Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ( dân làng nói là vườn ông Thiệu ).
Ngày 16/4 Đại đội có lệnh lục soát khu vườn cố Đại tướng Lê Văn Tỵ, Vườn rộng mấy mẫu tây, đất khô cắn sỏi đá. Các cây nhãn trồng hai bên bờ con suối cạn, thiếu nước, cằn cỗi lớn không nổi, phơi bày cả lòng con suối.Việt cọng gom đá đắp thành vòng tròn dở dang, đất sỏi quá cứng, khó đào hầm, Vì thế mà chúng đã bỏ đi chăng? . Nơi này chỉ cách Bộ chỉ huy của Thiếu tướng Lê Minh Đảo không đầy một cây số.
Bên kia đường là ty cảnh sát Long Khánh, Tôi có quan sát bằng ống nhòm, nhưng không thấy bóng dáng một người nào.
Ngày 17/4, lúc 9 giờ sáng, Trung tá Lê Hồng Lữ đoàn phó Lữ đoàn I Dù ra lệnh cho tôi trên máy: Bảo tôi về gặp Trung tá Tuyển,Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8Dù để nhận nhiệm vụ mới.
Trung tá Tuyển, chỉ cho tôi kẹp theo bìa làng, di chuyển lên hướng Bắc, đến gặp Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 8 Dù và Thiếu tá Thanh sẽ cho tôi biết nhiệm vụ của Đại đội 93. Gần giữa trưa ,tôi mới gặp Thiếu tá Thanh và ông cho tôi biết nhiệm vụ chính của Đại đội 93 là:
– Thanh toán bọn Cọng đang trú ẩn trong khu vườn cây ăn trái của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Tôi đang ở trong tần số dưới quyền điều động của ông Lữ đoàn phó và nhận lệnh trực tiếp từ Thiếu tá Thanh, cũng không phải là Tiểu đoàn phó của tôi. Lúc này; tôi có đến hai ông. ..Cha ghẻ lận- Buồn thay! Tôi có chút bất mãn thật! nhưng không dám… chưởi, vì sợ mình bị; mất tư cách với anh em đồng đội đang ở quanh tôi.
Trung tá Lữ đoàn phó nói với tôi trên máy:
– Bây giờ anh nghe tôi, không nghe ai hết.
Tôi thưa:
– Dạ vâng.
Và tôi nghĩ như vầy, nhưng không dám nói ra, sợ anh em binh sĩ nghe, họ sẽ nãn lòng.
– Khúc xương này chắc chắn khó gặm rồi, nếu ngon ăn… đâu đến phiên mình.
Địch bị bao vây không lối thoát, buộc phải tử thủ. Con chó khi bị dồn đến đường cùng, sao khỏi hung hăng, cắn bậy.
Tôi căn dặn con cái quan sát thật kỹ càng, yểm trợ lẫn nhau, cẩn thận, tiến từng bước một. Vườn chôm chôm cành đầy trái; nặng trĩu, uốn cong sát mặt đất, che khuất tầm nhìn, rất khó quan sát. Đại đội di chuyển từng bước, vượt qua một khu vườn không có nhà cửa.
Trung đội chuẩn ra dấu dừng lại. Chúng tôi ngồi xuống thủ thế.
Thiếu úy Thới, Trung đôi 3 báo cáo;
– Gặp con đường mòn trước mặt. Đích thân.
Tôi bảoThới,
– Tìm xạ trường tốt đặt cây đại liên M60, để sẵn sàng yểm trợ, rồi cho tổ khinh binh bò lên quan sát. Mười lăm (15 ) phút sau toán khinh binh phát hiện có mấy chiếc nón sắt của Dù nằm lăn lóc trên đường. Dấu vết cho tôi biết; mục tiêu ở ngay trước mặt và khoảng cách từ đây đến đó, cũng không xa lắm.
Tôi bảo Thiếu úy Thới cho Trung đội bố trí bên này con đường, sẵn sàng yểm trợ để Tr/ đội 2 của Chuẩn úy Hoàng Văn Tuất vượt đường mòn, tiến vào khu vườn bên phài, làm đầu cầu để yểm trợ cho Trung đội 3 tiến chím mục tiêu.
Tuất đưa Trung đội qua bên kia đường mà không gặp sức kháng cự nào của địch và cho tôi biết đã sẵn sàng yểm trợ cho Trung đội 3 của Thới. Trung đội 3 vượt con đường mòn, tiến vào vườn chôm chôm, Địch lập tức khai hỏa. Tiểu đội khinh binh nhào lên: vừa bắn vừa hô xung phong,Tổ khinh binh 3 người bên cánh trái, trúng đạn, cách hàng rào kẽm gai không xa lắm. Trung đội 3 tiến thoái; lưỡng nan.
Lúc bấy giờ, súng nổ khắp nơi, hai cây M60 của Trung đội 2 bên cánh phải, bắn yểm trợ, hai khinh binh bị thương của Trung đội 3 mới bò về được, còn một chết sát hàng rào với cây M79 vẫn còn nằm đó.
Đại đội đã lộ diện và địch đang canh chừng, hơn nữa bị hàng rào kẽm gai cản trở, hễ ta nhấp lên là chúng bắn sẻ, đã có hai binh sĩ bị thương. Trung tá Lê Hồng giục tôi thanh toán nhanh mục tiêu. Tôi đem Trunng đội 1 lên tăng cường và bảo Th/úy Thới dùng M72 để phá rào và dồn hỏa lực áp đảo bọn vẹm. Tôi điều động Trung đội 2 bên cánh phải bò lên sát hàng rào, rồi dùng hỏa lực bắn phủ đầu, để yểm trợ Trung đội 3 của Thới chui lỗ hổng vào bên trong, thanh toán mục tiêu mới mang xác đồng đội về được.
Ý định của tôi là như vậy, nhưng mấy quả M72 của Trung đội 3 bắn nổ ầm ầm, hàng rào kẽm gai mắt cáo, vẫn đứng trơ trơ.( Dân ấp Bảo Định cho biết hàng rào này do Liên đoàn 5 công binh chiến đấu xây dựng? )
Buổi chiều, mặt trời sắp lặng, nắng tắc trong vườn cây.Tôi báo cáo tình hình cho Trung tá Lữ Đoàn Phó biết. Ông ra lệnh Đại đôi tổ chức phòng thủ ngay tại chỗ. Ngày mai cho người ra ấp Bảo Định chặt tre và nhận thuốc nổ băng-ga-lo mang về để phá rào.
Đại Đội vây tròn trong vườn chôm chôm nghỉ qua đêm, một nửa quân số canh gác, nửa kia đào hầm. Đêm đó, nửa thức, nửa ngủ tại hầm, canh chừng suốt đêm.
Sáng hôm sau, ngày tái tiếp tế, tôi bảo Thượng sĩ Hiệp thường vụ Đại đội cho người vào ấp Bảo Định xin 2 cây tre dài và vào Tiểu đoàn nhận thuốc nổ. Nhưng đến 11 giờ trưa, Lữ đoàn trả Đại đội 93 về lại Tiểu đoàn 9 Dù và tôi nhận được lệnh của Tiểu đoàn trưởng, di chuyển Đại đội đến vị trí mới, cách ấp Bảo Định, về hướng Đông-Nam khoảng 400 mét, trong vưởn cây cao-su non.
Vào khoảng nửa đêm,Việt Cọng di chuyển ốn ào, tôi đoán có thể lên đến cấp Trung đoàn. Chúng ngang nhiên dùng loa phóng thanh kêu gọi dân làng nổi dậy chống Mỹ-Ngụy ( Mỹ đâu còn nữa ) cách điểm đóng quân của tôi vào khoảng một cây số, trong đồn điền cao-su rộng mênh mong.Tôi chấm tọa độ, gọi về Tiểu đoàn yêu cầu dùng pháo binh tiêu diệt, nhưng chờ mãi cũng chẳng có quả pháo binh nào?
Ngày 19/4 lệnh từ Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng bảo tôi đi kiểm soát Đại đội 91 của Trung úy: Lê văn Kinh, đóng quân cách Đại đội tôi một cây số, gần vườn mía, nằm giữa tôi và Tiểu đoàn, coi hệ thống phòng thủ của Đại đội 91 có hoàn tất tốt đẹp không? Rồi báo cáo về cho Tiểu đoàn biết.
Tôi giao Đại đội cho Thiếu úy Thới trông coi mà lòng phập phòng lo âu vì đêm qua địch chuyển quân qua vùng này, rất gần chúng tôi. Thật may, sau khi kiểm soát xong, tôi về lại Đại đội, tình hinh vẫn yên tĩnh.
Qua ngày hôm sau, Đại đội 94 của Trung úy Nguyển Hữu Thăng đi lục soát trong đồn điền cao su, hướng Đông Tiểu đoàn, lọt vào ổ phục kích, bị lạc mất một Trung đội và đang bị địch bao vây, chia cắt. Tôi nhận lệnh đưa Đại đội về gặp Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng. Khi tôi đến nơi, ông cho biết : Đại đội 94 đang ở trong tình trạng, rất nguy hiểm và bảo tôi cố gắng vào móc Thăng ra.
Trời về chiều, mưa lâm râm, mây giăng khắp lối, mới xế chiều mà bầu trời tối sầm như buổi hoàng hôn. Binh sĩ ướt như chuộc, Đại đội âm thầm di chuyển xuyên qua vườn cây cao su non, tiến thẳng đến vị trí của Đại đội 94, theo đội hình tác chiến:
– Trung đội I của Chuẩn úy Hoành làm chuẩn.
– Tuất, Trung đội 2 bên phải.
– Thới, Trung đội 3 cánh trái.
Trung đội đi đầu vừa chạm mí vườn cao su già, thì địch khai hỏa. địch từ vườn chuối bên trái bắn qua. Ngay loạt đạn đầu Thìếu úy Thới và âm thoại viên ngã gục. Tôi đi sát bên Thới vội nhảy ngay xuống hố giếng đang đào. Địch từ trong rừng cao su bắn ra, từ vườn chuối bắn sang. Súng nổ, đạn bay veo véu qua đầu, trúng vào thân cây nghe chan chát, cành gãy răn rắc.
Hỏa lực Đại đội dồn về phía trước và bên phải. Tuất phát giác địch núp ở trên cây bắn xuống, rất nguy hiểm, dặn nên cẩn thận, đã có vài anh em bị thương.
Tôi cho SKZ 57 ly cơ hữu của Đại đội, bắn vào các cây cao su có tàng to lớn trong rừng. Địch nằm giữa hai lằn đạn của Đại đội 93 và 94, nên vài quả 57 ly bay ngang qua vị trí của Đại đội 94,làm Trung úy Thăng la hoảng trên máy.
Địch bám sát Đại đội 94, như lũ kiến bu quanh cục đường. Tôi bảo Thăng cho con cái lặng sâu xuống hầm, để tôi dọn sạch bọn này mới hy vọng bắt tay được với hắn. Anh em vừa bắn về phía trước,vừa bắn lên cây, cố tiến lên bắt tay với Đại đội 94, nhưng không nhích được chút nào.
Trời sập tối, mọi vật chìm trong bóng tối, hai bên đoạn chiến. Địch vẫn bám chặt Đại độ 94. Sau nhiều cố gắng , tay tôi vẫn còn quá ngắn, không thể nào vối tới Thăng, để diều bạn ra ngoài.
Sáng ngày hôm sau, 21/4 một chi đoàn chiến xa M41 vào phối hôp, dùng đại liên 50 và súng SKZ 90 ly bắn phủ đầu, địch chịu không nổi, nới lỏng vòng vây, tôi mới bắt tay được với Thăng. Trong trận này một M41 bi trúng B40 nhưng không bị cháy, chỉ bức bánh xích, phải kéo ra ngoài và thiết giáp cũng rời vùng, rời luôn Xuân Lộc..
Tôi bảo Thượng sĩ Hiệp,thường vụ Đại đội phối hợp với Trung đội 4 đưa xácThiếu úy Thới và các anh em bị thương ra Tiểu đoàn để ngày mai trực thăng vào bốc họ về Sài Gòn, Nhưng ngay chiều hôm đó, lúc 3 giờ tôi nhận được lệnh gởi đi bằng công điện mật mã, cho binh sĩ chôn quân trang, chỉ mang theo súng đạn và thức ăn mà thôi. Mục tiêu là Bà Rịa.
Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng nói; Tôi đang chạm địch, phải nằm tại chỗ, để ngăn chặn địch, khi nào có lệnh của ông mới được rời vùng. Như vậy Đại đội 93 đương nhiên là đơn vị cuối cùng rời khỏi Xuân Lộc. Anh em cũng biết vậy, nên cứ len lén nhìn tôi để xem phản ứng của tôi như thế nào? Buồn cười thật.
Sáng ngày 21/4, trong lúc trận chiến đang xảy ra giữa Thiết giáp, Đại đội 93 và Đại đội 94, thì: Tiểu khu Long Khánh, Sư đoàn 18 bộ binh và Biệt Động Quân rời Xuân Lộc, theo liên Tỉnh lộ 2 về Bà Rịa, Phước Tuy.
Lữ đoàn I Nhảy Dù trách nhiệm bảo vệ đoạn hậu và triệt thoái khỏi Xuân Lộc theo thứ tự:
– Tiểu đoàn I Nhảy Dù xa nhất, rút trước.
– Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù, rời vùng khoảng 11 giờ tối.
– Đến gần nửa đêm Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù mới cuốn gói.
Đại đội 93 được dùng làm vật cản đường cho cuộc lui quân. Tôi biết thân phận mình như vậy nên dò trên bản đồ và quan sát địa thế tại chỗ, xem con đường nào dẫn ra Liên Tĩnh lộ 2, ngắn và dễ đi nhất. Tôi bảo Chuẩn úy Hoành dẫn Trung đội lấy phương giác 3000 đi mở đường, gặp rào kẽm gai cắt bỏ và cho một người ở đó để liên lạc và cứ thế rải dài, khi nào hết rào kẽm gai thì thôi. Đến 5.30 giờ chiều Hoành trở về cho tôi biết là đã làm xong.
Cuộc lui binh lúc đầu êm ả, đến tối thì không còn giữ được yên lặng nữa, vì người dân các xóm Đạo họ biết tin, ùn ùn gồng gánh đi theo, chó sủa, heo la, gà vịt hêu ang ác khắp xóm làng. Lòng tôi lúc đó nóng như lửa đốt, cứ nghĩ rằng: Việt Cọng mà biết được mình rút chạy,họ dồn lực lượng tấn công mạnh thì anh em tôi ngàn thu vĩnh biệt. Ai yểm trợ. ai lo cho mình, khi chỉ còn một mình mình nơi đây?
Chắc chắn Địch cũng đoán được VNCH rút bỏ Long Khánh. Họ không đánh tôi ở đây, mà sẽ đưa lực lượng phục kính trên đường rút lui. Lúc đó, chúng tôi không có hầm hố sẽ bị thiệt hai nhiều hơn, tôi nghĩ bâng quơ thế thôi, để yên chí mà ngồi chờ.
Chờ đợi!…. Dù việc gì đến là; buồn hay vui, ai cũng thấy lòng nôn nao hồi hợp. Trường hợp của tôi cũng không ngọai lệ, ngồi đứng không yên. Tôi bỏ ra ngoài, đi kiểm soát, dặn dò anh em để ý quan sát: động- tịnh của địch để kịp thời phản ứng và cũng để cho cái đầu của tôi nó bớt căng thẳng, nó đang sắp nổ tung rồi đây!
Đêm nay, trời không có trăng, cảnh vật chìm dưới ánh sáng lờ mờ nhờ bầu trời có nhiều sao. Mưa đã tạnh, nhưng mây vẫn còn che phủ nhiều nơi. Từ 8 giờ tối…. đến 11 giờ đêm, đối với tôi thời gian có đi chậm một chút, nhưng tôi vẫn còn chờ đợi được. Đến quá nửa đêm thì mỗi phút trôi qua,…với tôi thật sự quá dài? Sao không thấy lệnh lạc gì hết, hay là tôi đã bị bỏ quên ?
Hỏi để mà: Trông, hỏi để mà: Lo và hỏi để cho có chuyện vậy thôi; Làm sao có câu trả lời?
Chỉ nghĩ không thôi, mà như trách cứ ai vậy!.
– Đêm đã khuya quá rồi, anh em Nhảy dù ơi! cố gắng đi nhanh lên, cho anh em tôi nhờ với. Tôi còn sợ máy hết pin, nên bảo Hùng thay pin mới và nhớ ép sát ống nghe vào tai, để nghe cho rõ. Vớ vẩn thật, nhưng giờ phút đó thật tình tôi nghĩ như vậy.
Vậy mà tiếng máy kêu sè sè cũng làm cho tôi giật mình, vì đêm khuya quá yên tĩnh. Đại đội nhận được lệnh cuốn gối, kim đồng hồ chỉ đúng 1giờ 53 phút sáng ngày 22/4/1975.
Hoành dẫn đường, Đại đội đi hàng một, và cứ thế tiếp theo Trung đội 4-3 và 2 bao chót. Tôi dặn Tuất; nếu địch đuổi theo, cho Trung đội nằm lại ngăn địch,tôi sẽ trở lại với anh em.
Tôi chủ trương rút nhanh mới bắt kịp Tiểu đoàn, phải bám sát để khỏi lạc. Trong vòng 45 phút sau, Đại đội đã ở trong vườn cây, sát Liên Tĩnh lộ 2. Tôi liên lạc mới biết Tiểu đoàn đang bị các rào kẽm gai cản trở, còn ở phía sau tôi. Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng ra lệnh cho tôi phải trở lại dẫn đường. Tôi cho một Trung đội vòng lại, đưa Tiểu đoàn theo con đường cũ tôi vừa đi, thoát ra ngoài,chỉ mất khoảng 15 phút.
Tiểu đoàn băng qua Liên Tĩnh lộ 2, di chuyển sâu trong rừng, đến căn cứ Long Giao thì tịt đường, bị dính vào rào kẽm gai của căn cứ, không đi được. Dùng dằn mãi, tôi thấy sốt ruột quá, Đại đội 93 vẫn bao chót và dân làng cứ bám theo sau, tiếng con nít khóc la, tiếng gọi tìm nhau ơi ới. Tôi gọi máy xin găp Đích thân và tình nguyện dẫn đầu đưa Tiểu đoàn ra đường lộ, băng ngang căn cứ Long Giao và tiếp tục di chuyển trên Liên Tĩnh lộ 2..
Gần 6 giờ sáng, Tiểu đoàn đến Thung lũng Gia Rai, cách Xuân Lộc vào khoản 20 cây số. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng cho dừng quân trên đường, gần con suối nhỏ, để con cái lấy nước.
Ngay lúc đó,Việt cọng tấn công bằng súng cối 61 ly và súng nhỏ, nhưng bị ta phản ứng mạnh bằng M72 , Đại liên M60 và M79 của cả Tiểu đoàn. Tôi điều động Đại đội bám vào bờ đất cao bên đường bắn vào các lùm tre hai bên bờ suối. Hàng trăm khẩu súng đủ loại bắn hàng ngàn viên đạn rải xống bên dưới con suối làm địch im tiếng súng.
Không may, tôi bị một mảnh cối 61 ly ghim vào đùi làm chân trái của tôi bị tê, vết thương rỉ máu, sưng bầm tím. Thấy vậy, Bác sĩ Ẩn lấy băn cá nhân bịt kín vết thương cho tôi.
Hướng đông, cách chúng tôi khoảng 2 cây số là Ấp Quí Cả, có ngọn núi cao nằm bên phải Tĩnh lộ2, địch dựng một cây cờ màu xanh đỏ của MTGPMN. Khoảng đất trống bên trái, pháo đội C3 đặt 2 khấu 105 để yểm trợ cho cuộc lui quân. Vào lúc 4 giờ sáng ngày 22/4 pháo đội bị địch tấn công, tràn ngập do một Trung đội Trinh sát báo vệ, bị thiệt hại nặng. Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù vừa đến nơi tấn công bọn vẹm, cứu được nhiều anh em Pháo đội cũng như Trinh sát bị bắt trước đó, tay họ bị trói quặc ra sau.
Và một lần nữa Tiểu đoàn ra lệnh Đại đội dẫn đầu, ép qua bên phải, di chuyển sâu vào trong rừng, tránh xa Ấp Quí Cả., đang bị 2 phi tuần A37 bỏ bom, nhưng không may, lần này Tiểu đoàn lại gặp rừng tre dày đặc, không di chuyển được. Tôi lấy ống nhòm, nhìn về phía chân núi, thấy thấp thoáng bóng người. Tôi nghĩ: Rút lui là phải giọt cho lẹ, nhanh chừng nào, tốt chừng đó- Cứ… như vầy….. rủi nhiều, may ít khó nói lắm và tôi nói với Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng là tôi thấy dưới chân núi có người, liên lạc thử xem; có phải bạn không? May mắn,Trung tá Lữ đoàn phó xác nhận ông đang ở gần đó, Vì vậy Tiểu đoàn trưởng mới bằng lòng để tôi mở đường, hướng về Ấp Quí Cả.
Đại đội 92 của Đại úy: Lê Đình Ruân di chuyển bên trái. Đại đội 93 của tôi bên phải, kẹp hai bên đường, hai Đại đội cùng tiến song song. Đoạn đường gần hai cây số, chỉ mất khoảng 45 phút, tôi bắt tay được với Trinh sát. Anh em cho biết Việt cọng đang đóng chốt trong rừng, bên kia khỏang trống, nhắm bắn sẻ khi chúng ta băng ngang con suối cạn, bảo chúng tôi phải cẩn thận. Tôi nhìn xuống khoảng đất trống, chỗ mấy khẩu 105ly bị cháy và thấy đứa con đầu của Đại đội 92 cũng vừa chấm mí, sửa soạn băng qua khoảng trống. Tôi giật mình, gọi Ruân cho con cái ép sang phải, băng qua đường đến chỗ tôi, trên gò đất cao dưới chân núi.
Vết thương của tôi chảy máu nhiều, bác sĩ Ẩn đề nghị tôi đi gần để được ông săn sóc và Đại úy Trần Ngọc Chỉ ban 3 Tiểu đoàn ra thay tôi coi Đại đội.
Việt cọng phục kích chận đường, Liên Tĩnh lộ 2 không an toàn. Tiểu đoàn mở đội hình di chuyển sâu vào trong rừng, theo phương giác hướng về Bình Giã. Nhờ rừng cây khai quang, thưa thớt dễ đi, đến 5 giờ chiều thì chúng tôi bắt tay được với cánh quân của Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù phối hợp với thiết vận xa M113 chờ đón chúng tôi tại Bình Giã .
Tôi và Lưới, hai thầy trò theo xe về vị trí của một pháo đội, nằm bên cạnh căn cứ cũ, gần phi trường dã chiến bỏ hoang. Đêm đó các Tiểu đoàn đóng quân hai bên Liên Tĩnh Lộ 2, vùng Bình Giã. Nửa đêm về sáng Việt cọng dùng xe máy cày, ngụy trang nhiều cành lá và kéo theo các thanh sắt, giả làm T54 để hù Nhảy Dù, bị Nhảy Dù xơi tái.
Trưa hôm sau, 24/4 Tiểu đoàn di chuyển về đóng quân tại núi Đất, Trung tá Tiểu đoàn trưởng có tới thăm, rồi đi không về lại Tiểu đoàn.
Bác sĩ Ẩn xem vết thương cho tôi, thấy mảnh đạn lòi ra ngoài, dính vào băng cá nhân, dài khoảng nửa phân, nhỏ hơn đầu đũa. Bác sĩ Ẩn nói:
– Ông lội đường xa, vết thương bị động, nên máu ra nhiều, mảnh bom cũng trồi ra ngoài. Tôi đồng ý để ông Bác sĩ Tiểu đoàn gắp nó ra. Thiếu tá Tiểu đoàn Trưởng thấy vậy nói:
– Vết thương của Tường cũng nhẹ thôi – Ông hỏi tôi về lại Đại đội có được không? và ông sẽ để tôi đi với Thiết giáp, cho đỡ đau chân. Tôi thấy chân không còn đau nhức nữa, từ chối rất khó; Thế là tôi ở lại. Đúng là tôi có số xuất ngoại, nên chịu ở lại, chỉ tội cho gia đình tôi sau ngày đổi đời, không thấy tôi mò về, tưởng là tôi đã chết, bơ vơ, đau khổ mất hết niềm tin.
Tôi về đến Đại đội thì nhận được một ông Trung úy ra tăng cường, tưởng ai hóa ra là Luật sư Hoàng Cơ Môn, tôi nghe tên ông này, hôm nay mới biết mặt. Tôi than thầm:
– Đại đội trưởng làm sao nuôi cơm ông đây?
Rất may là ông chỉ ở với tôi một đêm thôi, sáng hôm sau về lại Tiểu đoàn.
Xin phép Qúy vị cho tôi viết về Đích thân của tôi một tí. Ông có tính tình khá đơn giản: cởi mở và vui tính, Lối sống của ông cũng rất bình dị, nên đối xử với thuộc cấp có phần dễ dãi.
Ông là Võ sĩ, nhưng lại thích làm và ngâm thơ. Tuy ông chưa xuất bản tập thơ nào, nhưng trong Sư đoàn, ngay cả ông Tướng tư lênh cũng từng có nghe qua; Ai đó nói về nhà thơ này.
Thơ của ông không cầu kỳ, sâu sắc như các thi sĩ. nhưng được làm theo vần điệu, nên đọc nghe rất êm tai, chứa đựng thật nhiều tình cảm, ý thơ có chút lãng mạng, khiến người nghe dễ rung cảm, đồng tình.
Ông thích ngâm nga một vài bài thơ, nhất là khi mọi người đả uống vài ly VSOP, hay dăm lon beer, nhân dịp hợp mặ của anh em trong Tiểu đoàn 9 Dù.
Đích thân cũng rất thương em út, thường chia xẻ cafe, thuốc lá, hai thứ quí hơn vàng khi đơn vị chạm địch nơi rừng sâu, núi thẩm, chậm tiếp tế.
Tính ông khá vô tư, nên dễ dàng chấp nhận ý kiến của mọi người chung quanh, ngay cả các chú mang máy truyền tin cho ông cũng thế. Ông không thích bị gò bó, phải suy nghĩ nhiều.
Đánh giặc thì cũng xem xem… như mọi người, nhưng ông cầm quân rất mát tay, gặp khó khăn gì rồi cũng tháo gỡ được. Khi cần động viên tinh thần anh em binh sĩ, ông bắt nhịp cho toàn thể hát bài; Sư đoàn Nhảy Dù hành khúc trước họng súng của quân thù đang vây bủa chung quang đơn vị, như trong trận Mùa Hè đỏ lửa trên cao nguyên Trung phần, khi căn cứ Tân Cảnh của Đại tá Lê Đức Đạc, Tư lệnh Sư đoàn 22 bị địch tràng ngập và cánh quân của Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù gồm 3 Đại đội do Thiếu tá Tiểu đoàn Phó Võ Thanh Đồng chỉ huy đang bị địch vây hãm phía Tây- Bắc phi trường Phượng Hoàng trên ngọn Ngoktu ở Đakto.
Tôi phục vụ dưới quyền ông trong một thời gian khá dài, từ Trung đội Trưởng đến Đại đội Trưởng, từ chiến trường này đến cuộc hành quân nọ gần 8 năm; vui cũng có, mà buồn cũng có. Nói chung: Có giận, có hờn, có trách, nhưng chung quy tôi vẫn mến ông.
Tườngvi kể chuyện xưa; thời xa lắc, xa lơ và nhớ đâu, nói đó, nếu có điều gì sai, xin Đích thân cũng đừng buồn vì thời gian còn lại của chúng ta trên cõi đời này, không còn bao lâu nữa. Đây cũng là câu chuyện xảy ra trong Tiểu đoàn, giữa chiến trường: có thương, có nghét, đó là sự thật: “chăm phần chăm”.
Biết rõ tính ông như vậy, nên tôi thường nói ra ngay nhận xét của mình, rồi đề nghị làm theo ý kiến của tôi mà không sợ bị ông cự nự, và lúc nào tôi cũng là người tình nguyện thi hành nhiệm vụ đó, vì luôn nghĩ mình phải có trách nhiệm với đơn vị. Trớ triêu thay, có bạn chê trách tôi là:
– Hữu dõng vô mưu, dại gì phải tình nguyện đi làm, để cho lính khổ.
Bạn này không dám nói thẳng với tôi, mà lại nói với vợ tôi, sau ngày 30/4 mới chết chứ! Thời gian đổi đời, dầu sôi, lửa bổng, vợ tôi không thấy tôi về, vào hậu cứ Tiểu đoàn hỏi thăm tin tức, thì nhận được lời phê phán này. Còn gì đau khổ hơn?. Bạn ơi! bạn có đáng trách không!?
Cách chỉ huy của ông cũng dễ nhận biết, tin ai thì dủng người đó, rách như manh chiếu vẫn dùng. Vừa chạm địch thì có chút nao núng, nhưng khi đã vào trận rồi thì ông gan dạ hơn người, như tôi vừa thưa với Quý vị. Ông rất nóng tính, gặp điều bất bình thì phan ngay, không nương tay, bỡi vậy binh sĩ nào uống rượu làm bậy dễ bị đòn, mà đã phạt thì thường rất nặng.
Kính thưa Đích thân, nhận xét của Tườngvi về Đích thân có chút nào sai, cũng xin Đích thân đừng buồn phiền, bỡi vì ca giao, tục ngữ mình có câu:
– Thương nhau lắm, cắn nhau đau. Thưa Đích thân.
Sau cuộc hành quân Long Khánh, hai bạn Phạm Bá Hồi và Nguyễn Hữu Thăng được vinh thăng Đại úy, nhiều Binh sĩ được gắn cấp bậc và huy chương tưởng thưởng.
Ngày 26/4, Tiểu đoàn di chuyển về giữ an ninh QLộ 15 Sài Gòn- Vũng Tàu, đoạn từ Ấp Láng Cát đến Bà Rịa. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn đóng quân phía Bắc QL15, gần Ấp Láng Cát. Đại đội 92 của Đại úy Lê Đình Ruân bảo vệ pháo đội, đối diện Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Đại đội 93 đóng quân chung với chi đoàn M113 gồm 14 chiếc nơi vườn chuối, phía Đông của pháo binh.. Đại úy Hồi ra giữ chức Đại đội trưởng Đại đội 91,thế cho Trung úy Kinh bị thất lạc trong cuộc hành quân lui binh khỏi Xuân Lộc, đang đóng quân trên dãy núi phía Bắc, Ấp Láng Cát. Đại úy Nguyễn Hữu Thăng đi phép về chịu tang Cha. Thiếu úy Nguyễn Văn Vinh lên xử lý Đại đội trưởng 94 đóng quân gần trường bắn của trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp.
Ngày 27/4 kế toán trưởng ra phát lương và hôm đó cũng có một phái đoàn từ Sài Gòn xuống ủy lạo tặng quà cho Tiểu đoàn.
Ba giờ chiều, Đại úy Trần Ngọc Chỉ rủ tôi và Ruân xuống Thị xả Phước tuy uống café, nhân chuyến đi chia xẻ quà cho Lữ đoàn. Tôi và Ruân vào quán café, trước cữa tòa Tĩnh trưởng, nhâm nhi ngồi chờ, Chi lăng hẹn xong việc, chúng tôi sẽ đi Vũng Tàu ăn phở. Chúng tôi không sợ lỡ tàu vì trên xe jeep có máy truyền tin.
Đang cao hứng thì chúng tôi nhận được tin Tiểu đoàn gọi về hợp, đến nơi mới biết Tiểu đoàn có tổ chức một bữa cơm chiều mời các Đại đội trưởng tham dự. Chúng tôi chưa uống xong chai beer thì nghe nhiều tiếng nổ ở xa xa, hướng thị xã Phước-Tuy và Tiểu đoàn nhận được lệnh di chuyển về Bà rịa để giải tỏa áp lực địch.
Tiểu đoàn Trưởng chỉ huy hai đại đội 92 và 93 tùng thiết chi đoàn M113 di chuyển về Phước Tuy, trên QLộ15. Khi chúng tôi đến bờ sông, bên này thị xã thì trời đã tối và nghe được tiếng rú ga của xe thiết giáp, Tiểu đoàn liên lạc, nhưng không ai xác nhận được của đơn vị nào, mãi đến nửa đêm tiếng rú của thiết giáp mới chấm dức.
Mờ sáng ngày 28/4, chúng tôi nhìn sang bên kia sông không thấy một bóng người nào; lính cũng như dân. M113 bắn 2 quả đại bác 90 vào lô- cốt ở đầu cầu vẫn không thấy ai trả lời.
Tiểu đoàn trưởng ra lệnh Đại đội 92 tiến vào kiểm soát khu chợ mới ,phần tôi đưa Đại đội 93 vượt qua cầu, tiến vào thành phố, liên lạc với tiểu khu Phước Tuy, kiểm soát và báo cho ông biết tình hình tại chỗ.
Khi tôi tiến vào con đường chính trước cữa tòa Tĩnh trưởng, hai hàng cây ngô đồng trồng bên đường bị pháo gãy đổ tang hoang, bít kín cả lối đi, nhiều căn phố bị sụp đổ, đống hồ chỉ đúng 8 giờ sáng ngày 28/4/1975. Đại đội 94 củng vừa mới đến, Tiểu đoàn trưởng bảo tôi theo dõi giúp đỡ Thiếu úy Vinh. Tôi cho 94 bố trí bên này con đường phía Đông tòa Tĩnh, Đại đội 93 án ngữ trước mặt Tĩểu khu, phía Nam con đường. Bộ chỉ huy đóng tại rạp hát với 2 thiết vận xa M113.
Tôi báo về Tiểu đoàn đã kiểm soát toàn thành phố, dân chúng di tản hết, chỉ gặp vài người già và trong tòa Tĩnh không còn ai hết. 10 giờ dân chúng lục đục kéo về, lấy đồ đạc rồi lại ra đi, hình như họ vẫn còn sợ hãi đợt pháo kích chiều hôm qua.
Tình hình tạm yên tĩnh cho đến 1giờ chiều, địch bắt đầu pháo mạnh, hơn một giờ sau T54 từ hướng trường bắn trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp tiến theo con đường bên hông tòa Tĩnh, vào thành phố. Súng nổ vang rền. Trước cổng tòa Tĩnh trửơng, một chiếc T54 chạy trên đường, lao về phía chúng tôi. Toán SKZ 57ly và anh em binh sĩ 93 và 94, ẩn núp các gốc cây hai bên đường, cũng giương M72 nhắm chiếc T54 khai hỏa, mấy quả đạn trúng pháo tháp nổ tóe lửa, nhưng xe không cháy, chúng chạy vào ẩn núp trong tòa Tĩnh.
Đang đánh ngon lành thì ông thiếu úy thiết giáp hỏi tôi:
– Đại úy- Đại đội 93 ở đâu và ai là Tường-Vy? Có lênh của Đại bàng cho mình zu-lu về Vũng Tàu.
Tôi nói: Tôi là Đại đội trưởng ĐĐ 93 và Tườngvi là danh hiệu truyền tin của tôi. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn ỡ mãi cầu Cỏ May, dùng antena lá lúa, không liên lạc được, mới nhờ qua thiết giáp. Tôi chuyển lệnh của Tiểu đoàn cho Đại đội 94 và bảo Thiếu úy Vinh rút về Vũng Tàu.
Con đường đi Vũng Tàu là con đường độc đạo, hai bên toàn nước và sình lầy, qua khỏi chợ Mới khoản 200 mét có chiếc cầu nhỏ bắc ngang con lạch. Việt cọng biết vậy nên pháo nhỏ giọt vào đây mong cản lực lượng tiếp viện từ Vũng Tàu lên và nếu Nhảy Dù rút khỏi Phước Tuy cũng sẽ bị tổn thất.
Xe qua khỏi cầu 500 mét, tôi yêu cầu Thiết giáp ngừng lại nơi bãi đất trống để kiểm điểm quân số và chờ Đại đội 92 và 94.
Tôi gọi cho Ruân, hỏi bạn đang ở đâu? Hắn trả lời:
– Vũng Tàu.
Tôi nghỉ… bạn này nhanh thật, mới đây mà đã đến Vũng Tàu rồi. Tôi di chuyển bằng M113, hắn đi bộ, không thế nào nhanh như thế được.Tôi đang hoài nghi? thì nghe tiếng súng nổ phát ra từ khu chợ Mới. Tôi đưa ống nhồm lên quan sát, thấy bóng thầy trò hắn chạy ra rồi lại chạy vào. Địch từ trên sân thượng của ngôi chợ hai tầng bắn xuống, chắc là đêm qua mấy chiếc T54 đã thả bọn chúng xuống đây và từ sáng đến giờ chúng nằm yên chờ đợi giây phút này…
Tôi điều động hai chiếc M113 đến gần cây cầu, dùng đại liên 50 bắn cho bọn vẹm không ngóc đầu lên nổi, giúp Đại đội 92 thoát khỏi vùng nguy hiểm. Ruân dẫn Đại đội lẩn vào khu vườn tre ở hướng Đông, rồi mới di chuyển về Nam. Vì vậy, anh em phải lội qua mấy con lạch, thầy trò hắn ướt như chuột, máy truyền tin cũng bị hư luôn. Tôi tạm thời đưa cho Đại đội 92 một máy PRC 25 để liên lạc.
Vừa lúc đó, Hùng trao máy cho tôi,và nói:
– Đại úy-Thiếu tà Tiểu đoàn trưởng muốn gặp. Tôi tiếp ống liên hộp ép vào tai. Trả lời:
– Tôi nghe Đích thân. Đầu dây bên kia tiếng Thiếu tá Đường dõng dạc:
– Tường dẫn theo 94, vào chím lại Phước Tuy cho tôi.
Đang đánh nhau. Cho lệnh rút, rồi bây giờ ra lệnh, trở lại đánh tiếp! Dễ gì?.
Ông còn nói: Nếu tôi chím được Phước Tuy- Ông sẽ thăng cấp cho tôi.
Không biết tại sao, lúc đó tôi lại cười được ?…Nghĩ.. mình mà đem quân chiếm lại Phước Tuy ngay bây giờ đương nhiên tôi được thăng một cấp rồi, nhưng chắc chắn là; “ thăng cấp giữa hai hàng nến trong ”.mất thôi.
Nói là vậy, nhưng tôi vẫn phải thi hành lệnh. Hiện giờ, ở tại đây tôi có 3 Đại đội, Đại đội 92 coi như bất khiển dụng, chỉ còn lại ĐĐ93 và ĐĐ94 với 8 chiếc thiết vận xa M113, làm sao chọi với T54 của địch đang chím giữ thành phố.
Tôi đang hội ý với anh em bên thiết giáp, dùng hỏa lực để yểm trợ cho bộ binh tiến chím ngôi chợ mới, làm đầu cầu tiến vào khu Phố chính, thi nhận được lệnh rút cả về cầu Cỏ May. Chưa đánh mà chạy đã là điềm chẳng lành.
Đến 3 giờ chiều công binh đặt mìn đánh sập nhịp giữa cầu Cỏ May, mọi di chuyển từ Phước Tuy vể Vũng Tàu xem như bị gián đọan.
Việt Cọng chím giữ Phước Tuy, hai Đại đội 90 và 91 của Tiểu đoàn 9 Dù còn kẹt lại ở Ấp Láng Cát và Tiểu đoàn I và 8 Dù, vẫn còn nằm án ngữ phía Đông-Bắc Phước Tuy bị kẹt cứng. Các cánh quân này sau đó tìm đường về Vũng Tàu qua ngả Long Sơn ngập nước. Anh em phải băng qua vùng sình lầy nên chịu thật nhiều mất mác về sau.
Tiểu đoàn trừ gồm 3 Đại đội, trấn giữ tại cầu Cỏ may. Tiểu đoàn trưởng bảo tôi phải trông nôm luôn Đại đội 94 và ông nói sẽ cho Trung úy Hoàng Cơ Môn về làm Đại đội trưởng Đại đội 94, nhưng bị tôi phản đối kịch liệt, nên ông bỏ ý định này.
* Một bông Mai của Thiếu úy Vinh phải trả bằng mồ hôi và xương máu, hơn hai năm lăn lộn ngoài chiến trường học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm, còn cấp bật Trung úy đồng hóa của Luật sư Hoàng Cơ Môn chỉ để làm cảnh, không thể chỉ huy. Tình nguyện phục vụ trong đoàn quân Mũ Đỏ, là việc làm rất đáng khen, nhưng để chi huy một Đại đội tác chiến Nhảy Dù không phải là chuyện dễ dàng, mà một ông Luật sư có thể làm được.
Tại cầu Cỏ May, Đại đội 93 chịu trách nhiệm hướng Bắc và Tây-Bắc. Vinh 94 thủ mặt Đông và 92 của Đại úy Ruân phòng thủ hướng Tây. Phía Nam có thiết giáp và cách đó không xa còn có một Đại đội Thủy Quân Lục Chiến trấn giữ.
Tiểu đoàn không nhận được tái tiếp tế nên tôi báo cho các Đại đội vào kho gạo của Hải Quân tại cầu Cỏ May mà lấy, đồng thời tôi cũng cho anh em binh sĩ đem gạo đổi lấy thức ăn của dân chúng và buổi chiều hôm đó Tôi và Ruân có bữa cơm gà luộc, uống rượu whisky, Lưới chôm ở bót Cảnh sát, tại đầu cầu Phước Tuy, nghe đâu có tới một hầm rượu lận.
Tối 28/4, địch dùng ghe nhỏ bơi qua sông tấn công, nhưng chúng bị đẩy lui, có một số anh em Đại đội 93 bị thương, được di tảng về bệnh viện Vũng Tàu.
Sáng ngày 29/4 có lệnh rút về Vũng Tàu, khi xe tôi đến căn cứ Hải quân Cát Lở thì bị Việt Cọng phục kích, chiếc M113 tôi đang đi bị quả B40 bắn bức xích. Tôi phải bám vào thành xe đến sau. Súng nổ, người ngã, xe vẫn chạy, đến trường truyền tin xe mới dùng lại cho tôi leo lên và xe tiếp tục chạy tới bến đá ở bãi trước. Khi tôi tới nơi thì các Tiểu đoàn đã ra khơi, không còn một chiếc ghe nào trong bến.
Nằm dọc con đường men theo vách núi có hàng mấy chục chiếc M113 còn nguyên vẹn, bửng sau mở trống thơn, nhưng không còn người. Việt cọng bắt đầu pháo vào bến đá, gần điểm tập trung, có một binh sĩ chết và vài người bị thương. Anh em phát hiện tên đề-lô ở trên núi, gần tượng Phật, đang đứng điều chỉnh. Tôi cho một toán leo lên mỏm đá dùng M72 bắn, nhưng cũng không biết có kết quả hay không? Sau đó Chi Lăng đem ghe vào và chúng tôi ra khơi. Tối hôm đó ghe tôi neo tại Vòm Láng, thuộc Tĩnh Gò Công.
Khoản 11 giờ trưa ngày 30/4/1975. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng nói với tôi trên máy:
– Hòa bình rồi, anh em nào muốn về với gia đình, Tường cho họ xuống ghe nhỏ vào bờ, ai muốn phiu lưu thì mình sẽ đến Thái Lan hay một nước nào đó vùng Đông Nam Á. Tôi gọi máy hỏi các bạn; không một người nào muốn về. Nghĩ đến gia đình, tôi buồn lắm, dù không khóc được, nhưng hai giòng lệ vẫn cứ lăng dài trên má, Và nếu hôm đó có bạn nào về chắc chắn tôi sẽ chọn về với gia đình. Oh! Cũng là số mệnh.
Chiều ngày 30/4, nhiều ghe thuyền chạy ngang qua Vòm Láng, trên ghe người là người; đứng, ngồi, nằm chen chúc nhau chật cứng.
Hòa bình gì mà tôi cảm thấy; người như điên, như dại, lòng nóng như lửa đốt, không biết mình phải binh đường nào, chọn đường nào đây?
– Đi, thì lòng như đã chết! phải xa gia đình, xa vợ con, không biết đến bao giờ mới gặp lại.
– Về cũng chết, tôi biết mình không thể sống với Việt cọng, vì tôi lớn lên trong vùng Việt minh, hiểu rõ bọn chúng.
Chín giờ tối ngày 30/4 có lệnh ghe nhổ neo ra khơi và đến tối ngày hôm sau, ghe tôi được Đệ thất hạm đội Mỹ hướng dẫn mọi người lên con tàu buôn đậu sẵn ở hải phận Quốc tế. Nửa đêm hôm đó tàu nhổ neo, di chuyển đến Subic Bay, Philippines; cho một số người xuống bến, vì tàu chở quá tải, rồi tàu lại tiếp tục đến đảo Guam thuộc Mỹ, nằm giữa Thái Bình Dương, chấm dức những ngày tôi phục vụ trong quân ngũ, sống và chiến đấu với anh em đồng đội qua các địa danh: Từ vùng biên giới Tây Ninh, Bình Long, Phước Long. Vượt biên sang Cambodia vùng Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt tấn công Trung ương cục Miền Nam, dự trận Dambe, Mimot, Campong- cham, đến cuộc hành quân đổ bộ sang vùng Hạ Lào. Tham dự trận Mùa Hè đỏ lửa tại Tân Cảnh, Đakto. Hành quânn tái chím Tĩnh Quảng Trị, lên Thường Đức, Quảng Nam, đánh đồi 1062, về Xuân Lộc, Long Khánh, sang Bà Rịa, Phước Tuy, Vũng Tàu,. Chiến trận trải dài suốt tám năm tôi phục vụ trong đoàn quân Mũ Đỏ với bốn lần bị thương và nhiều lần thoát chết.
Kính thưa Qúy vị, thưa Qúy Niên Trưởng, thưa các bạn và các anh chị em Mũ Đỏ. Loạt bài viết vể “ Những ngày sống trong Quân ngũ ” lính kể, lính nghe đến đây là kết thúc.
Tườngvi kính xin Quý Anh chị giành một phút Mặt niệm, thắp nén hương lòng, tưởng nhớ đến các anh hùng tử sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến để bảo vệ Tổ Quốc, cho người dân sống dưới thể chế Việt Nam Cọng Hòa được hưởng đời sống tự do hạnh phúc trong suốt 20 năm.
Anh em còn nhớ tiếng gọi yêu thương đầy nước mắt;
– Anh lính Cọng hòa ơi! cứu tôi với.
Lời kêu cứu; xé lòng ấy, thỉnh thoảng vẫn đánh thức tôi trong đêm dài mộng tưởng từ ngày tôi rời bỏ quê hương. Thương ơi là thương!!
Việt Nam Cọng Hòa đã lùi sâu vào dĩ vãng, nhưng ngon cờ linh thiêng của Tổ Quốc vẫn tiếp tục tồn tại trên khắp thế giới, nơi nào có người Việt sinh sống, nơi đó có Cờ Vàng ba sọc đỏ ngạo nghễ tung bay.
Ba mươi tám năm(38) đi qua, dù danh xưng Việt Nam Cọng Hòa có mất tên và Cọng sản Việt Nam tìm đủ trăm phương, ngàn kế để thay đổi ngọn cờ Vàng, bằng cờ máu của chúng. Nhưng chúng càng lồng lộn muốn phá bỏ, Cờ Vàng càng được nhiều quốc gia trên thế giới chấp nhận đại diện cho người Việt quốc gia và được treo vào những nơi trang trọng nhất.
* Thật là một điều kỳ diệu, tôi chưa bao giờ thấy xảy ra trước đây?
Tườngvi cũng kêu gọi tình chiến hữu, hướng về quê nhà, giúp đỡ các anh em thương phế binh đang sống lây lất cơ cực, dưới chế độ trả thù tàn độc của bọn Cọng Sản buôn dân, bán nước.
Tườngvi cảm ơn Niên trưởng Bùi Đức Lạc đã hổ trợ, khuyến khích và giúp đỡ rất nhiều trong giai đoạn đầu rất khó khăn cho một người chưa bao giờ cầm bút. Tườngvi cũng xin cảm ơn bạn bè xa gần đã: “ nói vào” để Tườngvi chịu khó ngồi suy nghĩ, tìm tài liệu và sau cùng là những lời hối thúc góp bài của đsmđ.

Tường vi mới có can đảm ngồi gõ từng chữ, dò lại từng giòng, xem qua, đọc lại vẫn thấy có: trăm chữ thừa, ngàn chữ thiếu. Và cuối cùng bốn chữ “ Nhảy Dù- Cố gắng ” có lẽ nó vẫn còn trong tôi cho đến cuối cuộc đời.
Xin đa tạ và kính chào Quý vị.
Beaverton, Oregon tháng 4- 2013,
Mđ Ngọc Tú

Nguồn: http://www.nhaydu.com/MuDo68/GiaTuVuKhi.html

GIÓ MÙA ĐÔNG BẮC: Sóng Tình Thương – Trần Nguơn Phiêu

(Chương 27): Sóng Tình Thương

Trần Nguơn Phiêu

Do một sự tình cờ mà Triệu được chọn gởi đi Mỹ theo học một lớp huấn luyện đặc biệt. Trong quân đội Mỹ có một ngành mà Việt Nam chưa có. Ðó là nghành Hóa học (Chemical Corps). Khóa học thuộc về Chiến tranh Hóa học, Vi trùng và Nguyên tử, nên bộ Quốc Phòng Việt Nam chỉ định Cục Quân Y phụ trách gởi người đi thụ huấn. Triệu được chọn gởi đi học cùng với ba y sĩ khác: hai thuộc Lục quân và một thuộc binh chủng Nhảy dù.

Triệu vốn có khả năng Anh ngữ nhưng đây là lần đầu tiên được tiếp xúc trực tiếp với dân chúng Mỹ nên đã có những lúc phải bỡ ngỡ. Những câu nói thông thường hằng ngày của người Mỹ không giống như các câu được học qua sách vở. Ðáp máy bay quân sự từ Sài Gòn, khuya sáng mới đến căn cứ Không quân Clark ở Phi Luật Tân. Khi vào quán ăn sáng của căn cứ, xếp hàng để lấy thức ăn, đến lúc chọn trứng chiên ăn sáng, người bếp đứng chiên hỏi khách hàng muốn chiên trứng ra sao, Triệu đã bắt chước theo các quân nhân Mỹ bảo: “Over” để chọn loại chiên hai mặt, thay vì là “easy over” như đã học trong sách. Mua thức ăn để đem ra ngoài thay vì ăn ở quán, người Mỹ thường gọi là loại “to go”, một danh từ chưa thấy sách vở Anh văn đề cập. Trong căn cứ cũng như ngoài phố, trên mặt đường nhiều nơi có kẻ chữ School Xing , hỏi ra mới biết là nơi học sinh băng qua đường, chữ X thay cho cross! Ðúng là thực tế kiểu Mỹ.

Lần đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ, việc làm Triệu khâm phục nhất là việc tổ chức công việc cũng như việc đưa đón. Ðến nơi nào, trong chương trình cũng cho biết sẽ có người đưa đến đâu và người rước sẽ đưa đi đâu, đúng giờ đúng khắc. Triệu nhớ lại lần đầu tiên được gởi đi học ở Pháp, chả có ai đón, ai đưa và chuyện gì cũng phải tự mình thăm hỏi để biết đường đi nước bước.

Trong vài ngày lưu lại thành phố Cựu Kim Sơn để làm các thủ tục nhập cảnh và lấy vé xe lửa đi đến nơi học ở tiểu bang Alabama, tình cờ Triệu được một người Mỹ gốc Việt sinh sống lâu năm ở San Francisco đến thăm. Vì xa xứ lâu năm và đã có phục vụ trong Hải Quân Mỹ thời Ðệ nhị Thế chiến nên Henry Trần – tên anh bạn – hay đến thăm khi có tin các sinh viên từ Việt Nam sang. Chuyện gặp gỡ với anh Henry Trần từ đó về sau đã trở thành một giao kết lâu dài. Việc anh trở thành công dân Mỹ cũng là việc hy hữu. Vào thời Ðệ nhị Thế chiến, anh phục vụ trên một thương thuyền Pháp. Khi tàu cập bến Manila, trong căn cứ Subic Bay của Mỹ, là đúng lúc Thống chế Pétain của Pháp ký thỏa ước đầu hàng Ðức quốc. Sĩ quan Mỹ ở căn cứ Hải Quân lên tàu hỏi: “Những người muốn tiếp tục phục vụ với Pháp Pétain, xin đứng qua một bên. Những ai muốn tiếp tục phục vụ nhưng theo phe Ðồng Minh xin đứng về một phía khác”. Nghĩ thấy mình là dân Việt, anh Henry đã đứng qua phía Ðồng Minh. Kết quả cuối cùng là phía Pháp theo Pétain đã bị coi là tù binh chiến tranh của Mỹ. Các người theo Ðồng Minh được cho thụ huấn để tiếp tục phục vụ trên thương thuyền của Hoa Kỳ. Về sau anh Henry Trần đã trở thành sĩ quan trừ bị trong Hải Quân Mỹ cho đến khi chiến tranh chấm dứt.

Triệu đã đáp xe lửa từ San Francisco đến Alabama, một dịp hi hữu di xuyên từ California đến Arizona, New Mexico, Texas, Louisiana, Georgia… Nơi Triệu theo học ở thị trấn Anniston thuộc tiểu bang Alabama, một tiểu bang ở miền Nam đất Mỹ, tiểu bang có rất nhiều người da màu. Căn cứ là Fort Mc Clelan với hơn mười ngàn học viên Trường Nữ quân nhân và ba ngàn quân nhân của nghành Hóa học.

Ðây là một căn cứ quân sự rất rộng lớn. Di chuyển trong căn cứ có thể lên những chiếc xe bus chuyên chở miễn phí cho quân nhân, chạy hầu như liên tục theo những lộ trình nhất định. Riêng về các rạp chiếu bóng với giá vào cửa rất rẻ cũng đã có đến bốn rạp, chiếu các loại phim khác nhau. Các cửa hàng PX bán giá rẻ vì được miễn thuế đã giúp quân nhân có thể mua sắm khỏi phải ra ngoài phố. Tiểu bang Alabama thuộc loại tiểu bang cấm bán rượu nên dân ghiền muốn uống bia hay các loại rượu khác phải lái xe ra khỏi biên giới tiểu bang đến Georgia chẳng hạn mới có các tiệm rượu!

Ðã từng sống ở quân trường bên Pháp, nay sang đất Mỹ mới thấy những sự khác biệt. Các tiện nghi vật chất dành cho khóa sinh ở Mỹ thật quả dồi dào, quân trường Pháp không thể so bì được. Ngay cả những khi phải thực tập cả ngày ngoài bãi, các bữa ăn vẫn được xe chuyên chở cho khóa sinh đúng giờ và nóng bỏng. Mặc dầu khóa Triệu học là khóa chuyên môn về các loại vũ khí hóa học, sinh học… nhưng các môn căn bản quân sự vẫn được chú trọng giảng dạy. Vào thời đó loại súng trường thay thế Garant M1 là loại mới M14 nên thực tập tháo ráp, sử dụng được huấn luyện kỷ lưỡng. Ðạn ở sân bắn không hề bị hạn chế.

Huấn luyện quân sự theo lối Mỹ rất thực tiễn. Trong buổi thực tập về lựu đạn hơi cay chẳng hạn, khóa sinh đeo mặt nạ chống hơi cay được đưa vào phòng có hơi cay để biết sự an toàn khi có mặt nạ chống hơi độc. Nhưng trước khi đi đến cửa ra, phải tháo mặt nạ xưng tên tuổi cho người đứng ghi để biết ảnh hưởng của hơi cay ra thế nào trước khi phải tháo chạy rời phòng thực tập!

Chu vi căn cứ quân sự rất lớn. Di chuyển ra các bãi thực tập phải có xe đưa đón. Những ngày đầu được tài xế đưa ra bãi, Triệu vẫn thường tự nói: các anh tài xế nhà binh Mỹ này thật là dân lái bạt mạng vì các anh lái xe thật nhanh, hơn cả tốc độ của các xe ngoài xa lộ. Sau hỏi ra mới vỡ lẽ là vì các bãi tập thường vương vãi hóa chất và chất phóng xạ nên các anh tài xế muốn vượt qua thật nhanh các nơi này mặc dầu người nào cũng có mang trên ngực một thẻ đặc biệt ghi tổng số chất phóng xạ và hóa chất. Thẻ này mỗi tuần được kiểm soát để đề phòng nhân viên có thể hứng chịu quá số an toàn đã được ấn định.

Sau khi khóa học kết thúc, trên đường trở về Cựu Kim Sơn để chuẩn bị về lại Việt Nam, Triệu đã chọn lấy xe bus để có dịp biết thêm về miền Nam đất Mỹ. Trên đất Mỹ có xe chuyên chở loại Greyhound rất tiện lợi, chỗ ngồi thoải mái, xe có máy điều hòa không khí và các tiện nghi vệ sinh. Vé xe có thể mua trước rất rẻ nếu muốn băng qua đất Mỹ từ bờ Ðông sang Tây. Vé có giá trị trong vòng một tháng.

Thế là Triệu được cơ hội đi xuyên qua từ miền Ðông sang miền Tây nước Mỹ. Triệu đã đến tiểu bang Louisiana, có lịch sử thuộc Pháp trước kia, nay vẫn còn di tích với các địa danh tiếng Pháp như Bâton Rouge, La Fayette… và tiếng nói biến cải thành tiếng créole. Các món ăn ở đây cũng rất đặc biệt vì ảnh hưởng cách nấu của Pháp. Triệu thích nhất là món crawfish, một loại tôm giống như tôm đất ở Việt Nam nhưng có hương vị ngọt giữa tôm và cua. Gọi món crawfish, nhà hàng dọn cho một tràng tôm, ăn đến chán mới thôi. Miền Nam của tiểu bang này phần lớn đều là những vùng đầm lầy. Xa lộ băng qua đây được xây cất như những chiếc cầu dài hàng chục cây số. Triệu có ý nghĩ: ngày nào Việt Nam có phương tiện xây cất những con đường như thế này ở vùng Ðồng Tháp Mười hay miệt Năm Căn, Cà Mau thì ánh sáng văn minh sẽ đến dễ dàng tới các vùng bỏ quên này của đất nước.

Từ Louisiana băng qua miền Nam của tiểu bang Texas, tiểu bang có tiếng là việc gì cũng to, nhất là diện tích với những cánh đồng cỏ nuôi bò bất tận. Ðây là xứ của cow boys, những người cưỡi ngựa chăn bò được diễn tả trong các phim cao bồi của Mỹ, đầu đội mũ to vành, cổ buộc khăn, súng ngắn lủng lẳng bên hông. Khi đi qua thành phố El Paso, thường thấy những người đi dự tiệc buổi chiều, chưng dọn Âu phục chững chạc nhưng trên đầu vẫn thấy đội mũ cao bồi to vành. Ðây là một tiểu bang giàu, đồng cỏ nuôi bò bát ngàn, lại trồng thêm bông vải, bắp hoặc đậu nành… Ngoài ra dưới lòng đất lại còn thêm khoáng sản dầu lửa. Ở những nơi đây, các máy bôm dầu hình thù giống như những com chim sắt khổng lồ, cổ gật gù suốt đêm ngày để bôm dầu thô từ lòng đất lên các bồn chứa.

Ở tiểu bang New Mexico, có một kỳ quan là hang động Carlsbad sâu dưới lòng đất với các thạch nhũ. Ðộng rất to, dài cả cây số. Du khách tấp nập đến viếng mỗi ngày. Sang đến tiểu bang Arizona, vùng Phenix, ban trưa trời nóng không thua gì ở Việt Nam. Ở vào phía Bắc của tiểu bang là vùng Grand Canyon, một vết nứt lớn làm thành một thung lũng vĩ đại, phong cảnh thật hùng vĩ, hằng năm lôi cuốn cả trăm ngàn du khách.
Trở về California là tiểu bang mà Triệu thích nhất vì khí hậu mát mẻ, cây cối xinh tươi. Hệ thống dẫn thủy để nhà nông có thể làm vườn thật rất vĩ đại. Ở Pháp, Triệu đã có dịp viếng thăm những vườn nho nhưng ở đó mỗi vườn lớn lắm cũng chỉ vài mẫu. Các vườn nho ở Mỹ thì bát ngàn, loại Việt Nam gọi là “cò bay thẳng cánh”. Những vườn cam, quít, những cánh đồng trồng hoa mầu, rau cải diện tích cả ngàn mẫu nhờ có máy tưới điều hòa nên lúc nào cũng xanh tươi. Ðây là một tiểu bang có nông phẩm cung cấp hầu như cho toàn nước Mỹ. Người Trung Hoa nhập cư hằng thế kỷ trước đã khuếch trương ở đây nhiều phố Tàu sầm uất với nhờ sự cần cù và năng khiếu thương mại của họ. Vào khu phố Tàu du khách có cảm tưởng như đi lạc vào một khu phố trên lục địa Trung Hoa.

Sau lần đầu tiên đến nước Mỹ, Triệu đã có được nhiều dịp trở lại thăm viếng miền đất trù phú này, một xứ chỉ có lịch sử hình thành khoảng trên hai trăm năm nhưng đã trở nên một cường quốc trên hoàn vũ. Chuyến viếng thăm nhiều kỷ niệm nhất là vào dịp Triệu được chỉ định tháp tùng thủy thủ đoàn Hải Quân trong công tác nhận lãnh chiến hạm Nhật Tảo HQ 10.

Lúc mới thành lập quân chủng Hải Quân Việt Nam, các chiến hạm đầu tiên đều do Hải Quân Pháp chuyển giao lại. Các chiến hạm này đều là tàu chiến thời Ðệ nhị Thế chiến của Mỹ chuyển nhượng cho Hải Quân Pháp. Theo đà phát triển, Việt Nam đã được Hoa Kỳ trang bị thêm nhiều loại chiến hạm mới. Tuy gọi là mới nhưng đây cũng là những chiến hạm thời Ðệ nhị Thế chiến đã được Mỹ giải giới, cho vào các kho tồn trữ. Chiến hạm được bao bọc trong những ổ plastic vĩ đại để giữ được lâu dài. Khi cần sẽ được tháo ra để trang bị trở lại. Chiếc Nhật Tảo hay HQ 10 là loại trong tình trạng đó, được tháo ra từ vỏ plastic ở quân cảng Nordfolk bên bờ Ðông nước Mỹ. Sau khi được tân trang, thủy thủ đoàn Việt Nam đã được huấn luyện để điều hành chiến hạm. Việc thực tập sử dụng đã tiến hành tốt đẹp, phần lớn do thủy thủ Việt Nam là những người đã được chọn vì tay nghề lão luyện đã có quá trình chuyên môn vững chắc.

https://bienxua.files.wordpress.com/2019/01/f6cbb-HoTongHamNhatTao_HQ10.jpg?w=540&h=381&zoom=2&zoom=2

Hạm trưởng là Hải quân Thiếu tá Nguyễn Văn Ánh, từng là Tham mưu trưởng của Tư lịnh Lê Quang Mỹ. Ngoài kinh nghiệm chỉ huy, Thiếu tá Ánh lại là người có biệt tài về Anh ngữ nên việc tiếp xúc với các quan chức Mỹ trong thời gian giao chuyển chiến hạm không hề có những trở ngại lớn. Sau thời kỳ hoàn tất huấn luyện, chiếc Nhật Tảo HQ10 rời quân cảng Nordfolk để về Việt Nam với thủy thủy đoàn Việt. Khởi hành từ bờ Ðại Tây Dương, chiến hạm từ bờ Ðông sang bờ Tây xuyên qua kinh đào Panama để đến bên Thái Bình Dương. Thủy thủy đoàn rất hãnh diện vì đã có được dịp mang chiến hạm với quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa bay phấp phới trên tàu từ bên Ðại Tây Dương xuyên qua Thái Bình Dương để trở về quê. Triệu cũng được hân hạnh lây vì trên đường về, nhiều lúc cùng vượt đại dương với các thuyền bè ngoại quốc cùng hướng đi nhưng chỉ chiếc Nhật Tảo HQ 10 có thượng lá cờ M, biểu hiệu có y sĩ trên tàu. Những khi cần các nhu cầu y khoa, các thuyền bè ngoại quốc trong vùng có thể liên lạc với y sĩ trên HQ 10 để nhận các chỉ dẫn. Ngày ngày Triệu đã phải nghiền ngẫm đọc đi đọc lại quyển I.C.D (International Classification of Diseases) như các tu sĩ đọc kinh Nhật Tụng. Những ngày vui nhất trên chuyến đi là lúc ngừng ở đảo Hạ Uy Di để Hải Quân Công Xưởng ở đây rà xét lại máy móc trước khi tiếp tục về Việt Nam.

Các chiến hạm theo thông lệ thường phải ghé qua Hải quân Công xưởng ở đảo để xem lại máy móc trước khi tiếp tục vượt Thái Bình Dương. Nơi đây cũng là một địa điểm danh tiếng được du khách hoàn cầu chiếu cố. Khí hậu nơi này ấm áp suốt năm. Nước biển thường rất ấm nên có thể tắm dưới nước rất lâu, không như các biển ở Âu châu, chỉ dám ngâm nước độ hơn mười lăm phút là phải lên bờ sưởi nắng.

Ngoài những ngày thoải mái nghỉ ngơi như được đi du lịch, thủy thủ đoàn cũng rất náo nức vì với những máy thu thanh cầm tay, anh em đã đón nghe được đài phát thanh Sài Gòn. Mới chỉ xa Việt Nam hơn một tháng nhưng khi nghe được tiếng hát của ca sĩ Lệ Thu, nhiều anh em đã đâm ra nhớ nhà, nhớ vợ, nhớ con ráo riết. Lúc ở Mỹ, nhất là ở đoạn kinh đào Panama, nhiều anh trẻ đã mê mẩn các cô gái, nhất là các cô có máu Y pha nho nên đã dốc hết túi cho các cô. Có những lúc tàu vào nhiệm sở kéo neo tách bến mà trên bờ một vài thủy thủ vẫn còn bịn rịn với các cô, chưa muốn nhảy vội theo tàu. Sau Hạ Uy Di thì anh em mới bắt đầu nghĩ đến việc tiện tặn để lo cho kinh tế gia đình, không dám đi du hí với các cô gái không kém mặn mà ở đảo.
Bến sau Hạ Uy Di là quân cảng đảo Guam, xa xôi ngàn dậm. Ngày ngày nhìn ra chỉ thấy sóng biển dạt dào. Ðêm đêm, Triệu lên đài chỉ huy trầm ngâm ngồi ngắm bầu trời với các chòm sao lấp lánh mà các thủy thủ phải biết nhận diện. Triệu đã có được dịp suy ngẫm đến khoảng đời đã qua cũng như suy diễn đến đoạn đường sắp đến. Chưa bao giờ mà Triệu lại có được những giờ êm ả để sống với nội tâm như những ngày vượt Thái Bình Dương.

Ðến đảo Guam, chiến hạm ngừng lại khoảng ba ngày. Nơi đây, một lần nữa, Triệu lại chứng kiến được lối xử sự dân chủ của người dân Mỹ. Triệu đến một PX bán hàng của Hải Quân để mua một máy cắt cỏ đem về sử dụng ở sân nhà ở làng Ðại học Thủ Ðức. Cắt bằng máy sẽ đều đặn hơn là phát cỏ bằng phảng. Khi Triệu xin mua thì nhân viên bán hàng cho biết là máy đã được Ðô đốc Chỉ huy phó đặt mua, Triệu phải chờ chuyến đặt hàng sau. Nhưng sau một hồi bàn tính vì biết chiến hạm của Triệu sẽ khởi hành ngày mai, họ đồng ý bán cho Triệu. Họ bảo nhau: Ðô đốc là người ở đảo. Ông ấy có thể chờ đến tháng sau!

Bến cuối cùng để kiểm soát lại máy móc tàu là quân cảng Subic Bay ở vịnh Manila của Phi Luật Tân, một trong hai căn cứ của Mỹ trên đất Phi. Căn cứ thứ hai là căn cứ Không quân Clark. Trong những ngày neo ở Subic Bay, Triệu mỗi tối thích đến các nơi trình diễn văn nghệ Phi. Những điệu múa, hát của thổ dân vùng Polynesia đã được các nghệ sĩ Phi làm sống động và thu hút sự ngưỡng mộ của du khách. Kỹ nghệ du lịch của Phi là một nguồn ngoại tệ quan trọng cho kinh tế nước này. Ước gì Việt Nam cũng sẽ có thời thanh bình để thu hút du khách thế giới.

Truyện những con tàu : Gia đình.. Cô Năm – biển xưa

Về lại Việt Nam không được bao lâu, Triệu được chỉ định tham gia chiến dịch Sóng Tình Thương, hành quân vào vùng Mũi Cà Mau, một nơi đã từ lâu bỏ ngõ từ thời Việt Minh. Vùng này là vùng hậu cần quan trọng trong tổ chức dưỡng quân của địch nhưng vì không đủ phương tiện nên từ trước đến nay quân đội quốc gia chưa hề đặt chân đến đây. Nay Hải Quân được trang bị thêm loại tàu đổ bộ lớn LST (Landing Ship Tanks) nên cuộc hành quân phối hợp Thủy Quân Lục Chiến – Hải Quân lần đầu được tổ chức. Chiếc LST đầu tiên Hải Quân được nhận là chiếc Cam Ranh HQ 500 được sử dụng làm soái hạm hành quân. Việc đi Mỹ lãnh chiếc Nhật Tảo của Triệu được Hải Quân coi như một lần biệt đãi nên nay Triệu phải tham dự chiến dịch.
Mặc dầu khi ở Pháp, Triệu đã được huấn luyện khá đầy đủ về hành quân Quân Y nhưng Triệu chưa hề được dạy về hành quân đổ bộ. Ðây là một cơ hội học hỏi quý báu. Triệu cấp tốc tham khảo các tài liệu Mỹ vì Mỹ vẫn thường hành quân lớn ở ngoại quốc nên họ rất chuyên môn về phương vị này. So với Nga Sô, các loại thiết giáp cũng như đại bác của Mỹ đều nhỏ hơn vì họ phải chuyên chở qua các chiến trường ngoại quốc. Mỹ phải thường sử dụng phi pháo để bù đắp vào phần yếu kém này. Vùng Cà Mau là vùng chưa có đơn vị nào hành quân ở đây nên địa hình, địa thế hành quân phải căn cứ trên các không ảnh chụp được. Triệu cũng chưa rành rọt về giải đáp không ảnh nên sau khi nhìn ảnh chụp được, Triệu đã chấm một “sân bóng chuyền” như đã có ghi trên một bản đồ của Pháp để đặt một bịnh xá lưu động. Ðến khi đổ bộ lên đất liền mới biết “sân bóng chuyền” thật ra lại là một vũng nước rộng!

Việc các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ được thực hiện suông sẻ, không gặp cuộc đụng độ lớn. Trước khi đổ bộ vào sáng tinh sương, các toán thám báo người nhái Hải Quân đã xâm nhập vào bờ trong đêm để nắm rõ tình hình. Hành quân ở Mũi Cà Mau thật vất vả vì anh em binh sĩ phải lội bùn suốt buổi. Ở đây dân chúng đã dùng các thân cây đước kết thành những cầu đường liên tục qua các xóm. Ðể tránh mìn bẫy, các binh sĩ đã không di chuyển trên các loại cầu này, chỉ lội bùn để tiến chiếm các mục tiêu.

Trong ngày thứ hai, Triệu và các anh em Hải Quân tìm thấy một lớp học nhỏ, nóc lợp lá, sàn rộng bằng cây đước ghép lại. Trên bảng đen, có ghi bằng phấn: “Xin các anh đừng phá lớp chúng em”. Các anh em thủy thủ đã gọi về các tàu, xin viết chì, giấy viết, tập vở xếp trên bàn để tặng lại các em. Không biết các cán bộ Cộng Sản sau đó có cho các em dùng các tặng phẩm của “Mỹ Ngụy” không? Triệu đã viết thêm trên bảng: “Chúc các em chăm học”.

Trong những ngày hành quân lục soát kế tiếp, anh em Thủy quân Lục chiến chỉ gặp những cuộc đụng độ nhỏ. Tuy nhiên trên trục lộ hành quân, nhiều kho chứa lương thực như cá khô, tôm khô, gạo… đã được phát hiện. Ðây là vùng dự trữ an toàn để tiếp tế cho bộ đội và là vùng dưỡng quân.

Cuộc hành quân tiến sâu vào đất liền để đến vùng Năm Căn. Mỗi lần đi vào các khúc sông có những khoảng có thể bị phục kích, các chiến hạm và chiến đỉnh thường nã súng và đại bác vào các vị trí nghi ngờ. Nhìn bờ bụi, cây cối bị pháo sát phạt, san bằng, Triệu mới hình dung được sức tàn phá mãnh liệt của các loại vũ khí nặng.

Sau cùng cuộc hành quân kết thúc khi vào chiếm quận Năm Căn, nơi có đặt nhiều lò than lớn trong vùng Cà Mau. Quận Năm Căn là một quận nhỏ, hẻo lánh nhưng nhờ việc sản xuất than đước nên là một nơi có thể coi là một vùng trù phú. Than được chở tiếp tế cho các thành phố lớn, nhất là vùng Sài Gòn-Chợ Lớn. Ðây là một nguồn tài nguyên quan trọng cho chánh quyền nào nắm giữ được nơi đây. Trấn đóng được nơi này sẽ làm cho Việt Cộng mất đi một nguồn lợi tài chánh không nhỏ. Tuy nhiên nơi đây chưa được phát triển đúng mức vì một trở ngại lớn là nước ngọt. Nước cho dân chúng được chuyên chở từ xa đến bằng các ghe nước nhỏ. Những ngày đầu đến Năm Căn, các quân nhân mỗi ngày chỉ được sử dụng mỗi người một nón sắt nước. Sau khi Hải Quân huy động được các tàu chở nước tiếp tế, việc sử dụng nước mới được nới lỏng đôi chút. Một thời gian sau khi thành lập căn cứ Hải Quân Năm Căn, áp dụng kỹ thuật đóng ống sâu xuống lòng đất để tìm nguồn nước ngọt, căn cứ đã thiết lập được các giếng nước để sử dụng. Kể từ đó, nhiều giếng nước do kỹ thuật đóng ống đã được thực hiện. Dân chúng đã có được nước dùng hằng ngày. Việc chuyên chở nước từ xa đến kể như được chấm dứt.

Trong những lần khám bịnh cho dân chúng, nhiều gia đình đã đem cho Triệu xem các hồ sơ chữa trị của nhiều bịnh viện lớn ở Sài Gòn như bịnh viện Chợ Rẫy, bịnh viện Grall, bịnh viện Bình Dân… Việc này chứng tỏ đây là một vùng có nhiều gia đình khá giả nhờ kinh tế địa phương. Việc đi lại giữa Cà Mau và thủ đô Sài Gòn không phải là việc hiếm có.

Nhờ có chiến dịch Sóng Tình Thương, Triệu đã có dịp được biết những vùng như Xóm Mũi, Bãi Bùn, Ðầm Dơi, Tân Ân, cửa Bồ Ðề, sông Ông Ðốc, xóm Ông Trang, Bảy Hạp…, những vùng mà có thể Triệu chỉ biết được một lần trong đời mà thôi.

Đăng ngày Thứ Tư, tháng 5 18, 2011

Nguồn: https://www.diendantheky.net/2011/05/gio-mua-ong-bac-ch-27.html

Kỵ binh Phù đổng : Chiến cụ Thiết giáp VNCH – Trần Lý

Thiết vận Xa   M-113

Trần Lý (hiệu đính 2021)

   Thiết vận xa M-113 có thể được xem là loại chiến xa liên quan mật thiết và quen thuộc nhất với Thiết giáp binh VNCH. Do các kinh nghiệm thu thập trực tiếp được từ Chiến trường Việt Nam, các M-113 đã được nghiên cứu, cải thiện để trở thành một loại chiến xa bọc thép được Lục quân Hoa Kỳ và  rất nhiều quốc gia khác sử dụng..

               (Bài viết xin giới hạn trong M-113 và Thiết giáp Quân lực VNCH)

Theo Bảng Kiểm kê  về trang bị Thiết giáp của Kỵ Binh VNCH 1973

                Số M-113 A-1 của VNCH là 930 xe

Tổng số Xe M-113 do Quân viện Hoa Kỳ (theo thống kê) dành cho VNCH là 1331 xe

   Lục quân Hoa Kỳ luôn chú trọng đến nhu cầu chuyển vận binh sĩ nhanh chóng và an toàn trên chiến trường. Trong Thế chiến 2, các xe bán xích (half-track) loại M-2 và M-3 là những phương tiện tiêu chuẩn, nhưng xe trống, không có nóc hay mui che nên việc bảo vệ binh sĩ ngồi trong xe không được an toàn như mong muốn. Trong Chiến tranh Triều Tiên, Lục quân Hoa Kỳ sử dụng  các xe M-75 và M-79 (tạm gọi là Thiết quân vận) nhưng cả hai đều nặng nề và khó điều khiển.

    Tiêu chuẩn mới được đặt ra cho các Thiết vận xa là phải chạy bằng xích để theo kịp tính cách di động của các loại xe tăng mới để xe tăng và thiết vận xa có thể tạo thành một đơn vị hỗn hợp đồng bộ : Nếu xe tăng và bộ binh không cùng hoạt động thì xe tăng đơn độc dễ bị các toán chống chiến xa địch thanh toán và sau đó đến lượt bộ binh bị xe tăng địch tiêu diệt. Bộ binh, khi ngồi trong xe, cũng cần được bảo vệ chống lại các vũ khí cỡ nhỏ của địch quân. Do đó, muốn tạo an toàn cho binh sĩ, loại thiết vận xa mới cần có một lớp thép đủ dày hai bên hông xe, cần mái che (cũng bọc thép), Xe cần dễ sử dụng, dễ bảo trì, lên xuống dễ dàng cho bộ binh..

    Các tiêu chuẩn trên đã được Lục quân HK giao cho các nhà sản xuất vũ khí nghiên cứu tử thập niên 1950s

  • Mẫu đầu tiên được đề nghị là Xe M-75, chạy xích, dạng như một cái hộp, chở được một tiểu đội bộ binh (12 người)
  • Mẫu thứ hai là Xe T-113, hình dáng giống M-75, vỏ làm bằng hợp kim nhôm, nhẹ hơn và chạy nhanh hơn.
  • Mẫu thứ ba : Xe T-117, tương tự T-113 nhưng dùng thép thay vỉ hợp kim.

   Tuy cả hai xe M-75 và T-117 đều có khả năng bảo vệ tốt cho binh sĩ ngồi trong xe, nhưng khi dùng thép, hai xe đều quá nặng, khó chuyển vận bằng phi cơ vận tải (cần các phi cơ lớn hơn) hoặc thả dù trong các cuộc hành quân không vận. Và vì Lục quân HK muốn các đơn vị BB và Nhảy Dù dùng chung một loại xe, nên đã chọn T-113, dùng hợp kim, nhẹ hơn..

    Công Ty Ford Machinery Corporation được giao hợp đồng chế tạo một số xe mẫu để thẩm định các yếu tố kỹ thuật. Sau nhiều sửa đổi, chiếc T-113E-1 được chấp thuận làm mẫu sản xuất hàng loạt vào năm 1960 và đặt tên là Xe bọc thép chuyển quân M-113

   Cuối năm 1960, Lục quân Hoa Kỳ tiếp nhận những xe đầu tiên, và đưa ra chương trình thử nghiệm tại chiến trường..

    Ngay từ năm 1961, Mỹ đã có những chương trình thử nghiệm nhiều loại vũ khí mới, thực tế chiến trường tại Việt Nam, và M-113 là một chương trình quan trọng..

Cuối 1961, MAAG-V (Cơ quan Quân viện Hoa Kỳ tại VN) đã đề nghị VNCH thành lập , vào tháng 4-1962, hai đại đội cơ giới ‘thử nghiệm’ : ĐĐ 7 Cơ giới (trực thuộc SĐ7BB) và ĐĐ 21 Cơ giới (thuộc SĐ21BB), cà hai hoạt động tại vùng Châu thổ Sông Cửu Long.

Mỗi ĐĐ được trang bị 15 xe M-113.

                         Xe M113 đầu tiên của ĐĐ 7 Cơ giới VNCH

       Những kinh nghiệm thực tế chiến trường đưa đến nhiều sửa đổi :

  • Lúc đầu xe được trang bị máy chạy xăng : Chrysler 75M, 209 mã lực, tuy mạnh nhưng xe dễ bị bốc cháy khi bị trúng đạn vào thùng chứa nhiên liệu. Lục quân Hoa Kỳ đã yêu cầu thay thế máy chạy xăng bằng máy chạy bằng diesel khó cháy hơn. Từ 1964, các xe đợt đầu chạy xăng bị thu hồi, thay bằng loại mới dùng nhiên liệu diesel : Xe M-113 A1
  • Quân lực VNCH tuy thích loại xe này, nhưng hỏa lực của một khẩu đại liên 50 gắn trên xe không đủ mạnh để yểm trợ chiến trường (khi dùng thành xe xung kích khác thiết kế ban đầu chỉ để chuyển vận binh sĩ) , nên đã tự tìm cách thay đổi, gắn thêm đại liên 30 bên cạnh, súng không giật 57..

Quan trọng nhất là để bảo vệ xạ thủ phải nhô người khỏi xe khi bắn đại liên quá trống trải, Quân cụ VNCH đã tự thiết kế và gắn thêm các bửng thép thu hồi từ phế liệu, gắn quanh khẩu đại liên, sau đó nóc xe được trổ thêm hai cửa để binh sĩ có thể đứng trong xe và dùng các súng nhỏ bắn ra..

Các biến đổi của Quân cụ VNCH :

Ngay sau bài học của Trận Ấp Bắc 1, Quân cụ VNCH (Căn cứ 80) đã tự tìm cách biến đổi các xe M113 phù hợp với chiến trường :

  • Gắn bửng chống đạn che chắn cho Xạ thủ đại liên. Quân cụ VNCH đã thu hồi các phiến thép từ các chiến hạm phế thải và cắt, hàn thành bửng chắn sơ khai này; cho đến cuối năm 1963, Quân cụ VNCH đã chế tạo được 46 bộ bửng che, dùng thép thu hồi tử các chiến xa cũ phế thải.. sau đó Quân cụ Mỹ đã thiết kế và làm các bửng tốt hơn tại Okinawa, bửng được tiêu chuẩn hóa từ 1965

                      Xe M-113 gắn bửng chống đạn nhỏ

  • Gắn thêm súng :

Khi Kỵ binh VNCH sử dụng xe M-113 thành một loại xe ‘tăng’ thu nhỏ xung kích, hỏa lực căn bản chỉ có một đại liên 50 trở thành không đủ, Quân cụ VNCH tìm cách gắn thêm các giá súng loại 3 chân khác đặt trên nóc xe và thử thay đổi các loại súng nơi pháo tháp chính như đại liên 30, đại bác 20 ly. Từ cuối 1963, nhiều xe M-113 của Kỵ binh VNCH có thêm 2 giá đại liên 30, hai bên trên nóc xe, có bửng che. Cuối 1964 xe xe còn gắn một súng phóng rocket 2.75 inch nhưng thử nghiệm bị bỏ vì mức chính xác của súng gắn không đạt được yêu cầu. Riêng súng 106 ly vẫn được mang theo xe..

                           Xe M-113 gắn thêm súng 106 ly

  • Trổ các lỗ châu mai hai bên xe.

Sáu xe M-113 của Trung đoàn 2 Kỵ binh tại Vĩnh Long đã được thử trổ các lỗ châu mai hai bên xe. Mỗi xe có 10 lỗ : 4 lỗ mỗi bên và 2 trổ ra phía sau. Trên lỗ châu mai còn có khối quan sát nhìn ra bên ngoài. Tuy nhiên sau hai tháng thử nghiệm, việc cải biến không tiếp tục vì BB VNCH thường ngồi trên nóc xe khi di chuyển, khi đụng trận thì dùng các vũ khí nặng trên nóc xe, và bộ binh nhảy xuống nấp bên ngoài

  • Gắn thêm phiến thép bảo vệ bên hông  và trên nóc xe

Kỵ binh VNCH dùng các hộp đựng các đoạn xích xe cũ đeo hai bên hông xe, đạt bao cát trên nóc xe.. để tăng việc chống sức công phá của đạn súng nhỏ VC

  • Gắn hệ thống phun lửa:

Tháng 8 -1962 , một hệ thống phun lửa được gắn vào M-113, nhưng trong suốt năm đó , xe chỉ được thử dùng có 4 lần..Sau này một loại xe khác chuyên biệt hơn M-132 được xem là xe phun lửa chính thức

  • Gắn hệ thống bắc cẩu (balk bridge)

Tuy xe có thể ‘lội’ qua sông , nhưng thực tế chiến trường có khi cần một phương tiện  qua sông nhanh chóng hơn : một ‘hệ thống’ cầu xếp , dùng vượt các sông, suối rộng 30 foot (10m) được thiết kế : và 24 xe M-113 ‘bắc cầu’ đã các Kỹ sư VN thực hiện..

                             Xe  bắc cầu

  • Về súng cối, lúc đầu BB VNCH mang theo xe (bên trong) súng cối 81 , cùng bàn tiếp hậu khi đụng trận sẽ lấy ra sử dụng yểm trợ chiến trường, nhưng ít khi dùng vì VC thường bỏ chạy, và khi hành quân mùa mưa vùng đất lún khó đặt bàn tiếp hậu súng cối. Tháng 5-1965, Hoa Kỳ có kế hoạch giao cho VNCH loại xe chở súng cối gắn luôn bên trong xe..

Vài đặc điểm kỹ thuật chính :

Thiết vận xa M-113 A1 có những đặc điểm :

  • Kích thước : Dài 4.86m; Ngang 2.68m ; Cao 2,5 m
  • Nhân viên điều khiển : 2 người gồm Trưởng xa và Tài xế; Xe chở được 10 binh sĩ võ trang đầy đủ (ngồi trong xe). Tài xế ngồi ghế bên trái phía trước xe, máy xe bên mặt; trong xe có hai băng ghế sát vách, chỗ ngồi cho binh sĩ ; một khoang (cupola) trổ trên nắp dành cho Trưởng xa..
  • Binh sĩ có thể lên-xuống xe bằng cách dùng cửa nắp phía sau, cửa có thể hạ nguyên thành một dàn kê sát đất ; Trên nóc xe có 2 khoang cửa lớn để tiếp nhận đạn dược hoặc các kiện hàng lớn.
  • Trọng tải :  Xe nặng 11.3 tấn khi chở nặng tối đa để chiến đấu ; xe không khoảng 9.5 tấn (có thể thả dù, không áp dụng cho Kỵ binh VNCH), hoặc dùng trực thăng loại lớn  (CH-47..) cẩu  đến chiến trường..
  • Động cơ diesel GM 6V53T V6,  275 mã lực. Vận tốc tối đa trên đường lộ 68 km/ giờ. Khi đổ đầy nhiên liệu (98 gallons), tầm hoạt động của xe đạt đến 480 km
  • Lớp thép bảo vệ chỗ dày nhất là 38mm
  • Khung sườn xe, vỏ kín nên có thể lội nước, vượt sông với vận tốc 5.8km/giờ

                                 Hình vẽ M-113 : nhìn từ Ba phía

Ghi thêm về M-113

   Kinh nghiệm thực tế của chiến trường Việt Nam đã giúp Lục quân Hoa Kỳ cải biến và thay đổi rất nhiều về các Xe Thiết vận xa. Từ 1965, Hoa Kỳ đã dùng M-113 làm trang bị chính thức cho các đơn vị BB bao gồm Thiết giáp, Cơ giới, Không kỵ và cả Nhảy dù.. Xe được BB dùng trong các nhiệm vụ chuyển vận binh sĩ, tải thương;  Các đơn vị Không kỵ dùng thám sát và sau đó xung kích, yểm trợ chiến trường..

  Học từ kinh nghiệm của Kỵ binh VNCH, năm 1966 khi trực tiếp tham gia chiến trường tại VN,  Trung đoàn 11 Thiết kỵ Mỹ đã tự cải biến các xe M-113 A1 (của riêng đơn vị) : cũng gắn thêm các bửng thép chống đạn bảo vệ cho xạ thủ đại liên; cũng đặt thêm 2 đại liên.. tất cả đều có bửng che đạn phía sau.. Súng đại liên chính được trang bị như pháp tháp quay vòng 360 độ..Các sửa đổi này đã chuyển xe M-113 từ APC (Armoured Personnel Carrier)= Thiết vận Xa  thành ACAV (Armoured Cavalry Assault Vehicle)= Xe Thiết kỵ Xung kích..

                                       ACAV Quân đội Mỹ dùng tại VN

M-113 được trên 60 quốc gia sử dụng (VNCH, Mỹ..) bao gồm quân lực Khối NATO và các quốc nhỏ khác : ngoài kiểu căn bản M-113 A1, còn có M-113 A2 (từ 1963, thay đổi về vũ khí trang bị) và M-113 A3 (1987, máy mạnh hơn, lớp hợp kim bảo vệ dày và chắc hơn)

  Các chuyển đổi của M-113 :

   Riêng Quân đội Mỹ, cải tiến toàn bộ các A-1 . từ 1979 sang A-2 ; tổng cộng 5300 xe đầu  loại M-113 và 12.700 xe A-1 được chuyển thành A-2 tiêu chuẩn của Quân đội Mỹ.

   Danh sách các loại Xe thiết giáp ( tất cả có khoảng 12 loại)  được chế tạo dựa theo mẫu M-113 (đang dùng). Những xe in đậm là những loại được Kỵ binh VNCH sử dụng..(xin đọc tiếp trong phần Chiến cụ)

  • M-58 Wolf smoke generator carrier (Xe phun khói tạo hỏa mù chiến trường)
  • M-106 107mm self-propelled mortar carrier (Thiết pháo xa, xem bài riêng)
  • M-113 AMEV armored medical evacuation vehicle
  • M- 548 cargo carrier (Xe chuyển vận, không vũ trang)
  • M-577 command post carrier (Xe chỉ huy
  • M-750 launcher vehicle for the M 48 Chaparral short range SAM system (Xe cải tiến để chở 4 giàn hỏa tiễn phòng không ‘Chaparral’
  • M-806 ARV (xe thu hồi, sửa chữa các xe hư hỏng nhẹ )
  • M-901 improved TOW antitank missile
  • M-981 FISTV fire support vehicle
  • M-1059 Lynx smoke generator carrier
  • M-1063 Vulcan 20mm self propelled anti-aircraft gun..
  • M-1064 120mm self propelled mortar carrier..
  • M-1068 upgraded command post vehicle

         ….

Riêng các xe M-125 A1,  M-42 Dusters, M-132 phun lửa, XM 45-E1 , M-578..không còn trong danh mục vũ khí của HK

            Xin đọc từng loại chiến cụ trong từng bài riêng..

                                                                                    Trần Lý 11/2021

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

“GIAI CẤP MỚI” TẠI VIỆT NAM – Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

“Các lãnh đạo Cộng sản xử lý tài sản quốc gia như của riêng họ, nhưng đồng thời họ cũng lãng phí nó như thể nó là của người khác” – Milovan DjilasMilovan Djilas là nhà nghiên cứu lý thuyết CS và từng là ủy viên Bộ Chính Trị đảng CS Nam Tư, Phó Chủ Tịch Nhà Nước CS Nam Tư, Chủ Tịch Quốc Hội CS Nam Tư. Sau khi phản tỉnh ông viết trong tác phẩm Giai Cấp Mới: Một Phân Tích Về Hệ Thống Cộng Sản xuất bản năm 1957 như sau: “Trong một thời gian dài, đảng CS cố tình che giấu bản chất của mình. Quá trình hình thành của giai cấp mới không chỉ được che đậy bằng những thuật ngữ xã hội chủ nghĩa mà quan trọng hơn bằng hình thức sở hữu mới, sở hữu tập thể. …Bản chất giai cấp của hình thức sở hữu này được che đậy bằng bình phong quyền lợi của toàn dân tộc. “ (Theo Tủ sách Talawas, Phạm Minh Ngọc dịch theo bản tiếng Nga, 2005)

Cũng trong tác phẩm Giai Cấp Mới, Milovan Djilas viết: “Năm 1936, nhân dịp công bố Hiến pháp mới, Stalin tuyên bố rằng ở Liên Xô đã không còn giai cấp bóc lột, nhưng trên thực tế người ta không chỉ thực hiện xong quá trình thủ tiêu các nhà tư sản và các giai cấp khác của chế độ cũ mà còn thiết lập một giai cấp hoàn toàn mới, chưa từng có trong lịch sử.”
Nhưng câu này của Milovan Djilas mới là chí lý: “ Các lãnh đạo Cộng sản xử lý tài sản quốc gia như của riêng họ, nhưng đồng thời họ cũng lãng phí nó như thể nó là của người khác.” (Theo quote.org)
Thời gian dài trôi qua từ khi tác phẩm ra đời nhưng bản chất của chế độ CS tại năm nước CS còn lại, trong đó có Việt Nam, vẫn đúng như Milovan Djilas nhận xét.
Chiến tranh Việt Nam chấm dứt gần nửa thế kỷ nhưng sự tiêu pha và lãng phí của giai cấp thống trị đã làm cho Việt Nam, một đất nước nhiều tiềm năng, thành là một nước nghèo so với tiêu chuẩn phát triển chung của thế giới. Trong suốt 47 năm qua, các thế hệ Việt Nam đã đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu để nuôi dưỡng giai cấp thống trị hoàn toàn không làm một việc gì hữu ích cho xã hội ngoài hút máu dân tộc Việt.
Như nhiều người biết hôm nay, dưới chế độ CS, khái niệm “nhân dân làm chủ” chỉ là một chiếc bình phong để giai cấp của những kẻ thống trị, có toàn quyền xử dụng tài sản của đất nước như của chính mình, cũng như có toàn quyền lãng phí tài sản đất nước như không phải của mình.
Những nhận định của Milovan Djilas có thể áp dụng vào hai trường hợp mới vừa xảy ra, Nguyễn Thị Phương Thảo tặng 155 triệu bảng Anh và Tô Lâm ăn bò bít-tết ở nhà hàng của đầu bếp Thổ Nhĩ Kỳ Nusret Gökçe.
Như các báo loan tin, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, tỉ phú Việt Nam đồng ý tặng 155 triệu bảng Anh cho Linacre College, một trường nhỏ thuộc hệ thống Đại Học Oxford. Theo thông báo của trường, với số tiền lớn được tặng, ngôi trường đang mang tên học giả nổi tiếng Thomas Linacre có thể sớm đổi thành Thao College. Một số học giả Anh như giáo sư Đại Học Oxford Marie Kawthar Daouda phê bình ý định đổi tên trường từ Linacre sang Thao với lý do Thomas Linacre là học giả nổi tiếng trong thời đại ông và không nên thay chỉ vì một thương gia cho nhiều tiền.

Nguyễn Thị Phương Thảo

Nguyễn Thanh Hùng, chồng Nguyễn Thị Phương Thảo và Tập Cận Bình.

Việc tặng tiền cho một đại học là một nghĩa cử quen thuộc của những người giàu tại Mỹ, Anh cũng như các nước Tây Phương. Các tỉ phú Mỹ thường tặng tiền cho đại học, nhất là những trường mà họ xuất thân. Năm 2018, Michael Bloomberg tặng 1.8 tỉ dollar cho đại học Johns Hopkins tại Maryland.
Điểm khác nhau chính là các tỉ phú Anh, Mỹ sinh ra và làm giàu trên một đất nước vốn đã giàu hàng đầu thế giới trong mọi lãnh vực, nhất là giáo dục. Theo The Center for World University Rankings trong số 20 trường đại học tốt nhất thế giới có 17 trường là Mỹ, 2 là Anh và 1 là Nhật. Dò mỏi mắt xuống hạng 1,000 trường đại học được tổ chức này quan sát cũng không có một trường đại học Việt Nam nào.
Theo cách lý giải và hành xử của một người bình thường nếu bạn có lòng vị tha để tặng thì bạn nên tặng cho những nơi thiếu thốn nhất, cho những người cần nhất. Giá trị và tác dụng của món quà nhờ đó sẽ cao hơn và ý nghĩa hơn là tặng cho những nơi đang đầy đủ.
Mấy hôm nay, một làn sóng bất mãn, phê bình, mỉa mai, châm biếm bà Thảo đã “làm chuyện ngược đời”, “gánh củi về rừng”, “mua danh” v.v… Những người phê bình còn đưa ra những hình ảnh đau lòng của các em học sinh phải đu dây qua sông, bơi qua những khe nước chảy xiết, lội qua những con suối đầy đá nhọn để đến trường như một cách nhắc nhở cho bà Thảo thấy sự khác nhau giữa thực tế bi thảm của đất nước đã sinh ra bà và nền giáo dục hiện đại của Anh.
Họ cho rằng lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để xây những chiếc cầu, lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để dựng trường học, lẽ ra bà Thảo nên dùng số tiền đó để cấp học bổng cho sinh viên học sinh nghèo và nhiều “lẽ ra” khác.
Những người phê bình bà Thảo tưởng là bà không biết. Không, chắc chắn bà đã thấy và đã biết nhưng thấy là một chuyện, biết là một chuyện, cảm thông với sự chịu đựng của nhiều triệu tuổi thơ Việt Nam nghèo khó hay không là chuyện khác.
Là một tỉ phú, bà Thảo không muốn tên tuổi của mình gắn liền với một trường đại học dù lớn nhất Việt Nam nhưng vô danh trên thế giới.
Chuyện bà Thảo chưa xong. Hôm 3 tháng 11 vừa qua các mạng internet chuyền nhau video tướng Công An CSVN Tô Lâm ăn thịt bò bít-tếch dát vàng trị giá hơn một ngàn dollar. Nhìn cảnh Tô Lâm há miệng to cho đầu bếp nhà hàng Salt Bae hay còn gọi “Thánh rắc muối” đút miếng thịt bò trông vô cùng kệch cỡm, ghê tởm làm sao.
Ăn thịt là chuyện bình thường nhưng nhìn Tô Lâm ăn khó mà không tưởng tượng cảnh thú vật ăn thịt nhau trong phim động vật hoang dã. Đừng nói chi đang đại diện cho một nhà nước tại nước ngoài, một người lịch sự và tự trọng thường không làm vậy trong nhà hàng với nhiều thực khách chung quanh.
Những người Việt giận dữ lại lần nữa trưng bày những hình ảnh đau thương của hàng triệu người Việt tìm đường về quê tránh dịch với những cảnh chết chóc, đói khát, cực khổ không bút mực nào tả hết như một cách nhắc nhở Tô Lâm về thực trạng Việt Nam.
Theo họ, lẽ ra Tô Lâm nên biết ngay trong giờ phút ông đang ăn nhiều triệu người dân không có một chén cơm trắng để ăn, lẽ ra Tô Lâm nên biết trên cả nước nhiều người vẫn còn chết hay đang chờ chết vì nạn dịch, lẽ ra Tô Lâm nên biết hàng triệu trẻ thơ Việt Nam đang thiếu sữa trong tháng Mười lũ lụt này, và lẽ ra Tô Lâm không nên rắc muối lên vết thương của họ như anh chàng đầu bếp rắc lên miếng thịt bò mà Tô Lâm đang nuốt.
Chắc chắn là Tô Lâm đã thấy và đã biết nhưng giống như bà Phương Thảo, thấy là một chuyện, biết là một chuyện, cảm thông với sự chịu đựng của đồng bào hay không là chuyện khác.
Milovan Djilas viết về bản chất, nguồn gốc lịch sử hình thành nên giai cấp mới, nhưng ông có thể đã sót một đặc điểm quan trọng, “giai cấp mới” còn gồm những con người ích kỷ, vô lương tâm và vô cảm.
Lấy Trung Cộng, nước CS đàn anh của CSVN làm ví dụ cho chính xác với điều kiện kinh tế. Bản chất giai cấp là lý do Trung Cộng mặc dù có nhiều tỉ phú hạng thứ hai trên thế giới sau Mỹ nhưng là nước được tổ chức Charities Aid Foundation xếp vào hạng ích kỷ nhất thế giới trong nhiều năm.
Năm 2019, Trung Cộng đứng hàng 126 trong số 126 quốc gia được tổ chức quốc tế này quan sát. Charities Aid Foundation kết luận “Trung Quốc là quốc gia duy nhất đứng hạng tệ hại nhất trong cả ba tiêu chuẩn gồm tình nguyện, giúp đỡ người khác và đóng góp hiện kim.” Trung Cộng còn đứng sau cả Congo, Palestine, Yemen, những dân tộc triền miên trong chiến tranh và nghèo khó.
Nguyễn Thị Phương Thảo là sản phẩm của ý thức hệ CS nên đừng trách tại sao bà không rộng lượng với đồng bào mình mà dùng tiền đi mua danh một cách kệch cỡm đáng khinh.
Hôm qua, 6 tháng 11, 2021, tờ Daily Mail của Anh tố cáo bà Nguyễn Thị Phương Thảo và chồng không chỉ cấu kết với giới lãnh đạo của “chế độ CSVN thô bạo” mà còn có quan hệ với cả chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình.
Những đồng bạc, dù một đồng hay một tỉ, có được do cấu kết với những kẻ gây nên tội ác chống lại con người trong trường hợp này là đảng CSVN, sẽ không được xem là đồng tiền chính đáng.
Đặc tính không chính đáng của đồng tiền thể hiện rất rõ nét và rất dễ nhận ra tại Việt Nam. Hãy nhìn vào những biệt thự nguy nga mà “giai cấp mới” này sống so với những túp lều không vách của đại đa số trong 97 triệu người dân để thấy khoảng cách trời vực giữa hai tầng lớp người trong cùng một đất nước. Một chính phủ có 110 thứ trưởng, 201 phó chủ tịch tỉnh và hàng ngàn vụ trưởng. Mục đích của bộ máy hành chánh cồng kềnh này chẳng qua là để hợp thức hóa vai trò của các cán bộ đảng, để qua đó chúng được chính thức lãnh lương, chính thức ăn hối lộ, chính thức tham ô và tham nhũng.
Tham nhũng dưới chế độ CS không phải phát xuất từ bản chất tham lam của một số người ở đâu cũng có thể có. Tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng vì chính đảng CS tạo môi trường cho tham nhũng sinh sôi, nuôi dưỡng tham nhũng lớn và tạo điều kiện để tham nhũng hoành hành.
Đối diện với tầng lớp cai trị, bộ máy tuyên truyền và bạo lực trấn áp khủng khiếp và thường trực của chế độ CS đã biến phần lớn trong số 97 triệu người Việt còn lại thành một tầng lớp chỉ biết phục tùng.
Sự chịu đựng của nhiều triệu đồng bào trong mùa dịch vượt qua ngoài định nghĩa của khổ đau, bất hạnh và sợ hãi. Dù “mắt kẹt” ở Sài Gòn hay tìm cách về quê họ đều phải đối phó với những khó khăn chưa từng có trong đời.
Nhưng khác với Đông Âu trước đây hay Cu Ba mới đây, không có cuộc biểu tình nào ở Sài Gòn, không có chống đối nào trên đường đi dù có người phải đi bộ 500 cây số hay như anh thợ hồ Hồ Tám đi bộ 1000 cây số từ Trà Vinh để về Huế trên vai vỏn vẹn một thùng mì gói.
Họ không bao dung nhưng đã mất hết khả năng chống đối. Trời hành họ còn biết kêu trời nhưng đảng hành thì không ai dám kêu đảng. Nhà tù đang chờ họ. Trấn áp đang chờ họ. Chết đói, chết khát đang chờ họ. Bộ máy kìm kẹp của đảng CS siết chặt đến mức làm tê liệt ý thức phản kháng của con người. Họ lầm lũi đi như đoàn nô lệ da đen sau nội chiến Mỹ đi tìm một nơi để gọi quê hương.
Hàng triệu người dân hôm nay có thể đã trở về trong căn nhà trơ trọi và bên ngoài mùa mưa đang đến, nước lụt đang dâng. Họ sẽ sống ra sao trong những ngày tháng tới. Có tiếng than, tiếng khóc nửa đêm nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời hay an ủi.
Nhưng một mai, khi đại dịch qua đi, những người dân bất hạnh kia lại sẽ vào thành phố tìm đường sống vì không còn gì để sống trên nơi chôn nhau cắt rốn. Và cứ thế, cuộc đời của tầng lớp người bị trị tại Việt Nam sẽ bị vùi dập trong trầm luân thống khổ cho đến chết.
Trước nỗi bất hạnh của dân tộc Việt, ai là người biết đau và ai sẽ là người biết nhục? Nguyễn Thị Phương Thảo ư? Tô Lâm ư? Không. Nếu biết đau và biết nhục bà Thảo đã không đem tiền để mua cái tên trường ở một đất nước xa xôi bỏ mặc cho nhiều triệu trẻ em Việt sống trong những điều kiện học hành tệ hại nhất thế giới. Nếu biết đau và biết nhục, ông Lâm đã không há miệng to để được đút ăn trong lúc một phần không nhỏ của đất nước không có ngay cả gói mì để ăn.
Những người biết nhục không phải Nguyễn Thị Phương Thảo, Tô Lâm, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc mà là những con người Việt còn có một lương tâmViệt Nam dù ở ngoài guồng máy hay vì lý do riêng phải tạm thời ở trong guồng máy.
Cách mạng dân chủ tại các nước cựu CS cho thấy, chính những người biết đau và biết nhục đã làm thay đổi vận mệnh đất nước họ. Khác nhau về thời gian và thời điểm nhưng Việt Nam cũng vậy. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh nhiều lần trong hoàn cảnh dù đen tối bao nhiêu vẫn còn có những người biết đau và biết nhục. Lần nữa trong tương lai, chính những người biết đau và biết nhục sẽ thay đổi vận mệnh Việt Nam.
Trần Trung Đạo

Nguồn: http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2021/11/giai-cap-moi-tai-viet-nam-tran-trung-ao.html

Trong cõi người ta – Phan Nhật Nam

  • Phan Nhật Nam
    28 tháng 10, 2021

Share: Share on facebook Share on twitter Share on linkedin Share on telegram Share on whatsapp

(Ảnh: David McNew/Getty Images)

Tìm mình trong cõi người ta

Thấy từ thơ ấu có Đà Nẵng xưa

Đỗ Hùng (1945-2021) 

Năm 1957, gã thiếu niên được bạn, TTHải, Đội Trưởng Đội Hổ Đoàn Hướng Đạo Lam Sơn cho tấm hình căn cước mặc y phục Hướng Đạo Sinh với lời đề tặng: “Tặng N, tình chúng ta nhẹ nhưng bền mãi”. Tuy không hiểu hết ý nghĩa của lời bạn, nhưng gã cũng thấy ra điều “hay hay” qua lời đề tặng. Sau nầy khôn lớn, và nay đang buổi cuối đời, thỉnh thoảng gã thiếu niên năm xưa/lão nhân hiện tại hiểu ra điều đơn giản nhưng cảm khích: “Quân tử chi giao như đạm thủy”. Đúng thế thật, chẳng cần thắm thiết, đậm đà, nhưng liên hệ giữa hai Người Bạn cũng không phải là hạng đại nhân, quân tử mà chỉ là hai người đàn ông bình thường/tầm thường chỉ cần giữ nghĩa “đạm thủy chi giao – cứ như nước lạnh” thì sẽ được mối bền vng tốt lành. Đám tang ngày Đỗ Hùng ra đi, 10 Tháng Mười 2021, cho anh thêm một lần phần xác thực của Nghĩa Bằng Hữu Chi Giao.

Một. 1954,

Vừa ra khỏi cổng Trường Nam Tiểu Học Đà Nẵng bên hông Nhà Đèn, ba đứa nhỏ của xóm nhà thờ di cư đối mặt với một đám thiếu niên Trường Hải Châu dẫn đầu bởi một gã hung dữ tên Trần Xếp, học trò trường Tây. Xếp nổi bậc với tiếng nói lớn dọa nạt, thân hình rắn chắc, và nhất là chiếc cặp căng phồng sách giáo khoa chữ Pháp. Đó! Đó... Mấy đứa ni là tụi nơi xóm nhà thờ di cư! Bọn nhỏ trường Hải Châu hăm hở xông tới. Bắc Kỳ con! Bắc Kỳ con bỏ vô lon… Bắc Kỳ ăn cá rô cây… Những chiếc giàn thun bắn ra những cọng phượng rơi lụp bụp trên áo ba đứa nhỏ nạn nhân với những chiếc cặp nhỏ chỉ vừa đủ che mặt.

Vị cứu tinh xuất hiện kịp thời. Tụi mi không được ăn hiếp mấy đưa ni, coi chừng tao bẻ hết răng tụi mi! Gã thiếu niên tuổi khoảng 14, 15 tuổi nhảy vội xuống xe đạp, tay vung chiếc kìm nhỏ. Bọn trẻ Trường Hải Châu dạt ra, đầu đảng Trần Xếp lùi phía sau. Gã thiếu niên cứu tinh được thể nói lớn. Tao qua Trường Hải Châu mét thầy Trịnh Thể, tao là “di cư Tam Tòa” đây! Cụm từ “di cư Tam Tòa” được nói lớn với âm sắc mạnh mẽ vùng Quảng Bình với chiếc kìm sắt trên tay vung lên đe dọa của gã thiếu niên khiến bọn trẻ Trường Hải Châu e ngại, nhụt thế. Cuộc chiến tàn nhanh. Ba đứa trẻ xóm di cư lấy lại bình tĩnh vây quanh gã thiếu niên “di cư Tam Tòa”.

– Tụi mi ở mô? Học lớp mấy?

– Tui không phải di cư, chỉ ở chung xóm nhà thờ di cư Thạc Gián, học lớp Nhứt với thằng ni. Bé Nhân lanh lẹ nói trước chỉ tay vào đứa nhỏ cùng cỡ, nét mặt tinh anh sắc xảo.

– Tôi mới là di cư, tháng trước xuống tàu bên kia sông Hàn, vì đi học trường nầy nên qua ở nhà ông bác Đường Nguyễn Hoàng. Bé Vũ, đứa thứ hai tự giới thiệu.

Còn thằng nầy? Cả bọn quây lại thằng bé nhỏ nhất, gầy gò, đen đủi. Chỉ ánh mắt đen linh động u uẩn. Em tên Hùng, ở xóm nhà thờ di cư trên ga, học lớp Ba. Thằng nhỏ có vẻ không muốn nói thêm hoặc không biết phải nói điều gì.

Khi biết rõ tên, tuổi, tình thế của ba đứa nhỏ, gã thiếu niên cứu nạn hào hiệp đề nghị: Tao chở ba đứa mi về tới Cầu vồng thì xuống xe, tao đạp lên không nổi. Xuống dốc Cầu Vồng tao về Tam Tòa, chỉ chở thằng ni (chỉ bé Vũ) qua đường Nguyễn Hoàng, còn mi (chỉ bé Nhân) với thằng ni (đứa nhỏ thứ ba tên Hùng) đi thẳng lên trại nhà thờ di cư. Mi nhớ đường không? Bé Nhân nhanh nhẹn trả lời. Biết, nhà tui ở đó mấy năm rồi, trước khi có trại di cư. Ba đứa nhỏ hân hoan trèo lên xe. Một đứa ngồi trước trên thanh ngang, nắm chắc ghi-đông; hai đứa ngồi sau chen chặt lên phọc-ba-ga.

Khi xuống bên nầy dốc Cầu Vồng, Đường Khải Định, gã thiếu niên “Tam Tòa di cư” sắp xếp. Đây nì, tao với thằng Vũ ni quẹo tay phải ra đường Nguyễn Hoàng, còn hai đưa mi đi thẳng lên trại di cư. Thằng nhỏ thứ ba rụt rè đề nghị. Mai cho đi xe đạp nữa không? Được, tao học Đệ Thất Phan Châu Trinh nhưng chung trường tiểu học với tụi mi, sang năm tao mới qua bên trường mới. Bữa mô bãi học cùng giờ, tao cho tụi mi đi xe tao, cũng để tụi Trường Hải Châu không dám tới ăn hiếp.

Khi gã thiếu niên Tam Tòa và bé Vũ khuất sau hàng cây bã đậu trước nhà thờ Tin Lành, hai thằng nhỏ Nhân và Hùng theo Đường Thống Nhất đi về phía trại di cư, đường ra Huế.

Bé Nhân mở lời quen thân. Mi có đạo phải không? Ừ! Bé Hùng có vẻ miễn cưỡng trả lời. Đạo Chúa hay Đạo Tin Lành? Không đợi Hùng trả lời, Nhân chỉ ngôi nhà lầu của Mục Sư Tin Lành Hội Thánh Đà Nẵng. Đi Đạo Tin Lành có cho đồ chơi và áo quần Mỹ. Tao không biết. Bé Hùng tỏ ý chấm dứt câu chuyện. Ban đêm mi có đọc kinh không? Bé Nhân gợi chuyện qua một hướng khác. Có chứ! Bé Hùng có vẽ hào hứng trở lại. Nhà ông thợ mộc di cư bên nhà tao đêm mô cũng đọc kinh. Họ đọc lâu lắm, tao đứng bên ngoài nghe hoài nên thuộc luôn. Kính mừng Maria. Mi cũng đọc kinh như rứa phải không? Bé Hùng trở nên nghiêm trang. Kinh Kính Mừng không phải để đọc chơi. Câu chuyện hai đứa nhỏ dần trở nên thân mật khi đi hết đoạn đường Thống Nhất đến ngã tư lối vào nhà ga. Bé Nhân chỉ qua hướng trái, đường Hoàng Hoa Thám..

Đó, cái nhà tranh là nhà tao, chỗ có hai cây kiền kiền to, từ đó đến nhà thờ trước đồn cảnh sát toàn là người di cư như mi. Nhà mi ở mô? Bé Hùng chỉ ra hướng Ngã Ba Cai Lang, đường đi Huế. Nhà tao sau mấy cái nhà kia kìa. Vậy thì mai tao đợi mi ở đây. Bé Nhân sốt sắng đề nghị. Còn thằng kia? À thằng Vũ, nhà hắn ở đường Nguyễn Hoàng, không đi đường Cầu Vồng nầy; khi về thì mình nhờ anh người Tam Tòa chở cho tới dốc Cầu Vồng, thằng Vũ mới đi theo như bữa ni. Bé Hùng đưa ngón tay trỏ cong cong. Mi nghéo tay nghe không? Bé Nhân đưa ngón tay nghéo lại. Tao là sói con của Trưởng Thanh, anh thằng Trác, mi muốn đi sói con thì tao dẫn tới Trưởng Thanh. Tao không biết đi sói con đó mà cũng không có áo quần!

Trước khi chia tay, bé Nhân hỏi với cách tin cậy: Khi bị tụi Trường Hải Châu ăn hiếp mi có sợ không? Không! Thằng bé Hùng đáp mau. Tại răng mi không sợ? Tao có cây viết, thằng nào tới gần tao đâm liền! Mi giỏi thiệt! Bé Nhân nói lời khen ngợi thán phục. Câu chuyện nhỏ giữa những đứa bé từ năm 1954 hóa ra là nền tảng cho mối liên hệ bằng hữu thầm lặng bền bĩ qua sống, qua chết, giữa lửa đạn chiến tranh, tận khổ nhục tù tội đọa đày. Không người nào có thể tưởng tượng ra. Nghĩ tới.

Hai. 1974,

Ngồi trên những chiếc ghế nhỏ quán nước lề đường bên cạnh Ty Thông Tin Đà  Nẵng, ba người lính mở những chai bia 33, im lặng ngột ngạt. Người mang cấp bậc đại úy, y phục xanh bộ binh, bảng tên Vũ mở lời khắc nghiệt: Mẹ kiếp, chẳng ai tính ra được, hai mươi năm sau ba thằng lại gặp nhau ở đây! Ông Hùng làm trên Tổng Y Viện gặp mặt đã đành, còn ông Nhân từ Sài Gòn ra đây làm gì?

– Thì nhảy dù từ Huế chuyển vô đây, nên tôi đi Đà Nẵng để xem có chuyện gì không? Người tên Nhân trả lời trống không.

– Chuyện đ… gì cũng thế! Tàn cuộc, cuối đời, ông ở chỗ Ban Liên Hợp kia ắc phải biết. “Chúng nó” tính hết cả rồi! Vũ nói tiếng lớn như muốn người những bàn kế cậu phải nghe cùng. Không biết “chúng nó” ám chỉ những ai.

Hùng chen vào hòa giải. Chúng nó tính ở đâu kệ chúng nó, ba đứa sau 20 năm ngồi uống với nhau chai bia thế nầy là vui rồi. Dzô! Hùng nâng chai bia tăng không khí hào hứng.

Men bia dần làm câu chuyện trở nên dễ dàng. Hùng nói lời ấm áp với Nhân: Ông viết tới lắm, tôi ở ngoài nầy luôn theo dõi bài ông viết.

Vũ sôi nổi, hào hứng. “Thì từ 1968, lúc làm sĩ quan liên lạc pháo binh nhẩy dù, tôi đã thấy ra ông ấy là “đại văn hào”. Chỉ khổ nỗi, sau đó bị bà vợ ông ấy buộc cho tội. “Ông làm bạn ông thành nhà văn. Tôi mất chồng!”

Hùng làm vẽ hạch hỏi: Sao ông không biến tôi thành “nhà văn” coi chơi?!

Vũ tung hê: Muốn thì ông tự làm đi chứ. Tôi tài cán gì? Danh là khách của thực!

Cuộc gặp mặt sau 20 năm dần trở thành sống động khi những chai bia thứ ba, thứ tư được uống cạn và những lời thương mến, khen ngợi chân thực. Cha Vũ nầy giỏi thiệt! Bằng cấp nào cũng có, chỉ tội quá giỏi nhà binh nó đâu chịu; lại thêm tội ứng cử quốc hội, nghị viên mà không về phe ông tông tông (Tổng thống- Cách gọi của người miền Nam, Sài Gòn) thua là cái chắc!

– Còn lâu tôi mới về phe tông tông, bị bắt vào cục an ninh quân đội tôi cũng nói như vậy. Chẳng ai ép tôi được.

– Thì thuở nhỏ cũng chẳng ai ép ông được. Hết học Phan Châu Trinh, ông vào Sài Gòn học giỏi có tiếng. Ờ mà sao lại không lọt được vào trường Y Khoa như các cậu Phạm Gia, cậu Hưng “con”?

– Vô TP (Thực tập chứng chỉ PCB/Lý-Hóa-Sinh), bị cha phụ giảng đánh rớt liên tiếp thì làm sao học ra ông Đốc được?! Hê hê! Vũ gật gù cười. Cũng may, nếu học ra ông Đốc, chơi với máu me, người chết như cậu Hùng ở Tổng Y Viện tôi không ham. Ngày, đêm phải đánh vật với thương binh, xác chết như những kỳ Mậu Thân, 1968; Hạ Lào, 1971, Mùa Hè Đỏ Lửa, 1972 hãi quá!

– Rồi cũng quen đi! Hùng nói nhỏ chịu đựng. Riết thấy sống/chết như nhau. Sống đôi khi còn khổ hơn. Ông Nhân viết về Đại Lộ Kinh Hoàng, Quảng Trị; cảnh Việt cộng pháo kích ở An Lộc, Bình Long năm 1972 chắc thấy lời tôi nói không sai! Sống mang thêm mặc cảm có tội.

– Nhưng sống vẫn tốt hơn. Chết là thua. Như thằng Dũng nhẩy dù lớp mình chết năm 1965 ở Đồng Xoài bây giờ có ai nhắc gì nữa đâu? Không biết mộ nó chôn ở đâu trên Ngã Ba Cai Lang. Vũ kết luận.

Hùng bùi ngùi. Năm đó ba thằng nhỏ chỉ dám đi tới Ngã Ba Cai Lang, hết đường Khải Định là rừng dương liễu chạy ra tới biển; chỗ tụi mình đang ngồi đây trông ra cũng là vườn bông để họp biểu tình. Hai mươi năm bao nhiêu là biến đổi không ai lường ra được! Màu mắt đen của Hùng thẫm sắc hơn.

Chiều xuống, thành phố Đà Nẵng lên đèn. Ba người lính không nói với nhau thêm một lời. Chỉ âm động lịch kịch những chai bia nhấc lên, đặt xuống.

Ba. 1975,

Tháng Tư, Sài Gòn vỡ tung như như một tổ ong bị un khói, gặp nhau nơi tòa soạn báo Sóng Thần, báo Độc Lập Đường Võ Tánh, Vũ và Nhân nhìn rõ nỗi tuyệt vọng uất hận trong mắt mỗi người. Ông làm sao từ Đà Nẵng mà thoát vào được? Tôi đi theo xà-lan vào tới Nha Trang, xuống Cam Ranh, xong theo đường bộ vào Sài Gòn. Ai giúp cho ông đi về được Sài Gòn? Gặp thằng Trương Kh. ở Biệt Động Quân, nó nhận ra tôi, cho lên xe jeep của nó. Cũng bởi, tôi là thằng “Bắc Kỳ oắt tì xà lai” năm 1955 khi vô Phan Châu Trinh nên nó nhớ ra! Không theo cánh Biệt Động Quân thì khó mà toàn thây với bọn tù ở quân lao thả ra. Bọn chúng như bầy thú điên từ Đà Nẵng vào Nha Trang gây bao nhiêu thảm cảnh nói không hết, viết không nổi. Miền Nam không chết bởi vi-xi mà chết vì hỗn loạn sụp đổ nầy. Cảnh mà Nguyễn Trãi mô tả “bọn chúng quây giáo mà đánh lẫn nhau”! Vũ nói trong tiếng gầm gừ, mắt tóe lửa.

– Bây giờ ông tính sao? Nhân cố ghìm nỗi phẫn nộ uất hận của bạn với thực tế công việc. Ông định viết cho Độc Lập hay Sóng Thần?

– Chẳng tính gì cả, lão Hoàng Q, bên Độc Lập hay bà Th. của Sóng Thần đề nghị tôi viết lại đoạn đường tháo chạy từ Đà Nẵng. Viết sao nổi toàn cảnh con người bị kinh miệt? Con người bị giết. Bị giết sống. Gớm ghê hơn cái chết!

Nhân cố gắng vớt vát. Thôi tôi cũng mừng ông vào được đến đây, mấy đứa học chung lớp ngày trước ở Đà Nẵng có thằng nào chạy được không? Chẳng rõ, tôi chỉ thấy thấp thoáng thằng Đồng nháo nhác ở Bến Cá Chợ Hàn. Đồng nào? Lớp mình có hai Đồng. Thằng Đồng dạy học, làm thơ. Ông có thấy thằng Hùng người Bắc không? Hùng “đen” đàn ghi-ta? Hắn làm trên Tổng Y Viện Duy Tân, tôi không rõ. Tổng Y Viện Duy Tân là địa ngục có thật khi tụi Việt Cộng từ ngoài Bắc tràn vào. Chúng giết thương binh ngay trên giường bệnh. Chắc Sài Gòn cũng phải chịu như vậy trong nay mai!

Sau 30 Tháng Tư 1975. Vùng núi Hoàng Liên Sơn, đất Bắc, một chiều mưa gió vần vũ Tháng Tám 1978, đông đảo đám tù người Nam thuộc các liên trại Đoàn 776 tập trung chen chúc bên bờ sông Hồng, bến Âu Lâu đợi chuyển lên tàu tại ga Yên Bái. Những tiếng… ơi… ơi mầy… tao… thăm hỏi vang vang bãi sông mỗi lần đoàn tù nầy đi qua mặt đoàn tù trại khác. Tao đây… tao đây... nhảy dù đây… sư đoàn 5 đây... Biệt động quân hả… Tiểu đoàn mấy… Có đứa nào thấy thằng Tâm “cao” không; thằng Phong “râu” Đà Lạt…? Nhân ngồi gục đầu lên chiếc xắc tay nhỏ sũng ướt không đủ sức nhìn lên dẫu nghe tên một gã bạn quen. Ta bỗng rụng rời. Ta thấy lạc. Ta còn không đủ... Hở ai đây?! (Ta Về, Tô Thùy Yên) – một người làm thơ đã viết nên những lời thơ ai oán khốc liệt nầy. Ai còn biết ai sống chết ra sao khi bản thân đã tan nát đọa đày từ một ngày rời Miền Nam, 19 Tháng Sáu 1976?

Sau 12 năm biệt xứ nơi đất Bắc, mùa Hè 1988, từ Trại Ba Sao Hà Nam Ninh theo đoàn tù cuối cùng chuyển về Nam đến Trại Z30D, Nhân nghe được những nguồn tin tưởng như không thật. Vũ đã là một giáo sư khoa bảng ở Mỹ, và Hùng được ra tù từ mấy năm trước do là ngôi sao văn nghệ nơi Trại Z30 D nầy! Nhân hỏi lại cho rõ: Có phải Hùng “đen” Hành Chánh Quân Y của Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng không? Chứ còn ai nữa, hắn ta chơi ghi-ta nhà nghề, hát rất vững dưới quyền trưởng ban văn nghệ họ Hoàng Đình, thiếu tá không quân! Trời đất! Toàn là bồ ruột của tôi. Nhân nhớ cách thanh thản vui chơi của Hoàng Đình “không quân” trước anh một khóa của Trường Đà Lạt trong mọi hoàn cảnh trước 1975, và sắc mắt đen quyết liệt của bé Hùng ngày bị bọn trẻ trường Hải Châu Đà Nẵng tấn công năm 1954. Hóa ra mấy người bạn của anh luôn có một thứ vũ khí gì đó để giữ thân, vượt qua tình huống khó khăn. Nhân thầm thán phục những “ông thần” của anh.

Bốn. 1996,

Dịp Thế Vận Hội tổ chức tại Atlanta, Hùng tập họp một số anh em trong giới báo chí, văn học đến từ San Jose, Bắc Cali; Houston, Texas, phần đông là bạn lính trước 1975 ở Đà Nẵng, Sài Gòn. Đúng hơn, Hùng muốn gặp Nhân và Vũ đã cách biệt từ buổi rượu 1974 ở Ty Thông Tin Đà Nẵng như phần trên đã trình bày. Trong hơi rượu cảm khích của buổi gặp mặt bằng hũu, chiến hữu sau lần đổi đời khắc nghiệt tàn nhẫn của ngày 30 Tháng Tư 1975. Hùng hứng khởi giải bày. Đây nhá, tôi đã tổ chức buổi ra mắt sách sau khi đến Mỹ cho ông Nhân xong; ông Vũ thì khỏi cần, vì đã là giám đốc cơ sở Văn Hóa, chủ bút Báo Quốc Dân, giáo sư đại học. Tôi cũng trả nợ 14 năm tù cho “đại úy đại văn hào” vì năm 1986 đã về trước ở Trại Z30D, không đợi năm 1988 ông từ ngoài Bắc về cùng! Chắc ông cũng không nỡ trách tôi với ông Hoàng Đình “tàu bay” đã không chịu ở thêm tù đợi ông?! Mời nâng ly, xong tôi có chuyện nói. Cả bọn nao nức uống cạn ly rượu VSOP Martell loại “chai nước mắm”.

– Đã thiệt, năm 1975 đố ai tưởng tượng ra được tình cảnh nầy? Vừa xuống Guam, tôi đã tìm mấy cậu nhảy dù quen hỏi từng người chẳng ai thấy ra cậu N? Tất cả đều chung ý nghĩ. “Em N” chuyến nầy chắc chết với mấy thằng vi-xi Hà Nội! Em chưởi chúng nó kỹ như thế ở An Lộc, Quảng Trị năm 72 thì làm sao chúng nó để cho yên?! Bởi vậy, tôi đã cực lực phản đối vụ “mặt trận” làm rùm beng “ủy ban vận động cho nhà văn N”. Đúng như tôi nói bên nầy, bên kia nó cho “em” vào hầm! Cộng sản nó đâu ngán mấy cái ủy ban thổ tả ngoài nầy! Vũ uống nhanh ly rượu để nói hết phần uẩn ức.

– Còn lâu vi-xi mới giết được tôi! Tôi còn phải sống để uống rượu với các ông chứ. Bác Hùng có chuyện gì cần nói ra cho anh em nghe. Nhân chuyển lại tình thế theo cách bình thường,

– À, tôi sẽ viết sách! Hùng điềm nhiên, giọng không chút đùa cợt.

Ng. Bá (cũng xuất thân Phan Châu Trinh, Bắc Kỳ di cư 1954) cười ồ. Viết sách thì cũng xoàng! Đâu phải chỉ hai cậu Vũ, cậu Nhân viết sách; tôi đây cũng viết sách, hai ông nầy. (Chỉ Cao Kh. và Ngu Yn) còn làm thơ. Không phải thơ tiếng An Nam mà thơ tiếng Mỹ. Nhưng ông viết sách gì?

Không để ý cách đùa cợt của Ng. Bá, Hùng nói chắc: Tôi viết tiểu thuyết dã sử!

Từ khả năng tinh tế của người sống lâu trong nghiệp viết, đọc sách, Vũ hỏi với giọng chăm chú: Ông sẽ viết những gì? Chữ nghĩa không của riêng ai? Lịch sử lại là của chung, biết viết và đọc sử làm sao cho đúng, làm sao cho đủ. Bản thân tôi tự thấy viết bao nhiêu cũng không đủ! (Ngoài những tác phẩm tiểu thuyết trước, sau 1975; Vũ còn là tác giả nhiều bộ sách chuyên về sử học).

Hùng giải thích rành rọt: Tôi không phải loại người chữ nghĩa như các bác, tôi biết rõ điều ấy hơn ai hết. Vào tuổi nầy, với cảnh sống sống sau 1975 tôi không hưỡn để làm chuyện chữ nghĩa. Tôi lại là loại người của tổ chức, để làm việc, Mỹ nó gọi businessman nhưng tôi sẽ viết sách để “nói cho ra lẽ”.

– Ghê quá, chưa gì ông đã tính chuyện lời lỗ, hơn thiệt. Nói cho anh em nghe chơi để thấy ông làm business chữ nghĩa. Hoàng Đình “không quân” (vốn đã ở sẵn nơi Atlanta từ lâu) gật gù đánh giá.

Không để ý lời của họ Hoàng, Hùng chậm rãi, rạch ròi. Tôi sẽ viết về nơi tôi sinh ra, chỗ tôi lớn lên với những con người chuyên gây tranh chấp, nhiều mưu thuật, lắm thủ đoạn. Không phải vài ba người, nhưng thế hệ nầy tiếp thế hệ khác, hằng hai, ba trăm kéo dài cho đến hôm nay.

Áy, người đâu mà ghê quá vậy cha? Anh làm thơ người Nam đến từ Houston, Cao Kh. kêu lên.

Thì mấy ông họ Trịnh, họ Nguyễn, họ Lê nơi xứ của tôi. Những ông hoàng, ông quận, ông chúa từ thời Lê Trung Hưng, Nam-Bắc Triều, Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn… mà hậu quả cho đến bây giờ với đám cộng sản đánh đá nhau ở Hà Nội. Nỗi Đau người Việt là từ đây mà ra chứ không đâu khác.

– Cái nầy không có tôi! Ng Bá gốc quốc gia hành chánh xua tay đầu hàng, chỉ có ông Vũ “giáo sư” mới viết ra.

Vũ từ chối. Tôi cũng chỉ viết về sử cận đại, chuyện đời trước tìm đâu ra tài liệu mà viết, họa may có ông họ Tạ gốc Bình Định mới có thể viết nên! Mà ông sẽ viết chuyện đời xưa ấy như thế nào?

Hùng nói tỉnh, dứt khoát: Tôi viết theo lối dã sử để chẳng anh nào có thể kiện tôi!

Ghê thật, Hùng “đen” tính đâu ra đó. Cứ như đánh phé, đè được tẩy xì. Hoàng Đình “tàu bay” tỏ ý chịu thua.

Kết Từ.

Ngày 6 Tháng Mười 2021 từ Nam Cali, Nhân gọi về Houston mừng sinh nhật sắp chạm 80 của Vũ. Tiếng Vũ chậm rãi, mệt mỏi nhưng vẫn vững chắc. Đến tuổi nầy, tôi với bác còn gọi cho nhau chúc sinh nhật là một đại phúc. Cám ơn bác. Giọng  Vũ trầm xuống. Bác vẫn làm việc đấy chứ? Có đi đâu gặp ai quen cho tôi gởi lời thăm. Nhân trả lời gọn. Tôi sắp đi AtlantaQua đó gặp Đỗ Hùng cho tôi chào nha. Lâu quá tôi không đi đâu, nhớ ngày nào tôi làm cuốn sách cho lui (“lui”, tiếng Pháp, có nghĩa “hắn, ông, y”). Ngày 10, Nhân nhận lời nhắn qua cellphone từ một số phone lạ, area code 167…: Anh Đỗ Hùng, Columbus, GA từ trần đêm qua lúc 12: 40 AM, 10 Tháng 10, 2021 sau thời gian bạo bệnh. Chẳng cần truy tìm text của ai, nơi nào tới, anh bật kêu lên: Trời đất, lâu không nói, không nghe, nay vừa nhắc tới thì đã ra đi! Sao ông “độc” quá vậy ông? Anh quả thật quá sợ và quá mệt với chính mình. Tại sao vậy?

Ngày 14 Tháng Mười khi làm Lễ Di Quan bạn lần đầu tiên, anh mới đọc ra tên bạn đầy đủ: Đỗ Mạnh Hùng sinh 06 Tháng 5, 1945 tại Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, Việt Nam – À, hóa ra là từ đây: Vĩnh Lộc-Thanh Hóa-Việt Nam – Trại 5 Lam Sơn; Trại Thanh Cẩm, nơi buộc anh PHẢI hiểu nghĩa THẬT của Sống/Chết- Chết khi đang Sống TRONG CÕI NGƯỜI TA.

Viết gởi riêng

Gia Đình Đỗ Mạnh Hùng.

Bằng Hữu & Các Cháu nơi Atlanta.

Phan Nhật Nam

Quốc Khánh VNCH (26/10/1955-2021)

Nguồn: https://saigonnhonews.com/nhin-lai-lich-su/trong-coi-nguoi-ta/

Thanksgiving to Thương Phế Binh VNCH – Nam Lộc

  • Nam Lộc

07/11/2021

Thanksgiving là ngày lễ mà người ta dùng để tạ ơn những sự tốt lành và ân sủng mà Thượng Đế đã ban cho chúng ta. Nhưng cũng để tạ ơn ông bà, cha mẹ. Tạ ơn các ân nhân đã giúp cho ta được đến bến bờ tự do, và thực tế nhất là tạ ơn những người đã hy sinh một phần thân thể cho chúng ta được sống. Đó, chính là các vị Thương Phế Binh VNCH.

Mỗi năm cứ vào dịp Lễ Tạ Ơn, chúng tôi lại xin nhắc nhở quý vị đồng hương, luôn quan tâm đến hoàn cảnh của các TPB, nhưng vì bận rộn công ăn, việc làm, nên quên nhã ý mà mình muốn giúp đỡ. Qua chương trình “Mỗi Gia Đình, Một Thương Phế Binh” mà chúng tôi phát động trong mùa đại dịch, tính đến ngày hôm nay, đã có gần 400 đồng hương ở khắp mọi nơi trên thế giới email về cho chúng tôi để xin bảo trợ và gởi tiền trực tiếp về VN cứu giúp cho khoảng 3500 TPB/VNCH. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều TPB đang cần giúp đỡ, nhất là trong lúc này, khi mà VN đang phải đối phó với đại dịch Covid-19 và vi khuẩn Delta variant.

Các TPB/VNCH không được ai hỗ trợ, kể cả những chương trình thường do quý linh mục thuộc dòng Chúa Cứu Thế tổ chức, cũng bị hủy bỏ. TPB không thể lê tấm thân tật nguyền để đi bán vé số, hay thậm chí ra ngoài đường để hành khất sống qua ngày!

Trong hoàn cảnh đó, một lần nữa thay mặt TPB/VNCH và các thiện nguyện viên, chúng tôi xin thành tâm kêu gọi lòng quảng đại của toàn thể quý vị đồng hương, hãy nhớ đến các chiến sĩ bất hạnh của chúng ta, đã không may phải mang thương tật trong cuộc chiến bảo vệ tự do, dân chủ và cho chính sự an toàn của chúng ta. Kính mong mỗi quý vị nhận bảo trợ một TPB hoặc nhiều hơn nếu có thể, để trực tiếp gởi về quê nhà giúp cho họ, khoảng $100 US dollars mỗi TPB.

Các văn phòng dịch vụ nhận gởi tiền về VN đã hoạt động trở lại. Xin quý vị hảo tâm liên lạc ngay với chúng tôi qua địa chỉ email namlocnguyen@yahoo.com để nhận danh sách TPB. Tất cả hồ sơ TPB đều đã được các thiện nguyện viên của chúng tôi kiểm nhận kỹ càng với đầy đủ lý lịch quân ngũ cùng địa chỉ và số điện thoại.

Xin chân thành cám ơn và kính chúc toàn thể quý vị một Lễ Tạ Ơn tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.

Nam Lộc

Email: namlocnguyen@yahoo.com

Hình ảnh của một số TPB/VNCH trong danh sách của chúng tôi:

C:\Users\Nam Loc\Downloads\Screenshot_20211107-051738_Yahoo Mail.jpg
Nguồn: https://vietbao.com/p301409a310133/thanksgiving-to-thuong-phe-binh-vnch

HÀNH QUÂN VƯỢT TUYẾN BIÊN GIỚI VIỆT-MIÊN-LÀO – Huỳnh Mai

Nguyenvanhieu.jpeg

Thiên Tài Lịch Sử Quân sự Việt Nam
Tướng Nguyễn Văn Hiếu QL.VNCH
Tg: Huỳnh Mai St.8872
Bh. Dạ lệ Huỳnh
Sĩ Quan Hành Quân Vượt Tuyến

Sáng sớm, trời còn mờ trong hơi sương núi, tỉnh Pleiku-Quân Đoàn II bị khua động và tỉnh thức trong tiếng máy bay trực thăng đáp xuống sân bay dã chiến quân đoàn. Các Sĩ Quan cấp tướng-tá các ban ngành tham gia hành quân đều có mặt đầy đủ tại phòng hành quân, ban 3 quân đoàn II để nhận lệnh xuất phát hành quân.Và cũng nhận lời được lời huấn thị quân sự cho sĩ quan các cấp nhận lãnh trách nhiệm trách nhiệm hành quân là dám nhận lãnh trách nhiệm và dinh dự tổ quốc trao cho…Những quyết định cấp chỉ huy trên chiến trường, mặt trận là quyền hành tuyệt đối của tổ quốc trao cho, nên cần phải có trí và có tài thao lược cùng kinh nghiệm chiến trường, để xử trí và quyết đoán chiến thuật trên các mặt trận hầu bảo vệ mạng sống các chiến hữu dưới quyền mình và cho vợ con của họ. Một quyết định sai lầm là chết cả một đoàn quân do mình chỉ huy trong tích tắt vài phút vài giây cho cả cái chết do sai lầm quyết định cấp chỉ huy đưa ra… Hậu quả là ngay tức thì… Không phải chờ đợi lâu lắc…! Như “Nhân quả luân hồi của nhà phật cho kiếp lai sanh”. Vì “Súng đạn vô tình…nhưng lòng người nên nhân đạo”….Tướng Hiếu nói xong, ai về vị trí nấy! Riêng ông oai vệ tiến ra sân bay trong tiếng nổ máy trực thăng đợi sẵn. Ông nhảy phóc lên trực thăng theo thao tác quân trường, bằng cách chống hai tay trên sàn trực thăng và quăng mình gọn ghẽ lên ghế ngồi bên cạch xạ thủ trực thăng. Vì ông vốn nhỏ con, nhưng nhanh nhẹn làm Pilot Mỹ thán phục và kính trọng ông Hiếu, một tướng lãnh QL VNCH. Hình ảnh ông tướng Hiếu, tôi rất cảm phục và là ảnh tượng suốt đời binh nhiệp của tôi.

Đoàn quân tập họp tại đồn điền trà Catexca gồm các trung đoàn 47, trung đoàn 40, trung đoàn của sư đoàn 22 BB, cộng thêm 2 trung đoàn của sư đoàn 23 BB và tăng phái thêm 3 tiểu đoàn BĐQ của thành Pleime, có thêm sự tham gia của liên đoàn Biệt Kích 81 Dù. Hai chi đoàn thiết giáp, có pháo binh Pleiku yểm trợ và đặt căn cứ Hàm Rồng nơi tôi thường trú đóng quân, làm trung tâm hành quân. Vì nơi đay là ngọn núi cao 1.680 mét so mực nước biển để liên lạc thông tin sang tận Campuchia 125 km điều động hành quân cho máy truyền tin PRC 25 hoạt động hữu hiệu lệnh lạc diều phối quân. Và lấy cửa khẩu Đức Cơ làm điểm xuất phát hành quân vượt tuyếnsang Cam phuchia.
Cuộc hành quân này nhằm ngăn chặn đoàn quân Cộng Sản Miền Bắc vượt dãy Trường Sơn vào Nam tiếp tế cho VC nằm vùng cùa trung ương cục R miền nam, thuộc biên giới và tỉnh TâyNninh và loan tỏa sang Cao Mêm và Lào,dọc vùng biên giới Việt Miên Lào. Quân Cộng Sản Bằc Việt gồm 5 sư đoàn chính qui, trang bị vũ khí hiên đại gồm xe tăng, đại pháo hỏa tiễn phòng không cao xạ…bạc núi, băng rừng tiến về phương nam, đê cung cấp, trang bị số vũ khí này cho VC miền nam và bọn Khờme Đỏ thân Trung Cộng và du kích Phathet-Lào…Mặt trân này không có không quân và TQLC Hoa Kỳ tham gia… Vì Quốc hội Mỹ không cho phép mở rộng chiến tranh sang Campuchia và Lào. Vì thế đặt cho QL VNCH vào tình thế nguy hiểm không có B.52 yểm trợ trước quân số quá đông biển người Cộng Sản Miền bắc. Với vủ khí tối tân hiện đại hóa của Nga Tàu.

Xe tăng thiết giáp của VNCH không phải là đối thủ của tăng T, 54 hay PT. 76 của Nga Tàu…nhưng nhờ sự lãnh đạo tài ba, lổi lạthông minh, sáng suốt của viên Tướng Nguyễn Văn Hiếu đã tiên liệu được nhu cầu cho mặt trận, cần phải được trang bị cho binh sĩ VNCH tối đa hỏa tiẽn vác vai M.72 chống tăng địch và phá hủy lô cốt và diệt chốt chống càng của cộng quân. Mà thật vậy!Một trái hỏa hỏa tiễn vác vai nổ ra chỉ làm cho PT 76 cộng quân xoay ngang mòng mòng…phải bắn tiếp 2 phát nữa nó mới chịu bốc cháy mằm im trước khi nó chạy tới cán chết binh sĩ ta… Nhờ các Hỏa tiễn chống tăng M 72 là hỏa lực chính chính yếu, cứu nguy cho QL VNCH, trước các khẩu đại pháo hạng nặng, phòng không cao xạ hầu như im hơi, bặt tiếng vì ta không cần có máy bay không yểm để cho chúng nhả đạn bắn rơi!?

Các chiến sĩ, quân ta phá hủy các ổ đại pháo, phòng không của địch, bắt gặp những xác chết công quân còn bị xiềng xích vào ổ đại pháo, mặc đồ bộ đội cụ Hồ, nhưng xác là lính Trung Quốc cải trang, do những lính ba Tàu Chợ Lớn bị bắt lính VNCH nhận diện ra đông loại của chúng {Chớ xác chết không bao giờ biết nói và tự nhận mình}. Họ buộc phải chết và không dám để bị bắt cho khai thác tù binh. Trận này, quân ta đánh tan rã đoàn quân cộng sản ra thành nhiều mảnh, phá hoại con đường tiếp tế, vận chuyển cho du kích Khờ me đỏ, và giải tỏa áp lực cho chinh quyền Lon Nol thân Mỹ bị bao vây gây sức ép bởi Trung Cộng.Các chiến lợi phẫm tịch thu được gồm những tiền giấy Campuchia giả mạo do Trung Cộng in ra với mục đích phá hoại nền kinh tế Campuchia do chính quyền Lon Nol thân Mỹ lãnh đạo còn mới cáo cạnh thơm mùi mục in chứa trong các thùng giấy carton có chữ China sản xuất bị bom đạn của quân ta bắn vở và bay tung tóe như đàn bướm lượn trên cánh rừng lá thắp rớt xuống ao hồ khe suối. Binh sĩ ta thấy tiếc đựng cho một ngực tiền Trung Quốc, đem phát lại cho bà con Khờ Me đói nghèo trên dọc đường rút quân về mạng theo nhiều kỷ niệm hành quân Vượt tuyến Campuchia.

Trong trận đánh vượt tuyến biên giới sang Campuchia, của Việt Nam Cộng Hòa đã bẻ gãy được âm mưu thâm độc của Cộng Sản Quốc tế Nga Tàu muốn biến Việt-Miên-Lào thành Cộng Sản Đông Dương là nhờ vào Thiên tài Lịch Sử Viêt Nam Nguyễn Văn Hiếu cầm quân sang giúp Lon Nol là đồng minh chiến hữu Campuchia. Không những ông giỏi về chiến lược quân sự, mà còn giỏi về chính trị kinh tế cúu nguy cho chính quyền Lon Nol chậm sụp đổ và kéo theo sự sụp đổ VN cuối tháng tư 30-4-1975.

Thiên Tài lịch sử Việt Nam Nguyễn Văn Hiếu rất hiếm có trong các tướng lãnh QL VNCH, nhờ lòng trung kiên chính trực, một lòng chình nghĩa yêu nước của người Việt Quốc Gia. Nhưng trời chưa thương dân tộc Việt Nam vào gói trọn dân tộc này trong số phận đau đớn bằng 2 câu thơ của Nguyễn Du:
“Bắt phong trần phải phong trần.
Cho thanh cao mới được phần thanh cao…”

Và bất kể chi tài hỡi cố nhân Ơi…!!!
Huỳnh Mai St.8872
{Tưởng Nhớ Cố Trung Tướng Nguyễn Văn Hiếu}
Thiên Tài Lịch Sử Quân Sự Việt Nam

Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/h%C3%A0nh-qu%C3%A2n-v%C6%B0%E1%BB%A3t-tuy%E1%BA%BFn.34234/

QUÂN Y HẢI QUÂN VIỆT NAM CÔNG HÒA – Bác Sĩ Trần Nguơn Phiêu

Bác Sĩ Trần Nguơn Phiêu

Quân Y Hải Quân VNCH – biển xưa
Quân Y Hải Quân VNCH – biển xưa

Sau ngày ký kết Hiệp định Genève, chánh phủ Pháp lúc đó mới bắt đầu thật sự trao trả chủ quyền cho Việt Nam. Thật ra sự trao trả này cũng đã phải trải qua nhiều giai đoạn nhiêu khê vì người Pháp ở Đông Dương vẫn nuối tiếc thời vàng son của họ. Chánh Phủ Ngô Đình Diệm đã phải đương đầu với nhiều thủ đoạn, âm mưu của các thế lực thực dân cũ còn hối tiếc muốn tìm cách duy trì ảnh hưởng của Pháp để có thể một ngày nào đó phục hoạt được một phần nào thế lực chánh trị hay kinh tế Pháp.

Quân lực Việt Nam đã được thành hình trong bối cảnh đó và Hải Quân cũng đã thật sự được tổ chức khi quân đội Pháp bắt đầu rút lui khỏi Đông Dương. Người đầu tiên được Tổng Thống Ngô Đình Diệm chỉ định lèo lái quân chủng Hải Quân là Thiếu Tá Lê Quang Mỹ.

Bộ Tư Lệnh Hải Quân được đặt ở Trại Bạch Đằng sau khi Pháp bàn giao căn cứ Caserne Francis Garnier ở bờ Sông Sài Gòn. Nha Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chấp thuận bổ nhiệm Y Sĩ Thiếu Tá Phạm Tấn Tước vào chức vụ Y Sĩ Trưởng Hải Quân. Vào lúc đó, quân số Hải Quân kể cả Thủy Quân Lục Chiến không quá 5,000 người. Bộ Tư Lịnh TQLC cũng cùng đóng chung ở Trại Bạch Đằng và Y Sĩ Thiếu tá Phạm Tấn Tước cũng phụ trách phần quân y cho TQLC.

Một cơ sở Hải Quân lớn khác được chuyển giao là Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. Trước khi được chuyển giao thì Trung Tâm này cũng như Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân đều do người Pháp điều khiển. Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Gia Quýnh được Bác Sĩ Phạm Tấn Tước bổ nhiệm để lo phần yễm trợ quân y cho Trung Tâm có nhiều khóa sinh này. Bệnh xá này nguyên là một bệnh viện tư của một y sĩ Pháp thành lập và được HQ Pháp mua lại khi xây cất Trung Tâm Huấn Luyện. Vì vậy bịnh xá phòng ốc rất tiện nghi, từ văn phòng y sĩ nhìn ra sẽ thấy một phần rất đẹp của bãi biển Nha Trang.

Cơ sở Quân Y Hải Quân đầu tiên do Y Sĩ Thiếu tá Phạm Tấn Tước trách nhiệm được đặt tên là Bệnh Xá Bạch Đằng. Tên gọi cũ của Pháp là Infirmerie Francis Garnier, gồm cơ sở hai tầng lầu về phía Đông của Trại Bạch Đằng, ngó ra Công Trường Mê Linh, sau này được đổi tên là Công Trường Trần Hưng Đạo.

Bệnh Xá Bạch Đằng là một bệnh xá có tầm vóc, có phòng quang tuyến,phòng Nha Khoa,phòng Dược, phòng Thí Nghiệm…Tầng hai là trại bịnh và tầng ba dành cho y sĩ trực gác và nhân viên y tá. Từ phòng y sĩ trực có thể nhìn được sinh hoạt dân chúng, giai nhân tài tử đi dạo mát ở Bến Bạch Đằng và Công Trường Mê Linh vì là thời còn tương đối thanh bình, đường trước Bộ Tư Lịnh HQ không có chắn kẽm gai như về sau này.

Nha Sĩ Hải Quân đầu tiên là Nha Sĩ Đại úy Nguyễn Văn Hiền, tốt nghiệp ở Pháp và dược sĩ phụ trách Trung tâm Tiếp Liệu Y Dược là Dược Sĩ Đại úy Thái Hữu Đức, tốt nghiệp Đại học Toulouse, Pháp.

Các quân y sĩ Hải Quân vào lúc khởi đầu thành lập như vậy là gồm toàn y sĩ trừ bị, được động viên và do Nha Quân Y thời bấy giờ phân phối cho quân chủng Hải Quân.

Có một sự kiện đặc biệt là vào cuối năm 1950, khi Quân Đội Việt Nam mới bắt đầu thành lập ngành Quân Y được giao phó cho một sĩ quan Quân Y Pháp là Đại Tá Quân Y Pagès (Người viết bài không nhớ trọn tên). Như hầu hết các quân y sĩ Pháp phục vụ ở VN cũng như các bịnh viện lớn như Bệnh Viện Grall ở Sài Gòn, các quân y sĩ hiện dịch Pháp đều xuất thân từ Trường Quân Y Bordeaux. Ở Pháp có hai trường Quân Y, một là Trường Quân Y Lyon để đào tạo quân y sĩ cho quân đội đóng ở Pháp (Métropole) và trường thứ hai là Trường Bordeaux , gọi là Trường Quân Y Hải Quân và các Thuộc Địa (École de Santé Navale et Coloniale). Sở dỉ có sự phân chia đó vì Trường Lyon chuyên về chuẩn bị cho chiến trường Âu châu và Trường Bordeaux chuyên về Y khoa Nhiệt đới. Đại tá Pagès, người đầu tiên được biệt phái giúp thành lập quân y VN vốn tốt nghiệp trường Quân Y Bordeaux. Ông có một con trai học Trường Chasseloup Laubat và sau theo học chứng chỉ P.C.B. của Đại Học Sài Gòn vừa mới được thành lập không quá 2 năm.

Đại Tá Pagès thường đến giao thiệp với sinh viên nhất là các bạn học của con ông để thuyết phục sinh viên VN tình nguyện gia nhập ngành quân y. Sau khi được chánh phủ Pháp chấp thuận, mười sinh viên đã được cấp học bổng sang Pháp học Trường Quân Y Bordeaux (5 thuộc Đại học Sài Gòn và 5 thuộc Đại học Hà Nội). Đây là lần đầu tiên Trường Quân Y Bordeaux nhận sinh viên nước ngoài, nên không có những biệt lệ gì cho mười sinh viên VN. Hai năm đầu ở trường được coi như hai năm đi quân dịch và cấp bực là thủy thủ không chuyên nghiệp (Matelot de Seconde classe, sans spécialité). Mỗi tháng được cấp 180 quan, 15 gói thuốc lá và 10 con tem để gửi thư. Chỉ sau 2 năm mới được coi là chuẩn úy và lãnh lương sĩ quan.

Sinh viên sống nội trú trong doanh trại và y khoa thì phải theo học ở Trường Y khoa Đại học Bordeaux. Trường Quân Y có thêm chương trình riêng về quân sự và kiểm soát sự hiện diện của khóa sinh rất chặt chẽ ở Trường Y Khoa cũng như khi thực tập ở các bịnh viện. Mỗi năm, khi các sinh viên trường Đại học có được 3 tháng nghỉ hè thì khóa sinh quân y chỉ có được 1 tháng, 2 tháng kia được gửi đi thực tập ở các quân y viện hay các đơn vị quân đội. Khóa sinh VN tham dự các chương trình huấn luyện quân sự như các đồng đội Pháp, chỉ trừ các chương trình gọi là X,Y,Z thì không cho học vì liên quan đến chiến tranh hóa học, vi trùng và nguyên tử.

Đến khoảng cuối năm 1956 thì các khóa sinh quân y VN bắt đầu trình luận án tốt nghiệp ở trường Y khoa Đại học Bordeaux. Vào thời buổi đó ở VN có xảy ra vụ Ông Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại. Phó Giám đốc Trường Quân Y Bordeaux lúc đó đã bán chánh thức tiếp xúc riêng từng khóa sinh VN và cho biết là sau khi tốt nghiệp, các sinh viên có thể ở lại Pháp, không nhất thiết phải trở về VN vì chánh thể đã đổi. Một vài đồn điền lớn của Bỉ đã biết tin và tiếp xúc với vài sinh viên để xin đồng ý ký giao kèo làm việc ở các thuộc địa của họ ở Phi châu. Các anh em đã bàn với nhau và đã trả lời cho trường là các anh em đã đi học với học bổng tuy là của Pháp nhưng là tiền của dân chúng VN nên đã lựa chọn là phải về phục vụ lại dân chúng VN. Người viết bài không quên được giây phút cảm động khi Y Sĩ Đại Tá Phó Giám Đốc trường tên Đại Tá Simmon, trong văn phòng riêng của ông, sau khi nghe tôi giải bày, đã từ từ đứng lên, nghiêm nghị tuyên bố: “Anh hiện nay tốt nghiệp mang cấp hiệu Trung Úy, tôi mang cấp bực Đại Tá nhưng tôi xin đứng lên cung kính chào lòng thương nước của các anh.”

Các anh em quân y sĩ hiện dịch lần lược trở về và đã được Y sĩ Thiếu tá Phạm Tấn Tước bổ nhiệm vào phục vụ ở Bệnh xá Bạch Đằng, Bệnh xá Hải Quân Công Xưởng, Căn cứ Cát Lái, Bệnh xá Trung tâm Huấn luyện Hải Quân Nha Trang. Riêng bác sĩ Nguyễn Phúc Quế được chỉ định làm Y Sĩ Trưởng Thủy Quân Lục Chiến và cùng với Đại úy Lê Nguyên Khang tiếp nhận căn cứ Cam Ranh. Bệnh xá đầu tiên của TQLC được BS Quế thành lập ở Bình Ba, Cam Ranh.

Theo thông lệ thời bấy giờ, sau khi tốt nghiệp ở ngoại quốc, sĩ quan được cho nghỉ phép một thời gian để sắp xếp việc sinh sống, nhưng hầu hết các quân y sĩ HQ khi về là đều đến trình diện Bộ Tư Lịnh HQ và đã được cấp ngay phương tiện nhà cửa để nhận công tác!

Các công tác đầu tiên thời bấy giờ là việc di tản Việt kiều từ Cam Bốt về VN và việc chuyển vận định cư đồng bào miền Trung vào Cam Ranh hoặc Phú Quốc theo các chương trình của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Trong các công tác chuyển vận này các anh em y sĩ đã rất nhiều lần đỡ đẻ cho nhiều thiếu phụ vì các gia đình được di chuyển toàn bộ theo từng làng hay xứ đạo, không có sự lựa chọn những trường hợp người đang có bịnh hay đang mang thai gần ngày sinh. Khi ra biển, sóng nổi lên là có trường hợp nôn mửa và chuyển bụng. Theo truyền thống Hải Quân, các hạm trưởng là sĩ quan hộ tịch và các bà thường đồng ý lấy tên chiến hạm để đặt tên con. Ở VN hiện tại chắc hẳn rất có nhiều người mang tên các quân vận hạm Hóa Giang, Hát Giang, Hàn Giang…

Vì quân y Hải Quân có những sắc thái riêng biệt cũng như quân y Không Quân v.v… nên về hoạt động vẫn theo những truyền thống riêng và không thể tránh khỏi những va chạm với Nha Quân Y (vào thời đó tổ chức Quân Y chỉ vào cấp Nha, chưa là Cục như về sau). Bệnh xá Bạch Đằng có xe cứu thương hiệu Peugeot sơn màu trắng như xe cứu thương Bệnh viện Grall. Chở bịnh đến Quân Y Viện Cộng Hòa trông rất le lói nhưng không giống ai! Khi xe hư thì Quân Cụ từ chối sửa chữa vì không phải loại quân xa thông thường, nhưng cũng may là có Hải Quân Công Xưởng sửa hộ. Y tá được huấn luyện riêng ở Nha Trang theo một chương trình của HQ Pháp. Nha Quân Y không chấp thuận và bắt phải theo học chương trình y tá quân đội CC1, CC2… Bịnh Xá Bạch Đằng có phòng mổ, phòng điện tuyến… nhưng xin bổ sung vật liệu thì không được chấp thuận vì chỉ là bịnh xá, cấp số không cho phép. Sau một lần kiểm kê của Nha, các dụng cụ phòng mổ và nhất là phòng khám mắt phải gởi về Nha vì quá sang trọng đối với một bịnh xá. Sự thiếu thông cảm vì không thấu đáo các truyền thống tổ chức quân chủng đã làm nản lòng một số y sĩ HQ. Vì lý do đó và vì không đồng ý với tánh cách gia đình trị của Tổng Thống Diệm, một y sĩ có vợ là người Pháp đã cùng vợ bỏ về Pháp nhân ngày Tết Nguyên Đán.

Theo truyền thống, các thủy thủ khi được bổ nhiệm lên các chiến hạm, đều được cho lương phụ trội (Prime de mer) vì phải xa gia đình và sóng gió thường làm suy giảm sức khỏe so với các đơn vị bờ, nhưng Tổng Thống Diệm đã nghe lời bàn của một sĩ quan lục quân và không cho trả phần lương phụ trội đó! Sau nhiều năm tranh đấu trình bày về các vần đề y tế, cuối cùng HQ được thuận cho cấp lại nhưng chỉ cho cho các ngày đi biển mà thôi, những ngày cập bến là những ngày cần bồi dưỡng thì bị cúp!

Riêng phần Quân Y cũng vậy. Các quân y sĩ hiện dịch không được hưởng phần chuyên môn, lúc đó vào khoảng 2,000 đồng. Cùng với sự thỏa thuận với các quân y sĩ hiện dịch Lục Quân và Không Quân, chúng tôi đã viết từng đơn riêng, tránh việc làm trái phép là viết đơn tập thể, để xin được hưởng phần chuyên môn đó. Kết quả là từng người đã phải trình diện Cục An Ninh của Đại Tá Đổ Mậu để được điều tra biết ai là chủ mưu!

Với đà lớn mạnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, quân số HQ đã gia tăng vào khoảng 30 ngàn, với tổ chức Hải Lực, Giang Lực, Duyên Lực. Thủy Quân Lục Chiến được tách rời thành một Quân chủng riêng. Vào lúc này Y Sĩ Thiếu tá Phạm Tấn Tước được giải ngũ, và các chức vụ điều khiển Quân Y HQ được giao cho các y sĩ hiện dịch tốt nghiệp Trường Quân Y HQ Bordeaux. Với chức vụ Y Sĩ trưởng HQ, người viết bài đã đảm nhận luôn chức vụ sĩ quan hộ tịch cho TQLC cho đến ngày xảy ra chiến cuộc Bình Giả. TQLC đã bị thiệt hại lớn trong chiến trận này. Các anh em thương binh đã khóc khi chúng tôi viếng thăm và cho biết các bộ đội cộng sản đã được Nga Sô yểm trợ AK 47 trong khi anh em vẫn còn phải xử dụng Garant M1 bắn từng phát một! Trại Cửu Long là nơi cư ngụ gia đình binh sỉ TQLC, sau một đêm, sáng dậy thấy toàn các thiếu phụ mang khăn sô trắng! Vì không còn kham nổi trách vụ nên người viết bài đã trình xin để TQLC lo hẳn phần vụ Hộ Tịch. Y Sĩ Thiếu tá Nguyễn Phúc Quế từ đó không còn trực thuộc Quân Y HQ và anh em y sĩ TQLC đã gầy dựng một ngành quân y riêng biệt với nhiều thành công rực rở.

Nhận định thấy Bệnh Xá Bạch Đằng có một vị trí làm trở ngại việc phòng thủ Trại Bạch Đằng, mặc dầu cửa vào bệnh viện lối Công Trường Mê Linh đã được khóa lại và bịnh nhân phải ra vào do cổng chánh của trại, sau nhiều lần trình bày, Bộ Tư Lịnh HQ đã chấp thuận cho hoán chuyển bệnh viện về Trung Tâm Hành Chánh HQ đường Cường Để, trước Hải Quân Công Xưởng. Đây là một cơ sở biệt lập, thích hợp với vị trí một cơ quan quân y và có khả năng phát triển. Quân đội Mỹ lúc này đã tham chiến vào chiến trường VN nên sau nhiều buổi thảo luận, HQ Mỹ ở VN đã chấp thuận giúp khuếch trương bệnh xá, lo việc xây cất phòng ốc và xây thêm một Nhà Bảo Sanh cho gia đình binh sĩ HQ.

Ngoài công tác yểm trợ quân y cho các chiến hạm, các giang đoàn,duyên đoàn, các y sĩ HQ thường tham gia các công tác dân sự vụ cho đồng bào các đảo và các miền duyên hải. Để có khả năng giúp đỡ hữu hiệu, Bộ Tư Lệnh HQ đã chấp thuận cho thành lập một tàu bệnh viện. Quân Y HQ đã phối hợp với HQ Công Xưởng để thiết lập sơ đồ biến cải quân vận hạm HQ 400 thành một bệnh viện lưu động với đầy đủ trang bị. Vào lúc này một bộ phận Quân y HQ Mỹ được biệt phái làm cố vấn cho ngành QYHQ. Y sĩ Thiếu tá Pye là viên cố vấn đầu tiên.

Khi nhận viện trợ các chiến hạm Mỹ, HQVN đã nhận điều kiện không được biến cải tánh cách các chiến hạm . Các chiến hạm được coi như cho HQVN mượn xử dụng trong thời chiến nên Thiếu tá Pye đã giúp ý kiến dùng các quân xa chở hàng cỡ lớn của quân đội Mỹ có tiện nghi máy lạnh để trang bị thành các phòng khám bịnh, phòng giải phẩu, phòng thí nghiệm, phòng quang tuyến… Các xe này được ràng buộc trong lòng tàu vì HQ 400 là loại tàu đổ bộ cỡ trung bình LSM (Landing Ship Medium) nên việc thực hiện rất dễ dàng và mau chóng. Nhân viên y tá VN đã được gởi tu nghiệp ở Mỹ. Hai y sĩ Mỹ về nội thương và giải phẫu cùng toán y tá thí nghiệm, phòng mổ cũng được biệt phái cho chiến hạm bên cạnh y sĩ và y tá VN.

Công tác dân sự vụ của HQ 400 đã đem đến cho dân chúng các đảo và các miền duyên hải một trợ giúp y tế hữu hiệu. Một tàu bệnh viện thứ hai HQ 401 đã được thành lập tiếp theo sau thành quả tốt đẹp của bệnh viện hạm HQ 400.

Khi HQVN nhận lãnh được Dương Vận Hạm HQ 500 là loại lớn LST (Landing Ship Tanks) để mở đầu chiến dịch “Sóng Tình Thương” đổ bộ vào Mũi Cà Mau, các y sĩ HQ đã rất nô nức vì loại LST có phòng y tế trang bị để giải phẫu, có cả bãi đáp trực thăng. Nay HQVN lại có cả hai Bệnh viện hạm,đó thật là một bước tiến dài của ngành Quân Y HQ.

Sự hiện diện của phái bộ cố vấn Quân Y Mỹ bên cạnh QYHQVN đã giúp rất nhiều về sinh hoạt và huấn luyện cho ngành. Sự thông hiểu sắc thái đặc thù của QYHQ đã được Cục QYVN thấu đáo chấp thuận. Việc di chuyển thương binh trên chiến hạm qua các cầu thang dựng đứng và chật hẹp hay từ chiến hạm này qua chiến hạm khác, không thể dùng các loại cáng thường mà phải cần buộc thương binh trong cáng thúng (basket litter); việc đào thoát và sống còn trên biển cả cần phải có những phương thức huấn luyện riêng; kho y dược HQ phải có kế hoạch yểm trợ đặc biệt cho các chiến hạm như các bệnh xá biệt lập, không thể chỉ có được cấp số như một đại đội Lục Quân… Đó là những sự việc mà anh em y sĩ trong ngành đã phải đương đầu trong lúc phôi thai, chuẩn bị cho sự gia nhập đông đảo về sau của các y sĩ tốt nghiệp ở VN.

Giờ đây chiến cuộc đã tàn phai. Nhiều anh em y sĩ Hải Quân đã trở về trong lòng đất lạnh. Hồi tưởng lại buổi thiếu thời, sau khi đã nếm mùi biển động của Đại Tây Dương vùng Brest hay biển êm ả Địa Trung Hải ở vịnh Toulon (Pháp), lần đầu tiên được trở về phục vụ Hải Quân Việt Nam, nhìn nước biển một màu xanh biếc ở Cầu Đá Nha Trang, tâm hồn người y sĩ trẻ đã cảm thấy một niềm phấn khởi và hãnh diện vô biên .

Quả thật: “Chốn quê hương đẹp hơn cả!”

Nguồn: https://www.svqy.org/qyhq.html

Chân Dung Cũa Người Lính Việt Nam Cộng Hoà – Nguyễn thị Thảo An

Nguyễn thị Thảo An

Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi. Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân.

Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương. Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam. Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ. Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương.

Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy. Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi. Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh.

Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả… cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương. Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ.

Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính. Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón taỵ Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình. Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa.

Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương. Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt.

Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương. Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước. Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô. Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phủ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.

Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân. Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh. Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.

Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm. Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính? Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da. Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long.

Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh. Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên. Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ? Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết.

Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái. Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô. Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay.

Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không? gày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù? Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính? Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu. Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.

Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng. Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam. Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương. Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt.

Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình. Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy. Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam. Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh. Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân.

Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm. Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian. Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng. Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian.

Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về: Ta về cúi mái đầu sương điểm Nghe nặng từ tâm lượng đất trời Cám ơn hoa đã vì ta nở Thế giới vui từ mỗi lẻ loi (Tô Thùy Yên) Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến? Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh? Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa. Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.

Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh. Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh. Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.

Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to. Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào. Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương.

Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh. Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề “xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản”. Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà. Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, thì dân tộc ta mới mong có được những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.

Nguyễn thị Thảo An

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1200904454&first=1620&last=1679

Tỏi đen ? – Trần Minh Quân

Trần Minh Quân

   Gần đây có nhiều bài báo trên các Tạp chí chuyên về ăn uống như Food and Wine, Bon Appetit , Saveur..và cả BBC Travel viết về một gia vị lạ , khen là món mới kỳ diệu có tên là Black Garlic..Quảng cáo của các Công ty “Thực phẩm chức năng” (người Việt gọi chung là thuốc) Nhật, Nam Hàn ca ngợi các đặc tính dược học giúp trị bệnh tốt  hơn Tỏi trắng ?. Trần Minh Quân xin gửi đến Quý vị vài điều tìm được..

  • Nam Hàn rất chuộng tỏi đen (heug-ma-neul), dùng như ‘thuốc’ (Công ty Umeken, Black Garlic Extract) và pha chế thêm vào các ‘thức uống tăng lực’ (energy drink). Nam Hàn cũng được xem là nơi ‘khai sinh’ ra Tỏi đen vào  thời điểm 1980
  • Nhật quảng cáo về Tỏi đen làm từ Tỏi Aomori (tên một Hạt của Nhật) là loại Tỏi thượng hạng nổi tiếng.
  • Thái Lan quảng cáo là tỏi đen tăng tuổi thọ ? cho rằng Tỏi đen chứa tinh túy Lão giáo (Taoist mythology), Đạo  của Tiên.. giúp trường sinh.
  • Việt Nam cũng ‘gia nhập’ thị trường : quảng cáo nhiều về “Tỏi đen Lý sơn”. Lý sơn, một hòn đảo ngoài khơi Quảng Ngãi, nổi tiếng về Tõi thượng hảo hạng trên toàn VN. Tỏi đen Lý sơn chia thành hai loại : Tỏi đen 1 tép hay Tỏi ‘cô đơn’ , tỏi ‘mồ côi’ (giá cao) và Tỏi đen nhiều tép. Cũng theo quảng cáo thì Tỏi ‘cô đơn’ chứa chất dinh dưỡng cao gấp 5-7 lần tỏi nhiều tép (?) (Thị trường Tỏi đen VN có nhiều loại tỏi tuy gốc Sơn La, Tàu .. nhưng gắn giả thương hiệu Lý Sơn  để bán giá cao?-VN. Express 13/10/2016).

                                     
                                    Tỏi đen 1 tép hay Tỏi ‘cô đơn’ , tỏi ‘mồ côi’ 
                                                      (Single Clove Black Garlic)

                                         
                                                        Tỏi đen nhiều tép

1- Tỏi đen là gì ?

  Theo Wikipedia : Tỏi đen là một loại (tỏi trắng) được ủ lâu, có mầu nâu-đen rất đậm. Định nghĩa mơ hồ này chỉ xác nhận một điều căn bản : tỏi đen là tỏi trắng ‘chế biến’

Trong thực vật học có  cây Allium nigra, thuộc họ thực vật Amaryllidaceae, có tên gọi Black garlic, Broad-leaved leek, Broadleaf garlic; trồng làm cây cảnh tại Mỹ, không liên hệ gì đến Tỏi đen trong bài này.

   Tỏi đen, trên thực tế, chỉ là tỏi bình thường, được chế biến bằng cách dùng nhiệt độ cao (60-90 độ C) trong một môi trường có độ ẩm được kiểm soát (80-90%) và ủ trong một thời gian cần thiết..

    Có một số tài liệu ghi phương pháp chế biến này là lên men (fermentation) nhưng tiến trình biến đổi này không dùng các vi-sinh vật, và các nhà nghiên cứu đã đề nghị dùng các từ  caramelisation hay carbonisation.

(Dave Arnold, cựu giám đốc French Culinary Institute : Black Garlic isn’t fermented. It’s a break down product)

(Tại Taiwan, các nhà vi sinh đã thử chế một loại tỏi đen bằng cách dùng men saccharomyces cerevisiae tác động vào tỏi trắng, trong 40 ngày, nhưng thành phẩm lại khác hẳn..) Xin đọc thêm về các chủng vi sinh vật trong tỏi trắng và tỏi đen trên “Microbiology Open” https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5822338/

2- Cách chế biến tỏi trắng thành tỏi đen

Wikipedia ghi tóm tắt

https://en.wikipedia.org/wiki/Black_garlic

Tỏi đen được chế tạo bằng đặt các củ tỏi trắng vào các điều kiện chuyên biệt về nhiệt và độ ẩm : Củ tỏi trắng được để trong một môi trường có ẩm độ kiểm soát (80 đến 90%, ở nhiệt độ 60-90 độ C (140-190 độ F) trong thời gian 15-90 ngày (thường là 85%; 70 độ và 40 ngày). Không thêm phụ gia, chất bảo quản .. bất kể loại nào.” Các enzyme trong tỏi trắng phân cắt.. giúp các phản ứng sinh hóa loại Maillard xảy ra..”    Các nghiên cứu khoa học ghi nhận thêm :

A- Ảnh hưởng của Nhiệt :

Nhiệt đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo tỏi đen.Nhiệt độ tương quan mật thiết với thời gian chế biến. Ở nhiệt độ 70 độ C, thời gian biến đổi tỏi sẽ tăng nhanh gấp hai lần khi dùng nhiệt độ 60 độ C. Theo đánh giá cảm nhận mùi vị thì phẩm chất của thành phẩm, kể cả màu sắc, Tỏi đen tốt nhất khi dùng nhiệt độ 70-80 độ; khi tăng nhiệt độ lên 90, thời gian sẽ được rút ngắn nhưng vị Tỏi trở thành chua và đắng hơn; trong khi đó dùng nhiệt độ 60 thì tỏi sẽ không đen hoàn toàn (Effect of temperature on the quality of Black Garlic- Journal of Science & Food and Agriculture No 96-2015)   Tuy nhiệt độ tối ưu được xác định (80-90 độ C) nhưng rất khó để giữ nguyên phẩm chất của Tỏi đen vì lúc này còn có những biến đổi khó kiểm soát của phenol và lượng đường nghịch chuyển..

B- Độ ẩm

  Khi độ ẩm trong Tỏi đạt đến 400-500g (nước) trong 1 kg : Tỏi đen có thể ăn được vì khá dẻo và mềm.

   Độ ẩm 350-400 g/kg : Tỏi đen kém dẻo,khô hơn   Khi độ ẩm dưới 350g/ kg : Tòi trở thành cứng, không ăn được.

C- Lượng đường trong tỏi

   Hàm lượng đường nghịch chuyển cũng là một yếu tố quan trọng trong tiến trình chế biến Tỏi đen : Một số loại đường nghịch chuyển tăng dần ở nhiệt độ 60-70, nghĩa là vận tốc ‘tạo’ đường nghịch chuyển nhanh hơn.. Nhiệt độ 80-90 làm tỏi mất vị thơm ngon vì đường nghịch chuyển được tiêu thụ nhiều hơn..

  Một trong những hợp chất trung gian quan trọng, được tạo ra trong chuỗi phản ứng Maillard là 5-hydroxymethylfurfural (5-HMF), chất này không thay đổi khi dùng các nhiệt độ từ 60 đến 90 , luôn gia tăng; nhưng với nhiệt dưới 60 sẽ chậm đi và giảm hạ..

  • Nồi tự động để làm Tỏi đen :

   Nhật và Nam Hàn đã chế tạo những nồi điện tự động (kiểu nồi cơm điện) để chế biến tỏi trắng thành tỏi đen “Black Garlic Fermenting Machine”  có thể tạo độ ẩm đến 95% ở nhiệt độ 180 độ F, chạy liên tục đến 200 giờ. Nồi có bán tại các Chợ bách hóa Nhật và Hàn tại Hoa Kỳ.

                                              Black Garlic Fermenter3- Các biến đổi về hoạt chất :

A-Tỏi tươi  (tóm lược vài điểm chính) chứa khoảng 63% nước ; 2.3% các hợp chất organosulfur; 2% protein (gồm cả alli-inase); 1.2 % (acid amin tự do); 1.5% chất xơ..

 Tỏi tươi nguyên vẹn chứa một lượng cao các hợp chất loại Gamma-glutamyl-cysteines.Các hợp chất này có thể bị thủy giải và oxi hóa thành allicin (alliin thường tập trung tự nhiên và được tồn trữ trong tỏi tươi khi giữ tỏi ở nhiệt độ lạnh. Các biến đổi vật lý như băm vụn, ép nát, nhai nhỏ..đều giúp cho alli-inase phân cắt các cystein-sulfoxide, tạo ra các alkyl alkane-hyposulfide, có mùi đặc biệt như allicin (chất chính tạo ra mùi và vị đặc trưng của tỏi. Allicin và các thiosulfinate chuyển đổi nhanh chóng thành các hợp chất khác như diallyl-sulfide, diallyl-disulfide. …-trisulfide; dithi-ins ; và ajoene…

B- Tỏi đen :Tỏi đen trong quá trình chịu tác động của nhiệt, có những biến đổi như một số hợp chất được chuyển thành các hợp chất loại Amadori/Heyns .

            Amadori compounds là những hợp chất thuộc nhóm đường amino-desoxy

            Heyns compounds là những chất đường kết nối với peptide = peptid bound sugar.

  Thành phần hoạt chất trong Tỏi đen tùy thuộc vào các điều kiện trong tiến trình chế biến bằng nhiệt. Có những nghiên cứu  ghi nhận “ nhiều hợp chất sinh học có dược tính trong tỏi đen gia tăng trong thời gian ủ tỏi, nhất là các poly-phenol, flavonoid và các chất chuyển hóa có tác dụng chống oxy-hóa tạo ra do phản ứng Maillard”.

Các chất đường tan trong nước, amino acids, polyphenol tổng cộng và flavonoids có thể tăng hoặc giảm trong tiến trình dùng nhiệt để tạo ra tỏi đen.

  • Hợp chất loại Amadori/Hayns có thể tăng từ 40-100 lần (so với tỏi tươi)
  • Polyphenol, Flavonoid tăng gấp 4 lần.
  • Fructans, Cysteine, Tyrosine giảm.

(“The comparison of the contents of sugar, Amadori/Heyns compounds in fresh and Black garlic- Journal of Food Science No 81-2016).

4- Trắng.. và Đen có gì khác nhau về dược lực và sinh khả dụng:    Dược tính của Tỏi tươi đã được nghiên cứu khá sâu rộng và ghi trên nhiều bài báo cáo trên các tạp chí Y-Dược (Xin đọc trên PubMed).

  • Bioactive components of garlic and their physiological role in health maintenance : A review (Food Bioscience 3 : 59-74) :

https://www.researchgate.net/publication/259172116

  • Bioactive Compounds and Biological Functions of Garlic (Allium sativum L.)

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6678835/

Xin tóm lược vài điểm chính :

  • Hoạt tính chống oxy-hóa của Tỏi đen thay đổi tùy phương pháp chế biến : Alli-in là một hợp chất không bền trong Tỏi tươi; khi chế biến sẽ chuyển thành SAC  (S-allyl-cysteine) bền hơn và hoạt tính oxy-hóa tăng nhiều hơn (Molecules No 19-2014).
  • Hoạt tính chống ung thư nhất là ung thư bao tử và ruột của Tỏi đen cao hơn tỏi tươi (Molecules-Medicine No 5-2012).
  • Tác động chống béo phì mạnh hơn (New England Journal of Medicine=NEJM  No 346-2002).
  • Hoạt tính bảo vệ Gan, làm giảm men ALT và AST tăng rõ hơn (Toxicology Research No 30-2014).
  • Hoạt tính Kích ứng hoạt động của Hệ Miễn nhiễm tăng  (Phytotherapy Research No 25-2011).

5- Lợi ích cho sức khỏe của Tỏi đenHealthline ghi (6 Impressive HealthBenefits of Black Garlic) ;

1- Chứa nhiều Chất Chống Oxy-hóa hơn (tỏi trắng).Qua quá trình chế biến,Tỏi đen chứa nhiều chất chống oxy-hóa hơn tỏi tươi. Các chất oxy hóa có những tác dụng bảo vệ cơ thể chống lại các tổn hại tế bào và kháng bệnh.

2- Có thể giúp điều hòa lượng đường trong máu.Nhiều nghiên cứu ghi nhận Tỏi đen giúp điều hòa đường trong máu. Giúp giảm nguy cơ tiểu đường khi có thai (gestational diabetes), và còn có thể giúp ngừa các biến chứng trong các trường hợp tiểu đường không thể kiểm soát (‘uncontrolled diabetes).

3- Có thể giúp giảm nguy cơ bệnh tim-mạch.Tỏi đen giúp giảm các biểu hiện (markers) của bệnh Tim-mạch như giúp giảm triglycerides, LDL(Cholesterol xấu), và tăng HDL (Cholesterol tốt) nơi một số người.

4- Hợp chất trong Tỏi đen có thể bảo vệ sức khỏe của Não bộ.Một số chất trong Tỏi đen có thể bảo vệ Não chống sự giảm và mất ký ức cùng các bệnh gây suy thoái thần kinh như Alzheimer’s..

5- Có thể có tác dụng chống và ngừa ung thư.Tỏi đen có tác động mạnh kích hoạt Hệ Miễn nhiễm, chống oxy-hóa và chống ung thư trong nhiều loại ung thư qua nhiều nghiên cứu và thử nghiệm.

6- Tỏi đen bảo vệ Gan :

Tỏi đen có thể có hoạt tính ngừa tổn hại cho gan, chống các tác động gây hại, gây tổn thương do rượu, do ảnh hưởng của các hóa chất độc hại trong sinh hoạt..

Xin đọc nguyên bản, liệt kê nhiều thử nghiệm tại

https://www.healthline.com/nutrition/black-garlic-benefits

6- Tỏi đen.. và Nhà bếp

Tỏi đen đã tạo sự chú ý cho.. Nhà bếp  thế giới qua các Chương trình thi ‘nấu bếp’ phát hình trên các Đài Truyền Hình Mỹ và Thế giới :

  • Food Network : giới thiệu Tỏi đen trong cuộc thi Redfish trong Iron Chef America (Episode 11-Season 7).
  • Bravo trong Chương trình Top Chef New York.
  • Truyền Hình BBC (Anh) : Chương trình “Something for the Weekend” (tháng 2-2009) giới thiệu các chế biến Tỏi đen của một Nông trại Anh theo phương pháp ‘bí truyền’ Nam Hàn..

    Trong Tỏi đen, vị của tỏi dịu bớt (ít hăng hơn), và gần như mất hẳn tùy thời gian chế biến. Ngoài ra, vị cũng tùy thuộc vào tỏi tươi được chọn để chế thành tỏi đen. Tỏi tươi, loại chứa nhiều đường sẽ chuyển vị thành nhẹ hơn, giống vị caramel, trong khi loại tỏi ít đường sẽ có vị chua hơn (more acidic), tượng tự vị ‘sốt cà chua’ (?) : Vị ‘cháy’ sẽ xuất hiện khi tỏi bị chuyển biến quá lâu hay khi dùng nhiệt độ cao : trong khi bị tác động của nhiệt, tỏi tươi đổi sang màu đen khá lâu trước khi vị ngọt thành hình..

   Tỏi tươi có thể ăn riêng rẽ, để trên bánh mì, hay dùng trong các món súp, sốt, đập nát trộn vào mayonnaise hay để nguyên dạng trộn trong các món salad. Có thể trộn dầu-giấm (vinaigrette), sherry-vinegar,, trộn cùng mù tạt (Dijon mustard).

Việc pha trộn còn có thể đi xa hơn như .. black garlic beer, black garlic vodka rồi cả vào kem lạnh (black garlic brownic ice-cream sundae..!

   Khác với tỏi tươi, vị của tỏi đen rất ‘tế nhị’ (subtle), thoáng qua và rất dễ bị mất khi pha trộn cùng  quá nhiều các vị khác. Do đó khi trộn vào các món ăn, lượng tỏi đen cần dùng sẽ phải nhiều hơn khi dùng tỏi trắng. Tỏi đen không thể thay thế tỏi trắng trong các món cần hương và vị tỏi..Vị của Tỏi đen được ‘tóm lược’ như sau :

.. taste.. to aged balsamic vinegar, figs, liquorice, or molasses, with an unctuous texture of sticky dates..”    Theo các đầu bếp ‘chuyên nghiệp’ thì: muốn  cho tỏi đen ‘tỏa’ hết hương vị thì bắt đầu bằng dùng hai ngón tay bóp nát tép tỏi , thật kỹ và bỏ vào một lượng nhỏ nước nóng..để tạo một dịch treo (suspension) màu nâu sẫm, giống màu cà phê có các mảnh tòi đen nhỏ.. dịch này chứa đủ hương, vị  chua nhẹ và cả đường của tỏi. Dùng dịch này trộn vào các thực phẩm..

   Tuy trong quá trình chế biến, Tỏi đen có những phản ứng sinh học Mallard, nhưng Tỏi đen lại hoàn toàn không có vị của thịt, Những người thích tỏi đen cho rằng : Vị tỏi đen (có thể) giống vĩ kẹo caramel, thoáng chua rất dịu như .. kẹo me..và có người lại thích vị đắng để so sánh vối .. cà phê tan liền (instant coffee) nhưng nhẹ hơn?

Bon Appetit khuyên : nghiền Tỏi đen trong dầu ăn rồi quết trên crostini, quết trên gà, cá trước khi nướng . Tán Thành bột. rắc trên thức ăn sẽ tăng thêm vị..’ Unami’ (vị của glutamate ?)..

    Menu của một số Nhà Hàng nổi tiếng ghi :

  • Spice Cauliflower with Avocado and Black Garlic (a. kitchen (Philadelphia).
  • Cream of Mushroom Soup with Black Garlic.. (Perennial Virant Chicago).
  • Skirt Steak Rubbed with Black Garlic (Upland, NYC).
  • Smoked Potatoes with Black Garlic Vinaigrette ( Bar Tartine, San Francisco).
  • Burnt Leeks with Black Garlic Vinegar (Sitka & Spruce, Seattle).

Image en ligne
                                    Cream of Mushroom Soup with Black Garlic.

                                            Skirt Steak Rubbed with Black Garlic.                                                     
                                    Grilled Potato Salad with Black Garlic Vinaigrette
  Tại Việt Nam : Tỏi đen được ăn trực tiếp, ngâm rượu, ngâm mật ong, ép lấy nước và nấu ăn trong nhiều món như mì, salad, xào nấm, om với đùi gà, hầm thịt bò..

Nam Hàn, nơi ‘phát sinh’ Tỏi đen, có rất nhiều món ăn dùng Tỏi đen trong thành phần như các món mì “Black Garlic Noodles, Black Garlic Soba noodles..cơm chiên tỏi đen cùng kim chi “Kimchi Fried Forbidden Rice with Black Garlic”, trộn trong các nước chấm Korean Black Garlic Seasoning (Tỏi đen trộn mè trắng và đen, thêm ớt Hàn), dùng trong món xào như xào với dứa, bắp non cùng nhiều gia vị..Image en ligneImage en ligne
       Black Garlic Noodles                 Black Garlic Soba noodles  

7- Những điều cần lưu ý khi dùng Tỏi đenTuy Tỏi đen (cũng như tỏi tươi) không gây những phản ứng phụ tổn hại nếu dùng như một gia vị, vừa đủ cho món ăn nhưng cũng nên thận trọng.

  • Dùng tỏi (dù trắng hay đen) quá nhiều có thể bị xuất huyết (bleeding), và những người đang uống thuốc chống đông máu cần theo dõi kỹ lưỡng việc ăn tỏi.

(có trường hợp nôn ra máu khi người uống warfarin dùng thêm Black Garlic ).

  • Một số trường hợp dị ứng với tỏi cũng cần lưu ý.
  • Nên bàn với BS Gia đình khi muốn dùng ‘thực phẩm hỗ trợ ’Tỏi đen’

                                                                Trần Minh Quân   10/2021

Ghi chú : Tại Châu Âu, còn có Cây Tỏi gấu (Ail des ours) tuy mọc hoang nhưng có hương vị thật đặc biệt.

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Tô Lâm và ‘Thánh Rắc Muối’: Báo Việt Nam im, báo phương Tây đưa tin rầm rộ

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tính đến tối 6 Tháng Mười Một, các báo ở Việt Nam vẫn giữ im lặng về video clip cho thấy ông Tô Lâm, bộ trưởng Bộ Công An CSVN, được “Thánh Rắc Muối” Nusret Gokce đút ăn thịt bò dát vàng.

Theo bản tin BBC News, sự việc xảy ra tại nhà hàng sang trọng Nusr-Et ở khu thượng lưu Knightsbridge, London, Anh, trong lúc ông Lâm cùng một số giới chức khác tháp tùng ông Phạm Minh Chính, thủ tướng, đi dự Hội Nghị COP26 ở Anh.

Bản tin trên truyền thông phương Tây về vụ ông Tô Lâm, bộ trưởng Bộ Công An CSVN. (Hình chụp qua màn hình)

Đoạn video thoạt đầu xuất hiện trên tài khoản TikTok của ông Gokce, nhưng được cho là đã bị xóa sau khi thu hút sự chú ý của giới truyền thông.

BBC cho biết thêm: “Giới chỉ trích [ông Tô Lâm] đã đặt câu hỏi về việc lựa chọn địa điểm nhà hàng, với món beefsteak có giá cao hơn hẳn lương tháng của vị bộ trưởng.

Cũng theo trang này, miếng beefsteak dát vàng có giá dao động từ $1,140 đến $2,015, chưa bao gồm đồ uống, đồ ăn kèm hoặc 15% phí phục vụ.

“Không rõ ai trả hóa đơn [cho ông Tô Lâm]. Mức lương hằng tháng của vị bộ trưởng là từ $600 đến $800 mỗi tháng, chưa kể các khoản phụ cấp,” theo BBC.

Ngoài BBC, các cơ quan truyền thông khác của Anh như Telegraph, The Sun, Daily Mail… cũng đưa tin về sự việc và nhấn mạnh “vị quan chức CSVN dường như đang hào hứng thưởng thức món beefsteak dát vàng đắt đỏ.”

Cùng thời điểm, kênh ABC News của Úc cũng đưa tin về sự việc và mô tả: “Bộ Trưởng Công An Tô Lâm – người đứng đầu cơ quan phụ trách việc theo dõi giới bất đồng chính kiến và giám sát các nhà hoạt động tại nhà nước độc tài – đã được nhìn thấy há miệng chờ đút thịt tại nhà hàng Nusr-Et Steakhouse ở khu thượng lưu Knightsbridge, phía Tây London…”

Trong khi đó tại nước lân cận Việt Nam, báo Bangkok Post của Thái Lan đăng lại bài của AFP viết: “Đoạn video clip quay cảnh một quan chức quyền lực của Việt Nam thưởng thức miếng beefsteak dát vàng tại một nhà hàng sang trọng ở London, khiến cộng đồng mạng phẫn nộ, nhất là tại một quốc gia Đông Nam Á mà người dân trung bình kiếm được vài đô la mỗi ngày.”

Bản tin của BBC News. (Hình chụp qua màn hình)

Bài báo dẫn bình luận của Facebooker Phạm Việt Đức: “Trong lúc người dân phải đối mặt với những khó khăn cùng cực do đại dịch, quan chức lại đang tận hưởng theo cách của những người nổi tiếng thế giới.”

Ông Tô Lâm, 64 tuổi, là đại tướng, ủy viên Bộ Chính Trị đảng CSVN, giữ chức bộ trưởng Bộ Công An (kế nhiệm ông Trần Đại Quang) kể từ Tháng Tư, 2016 đến nay. Ở Âu Châu, ông Tô Lâm được biết đến qua vụ bê bối đưa tình báo sang tận Đức bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh mang về Việt Nam hồi năm 2017.

(N.H.K) [qd]

November 6, 2021

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/viet-nam/to-lam-va-thanh-rac-muoi-bao-viet-nam-im-bao-phuong-tay-dua-tin-ram-ro/

Từ Bồng Sơn đến Eo Gió, Kon Tum – Trần Thức



Trần Thức

https://dongsongcu.files.wordpress.com/2019/02/huy-hieu-sd22bb.jpg
This image has an empty alt attribute; its file name is phu-hieu-trung-doan-40-sd22bb.jpg

Kính dâng hương hồn cố Đại Úy Bùi Dân Bá (Khóa 24 ĐL), Trung Úy Nguyễn Văn Giảng (Khóa 25 TĐ), cùng các chiến hữu thuộc Trung Đoàn 3/40 Sư Đoàn 22 Bộ Binh.

Trần Thức, TĐ3/40 SĐ 22 BB


Anh nằm xuống nơi núi đồi Eo Gió Vào sáng mùa Đông còn lắm sương mù.
Ở nơi đây Anh yên giấc ngàn thu. Không bia mộ, không người thân đưa tiễn.

Tôi mãn khoá 2/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức ngày 1/11/1968. Sau 10 ngày nghỉ phép, tôi cùng 11 bạn cùng khóa đến trình diện Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh, đồn trú tại cầu Bà Gi, cách thị xã Quy Nhơn 15km. Sau khi đến phòng Tổng Quản Trị (TQT), chúng tôi đến trình diện Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, tư lệnh sư đoàn. thiếu tướng tư lệnh đã bắt tay chúng tôi và ân cần dặn dò,

– Các anh sẽ được đưa đến các tiểu đoàn để thực hiện những điều đã được học ở quân trường. Khi thi hành nhiệm vụ, các anh phải luôn luôn nhớ đến khẩu hiệu “Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm”…

Ngay chiều hôm đó, tôi và 3 người bạn nhận sự vụ lệnh về Trung Đoàn 40 Bộ Binh, tại Bắc Bồng Sơn (căn cứ Đệ Đức). Miệt mài theo các cuộc hành quân qua nhiều năm, tôi đã được bổ sung về Tiểu Đoàn 4 và rồi Tiểu Đoàn 3 cùng Trung Đoàn 40 BB.

Tháng 3-1972, CSBV mở cùng lúc 3 mặt trận : Quảng Trị (Vùng I), Kontum và Bắc Bình Định (Vùng II), Bình Long thuộc An Lộc (Vùng III). Để yểm trợ cho chiến dịch của chúng, CSBV cũng mở các đợt tấn công lớn vào các đơn vị của ta đang đóng tại Kontum. Trung Đoàn 40 thuộc Sư Đoàn 22 BB cũng là một mục tiêu chính của địch. Sau hơn một tuần giao tranh ác liệt, ngày 16-4-72, trực thăng đã đến bốc toán cố vấn Mỹ của trung đoàn ra khỏi vị trí. Sau một đêm, Cộng quân đã tràn ngập căn cứ của trung đoàn, sau khi pháo kích nặng nề, trong khi quân ta hoàn toàn không được pháo binh và phi cơ võ trang yểm trợ. Trung Đoàn 40 được lệnh di tản chiến thuật sau đó. Trong trận này, tôi đã bị bắt làm tù binh và được trao trả vào tháng 3-73. Ở trại An Dưỡng hơn 3 tháng, tôi nhận sự vụ lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trả tôi về đơn vị cũ.


Vào tháng 8-72, tôi trình diện Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 3 tại Bắc Bồng Sơn, và được đưa xuống Tiểu Đoàn 3 của Trung Đoàn 40. Nửa tháng sau, tôi được đề cử làm đại đội trưởng Đại Đội 3. Sau khi bàn giao đại đội được khoảng 2 tuần, tôi được lệnh đưa đại đội đi tiếp viện để giải toả một đồn của Điạ Phương Quân vừa bị Việt Cộng chiếm đêm hôm trước. Sau 2 ngày, cùng với Đại Đội 22 Trinh Sát, Sư Đoàn 22 BB, từ 2 hướng Đông và Nam, Đại Đội 3/3 đã giải toả và tái chiếm đồn Cự Tài, khoảng 5 km phía Tây Bắc quận lỵ Tam Quan, dưới sự yểm trợ của pháo binh, A37 và 1 chi đội Thiết Giáp M113 thuộc Thiết Đoàn 14. Chúng tôi đã đẩy lui Cộng quân khỏi khu vực và bàn giao lại cho đơn vị Điạ Phương Quân bạn ở đây.

Ngày hôm sau, đơn vị chưa được nghỉ ngơi thì Tiểu Đoàn 3 được lệnh rời vị trí hành quân trở lại vị trí của trung đoàn để chuẩn bị lên đường đến Eo Gió, Kontum. Tại căn cứ trung đoàn, cách Bồng Sơn 3 km vế hướng Bắc, tiểu đoàn được lệnh cấm trại 100%. Các đơn vị trưởng được lệnh kiểm soát và trang bị lại đạn được, mìn bẫy, và M72 cho đơn vị. Vì thế, một số sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ có gia đình ở Bồng Sơn cũng không thể trở về nhà để từ giã vợ con, trong đó có tôi.

Bốn giờ chiều ngày 24-9-73, đoàn công voa hàng trăm chiếc, đang chờ sẵn, đã bắt đầu đưa chúng tôi từ miền duyên hải lên vùng rừng núi Kontum. Chi Đoàn 3/14 Thiết Vận Xa M113 được lệnh mở đường. Đoàn xe từ từ chạy qua thị trấn Bồng Sơn sầm uất. Các nữ sinh Trường Trung Học Tăng Bạt Hổ đã đứng 2 bên đường chào tạm biệt chúng tôi. Khi qua cầu Bồng Sơn, chiếc cầu dài thứ 2 của miền Trung, bắc qua sông Lại Giang thì trời bắt đầu sẫm tối. Đoàn công voa tiếp tục qua đèo Phú Cũ, đèo Nhông, quận lỵ Phù Mỹ, Phù Cát, rồi Đập Đá, Bình Định. Trời đã bắt đầu về đêm. Đoàn xe đã đang chạy qua những phố xá đang say ngủ, trong khi vài ba toán Nhân Dân Tự Vệ đang tuần tra trong thị trấn, hoặc vài trạm canh gác của Điạ Phương Quân đang chăm chỉ canh gác Việt Cộng, trong ánh đèn vàng vọt của những vọng gác tại các cây cầu nối liền đường giao thông trong tỉnh.

Từng con đường, từng thị trấn tôi đã đi qua, đã để lại trong lòng tôi những kỷ niệm nhung nhớ. Ký ức bỗng hiện về với những kỷ niệm của những ngày tan trường. Hình ảnh những nữ sinh với suối tóc thề chảy dài qua bờ vai trong màu áo học trò gợi lại cho tôi bao kỷ niệm.

Đến cầu Bà Gi, chiến xa M41, thay thế M113, đi đầu mở đường. Đoàn xe rẽ theo quốc lộ 19 nối liền miền duyên hải với cao nguyên. Mười giờ đêm, đoàn xe dừng ở Phú Phong (Quận Bình Khê) nơi vua Quang Trung dấy binh dẹp loạn năm xưa.

Các đơn vị được lệnh kiểm soát lại súng ống trong vòng 15 phút để chuẩn bị qua đèo Mang Giang (Quận An Túc). Nơi đây Việt Cộng thường phục kích các đoàn công voa di chuyển trên quốc lộ. Khi đoàn xe xuống tới chân đèo Măng Giang, thị trấn An Khê đã hiện ra trước mắt. Thấp thoáng là những đỉnh núi mờ mờ trong làn sưong trắng đục. Cuối cùng, đoàn công voa tiến vào thị xã Pleiku dưới ánh trăng hạ tuần mờ ảo, nhạt nhoà của một đêm chờ sáng, còn treo lơ lửng trên cao. Sương đêm lành lạnh thấm ướt áo trận của những người lính ngồi sau các chiếc GMG mui trần. Tôi chợt nhớ đến 2 câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm:

Chàng từng đi vào nơi gió cát.
Đêm trăng này nghỉ mát nơi nao ?

Gần suốt đêm không ngủ, tôi mệt mỏi lịm đi, và khi chợt tỉnh thì đoàn xe đã ra khỏi thị xã Pleiku. Ngọn núi Chu Pao, nơi xảy ra những trận đánh ác liệt vào mù Hè đỏ lửa 1972 giữa SĐ 23 BB với CSBV, đã hiện ra trước mắt. Theo Quốc Lộ 14 hướng về Kontum, tôi thấy những đơn vị Điạ Phương Quân, đa số là lính Thượng đang đi ngược chiều. Họ đang vác súng, mệt mỏi trở về đồn sau một đêm dài phục kích mà không được chợp mắt.

Gần 2 giờ chiều, đoàn quân qua cầu Đớp La trước khi vào thị xã Kontum. Những áng mây màu xám ngắt trôi chầm chậm trên nền trời Kontum như báo hiệu một cơn mưa chiều sắp đến. Gió hắt hiu mang theo hơi nước của núi rừng. Một cảm giác buồn chợt kéo đến tâm tư tôi lúc bấy giờ.

Khi vào tới thị xã, những người lính, ngồi băng sau xe GMG, vẫy tay reo hò như chào mừng sự tái ngộ của họ đối với thành phố Núi thân yêu, nhiều kỷ niệm này. Đoàn xe chầm chậm tiến qua các đường phố. Tôi thoáng thấy vài cô gái, da dẻ hồng hào với những gót chân đỏ như son, đang dắt tay nhau dáng điệu thướt tha, đi trên đườn gphố. Tôi chợt nhớ đến cây hát:

“May mà có em, đời còn dễ thương…
Em Pleiku má đỏ môi hồng… ”

Phải chăng tác giả đã ít nhiều thiên vị khi quên nhắc đến các cô gái Kontum ?

Đây là lần thứ tư, những người lính Sư Đoàn 22 Bộ Binh, mang trên vai phù hiệu “Hắc Tam Sơn, Bạch Nhị Hà”, trở lại vùng Cao Nguyên đất đỏ, mưa mùa này. Những lần hành quân trước, chúng tôi đi tăng viện cho các mặt trận ở Dakto, Tân Cảnh, Võ Định, Diên Bình. Lần này, chúng tôi được lệnh đi vào Eo Gió. Nơi đây cách thị xã Kontum 11 cây số.

Khi chiếc xe chở tôi đang chạy chầm chậm qua khỏi những khu phố cuối cùng, người tài xế liếc mắt sang tôi, khẽ hỏi:

– Kỳ này mình đi mấy tháng, trung úy ?

– Tùy theo tình hình.

– Mình lên thế cho Trung Đoàn 44 ?

– Dường như vậy.

Chỉ vài ba cậu đối thoại rồi thôi. Thị xã Kontum từ từ biến mất khỏi tầm nhìn. Hai bên đường, những dẫy đồi nối tiếp theo nhau lùi xa. Tôi nhìn đồng hồ. Mới 2 giờ chiều mà trời dường như sắp tối. Những đám mây vần vũ từ hướng Đông Bắc kéo đến bao trùm cả bầu trời Kontum, khiến những đỉnh núi cao đã bị sương mù che phủ dày đặc. Tôi miên man nghĩ về quân số cần bổ sung cho Trung Đội 1 của Thiếu Uý Thụ thì người mang máy truyền tin, ngồi phiá sau, truyền ống liên hợp PRC 25 cho tôi và nói,

– Mời Thiên Nga gặp Tuấn Mai (Thiên Nga là danh hiệu truyền tin của tôi, đại đội trưởng. Danh hiệu của tiểu đoàn trưởng là Tuấn Mai – Thiếu Tá Trần Nghĩa Châu, khoá 19 Đà Lạt.)

– Thiên Nga nghe Tuấn Mai.

– Khi đoàn xe dừng, anh cho “con cái” xuống xe nhanh, rồi di chuyển về hướng Tây để tránh pháo kích.

– Tôi nhận 5/5.

Khoảng 15 phút sau, đoàn xe dừng lại. Tôi điều động đại đội tràn qua những ngọn đồi về hướng Tây và cho chiếm lĩnh những ngọn đồi phiá trước, có ưu thế về chiến thuật.

4 giờ chiều, tôi ngồi nghiên cứ bản đồ. Những vòng cao độ chằng chịt sát vào nhau chứng tỏ độ dốc các ngọn đồi nơi đây khá dốc. Những đường thông thuỷ màu xanh đậm báo cho biết sẽ có rất nhiều cây cối và rất rậm rạp. Đây là những con suối mùa được kẻ thành những vạch xanh lơ trên bản đồ. Tôi cần biết vị trí những nơi này để tìm nguồi nước cho binh sĩ nấu ăn. Người truyền tin mang máy đến,

– Mời trung úy gặp thiếu tá.

Tôi cầm lấy ông liên hợp và lên tiếng,

– Thiên Nga nghe Tuấn Mai.

– 10 phút nữa, anh mang bản đồ đến tiểu đoàn họp.

– Tôi nhận rõ 5/5.



Đúng 4 giờ 30 chiều hôm đó, tôi đến tiểu đoàn họp cùng với vài binh sĩ theo bảo vệ. Tại đây, tôi cùng các đại đội trưởng khác nhận phóng đồ hành quân của Ban 3 trao. Tôi đã đính kèm phóng đồ này vào bản đồ thật cẩn thận. Ban 2 thuyết trình về tình hình địch và bạn trong vùng. Lực lượng địch cũng không được coi là nhẹ. Kế tiếp, tiểu đoàn trưởng phân nhiệm chiếm từng mục tiêu cho từng đại đội. Các đại đội trưởng trở về đơn vị chuẩn bị cho ngày N Giờ G để xuất phát (5 giờ sáng ngay hôm sau).

Ngày N:

Đại đội tôi được chỉ định làm nỗ lực chính chiếm mục tiêu trước 8 giờ sáng. Đó là ngọn đồi cây cối xum xuê có cao độ 632m. Các đại đội khác nhận lệnh lần lượt chiếm mục tiêu kế hai bên. Đại đội của tôi đã chiếm xong mục tiêu, rồi bung rộng ra hướng Bắc và Tây Bắc, như kế hoạch, mặc dù phải bứng một chốt báo động cấp tiểu đội của Việt Cộng trên hướng tiến quân. Cả tiểu đoàn đã hoàn toàn lục soát mục tiêu như kế hoạch dự trù. Sau hơn một tuần, Tiểu Đoàn 3/40 được lệnh “Zulu” (di chuyển) về nghỉ dưỡng quân ở Eo Gió. Bất ngờ, lệnh hành quân thay đổi, Trung Đoàn 40 được lệnh tiếp tục hành quân.

Thế là đại đội của tôi và Đại Đội 3 cùng tiến song song, cách nhau 500m, Chúng tôi phải vượt qua một con suối cạn, có chiều rộng khoảng 5m. Thiếu Uý Cang, trung đội trưởng Trung Độ 3, chiếm vị trí của con suối, làm đầu cầu cho đại đội và kế tiếp là Tiểu Đoàn 3 vượt qua, sau khi được pháo binh yểm trợ. Mục tiêu là ngọn đồi rậm rạp nằm cạnh một yên ngựa. Ở đây, VC dã dùng đại bác 75 ly trực xạ vào đồi phía Tây có đại đội của tôi trấn giữ. Trung đoàn đã điều động Đại Đội 2 của Trung Uý Giảng đánh vào vị trí này. Cuộc giao tranh kéo dài hơn 3 giờ. Địch bỏ chạy để lại khoảng 20 xác chết, và cây đại bác 75 ly…

Tôi vào chiếc Poncho đã được dựng sẵn sau khi cùng Trung Úy Bá, đại dội trưởng Đại Đội 1, đi một vòng quanh tuyến phòng thủ để kiểm soát các vọng gác. Tôi chợt ngửi thấy mùi ẩm của hơi nước bão hoà. Tiếng mưa rơi đồm độp, đều đặn và tiếng kêu vo ve của muỗi, xen kẽ cùng tiếng rè rè của máy PRC 25, đập liên tục vào tai tôi. Đây là phương tiện liên lạc duy nhất của đại đội với các toán “ăn sương” (đi kích đêm) bên ngoài tuyến phòng thủ. Bây giờ đã 1 giờ sáng, bốn bề lạnh ngắt, vẫn chỉ có tiếng mưa rơi làm nặng trĩu lòng.

Khoảng 3 giờ sáng, toán phụcc kích phiá Tây báo cáo,

– VC đang cưa cây và đào hầm hố cách tôi (toán tiền đồn) khoảng 50m.

Tôi liền báo cho tiểu đoàn và xin Pháo Binh yểm trợ. Qua máy truyền tin, tiểu đoàn trưởng đã nói với tôi (dùng bạch văn cho tiện theo dõi),

– Con cái các anh đã báo cáo sai để xin Pháo Binh yểm trợ cho ấm mà ngủ. Tôi không thể thỏa mãn yêu cầu của anh, vì lệnh trên chỉ cho bắn khi hữu sự (đụng trận).

Ngày N+1:

Đúng 5 giờ sáng, xuất phát từ các nơi này, VC đã pháo kích dữ dội vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn và vị trí đóng quân của các đại đội. Chúng tôi đã phải chiụ đựng suốt 2 tiếng đồng hồ đưới cơn mưa đạn của hàng trăm quả đạn pháo của VC, trong khi vẫn phải ghìm tay súng, căng mắt nhìn qua đêm, chờ đợi đợt tấn công bằng bộ binh của địch.

Quả thực, khoảng 8 giờ sáng, địch ồ ạt xung phong tấn công vào vị trí Bộ Chỉ Huy/ Tiểu Đoàn và đại đội chỉ huy đóng chung với Đại Đội 2. Qua PRC 25 mà tôi đang theo dõi, các đợt tấn công của chúng đã bị đẩy lui. 10 giờ sáng, địch rút lui sau khi bị thiệt hại nặng, tiểu đoàn đã được các phi tuần A37 và pháo binh yểm trợ.

Ngày N+3…:

VC tiếp tục tấn công và pháo kích vào vị trí của cả tiểu đoàn, nhưng chúng đã bị thiệt hại nặng và rút lui sau nhiều đợt tấn công.

Ngày N+16:

Chúng tôi được lệnh “Zu lu”. Tối hôm trước, Đại Đội 1 và 2, cùng BCH/TĐ đóng trên ngọn đồi cao 733m, trong khi Đại Đội 2 làm tiền đồn cho TĐ. VC vẫn bám sát các đơn vị của ta.

Đúng 6 giờ sáng, TĐT ra lệnh Tiểu Đoàn di chuyển về hướng Đông. Đ1 của Trung Úy Bá đi đầu, kế tiếp ĐĐ2 của Trung Úy Giảng. Đại Đội 3 của tôi đi đoạn hậu. Đi được 10 phút, Đại Đội 1 đụng chốt kiềng của VC, bố trí theo hình chữ Z khiến Trung Úy Bá bị tử trận. ĐĐ2 cũng bị đánh tương tự, nhưng nhờ ĐĐ3 tăng cường nhổ chốt. Thế là cuộc đụng độ ác liệt đã xảy ra, kéo dài gần 5 giờ, giữa TĐ 3/40 và gần 1 trung đoàn của VC. Cuối cùng, các đại đội đã đánh bật VC ra khỏi vị trí và rút về hướng Đông.

Ngày N+17:

Về đêm, Tiểu Đoàn 3 đã dừng quân trên một ngọn đồi, cách quốc lộ 14 khoảng 3 km theo đường chim bay. Trong đêm, VC đã tập trung lực lượng để trả đũa sự thiệt hại của chúng trong tuần trước. 6 giờ sáng, địch xử dụng chiến thuật thường dùng là “Tiền pháo, hậu xung”, tuy cũ nhưng hiệu nghiệm khi chúng muốn tràn ngập mục tiêu.

Tuy nhiên, ý định của chúng đã bị bẻ gãy. Đến 9 giờ sáng, VC đã phải rút lui, bỏ lại hàng trăm xác chết của đồng bọn. Một số lớn đã bị phi cơ và pháo binh tiêu diệt (Thiếu Tá Trần Nghĩa Châu, tiểu đội trưởng, lên trung tá năm 74 và tử thương tại Bình Khê, 18-3-75. Đại Úy Lê Phước Quận, TĐP, hiện đang sinh sống tại Wichita, Kansas.)

Đến 12 giờ trưa cùng ngày, chúng tôi tiếp tục di chuyển về hướng Đông. Đến 3 giờ chiều, ĐĐ1 đi đầu bị phục kích, nhưng đã bị đẩy lui khi cả đại đội tràn xuống, xung phong qua vị trí của VC. Trung Úy Nghĩa, ĐĐT Chỉ Huy, thay thế Trung Úy Giảng bị tử trận và tiếp tục cho Đại đội tiến về hướng Đông. Khi gần đến QL 14, ĐĐ3 ngồi chờ xe di chuyển về Kontum thì bị địch pháo kích. Một số binh sĩ và tôi bị thương trong lần này. Đại Úy Lê Phước Quận, tiểu đoàn phó, đã thay tôi điều động Đại Đội 3.

Khi mở mắt ra, tôi mới biết mình còn sống và đang nằm trong Bệnh Viện 2 Dã Chiến ở Kontum. Đại Tá Phan Đình Hoà và một số SQ Trung Đoàn đã đến uỷ lạo chúng tôi trong dịp này.

Sau 2 tháng điều trị, tôi được xuất viện và trở về đơn vị. Một tuần lễ sau, đơn vị của tôi được lệnh trở lại Căn Cứ Hàm Rồng (Pleiku) để dưỡng quân và bổ xung quân số. Sáu tuần lề sau, cả tiểu đoàn lại được lệnh lên đường hành quân ở Thanh An và Lệ Minh, Pleku cho đến đầu mùa mưa 1974.

St Louis, tháng 3-2015.
Trần Thức
TĐ3/40/22 BB.

Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/t%E1%BB%AB-b%E1%BB%93ng-s%C6%A1n-%C4%91%E1%BA%BFn-eo-gi%C3%B3-kontum.72886/

Bên Những Bờ Rừng – Phan Minh

Phan Minh

Bên Những Bờ Rừng - Phan Minh

Nhân vội vã bước lên tàu, bên cạnh những hành khách rời cao nguyên đất đỏ Pleiku, trên chuyến bay C 47 chiều cuối tuần, bên cạnh anh là một cô gái Huế, cô hay nhìn lên bộ áo bay đã ngả màu của anh. Trên hàng ghế dựa hai bên thân tàu, mọi người ai nấy đã vào ghế ngồi, và thắt giây an toàn, con tàu tiến dần ra phi đạo. 


Nhân nhìn đồng hồ, như một thói quen mỗi lần tàu cất cánh. Cô gái hỏi anh trong tiếng ồn của máy bay đang bắt đầu tăng tốc độ để cất cánh, chàng không nghe rõ câu hỏi, nhưng nhìn theo cử chỉ của cô gái, chàng trả lời: ” 3 giờ 02 phút thưa cô”. 

Con tàu cố gắng vươn lên để lấy cao độ, hành khách bị lôi theo độ dốc của con tàu, mái tóc thề của cô gái bị gió đưa về phiá sau, che một phần áo bay đã bạc màu của chàng, trông thật dễ thương. Chàng để yên và ngửi thấy mùi thật êm dịu của tóc nàng. Cô gái quay lại xin lỗi, với vẻ thẹn thùng. Nhân mở đầu câu chuyện trong tiếng ồn của máy bay đang rền ở bên ngoài. 

– Cô về đâu? … 

Cô gái đáp ngay như đã sẵn sàng từ lâu: 

– Dạ em về Huế, thế còn anh?… 

Tiếng cô gái thật tươi vui, Nhân nhìn kỹ hơn qua vai nàng, đôi mắt tròn với hàng lông mi đen dài, sóng mủi thon và đặc biệt làn môi như những quả đào đang mùa. 

Nhân trả lời: 

– Tôi cũng về Huế, nhưng chắc là không còn xe để ra Huế, khi tàu về đến Ðà Nẵng chiều nay. 
Nàng trả lời nho nhỏ: 

– Dạ … 

***
Nhân nhìn ra bên ngoài – nghĩ ngợi mông lung. Chàng nghĩ về những ngày ra Pleiku, nơi vùng đất đỏ, có đồi Cù-Hanh, có con phố nhỏ thật dịu hiền. Những chiều trong cơn lạnh của núi đồi cao nguyên, chúng bạn của Nhân thường hay ra phố, để tìm vui bên ly cà phê đen của quán “Dinh Ðiền”, hay đi bách bộ trên con đường dốc đỏ, nhìn theo bóng của các cô gái vùng Tây Nguyên đang tha thướt với những chiếc áo dài.

Nhân nghĩ về mấy tháng trước hồi còn ở Cần Thơ, phi trường Bình Thủy, nơi chàng đã sống bốn năm, bên dòng sông Hậu, với bao nhiêu vui buồn, với những chuyến bay đêm, những sớm mai bay dọc theo những hàng dừa xanh hai bên bờ kinh, băng qua những cánh đồng lúa. Nhân và các bạn của chàng thường cất cánh khi mọi người đang còn ngủ yên, để đến những điểm hẹn, trước lúc bình minh. Rồi những ngày ghé lại Tô Châu, Hà Tiên, bay dọc theo con kinh Vĩnh Tế. Có lúc ghé về Cà Mau, U-Minh nơi những đầm đầy những cây tràm, cây đước.

Có một lần chàng đã thả toán tại mủi Cà Mau; phần đất cuối cùng của dải đất hình chử “S”. Từ trên trời cao nhìn xuống một màu xanh tươi của vùng đồng bằng với những làn sương mai đang còn lảng vảng trên mặt đất. 

Trong khung cảnh thanh bình đó, cũng đang ẩn dấu những trận chiến khốc liệt, và bao người tranh nhau từng tất đất chiếm ngự. 

Chợt cô gái quay lại hỏi:

-Anh đang nghĩ gì mà có vẽ đăm chiêu như thế? 

Cô ta đang chăm chăm nhìn vào khuôn mặt thiếu vắng nụ cười của Nhân, chàng trả lời: 

-Tôi đang nghĩ về những ngày ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. 

Chàng và cô gái thật ngượng ngùng khi chưa biết được tên nhau, rồi chàng lên tiếng: 

-Tôi tên Nhân, thế còn tên cô? 

Cô gái có phần dạn dĩ hơn. 

-Dạ em tên Hoá…

Nàng nói tên mình một cách rất tự nhiên và đang theo dõi người đối diện. Có lúc nàng bắt gặp ánh mắt của Nhân nhìn nàng, Hoá tỏ vẻ thẹn thùng, rồi cả hai bắt đầu những mẩu chuyện về mình, Hoá hỏi: 

-Anh Nhân mới ra Pleiku? 

Chàng trả lời trong niềm luyến tiếc: 

-Vâng tôi ra Pleiku đã 3 tháng!… Thế còn Hoá? 

Hoá cho biết nàng có người anh là một sĩ quan ngành Quân Cảnh Tư Pháp (QCTP), đang đóng tại Pleiku, anh Trương Hữu Lạc trưởng phòng QCTP Pleiku, Hoá nói:

-Em ghé thăm anh chị của em, và ở chơi với họ hơn một tháng; sau khi tan trường ở Huế. 

Nhân cũng là học sinh của Huế, sau ngày Mậu Thân, chàng tình nguyện vào Quân chủng Không Quân để trở thành một Phi Công.Hoá đã bắt đầu dạn dĩ hơn, và câu chuyện mỗi lúc một vui hơn, rồi nàng quay qua hỏi Nhân: 

-Anh Nhân có thường về thăm Huế không? 

Nhân lắc đầu không nói, chàng nhớ ra mình đã ít về Huế, hầu như mỗi năm chỉ một lần. Chàng đã về Huế trước khi thuyên chuyễn lên Pleiku, lần này với lý do đặc biệt nên chàng lại được ghé thăm nhà 15 ngày trước khi trở lại đơn vị. 

***
Trong tiếng ồn của con tàu chiều nay, Nhân im lặng nghĩ về một chuyến bay hai tuần trước đây (vào trung tuần tháng 6 năm 1974). Ngày đó chàng và Phương, một hoa tiêu về nước sau chàng nhưng đã lên Pleiku sau ngày về nước, còn chàng thì về trình diện Vùng IV, phục vụ nơi vùng đồng bằng sông Cửu Long. Số giờ bay của chàng trội hơn Phương, nhưng vì mới ra vùng cao nguyên nên Nhân phải ngồi ghế hoa tiêu phụ. Khi bay, Phương ngồi ghế hoa tiêu chính. Phương đã dí dỏm nói với Nhân khi ngồi vào ghế lái:

-Anh hôm nay là IP (huấn luyện viên) của Phương đấy nhé. 

Nhân mỉm cười, vì ghế trái dành cho những IP (Instructor Pilot) của ngày nào tại các trường bay bên Mỹ; mà Phương và chàng đã trải qua trong thời gian huấn luyện hồi 69-70. Hôm ấy Phương và Nhân là phi hành đoàn thứ ba trong phi vụ thả toán. Trời vừa lờ mờ sáng cả đoàn trực thăng bay về đáp tại căn cứ thuộc lực lượng Lôi Hổ cạnh Biển Hồ trên đường đi Chu Pao. Trông nét mặt mọi người, ai nấy đều rất nghiêm trọng, vì tình hình hai toán Lôi Hổ vào lòng địch trước đây đã bị bắt, toán thứ ba vừa hoàn thành nhiệm vụ, thì bị phát giác, và đang trốn quanh căn cứ của Bộ Tư Lệnh tiền phương của địch; nằm sát biên giới Việt Lào. 

Phương và Nhân vào phòng hành quân để tham dự buổi thuyết trình của sĩ quan quân báo. Ai nấy đều im lặng, vì sứ mạng hôm nay là bằng mọi giá phải bốc cho được toán thám sát thứ ba này. Toán sáu người này, sáng nay đã liên lạc về cho biết là họ đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng suốt đêm qua đã phải ẩn náu quanh các trại của địch quân tiếp cận biên giới.

***
Những tháng cuối năm 1971, Nhân đã có dịp bay những phi vụ với các toán Lôi Hổ từ căn cứ B-15 tại Quãng Lợi. Họ được đưa lên phi trường Lộc Ninh, để thả xuống vùng tiếp cận biên giới Việt Miên. Ðây là lần đầu Út và Nhân tham dự vào việc thả toán. Út, một người đàn anh về phi đoàn trước chàng, trước đó Út và Nhân đã cùng bay với hợp đoàn của Mỹ, cho nên hai người không thấy có gì nghiêm trọng cả. Họ từng bay chung với một hoả lực hùng hậu, có hai chiếc Cobra, và hợp đoàn hai chiếc UH-1, với một OH-6 mà chàng thường gọi là máy bay hột vịt, đây là một loại máy bay rất hữu dụng trong môi trường, vừa có thể oanh kích và bắt sống.

Trên vòm trời lúc ấy, còn có một máy bay điều động C&C và một máy bay thám thính L-19 để đánh trái khói. Út và Nhân thường băng qua biên giới để vào vùng Chipu phiá Bắc của Lộc Ninh hơn 60 dặm. Nhân chẳøng thấy có một chút e ngại nào, có lẽ vì “điếc nên không sợ súng chăng” ?… Bây giờ Út đã ra đi, còn Nhân thuyên chuyển ra Pleiku. 

Tuần trước tại căn cứ Lực Lượng Ðặc Biệt này, Nhân đã được một anh em biệt kích cho chiếc áo tránh miểng lựu đạn, và chỉ cách lấy bột của lựu đạn cay, bỏ vào hộp đựng phim để phòng hờ cho việc mưu sinh. Hôm nay trở lại người anh em trong toán trinh sát đó vẫn còn đây, và đang chờ đợi cho chuyến nhảy toán kế tiếp. Những người lính thám sát này rất trẻ và vào lứa tuổi của em trai chàng. Trong khi những bạn đồng trang lứa với họ, đang vui sống phè phởn trong các đô thị, còn họ thì lặn lội trong chốn rừng đầy hiểm nguy, và không có dịp để nghĩ về tương lai của chính mình. Họ là những người lính âm thầm hoạt động trong những rừng sâu núi thẳm. Sau vài chuyến nhảy toán, họ được về thành phố sống vội, rồi trở lại căn trại nhỏ hẹp này để chuẩn bị đi vào lòng đất địch. 

***


Hợp đoàn trực thăng cất cánh lên Kontum, chờ đợi phi vụ bay vào vùng biên giới. Ban truyền tin vẫn chưa nhậân được tín hiệu của toán sáu người đang len lỏi trong đám rừng già, nơi địch quân đang trú đóng. Mọi người được lệnh nghĩ để ăn trưa. Vị sĩ quan tiền sát cho biết: “Chắc đến 1 hay 2 giờ nửa mới có kế hoạch bốc, khi toán người này ra đến gần bãi đáp.” Cả đoàn rủ nhau ra phố để dùng cơm trưa, sau đó Phương rủ anh em vào một quán nước nghèo nàn bên góc phố, uống cà phê để được tỉnh táo.


Hôm ấy Phương tâm sự thật nhiều với Nhân, Phương đã tỏ bày những nỗi niềm của anh từ ngày anh xa vắng Sài Gòn, nơi người bạn gái anh hằng thư từ, và giao du trong những chuyến về phép. Phương nói về một mối tình của một cô nữ sinh, với anh.

Anh cùng cô bạn gái ấy, từng một thuở ở mái trường Ðại Học với nhiều lần hẹn hò. Giờ đây với nghiệp bay trên vai, anh hẹn với người bạn gái ngày anh thuyên chuyển về lại Thủ Ðô. Ngày ấy cũng là lúc em học xong Ðại Học Sư Phạm. Họ đã ước hẹn một tương lai thật đẹp với nhau. Lúc ấy, nàng đi dạy học và chàng quay về với nàng sau mỗi chuyến bay.

Họ sẽ sống với nhau đầm ấm bên các con của họ. Ðó cũng chính là những hình ảnh Phương và người bạn gái từng mong đợi. Họ sẽ thực hiện được ước mơ này, trong chuyến đổi về Sài Gòn vào dịp cuối năm này của Phương. Trong phi đoàn, Phương là người có một vóc dáng rất thư sinh, khuôn mặt với nước da trắng và nụ cười trên môi, anh được bạn bè quí mến, và tâm hồn luôn nghĩ về những niềm ước mơ của một nếp sống hạnh phúc thanh nhàn. 

Hôm nay Phương và Nhân nhận lãnh phi vụ bay vào lòng địch để bốc toán thám sát sáu người. Ðáng lý ra, người bay chiếc số hai của phi vụ này là Huyên, nhưng hồi 1 giờ trưa Huyên đã nhận lệnh cất cánh đi tiếp tế tại một tiền đồn gần biên giới phía Tây Bắc Kontum. Phương và Nhân cùng xem lại các dụng cụ phi hành đem theo: chiếc bản đồ có đánh dấu toạ độ, và chiếc radio cấp cứu.

Tuần trước Nhân tìm cách đổi chiếc radio của mình, vì chỉ chiếc radio cũ chỉ có phát, nhưng không nghe được tín hiệu. Phòng Tiếp Liệu Cấp Cứu Phi Hành không có radio khác để thay thế, nên anh đã tiếp tục đi bay với radio không nhận được tín hiệu Ðúng 3 giờ chiều, khi sĩ quan tiền sát báo cáo là, đã nhận được tin tức toán trinh sát đang trên đường tiến về phiá mục tiêu.

Nhân cất cánh rời phi trường Kontum. Trên vòm trời ngoài chiếc C&C của Ðại Úy Hoàng, còn có chiếc U-17 của sĩ quan tiền sát, hai chiếc GunShip, chiếc slick của Trung Úy Minh và Tuấn đi lead, chiếc của Phương và Nhân đi số hai. Nhân rời phi trường Kontum được 15 phút, bay về hướng biên giới Việt Lào, phiá Bắc của tiền đồn Charlie nơi Tr/tá Nguyễn Ðình Bảo đã ở lại vào mùa hè đỏ lửøa 1972.

Nhân tiến sâu vào những vùng núi cao của dãy Trường Sơn, bên dưới phi cơ là những khu rừng dày đặc. Lâu lâu chàng thoáng thấy vài cánh chim đang bay lượn trên vòm trời hoang vắng này. Nhân đang tiến dần đến tọa độ điểm hẹn, tiếng của Ðại Úy Hoàng gọi trong vô tuyến: 

-Số hai, vị trí bãi đáp bên phải của anh. 

Nhân trả lời: 

-Số hai, nghe năm. 

Phương bảo Nhân: “Tôi thấy dấu trái khói trên bãi đáp bên phải của tôi, bác để tôi đáp cho…”, Nhân trao cần lái cho Phương. 

Khi con tàu đang hạ dần cao độ, Nhân nghe tiếng đạn AK-47 từ phiá dưới đất bắn lên, Phương báo cáo: 

-Có ground fire!… 

Bên kia vô tuyến Ð/uý Hoàng đáp lại:

-Số hai, có sao không?… Vào đáp đi! 

Phương trả lời: 

-Số hai, không sao. … Nhận lệnh vào đáp. 

Tiếng đạn bắn lên đã ngưng, con tàu tiếp tục tiến về hướng trái khói, và giảm dần tốc độ. Bãi đáp là một mảnh đất trống nằm lọt trong những rừng cây trên triền núi cao. Nhân thấy thêm một trái khói nữa vừa tung ra trên bãi đáp, và lố nhố những người lính thám sát đang đứng cạnh một thân cây mục giữa Bãi đáp. Trong suốt đoạn đường vào bãi đáp thật yên tĩnh, một thứ yên tĩnh rất đáng lo , vì lực lượng địch quân đang trú đóng quanh đây, và nơi này cũng là nơi gần bộ chỉ huy của họ.

Con tàu chưa chạm đất hẳn, sáu người lính Lôi Hổ vội vàng nhảy lên. Phương đang giữ tàu ở vị thế Hovering, và tiếp tục cất cánh. Nhân quan sát các đồng hồ, xong nhìn lên những thân cây cao trước con tàu. Ðấy là những thân cây cao chừng 30 mét , con tàu cố gắng ngoi lên khỏi đọt cây trong tư thế nhấc thẳng vội vã, Nhân vừa thở xoà khi vừa ra được khỏi bãi đáp. 

Cùng lúc đó, có tiếng nổ chát chúa của đạn phòng không đang bắn trực xạ vào tàu, chàng nghe những tiếng bốp bốp bên phiá của Phương ngồi. Nhân thấy một lổ hổng thật lớn nơi cửa kính trước mặt của Phương, con tàu như khựng lại. 

Chàng nhìn thấy Phương đã buông cần lái và đầu cúi gục xuống. Nhân chụp vào cần lái như một phản ứng tự nhiên, chàng cố kéo cần lái để nâng mũi chiếc tàu lên. Con tàu không còn sức nâng, cần Collective và Cyclic cứng ngắc. Hệ thống Hydraulic chắc đã bị trúng đạn!… Con tàu tiếp tục lao xuống, Nhân cố kéo cần lái để bình phi. Hệ thống thủy điều đã bị phá vở nên cần lái trở nên nặng nề và rất khó điều khiển. Sau khi bình phi được rồi, con tàu lại đâm đầu xuống. 

Mọi người trên tàu nhốn nháo, ai nấy đều ở trong trạng thái kinh hoàng. 

Một thoáng suy nghĩ qua nhanh, Nhân cố gắng đưa con tàu áp vào núi, bề mặt vòng cánh quạt song song với độ dốc của núi. Con tàu cứ thế lao tới, và trước mặt là một thân cây to cao. 

Hai cánh quạt chính chặt vào cây, cánh quạt trước đã nổ tan tành, thân tàu đã xen vào thân cây. Càng đáp bên trái vừa chạm đất, thân tàu bên ghế phải của Phương gác tựa vào thân cây, đồng thời là tiếng hú của máy thật lớn!… 

Sáu anh Lôi Hổ vội vàng nhảy ra khỏi tàu, kéo cả Ðại (Cơ phi) và Tài (Xạ thủ) theo họ. Phương vẫn ngồi gục đầu trên ghế bay, Nhân tiếp tục lo tắt máy để hy vọng tắt đi tiếng ồn. 

Chàng tắt nút xăng và mọi nút khác bật vào vị trí OFF, nhưng tiếng máy vẫn hú vang cả một vùng rừng, nghe ghê rợn như một con thú bị cắt tiết. 

Nhân nhìn qua Phương một lần nữa, rồi chàng tháo nịt an toàn bước ra phiá sau, kéo theo cái túi bay. Từ phiá đằng sau ghế ngồi của Phương, chàng chồm lên phía trước Phương, cố gắng tháo dây nịt an toàn cho người bạn của mình. Nhân dùng hai tay xốc nách Phương và rán hết sức để kéo Phương ra, sau mấy lần cố gắng, nhưng không làm sao nhấc Phương ra khỏi chiếc ghế bay được.

Nhân nhìn quanh để tìm người giúp, nhưng chung quanh chỉ còn lại mỗi mình chàng. Hai người cơ phi và xạ thủ cũng đã vội vàng đi theo các anh Lôi Hổ. Nhân đành bó tay, và có ý nghĩ rằng chính Phương đã không muốn chàng liên lụy trong hoàn cảnh gian nguy này. 

Nhân nhìn lại Phương lần cuối, rồi quyết định lui bước ra phiá cửa sau để ra khỏi tàu!… 

Khi đã ra khỏi tàu, Nhân quan sát kỹ tình trạng của con tàu, chiếc cánh quạt đuôi vẫn còn đang quay tít. Một cành cây đã đập vào phần sau máy cạnh ống khói, có lẽ đó là lý do tại sao tàu không tắt máy được. Nhìn ra bờ rừng thì cây cối dày đặc, tầm nhìn không quá 10 mét. Nhân lần bước tiến lên tìm một lối đi, chợt chàng nhìn thấy một cây súng cá nhân AR-15 không có đạn. Ai đó đã bỏ lại trên lối đi, Nhân cũng không màng lượm lên. Ði được một khoảng thời gian, cái túi bay trên tay chàng trở nên nặng nề, vì trong túi bay Nhân đã để dây nịt, dao, cây súng cá nhân P-38, cùng nón bay.

Ðể khỏi vướng bận chàng chỉ lấy ra chiếc radio rồi dấu chiếc túi bên lối đi, như trút đi một gánh nặng. Nhân tiếp tục bước lên dốc núi, với đầu trần và chiếc áo bay Nomex hai mảnh trên người. Càng lúc chàng càng bước xa dần tiếng máy hú bên dưới triền dốc. Nhân cố chen qua đám rừng già, leo lên dốc được một khoảng khá xa. Tiếng hú vẫn còn ở bên dưới chân núi vọng lên.


Chàng len lỏi tiến bước, bỗng thấy trước mặt một khoảng trống thật rộng. Nhân nhận ra một thân cây mục ở giữa trảng, chàng nhớ lại đây chính là bãi đáp mà trước đó hơn 20 phút Nhân đã bốc toán Lôi Hổ. Nhận ra vị trí này, Nhân vội nép mình sau một bụi trúc tương đối rậm, và nhìn ra khoảng trống quan sát. Trên vòm trời có tiếng của chiếc U-17 đang bay trên một độ cao. Chàng chợt nhớ tới cái radio trong túi quần, Nhân lôi nó ra và mở máy liên lạc. 

-Mayday, Mayday, Mayday, Lạc-long 389 gọi Thiên-Sứ (danh hiệu của chiếc U-17 trên vòm trời) – Nếu bạn nghe được tiếng của tôi, xin lắc cánh. … 

Nhân lập lại một lần nữa, thì thấy chiếc U-17 lắc cánh. Chàng cởi chiếc áo bay, để cởi chiếc áo lót màu trắng có loang vết máu của Phương văng vào người chàng, lúc Phương bị trúng đạn. Nhân vội mặc lại áo bay, vừa kéo chiếc áo lót trải trên một khoảng trống để cho chiếc U-17 định ra vị trí của chàng trên bãi vừa đáp. 

Chiếc U-17 xuống thấp và nhận ra vị trí của chàng. Nhân bắt đầu báo cáo tình trạng của chàng dưới đất: 

-Phương đã chết trên ghế lái, và xác còn ở lại trên tàu – Sáu anh Lôi Hổ đã dẫn theo Ðại và Tài, còn chỉ một mình tôi đang nằm cạnh bãi đáp. Khi chàng vừa nói tới đây thì thấy bên kia bờ rừng có bóng bốn người bước ra, Nhân vội thâu lại chiếc áo lót vào ngực, vặn nhỏ máy vô tuyến và gọi chiếc U-17:

-Thiên Sứ, yêu cầu bạn rời khỏi vùng để giữ an ninh cho tôi và các người bên dưới. 

Gọi xong Nhân tắt máy, chiếc U-17 nghe điều này, vội vã rời khỏi vùng. Bốn người lạ từ bên kia bờ rừng đang tiến dần ra giữa trảng. Họ chia nhau ngồi trên khúc cây khô, rồi bắt đầu trò chuyện và chờ đợi. Nhân quan sát từng người trong bọn họ, chàng thấy người nào đầu tóc cũng được húi cao như mái tóc của lính tại Bộ Tư Lệnh, cùng với áo vàng quần xanh vải kaki Nam Ðịnh. Trên tay họ đang cầm súng cá nhân AR-15 loại ngắn nòng, dành cho những người lính Lôi Hổ. Nhân tự nhủ: 

” Ðám này chính là những người lính Bắc Việt!… ” Chàng vội nằm sát xuống đất không động đậy, mắt vẫn theo dõi những bóng người giữa bãi đáp. Không còn nghe tiếng máy bay ở trên trời nữa, bốn người lạ này vẫn ngồi chờ một hồi lâu. Bỗng dưng hai người trong bọn họ đứng dậy, và đi ngược dốc tiến về bờ cây để lùng tìm. Hai người này vừa đi vừa chĩa mũi súng vào các bụi cây, họ đi cặp theo bià của trảng, và dần đi về hướng bụi trúc nơi Nhân đang núp.

Tiếng hú của chiếc máy bay bên dưới đồi vẫn còn vọng lên, nghe thật ghê rợn. Hai người lạ này, càng lúc càng tiến tới gần nơi Nhân ẩn núp. Trong tay của Nhân chỉ có chiếc radio cấp cứu!… Chàng không có vũ khí để tự vệ, thì làm sao để đối phó đây? … Những ý tưởng vút nhanh trong đầu Nhân: 

” Chắc là không còn hy vọng gặp lại gia đình nữa rồi!… Hoặc là bị bắn hay bị bắt như số phận của hai toán lính Lôi Hổ kia!… Có ai ngờ rằng chàng nằm lại nơi bìa rừng này!… Chắc là Mẹ chàng sẽ không còn nước mắt khi nghe hung tin này, …” Nhân vẫn không quên mỗi lần về phép, Mẹ chàng thường ngồi tựa cửa sổ nhìn ra sân, như chờ đợi bóng dáng đứa con đầu lòng của Mẹ. Ðôi mắt mẹ chàng nhạt nhoà lệ, đã khóc oà lên khi nhìn thấy chàng từ đầu ngõ.

Hai người lính Bắc Việt càng lúc càng tiến gần đến chỗ chàng nằm. Phiá bên kia bụi trúc có tiếng bước chân sột soạt, mỗi lúc một gần. Nhân như điếng cả người, thân thể chàng như dí xuống sát mặt đất, mắt vẫn không rời hai bóng người đang tiến lại gần. Chàng cúi sát mặt xuống nghe ngóng và chờ đợi, bỗng có tiếng từ giữa trảng vọng lên: 

-Các đồng chí chờ chúng tôi. 

Hai tên lính Bắc Việt quay trở lại trảng phía dưới đồi, để nhập cùng với đồng bọn. Nhân từ từ thở nhẹ, mắt vẫn không rời bốn bóng người đang vội vã hướng về con dốc phía dưới, nơi chiếc UH-1 đang hú lên vì mất đi đôi cánh. Bọn họ không ngờ rằng, vẫn còn có một người đang quan sát họ từng giây, từng phút. 

***


Chờ cho bốn người kia đi đã khá xa, chàng đứng dậy và đi ngược lên về phía bên kia đồi. Chàng cảm thấy khát nước, nên với tay kéo các đọt trúc, cắn vào phần non, trắng, của lá tre, nhắp từng giọt nước hiếm hoi trong các đọt tre non này. Một lúc sau, chàng nhắm hướng Ðông-Nam (hướng Kontum) tiếp tục đi. Thuở nhỏ Nhân đã học được từ kinh nghiệm Hướng Ðạo, “dùng vết rêu trên thân cây để định hướng” bây giờ là lúc chàng áp dụng bài học mưu sinh thoát hiểm đường rừng.

Nhân nhớ lại ngày nào tại vùng rừng Savannah bên Mỹ, chàng đã cùng đám bạn học khoá mưu sinh thoát hiểm đường rừng. Kết thúc cuộc thực tập mưu sinh thoát hiểm, mọi người cùng được ăn món cháo rắn do mấy anh Cán bộ đãi, sau một ngày tập dợt mệt nhọc. Rừng ngày đó thưa thớt, tầm mắt có thể thấy xa 50 mét, còn rừng Trường-Sơn thì dày đặc, 10 mét đã không còn thấy lối đi!… 

Nhân mò mẫm qua đến được ngọn đồi thứ hai, bỗng chàng nghe nhiều tiếng lựu đạn nổ về phía con tàu. Chàng chẳng biết chuyện gì đang xảy ra cho số phận của Phương?… Nhân lại tiếp tục lội trong đám rừng già. Có những khoảng rừng mây gai góc, Nhân phải tiến bước bằng cách đưa lưng ra phiá trước chịu đựng, để xông qua đám rừng mây phủ khắp lối đi này. Những cây gai hồng trong rừng móc vào mảnh vải Nomex chàng mặc trên người, nhưng chiếc áo bay vẫn dai dẳng chịu đựng như ý chí kiên trì của chàng. 

Nhân vừa vượt qua khỏi khu rừng mây, thì thấy ngay trước mặt một bờ rừng thật trống toàn những thân tre. Chàng thấy quá trống trải nếu phải băng qua khu rừng tre này. Nghĩ vậy, Nhân tiếp tục bước cặp theo bờ rừng viền bên ngoài. Bên dưới những gốc tre, không một loại cây con nào có thể mọc, lá tre rụng trắng cả một bìa rừng. trong lúc đang tiến bước Nhân chợt nhận ra một cửa hầm cũ; phủ cây lá um tùm, chàng rụt rè bước qua cửa hầm. 

***


Nhân chợt nghe đâu đó có tiếng suối nước chảy. Càng tiến lại gần, chàng nhận thấy những dấu đất đen, dấu vết của một sinh vật nào đó đã chuồi trên các lá tre khô trắng, để lộ ra các lớp đất đen bên dưới. Nhân tiến lên thận trọng hơn, mon men theo những dấu vết này, chàng còn nhận ra có một dấu vết, dường như ai vừa chôn một cái gì đó cạnh bên lối đi, không được khoả lấp kỹ lưỡng. Càng tiến bước, chàng càng nhận ra có nhiều dấu chân ngay hướng trước mặt mình. Bất chợt, chàng nghe có tiếng sạt sạt phía trước, Nhân vội cúi thấp người xuống vừa ẩn núp vừa quan sát. Chàng nhận thấy có nhiều bóng người thấp thoáng phiá trước. 

Chàng đếm được tất cả là 7 người, và quan sát những người này từ đầu đến chân. Tất cả bọn họ đầu để tóc dài, và thắt một miếng vải xanh kaki, trên lưng có mang túi ba-lô và nhiều bình biđông nước. Nhìn xuống đất, chàng nhận ra các dấu giày của lính Cộng Hoà, Nhân quyết định nằm rạp xuống, và gọi vọng lên phiá trước: 

-Các anh Lôi Hổ ơi, … Trung Úy Nhân đây, chờ tôi đi với…. 

Nhân nghe một loạt tiếng đạn lên nòng, những bóng người phía trước chàng đều ngồi xuống trong tư thế sẵn sàng tác xạ, mũi súng hướng về phiá chàng, quơ qua, quơ lại. Nếu họ thấy bất cứ một di động nào, là họ sẽ nổ súng ngay. Nhân nằm sát đất, không động đậy, chờ một giây lát, rồi chàng lại lên tiếng gọi một lần nữa: 

-Các anh Lôi Hổ. … Trung Úy Nhân đây, … chờ tôi đi với. 

Trong rừng tiếng bị dội cho nên họ không định hướng được nơi xuất phát của âm thanh. Hai người đi sau cùng của toán là Ðại và Tài nhận ra tiếng của Nhân, nên Ðại đã la lên:

-Trung Úy Nhân đây rồi, … Ðừng bắn, đừng bắn… 

Lúc ấy Ðại đứng hẳn dậy, trong khi các người khác vẫn ghìm súng hướng về phiá tiếng vọng với tư thế sẵn sàng bóp cò nếu có gì nguy hiểm. 

Nhân cất tiếng gọi lần thứ ba, rồi từ từ đứng lên. Ðại và Tài nhận ra Nhân, hai người ùa lại phía chàng và la lên: 

-Ðừng bắn, đừng bắn… 

Mọi người hú vía, vì trong rừng già, bất cứ một vật gì nghi ngờ lay động, vật này cũng có thể là mục tiêu để mọi người bóp cò. Ðại và Tài còn đeo cây Colt-45 của họ, còn Nhân thì đã để cây súng P-38 của mình trong tuí bay, cái tuí bay này đã nằm lại bên một bìa rừng!…. 

Trưởng toán Lôi Hổ là một Chuẩn Úy mới ra trường, anh Liêm xuất thân từ trường Sỹ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Gặp Nhân mọi người rất mừng, và tỏ bày ân hận là suýt nữa đã bóp cò. Người Chuẩn Úy trưởng toán còn cho biết đây là chuyến nhảy toán thứ ba của anh từ ngày ra đơn vị, anh lo lắng hỏi Nhân: 

-Liệu có ai đến bốc mình không Trung Úy? 

Nhân nhìn đồng hồ, đã 5:30 giờ chiều rồi, chàng nói: 

-Các anh yên tâm. Ở nhà sẽ tìm cách bốc chúng ta ngay chiều nay. 

Nhân nói như một phản ứng tự nhiên, và chàng chẳng biết sự thực sẽ được như vậy hay không? 

Người trưởng toán thám sát đưa cho chàng bình bi-đông nước và dặn dò: 

-Trung Úy uống từng ngụm nhỏ, và từ từ thôi, nếu không ông sẽ bị ngất xỉu đó. Chàng nhận bình bi-đông nước và làm theo lời của người trưởng toán, chợt Nhân nhớ ra các tiếng nổ lựu đạn, lúc nãy chàng nghe khi còn ở trong rừng, chàng hỏi: 

-Sau lúc tàu rớt khoảng 1 tiếng, tôi nghe nhiều tiếng lựu đạn nổ về phía con tàu đang hú. Các anh có nghe thấy các tiếng nổ này không? Người trưởng toán kể lại: 

-Ðó là tiếng lựu đạn do tụi em ném. Chúng em được lệnh phải trở lại tàu để tìm bốc Trung Úy, nhưng khi tiến gần tới con tàu, tụi em thấy có bóng bốn người đang đứng cạnh tàu, nên đã tung cả chục trái lựu đạn mini, bởi vậy Trung Úy mới bắt kịp tụi em, chứ không tụi em đã rút ra xa rồi. Nhân buột miệng: 

-Thì ra là thế!… 

Mọi người tiếp tục di chuyển băng qua một ngọn đồi đầy những giây leo chằng chịt. Cả bọn cũng khá vất vả, và đang dần đi xuống dốc để đi qua một ngọn đồi khác. Chợt mọi người thấy có một con đường mòn trước mặt. Tất cả tìm cách băng qua con đường mòn này, các anh trong toán thám sát chuẩn bị theo lệnh của người trưởng toán, Nhân, Tài và Ðại cùng bám sát theo người Chuẩn Úy trẻ tuổi này. Anh Trung Sĩ nằm núp gần con lộ nhất, từ chỗ núp anh chọi một hòn đá ra giữa đường và chờ đợi.

Mọi người đều im thin thít. Nhân quan sát con lộ, đây là một con đường đất đỏ, do xe Công Binh đã xén núi mở đường, bề ngang con lộ đủ để hai chiếc xe cam-nhông có thể chạy ngược chiều nhau. Một bên bờ vách đất đỏ cao nghệu, còn bên kia là vực núi. Sau vài lần chọi đá dò dẩm mà không thấy một động tĩnh, cả toán bắt đầu rời chỗ núp, cùng leo lên con đường đất đỏ.

Tài và Ðại đi theo người thứ ba và thứ tư leo lên đường, Nhân đi theo người trưởng toán cùng người cận vệ. Anh trưởng toán cùng với Nhân leo lên bờ tường đất trước mặt, hai ngón tay Nhân còn đeo lủng lẳng cái bình bi-đông nước, chàng cố gắng bám vào các rễ cây để leo lên. Leo được 2/3 bức tường đất, Nhân làm tuột mất bình bi-đông nước;!… Chiếc bi đông lăn ra ở giữa lộ, phía sau lưng chàng không còn ai bên dưới cả. Nhân nhìn qua anh trưởng toán, anh ra dấu, đừng bận tâm nữa, Nhân gật đầu hiểu ý và tiếp tục leo lên theo người trưởng toán và anh cận vệ của anh. 

Vượt khỏi bờ tường đất xong cả đoàn lại nhắm hướng Ðông-Nam tiến bước. Chưa đầy 10 phút sau cả bọn phải dừng lại vì cơn mưa lớn đang kéo tới. Mọi người chia nhau ngồi dưới các gốc cây để trú mưa, anh trưởng toán cùng ngồi chung với Nhân dưới một gốc cây to. Cơn mưa trút nước xối xả, cả bọn ngồi co quắp lại cho đỡ ướt và đỡ lạnh. Nhân nhìn những giọt nước mưa chảy dài trên các lá cây trước mặt, chàng nghĩ bâng quơ về các chuyện vừa xảy ra trước đó.

Người Chuẩn Úy trưởng toán ngắt điếu thuốc Captain làm hai, trao cho Nhân một nửa và cùng châm lửa hút. Chàng rít một hơi thật dài, như thêm hơi ấm, để chống lại cái rét mướt của núi rừng. Tinh thần chàng cảm thấy sảng khoái, một thứ thú vị mà chàng không thể nào quên. Cơn mưa vẫn dai dẳng trút nước, Nhân co ro tìm hơi ấm qua nửa điếu thuốc được chia sẻ của người bạn đồng hành.

Bỗng dưng có tiếng xe đang chạy bên dưới, người trưởng toán ra dấu hiệu cho cả bọn ngồi im, và cố nép sát vào gốc cây để tìm sự che chắn. Bên dưới có một đoàn xe đang chạy, đoàn xe này bỗng dưng dừng lại. Nhân nghe có tiếng súng AK lên đạn, và tiếng người quát lên vọng về phía bức tường đất nơi còn để lại các vết giày và chiếc bi-đông lăn ra giữa lộ. Bọn chàng ngồi co rút bên các gốc cây và không rời chỗ núp. Có tiếng AK nổ lên hằng loạt trong cơn mưa vẫn nặng hạt. 

Ðiếu thuốc đã tàn từ lúc nào trên tay chàng, Nhân ngồi cạnh người trưởng toán, chàng tin tưởng về sự đối phó của toán người trẻ này. Nhân chỉ biết sơ qua trong thời gian thụ huấn quân sự ở trường, và chưa bao giờ đụng trận để có những kinh nghiệm như các bạn trẻ này.

Khi đi rừng họ rất giữ kỷ luật, và rất rành rẽ về bổn phận của mình. Tài và Ðại cũng bám sát theo các bạn đồng hành đầy kinh nghiệm này, trong tay thủ sẳn cây Colt-45 của mình. Mười phút sau có tiếng máy xe rú ga hằng loạt súng bắn lên. Rồi đoàn xe lại tiếp tục lăn bánh, may cho bọn Nhân là bọn chúng không leo lên, lần theo dấu vết để lục soát và truy lùng. Anh trưởng toán ra dấu cho cả bọn tiếp tục hành trình trong cơn mưa chiều, nhờ cơn mưa và rừng rậm nên sự di chuyển có phần an toàn hơn. Người trưởng toán đưa chiếc radio cấp cứu của anh cho Nhân và nhờ gọi máy bay, chàng vừa bật nút công tắc lên đã nghe tiếng: 

– …..Yêu cầu các bạn lên tiếng nếu không chúng tôi sẽ quay về. 

Nhân vội đáp lời: 

-Mayday, Mayday, Mayday, Lạc Long 389 nghe bạn rõ. 

Mọi người ai nấy mừng rỡ, anh Chuẩn Úy lo lắng hỏi Nhân: 

-Liệu họ có bốc mình ngay chiều nay không Trung Úy?… 

Chàng gật đầu đáp: 

-Hy vọng có chúng tôi ở đây, họ sẽ cố gắng bốc ngay chiều nay. 

Chiếc máy bay L-19 đã nghe được tín hiệu của chàng, nên hỏi tiếp: 

-Các bạn có thấy chiếc tàu bay nào trên không phận không? Nhân đáp lại: 

-Chúng tôi đang ở bên duới, phiá cánh bên phải của anh.Nhân kêu mọi người: 

-Mọi người trải các tấm panô vải màu cam lên trên các tàng cây để đánh dấu vị trí của mình. Xong Nhân gọi: 

-Bạn có thấy những tấm vải panô màu cam chúng tôi đánh dấu không? 

-OK… Chúng tôi đã nhận ra vị trí của bạn. 

Chiếc L-19 reo lên trong chiếc radio tìm cứu, Nhân nói tiếp : 

-Các bạn trên L-19 cho biết chỉ thị đi!… 

Nhìn con tàu như cánh chuồn chuồn trên vòm trời chiều ảm đạm dưới cơn mưa, Nhân xót xa thương cảm cho những người bạn đang xả thân đi vào vùng binh lửa, để cứu vớt bạn đồng đội mình. 

-Lạc Long, yêu cầu các bạn tiến về hướng Tây 50 mét, xong rẽ phải và chờ chỉ thị kế tiếp.Nhân thấy trời sắp tối rồi, nên vội đáp : 

-Lạc Long nghe năm. Nhưng tôi yêu cầu bạn bay thấp, và định hướng cho chúng tôi di chuyển thì nhanh hơn. Bạn nghe rõ trả lời?… Sau vài phút chờ đợi, chiếc L-19 bay thấp qua đầu Nhân để chỉ hướng ra bãi bốc. Mọi người cùng chạy vội theo hướng chỉ dẫn này. Bãi bốc là một vùng đất khá rộng, chung quanh còn thấy các hố bom. Nhân và mọi người lựa một chỗ khá trống trải để làm bãi đáp. 

-Lạc Long, bạn cho thả trái khói để trực thăng đến bốc các bạn 

-Lạc Long, nghe năm trên năm. 

Người trưởng toán Lôi hổ nghe theo liền tung ra trái khói đỏ, rồi một người nữa tung thêm một trái khói đỏ khi nghe tiếng trực thăng tiến lại gần. 

-L-19, chúng tôi đã đánh dấu khói đỏ tại bãi đáp. 

-Lạc Long, trực thăng đã thấy bãi đáp. Chúc các bạn An Lành trở về. 

-L-19, cám ơn sự giúp đỡ của bạn. 

Nhân quay lại nhìn những người đồng hành với mình, Ðại và Tài bám sát kế bên, trong khi đó toán Lôi Hổ canh gác bãi đáp. Nhân nhìn đồng hồ đã 7 giờ 50 tối, chỉ cần 10 phút nữa là trời sẽ tối hẳn, sẽ không còn sự an toàn để việc thực hiện việc tìm cứu như thế này. Nhân e ngại nhìn chiếc trực thăng đang tiến vào bãi đáp chật hẹp, bên dưới nhiều cây con lô nhô chĩa ngang chĩa dọc. Chiếc trực thăng tìm cứu từ từ hạ xuống, nhưng vẫn giữ ở vị thế hovering, để cả chín người cùng leo lên: Nhân, Tài, Ðại và sáu anh lính Lôi Hổ sau cùng đã lên tàu. Các anh em cơ-phi và xạ thủ trên tàu clear chung quanh để tàu cất cánh, và họ cũng không quên bắn hằng loạt đạn M60 vào bìa rừng, để uy hiếp.


Nhân nhìn qua ghế lái thấy Trung Úy Nguyễn Ðình Minh, trưởng phi cơ và Lâm Minh Tuấn hoa tiêu phó. Khi tàu lấy được cao độ an toàn, Minh báo cáo trên vô tuyến xong rồi trao cần lái cho Tuấn. Minh nhìn mọi người tươi nụ cười hiền hòa. Minh quay ra sau bắt tay Nhân và Chuẩn Úy Liêm trưởng toán Lôi Hổ đang đứng sau lưng ghế lái. Tàu đổi hướng đi thẳng về Pleiku thay vì về đáp tại Kontum.

***


Miêng mang trong những kỷ niệm, Nhân quên cả thực tại, thời gian và không gian, quên cả sự hiện hữu của các hành khách trên chuyến C47 chiều nay. Bên cạnh anh cô Hoá vẫn thăm dò những cử chỉ và chờ đợi, rồi nàng cất tiếng: 

– Anh đang miêng mang chuyện gì mà nét mặêt buồn vậy?…Nhân như được đánh thức trở lại với thực tại, và đáp lời cô gái: 

– Tôi đã nghĩ về sự mất mát trong chiến tranh, và những chia cách của những người tình của “Lính”, và gia-đình của họ qua một phi vụ hai tuần trước đây. 

– Anh kể lại cho Hoá nghe với. 

Chàng gật đầu như thoả thuận. Chàng hứa hẹn với Hoá là sẽ kể trong những ngày ghé Huế, về những kỷ niệm trong phi vụ ấy, một chuyến bay với bao hiểm nguy, đã mất đi một người bạn – một chiến hữu và một con tàu. Chiếc C47 bắt đầu giảm tốc độ và chuẩn bị để đáp, con tàu sau khi lượn một vòng qua thành phố đã hạ cánh đáp nhẹ nhàng trên phi đạo, và đang tiến qua taxiway để vào đậu cạnh khu hàng hoá của trạm Hàng Không Quân Sự Ðà Nẵng. Hành khách theo nhau xuống tàu, Nhân chợt thấy một chiếc xe pickup màu xanh Không Quân chạy ra, chàng nhận ra Trung Úy Kim, một người bạn cùng khoá 7/68 Không Quân, anh cho xe chạy gần lại. Nhân nói nhỏ với Hoá: 

– Hoá chờ một chút, để tôi nhờ anh Kim đưa chúng mình ra phố. Nàng gật đầu, và cố nán lại gần bên chàng thay vì đi theo những hành khách để đi vào trong. 

Kim thấy Nhân cùng cô gái nên reo lên chào hỏi: 

– Anh Nhân khoá 7/68 KQ đó phải không? Nhân trả lời: 

– Nhân đây, Anh khoẻ không? 

Kim gật đầu và nói: 

– Anh chị đứng đây chờ tôi một chút nghe, để tôi ghé qua nói với phi hành đoàn, đểø cho hành khách lên, và họ sẻ bay trở về lại Sài Gòn ngay. 

Nhân ghé qua Hoá nói: 

– Anh Kim là bạn cùng nhập ngũ vào Không Quân, và hiện là trưởng trạm Hàng Không Quân Sự của phi trường Ðà Nẵng. 

Nàng cúi đầu chào: 

– Hoá chào anh Kim. 

Kim chào và tiến về phiá phi hành đoàn vừa xuống tàu. Nhân hỏi thăm nàng: 

– Chiều nay em về đâu? 

Hoá trả lời: 

– Em định ghé lại nhà người bà con ở đường Phan Thanh Giản, và sáng mai em đón xe ra Huế, còn anh?… Chàng trả lời: 

– Tôi đi thăm mấy người bạn, và hẹn gặp lại Hoá tại Huế.Hoá viết điạ chỉ của gia-đình ở Huế trên tấm giấy nhỏ và đưa cho chàng: 

– Ðây là điạ chỉ của em ở Huế, khi anh ra Huế mời anh ghé thăm.Chàng nhận mảnh giấy nhét vào túi áo bay và nói:

– Ngày mốt anh (bổng dưng chàng đổi cách xưng hô) ghé lại được không? 

Nàng trả lời: 

– Dạ được, em sẽ chờ anh…Chàng hứa hẹn: 

– Anh sẽ đưa em đi thăm vùng Kim-Long, Thiên-Mụ và ghé quán bánh bèo bên dưới chân đồi Thiên-Mụ.Nàng cũng không quên nhắc chàng: 

– Và nhớ kể lại chuyến phi vụ làm anh buồn nữa nghe, em chờ anh đó.Nhân gật đầu và đưa tay ra – như lối bắt tay của lính – Hoá cũng đưa tay ra bắt và họ ngầm như có một thoả ước. Nhân thấy xe của Kim tiến lại gần chào nói: 

– Nhân và chị lên xe, tôi đưa ra phố… 

Nhân và Hoá gật đầu cảm ơn, và ngồi vào băng ghế phía trước với Kim, xong chàng lên tiếng hỏi Kim: 

– Anh ở lại làm việc trể quá vậy! 

Kim đáp lại: 

– Anh chị biết không, giờ giấc của chúng tôi bất thường lắm, chúng tôi tùy thuộc vào phương tiện theo các chuyến bay ghé đáp và rời Ðà Nẵng, để xếp đặt di chuyễn hàng hóa, quân nhân và gia-đình.Kim nói tiếp: 

– Tôi đã liên lạc máy và cho hành khách ra tàu rồi. Nhân thấy một xe buýt chở hành khách tiến về chiếc C47. Kim nán chờ cho đến khi các hành khách lên tàu xong, chiếc C47 đóng cửa và mở máy cất cánh lúc ấy Kim mới cho xe chạy, chàng quay qua: 

– Xin lổi Nhân và chị nghe, tôi đã bắt hai người phải chờ, anh chàng cũng dí dỏm: 

– Lâu quá hôm nay mới được làm tài xế cho ông bạn phi-công và chị đây!…Nhân xoay qua: 

– Anh xong việc chưa? Nếu xong chúng ta ghé ra phố chơi được không anh Kim?…Kim trả lời: 

– Tôi sẽ đưa anh chị đi!… 

Hoá xen vào: 

– Xin anh cho Hoá xuống đường Phan Thanh Giản, để hai anh chuyện trò lâu ngày gặp lại!…Nhân cũng phụ hoạ vào: 

– Anh Kim, chắc Hoá cũng mệt với chuyến bay vưà rồi, anh chiều theo ý của cô, sau đó chúng ta đi phố. 

Kim Tiếp: 

– Tiếc quá, mấy khi gặp được Nhân và chị đây!… 

Nhân tiếp lời cho Hoá: 

– Không sao, còn nhiều dịp mà – phải không Hoá?…Kim cho xe rẽ qua đường Phan Thanh Giản, Hoá chỉ một căn phố gần ngã tư, Kim hiểu ý và tấp vào lề; dừng lại trước căn phố. Nàng cất tiếng: 

– Hoá chào tạm biệt; hai anh đi chơi vui nghe, Hoá chào anh Kim… 

Nhân vói tay qua mở cửa xe, Nàng và Nhân bước xuống. Nàng quay qua Nhân: 

– Ngày mốt em chờ anh tại nhà mẹ em ở Huế, anh nhớ nghe?… 

Nhân gật đầu, đưa tay ra bắt, cô nàng cũng đưa tay ra bắt và siết nhẹ với đôi mắt long lanh, và nụ cười hiền hoà. Chờ cho cô gái khuất vào trong nhà xong, Nhân lên xe, Kim cho xe chạy ra bến Bạch Ðằng và đậu bên một quán cặp bờ nước. Hôm ấy cả hai đã có dịp chuyện trò về những buồn vui của đời lính, về thân phận của mình trong từng vị trí hiện hữu, Kim cũng kể lại những cảm nghĩ vui buồn, và nhất là những mất mát mà anh đã chứng kiến trong những trận pháo kích vào phi trường vào đơn vị của anh. Hôm nay gặp lại bạn cũ họ đã vui tạm qua một chầu rượu, đễ rồi sau đó ai nấy trở lại với thực tại, với bổn phận và trách nhiệm của mình. 

***


Trong hơi men Nhân nhìn ra bờ nước nơi những ánh đèn chập chờn, chàng lại đắm vào những miêng mang của phi vụ hiểm nguy trước đây, nhìn qua bóng đêm nơi xa kia là dảy Trường Sơn, phiá xa xa thành phố nhà nhà đã lên đèn. Trên trời cao những vì sao đã lấp lánh, bên dưới là dãy Trường Sơn, với những bờ rừng âm u đang chìm khuất trong bóng đêm đen như mực.

Nhân vẫn không tưởng tượng được phi vụ hiểm nguy ấy là có thật. Trung Úy Phan Văn Phương đã vĩnh viễn nằm lại dưới cánh rừng âm u kia. Ở Sàigòn, vào lúc này, vẫn còn một cô giáo đang chờ đợi Phương trở về, với lời ước hẹn sẽ cùng xây tổ ấm nơi phố thị vào dịp hoán chuyển cuối năm. Giờ đây người Không quân tác chiến này không bao giờ thực hiện được lời ước hẹn này với cô!…

Chiến tranh và số mệnh đã lấy đi tất cả những ước hẹn của Phương và một cô giáo đang mong chờ Phương. Chiến tranh cũng đang thản nhiên lấy đi một người bạn hiền của Nhân, và đang đổ sự tang tóc oan nghiệt đến gia đình Phan Văn Phương!…. Trung uý Phan Văn Phương bình thản, xuôi tay trong con tàu của mình, sau một phi vụ không hề biết trước được lúc kết thúc. Phan Văn Phương để lại sinh mạng của mình ở chiến trường Tây Nguyên, như bao anh hùng của thời đại, Nguyễn Ðình Bảo, Nguyễn văn Ðương, và nhiều người khác nữa …

Những anh hùng không tiếc một điều gì cho đất nước, cho dân tộc, cho những chiến tích muôn đời nơi vùng biên giới này. Nguyện cầu cho Phan Văn Phương sẽ hoá thành một loài chim trên vòm trời xanh thật an bình. Nơi vùng trời này sẽ không còn hận thù, không còn những nổi niềm đau xót về đất nước, về thân phận con người, về số phận quá mong manh trước chiến tranh và bom đạn điêu linh. 

Phan Minh

March 04, 2019

Nguồn: https://www.facebook.com/photo.php?f…type=3&theater/https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/vn/item/282-ben-nh-ng-b-r-ng-phan-minh

LÒNG NGƯỠNG MỘ – Nhất Thắng nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng

nhinrabonphuong.blogspot.com

Vị tướng được kể tên trước nhứt là Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng (1930-2020). Ông sinh vào tháng 1-1930 tại tỉnh CaoBằng, Bắc Việt, theo hoc Khóa I Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định khai giảng ngày 1-10-1951 nhưng sau 2 tuần lễ được chuyển vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, và tốt nghiệp ngày 11-6-1952 với cấp bậc Thiếu Úy ngành Pháo Binh. Ông lần lượt thăng cấp như sau:(1)· Thăng cấp Trung Úy vào tháng 2-1953· Thăng cấp Đại Úy vào tháng 10-1954· Thăng cấp Thiếu Tá vào năm 1955· Thăng cấp Trung Tá tạm thời vào năm 1958· Thăng cấp Trung Tá thực thụ vào ngày 26-10-1959· Thăng cấp Đại Tá tạm thời vào tháng 2-1961. Thăng cấp Chuẩn Tướng vào ngày 11-8-1964· Thăng cấp Thiếu Tướng nhiệm chức vào ngày 1-11-1965· Thăng cấp Trung Tướng nhiệm chức vào ngày 3-6-1968 Tướng Thắng đã từng được bổ nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh của một số đại đơn vị của QLVNCH như sau:· Sư Đoàn 1 Bộ Binh: từ ngày 1-1-1961 đến ngày 15-10-1961· Sư Đoàn 5 Bộ Binh: từ ngày 16-10-1961 đến ngày 19-12-1962· Quân Đoàn IV: từ ngày 29-2-1968 đến ngày 1-7-1968.
Ông cũng từng tham chính trong hai chính phủ liên tiếp:· Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ: Ủy Viên Xây Dựng Nông Thôn, từ ngày 1-10-1965 đến ngày 8-11-1967· Chính phủ Nguyễn Văn Lộc: Tổng Trưởng Xây Dựng Nông Thôn từ ngày 9-11-1967 đến ngày 23-2-1968Trong dân chúng VNCH đã truyền tụng khá nhiều câu chuyện, giai thoại về tính cương trực, thanh liêm của ông. Một số giai thoại về đức tính trong sạch, thanh liêm và yêu lính, yêu dân của ông đã được kể lại như sau:
“Có lần tướng Thắng đã cầm đầu một phái đoàn đi tham quan ngoại quốc. Trên nguyên tắc, tùy thời hạn, mỗi sĩ quan trong phái đoàn đều được đổi mỗi người một ít ngoại tệ để tiêu xài và chánh phủ cho riêng một ít tiền túi. Còn ông tướng trưởng phái đoàn thì có thêm một ngân khoản gọi là “ngân sách tiếp tân.” Khi ra nước ngoài, tướng Thắng đã không xử dụng số tiền tiếp tân của chánh phủ cấp phát. Lúc về nước, ông đã đem trả đủ số tiền không chi tiêu ấy vào ngân sách cho chánh phủ… Vốn là một sĩ quan to con, khoẻ mạnh, hiếu động, tướng Thắng thích tự thân xông pha với các chiến sĩ của ông trong những cuộc hành quân bình định đại qui mô. Những dịp này, nếu có đồng bào hay thường dân từ trong những vùng quê xa xôi, hẻo lánh, mất an ninh, bồng bế, dắt díu nhau đi ra, tướng Thắng thường làm gương cho binh sĩ là đi bộ, nhường xe vận tải chở thường dân, nhất là đàn bà và trẻ thơ… Hôm ấy là dịp tướng Thắng, tư lệnh vùng, đi thị sát lãnh thổ trách nhiệm và hội họp bộ tham mưu tại tiểu khu Rạch Giá. Như thế, tất nhiên vị tiểu khu trưởng kiêm tỉnh trưởng địa phương, theo lệ thường, phải khoản đãi quan khách một bữa ăn thịnh soạn. Bữa ăn đó thường diễn ra trong tỉnh đường và do công quỹ đài thọ. Nhưng tướng Thắng đã không dự tiệc, mà lại ra ngồi ngoài xe Jeep, gân cổ lên “quạp” ổ bánh mì thịt to tổ nái.”
Ngườii Mỹ cũng nghe danh ông là một vị Tướng lãnh trong sạch, thanh liêm, và làm việc đàng hoàng, nghiêm túc, nên họ rất kính phục, ngưỡng mộ ông. Chính vì vậy các giới chức quân sự và dân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam rất tích cực ủng hộ ông. Một tác giả Mỹ đã ghi nhận như sau: “Thang had a reputation for honesty and hard work, which won him not only the respect of his American civilian and military advisors but also substantial American support for his revolutionary development campaign.” (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thắng nổi tiếng lương thiện và làm việc tích cực, điều này giúp ông có được không những sự kính trọng của các cố vấn dân sự và quân sự của ông mà còn cả sự hỗ trợ đáng kể của Hoa Kỳ đối với công cuộc vận động xây dựng nông thôn của ông.”). Cơ Quan Trung Ương Tình Báo của Hoa Kỳ (Central Intelligence Agency = CIA), trong nhiều báo cáo hàng tuần của họ về tình hình tại VNCH (Weekly report on the Situation in South Vietnam) cũng đã có những nhận xét rất tốt về con người, tác phong làm việc cũng như những suy nghĩ của ông về vấn đề xây dựng nông thôn. Báo cáo hàng tuần của CIA, đề ngày 24-10-1966, ghi nhận như sau trong phần II, Revolutionary Development (xây dựng nông thôn):
“He was particularly critical of the “new life hamlet program” which was designed to provide security from Viet Cong incursions and to provide a “new life” to the peasant. Thang maintains that the latter goal of the program has not been successfully achieved and in his words, “has not provided a new life for the people in the hamlets.” There has been no true social revolution, he asserted and “the Communists… have not been wiped out.” Thang implied that government interference in the life of the peasants must be minimal and that hamlet resident should control their own programs. The Revolutionary Development Cadres, which he claims have started to take hold in the provinces, should act mainly as an “emotional bridge” between the peasant and the government, according to Thang.”(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Ông đặc biệt chỉ trích “chương trình ấp tân sinh” được thiết kế nhằm đem lại an ninh chống lại các xâm nhập của Việt Cộng và tạo ra “một đời sống mới” cho nông dân. Thắng tin rằng mục tiêu thứ nhì của chương trình đã không được thực hiện thành công và, theo lời ông, “đã không đem lại một đời sống mới cho dân chúng trong các ấp.” Ông cũng xác nhận “Đã không có một cuộc cách mạng xã hội, và, bọn Cộng sản đã không bị tiêu diệt.” Thắng ngụ ý rằng sự can thiệp chính phủ vào cuộc sống của nông dân nên giữ ở mức tối thiểu và nên để cho người dân trong các ấp quyền kiểm soát các chương trình sinh hoạt của họ. Theo ông các Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, mà ông tin là đã bắt đầu bám rể được tại các tỉnh, chỉ nên giữ vai trò làm “nhịp cầu giao cảm” giữa nông dân và chính quyền mà thôi.”) Vì bản tính trong sạch, thanh liêm, vì cách làm việc thẳng thắn, nghiêm túc, với những tư tưởng về xây dựng nông thôn tích cực đó, lại được sự ủng hộ mạnh mẻ của các giới chức Hoa Kỳ như vậy, Tướng Thắng không thể tránh khỏi bị các tướng lãnh khác của VNCH nghi ngờ và ganh ghét, khiến cho ông có lúc đã nghĩ đến việc từ chức. Một báo cáo hàng tuần của CIA đã ghi nhận điều này như sau:“There is some indication that Minister of Revolutionary Development General Nguyen Duc Thang may be thinking of resigning his post because of criticism from other members of the Directorate… Part of the difficulty in Thang’s relationship with other members of the Directorate may stem from the fact that he has received a great deal of support and praise from American advisers, which has probably generated envy and suspicion.” 5(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Có một số dấu hiệu cho thấy Ủy Viên Xây Dựng Nông Thôn Tướng Nguyễn Đức Thắng có thể đang nghĩ đến việc từ chức vì sự chỉ trích từ các thành viên khác của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia… Một phần của khó khăn trong mối quan hệ của Thắng với các thành viên khác của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia có thể bắt nguồn từ việc ông nhận được rất nhiều ủng hộ và ca ngợi từ các cố vấn Mỹ, một điều có thể đã tạo ganh tỵ và nghi ngờ.”). Đầu năm 1968, ông bàn giao Bộ Xây Dựng Nông Thôn cho Trung TƯớng Nguyễn Bảo Trị, và ngày 29-2-1968 ông nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV thay cho Thiếu Tướng Nguyễn Văn Mạnh. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vốn dĩ không thích Tướng Thắng từ khi Tướng Thắng đại diện cho các tướng lãnh thuộc phe Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã khuyên ông Thiệu rút lui đừng ra tranh cử tổng thống hồi giữa năm 1967,6đã bị áp lực từ phía Hoa Kỳ phải chấp nhận việc bổ nhiệm Tướng Thắng là một tướng lãnh được tiếng thanh nliêm làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV để thay thế cho Tướng Mạnh đã bị tiếng tăm quá nặng nề về tham nhũng. Vì vậy, Tướng Thắng đã không giữ được chức vụ này lâu. Tướng Thắng phải bàn giao chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV cho Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh vào ngày 1-7-1968. Sau đó ông giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh một thời gian ngắn trước khi về Bộ Tổng Tham Mưu ngồi chơi xơi nước trong chức vụ Phụ Tá Kế Hoạch cho Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên. Năm 1973 ông xin nghĩ dài hạn không ăn lương để đi học lại và cuối năm đó ông được cho giải ngũ. Cuối tháng 4-1975, ông được tái trưng dụng nhưng chưa kịp được bổ nhiệm chức vụ gì trong quân đội thì VNCH đã sụp đổ. Sau ngày 30-4-1975, ông định cư tại tiểu bang Connecticut, Hoa Kỳ.
Nhì Chinh

Vị tướng được kể tên thứ nhì là Trung Tướng Phan Trọng Chinh (1930-2014)Ông sinh ngày 1-2-1931 tại tỉnh Bắc Ninh, Bắc Việt, theo học Khóa 5 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, mãn khóa ngày 24-4-1952 với cấp bậc Thiếu Úy, và lần lượt thăng cấp như sau:7 ·
Thăng cấp Trung Úy vào tháng 1-1954·Thăng cấp Đại Úy ngày 29-9-1954·Thăng cấp Thiếu tá vào tháng 9-1956·Thăng cấp Trung Tá vào tháng 12-1963·Thăng cấp Đại Tá nhiệm chức vào ngày 6-3-1965·Thăng cấp Đại Tá thực thụ vào ngày 1-11-1965·Thăng cấp Chuẩn Tướng nhiệm chức năm 1966·Thăng cấp Chuẩn Tướng thực thụ năm 1967·Thăng cấp Thiếu Tướng nhiệm chức năm 1968·Thăng cấp Trung Tướng thực thụ năm 1973

Trong thời gian 1954-1956, ông là vị Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên của Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù. Cuối tháng 9-1956, ông thăng cấp Thiếu Tá và đảm nhận chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Đoàn (đến năm 1959 đổi tên thành Lữ Đoàn) Nhảy Dù. Ngày 26-10-1960, ông rời Lữ Đoàn Nhảy Dù và đảm nhận chức vụ Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân. Ngày 11-11-1960, ông tham gia cuộc đảo chánh của lực lượng nhảy dù dưới sự lãnh đạo của Đại Tá Tư Lệnh Nguyễn Chánh Thi. Cuộc đảo chánh thất bại, ông bị bắt giam và bị Tòa án mặt trận Sài Gòn xử 18 năm khổ sai và đày ra Côn Đảo.
Sau khi cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 thành công, lật đổ được chính phủ Ngô Đình Diệm, ông được Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng trả lại tự do, xóa bản án, thăng cấp cho ông lên Trung Tá, và bổ nhiệm ông làm Tỉnh Trưởng Pleiku. Ngày 6-3-1965, ông thăng cấp Đại Tá nhiệm chức và được bổ nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Bộ Binh.Chính trong thời gian nắm giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Bộ Binh này, Tướng Chinh đã để lại những dấu ấn rõ rệt về các đức tính tốt đẹp của ông: trong sạch thanh liêm, không bao giờ lợi dụng chức vụ để lo cho gia đình, tận tâm trong công việc và nhiệm vụ, thương yêu, gần gủi và chia xẻ mọi hiểm nguy với binh sĩ dưới quyền. Dưới đây là một số giai thoại về các đức tính đó của ông đã được truyền tụng trong dân gian:
“Trong suốt mấy năm liền đảm nhiệm trọng trách đó, tôi thấy tướng Chinh không mấy khi về Sài Gòn thăm gia đình vợ con và bạn bè. Ông bận lo thị sát chiến trường, thanh tra các địa phương. Một đặc điểm đáng nêu lên đây là tướng Chinh đi thanh sát toàn bằng xe, di chuyển trên đường bộ, mặc dù vùng ông trấn đóng rất nguy hiểm. Bọn CS địa phương thường hay đặt mìn, bắn sẻ và phục kích từng toán lẻ tẻ. Thỉnh thoảng về thăm gia đình, vợ con, ông cũng dùng xe chớ không bao giờ dùng trực thăng như đa số các vị tướng lãnh khác. Đoàn xe của tướng Chinh di chuyển thường chỉ gồm có một chiếc Dodge 4×4 trí súng đại liên với mấy tay xạ thủ, một jeep ông ngồi cùng với tài xế và đại úy Đoàn, sĩ quan tùy viên của ông.” 8“Khoảng năm 1966-67, đường Saigon – Đức Hòa còn là đường đất bụi. Hôm đó, tôi trên xe cứu thương, trương cờ Hồng Thập Tự mà chạy. Xe tôi đi sau một đoàn xe của quân đội, tôi bóp kèn, thì tất cả đều dạt vào trong. Nhưng đến xe đầu tiên thì tôi biết là xe của ông Tướng (vì có gắn ngôi sao), xe tôi không dám vượt qua. Nhưng tôi thấy Tướng Chinh vỗ vai người tài xế, và xe ông dạt vào trong cho xe tôi chạy. Đến tối, tôi xin gặp Trung Tướng và xin lỗi. Nhưng Tướng Chinh nói: “NGÔI SAO CỦA TÔI KHÔNG THỂ BẰNG SINH MẠNG CỦA MỘT THƯƠNG BINH”. Câu nói đó đã chạm vào tim tôi, nước mắt tự rơi không kềm được. Một câu nói thật ngắn, gọn, nhưng sao hay trong văn chương, đẹp trong tình người đến như vậy???. Sau đó ông hỏi tôi: “Cô có biết tại sao Trung Tướng Chinh là ông Tướng duy nhất không dùng trực thăng khi đi hành quân hay không? Dạ, lúc đó cháu còn nhỏ nên không biết điều đó ạ! Tại vì ông muốn chia xẻ tất cả những nguy hiểm, gian khổ cùng chiến sĩ, chứ không như các ông Tướng khác cô à. Nước mắt tôi lại rơi cho điều vô cùng tốt đẹp ấy. Có người còn kể: “Tướng Chinh thường nói: “Là lãnh đạo, lúc nào cũng phải đi tiên phong. ”
Với bản chất cương trực như thế, ông không tránh khỏi đã có những đụng chạm với một số cố vấn Mỹ khi những vị cố vấn này có những cử chỉ hay hành động có tính cách khinh thường hay nhục mạ QLVNCH. MỘt sĩ quan trong bộ tham mưu Sư Đoàn 25 Bộ Binh đã kể lại cuộc đụng độ nẩy lửa giữa Tướng Chinh và viên sĩ quan đại tá cố vấn Mỹ như sau:
“Những chuyến đi thanh sát như thế, không mấy khi tướng Chinh đem viên đại tá Mỹ cố vấn trưởng sư đoàn đi theo. Việc ấy không ngờ đã khiến cho tên cố vấn Mỹ, có máu thực dân phong kiến và xấc láo, tên Hê-Li-Cớt, để tâm hiềm khích. Hôm ấy tướng Chinh về nhà thăm gia đình một đêm. Sáng hôm sau, ông lên bộ chỉ huy sư đoàn như thường lệ. Các bạn quân nhân nào đã từng phục vụ trong vùng Hậu Nghĩa đều biết chuyện này. Mỗi sáng, trước khi cho phép xe cộ lưu thông, gồm cả xe nhà binh lẫn xe dân sự, xe vận tải, xe đò, v.v…tiểu đoàn 25 công binh phải lo mở đường xong xuôi để bảo đảm an toàn cho mọi người. Đoàn xe mở đường thường gồm có một chiếc GMC và 1 chiếc Dodge 4×4 chở đầy các chuyên viên rà mìn. Bởi thế, không một xe nào, dù là xe của ông tướng tư lệnh có thể vượt qua luật lệ ấy. Khi tướng Chinh vừa bước vào văn phòng tư lệnh sư đoàn, viên đại tá Mỹ Hê-Li-Cớt, từ phòng bên cạnh đã bước sang, hạch hỏi tướng Chinh, tại sao đến giờ này ông mới đến văn phòng. Trước thái độ hỗng hách ấy, tướng Chinh đã dạy cho hắn biết bài học về quân phong và quân kỷ, đồng thời cũng nhắc cho anh ta biết rằng, dù sao anh ta cũng chỉ là một đại tá đang đứng trước một vị tư lệnh sư đoàn. Nhưng viên đại tá Mỹ phách lối này đã chẳng biết phục thiện, về sau lại còn tỏ ra xấc láo hơn nữa, nên tướng Chinh đã phải ra lệnh trục xuất tên cố vấn Mỹ ấy ra khỏi văn phòng làm việc, sát vách với văn phòng của ông. Tướng Chinh đuổi tên Hê-li-Cớt qua vùng Compound của Mỹ. Nhưng Hê-Li-Cớt cũng bướng, không chịu dọn đi. Tướng Chinh liền ra lịnh cho trung tá Trà, chỉ huy trưởng tổng hành dinh sư đoàn 25, dọn dùm đồ đạc của hắn qua bên Compound Mỹ, dưới sự bảo vệ của quân cảnh VN. Bên phía Mỹ, chẳng hiểu viên đại tá thực dân này đã nói gì vơi binh sĩ Mỹ dưới quyền của y, người ta thấy bọn quân cảnh Mỹ cũng lên súng M.16 và gờm sẵn trong tư thế chiến đấu. Nhưng rất may đã không xảy ra vụ sô sát đáng tiếc nào giữa binh sĩ Mỹ và binh sĩ VNCH thuộc sư đoàn 25BB. Dù vậy, báo chí Mỹ và báo chí Việt Nam cũng đã bình luận sôi nôi một thời về hành động cứng cỏi, để bảo vệ danh dự của quân đội VNCH và thể diện dân tộc.” 10
Sau cuộc đụng độ nảy lửa đó, các giới chức Hoa Kỳ tỏ ra không thích Tướng Chinh, và vì vậy trong các báo cáo, tài liệu của Hoa Kỳ, Tướng Chinh không được đánh giá tốt. Sau đây là một bằng chứng về nhận xét lệch lạc của CIA về Tướng Chinh:“The controversial commander of the ARVN 25th Division, General Phan Trong Chinh has stepped-up the tempo of hamlet construction to one month, and consolidation phases to one and one-half months. Chinh’s order has been issued in an apparent attempt to make the pacification effort in his area look good.” 11(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau:“Viên tư lệnh gây tranh cải này của Sư Đoàn 25 QLVNCH, Tướng Phan Trọng Chinh, đã tăng nhịp độ xây dựng các ấp lên một tháng, và các giai đoạn củng cố các ấp lên một tháng rưởi. Lệnh của Chinh đã được ban hành thấy rõ là nhằm giúp cho cố gắng bình định trong khu vực của ông ta có vẻ tốt đẹp.”).Dĩ nhiên, nhận xét như vậy của người Mỹ về Tướng Chinh chắc chắn đã có ảnh hưởng không tốt đến cấp lãnh đạo của VNCH. Sau đây là một bằng chứng rõ rệt về việc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã quyết định không bổ nhiệm Tướng Chinh vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn II vào tháng 4-1972:“MR 2 commander Gen. Ngo Dzu simply panicked and fled from Corps headquarters at Pleiku to coastal Nha Trang, leaving the de facto leadership of ARVN forces in the interior to MR 2 senior adviser John Paul Vann… Thieu was considering replacing him with a known incompetent named Phan Trong Chinh. Acting on an ostensibly spontaneous impulse, Bunker sent Thieu a list of candidates on which Chinh’s name did not appear. Thieu picked one that did, that of Gen. Nguyen Van Toan.” 12(xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Tư Lệnh Vùng II Tướng Ngô Dzu hoảng hốt bỏ bộ tư lệnh Quân Đoàn ở Pleiku chạy về Nha Trang ở duyên hải, trên thực tế giao quyền chỉ huy các lực lượng của QLVNCH trong nội địa lại cho cố vấn trưởng Vùng II Jean Paul Vann… Thiệu đang tính thay thế hắn [tức là Tướng Ngô Dzu] bằng Phan Trọng Chinh, một người đã được biết là không có khả năng. Hành động theo phản ứng liền lập tức, Bunker [đại sứ Mỹ tại VNCH lúc đó] gửi đến Thiệu một danh sách của những ứng viên trong đó không có tên của Chinh. Thiệu chọn một tên có trong danh sách, đó là Tướng Nguyễn Văn Toàn.”).Sau khi rời chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Bộ Binh, Tướng Chinh đã liên tục đảm nhận các chức vụ sau đây:· Tư Lệnh Phó Quân Đoàn III, 1968· Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Quân Huấn, 1969-1973· Chỉ Huy Trưởng Trường Chỉ Huy và Tham Mưu từ năm 1974 đến năm 1975. Sau ngày 30-4-1975, ông định cư tại thành phố Rockville, tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ. Ông qua đời ngày 17-11-2014 tại thành phố Vienna, tiểu bang Virginia, Hoa kỳ, hưởng thọ 85 tuổi. Lễ an táng của ông đã được cử hành rất trọng thể và theo đúng lể nghi quân cách dành cho một tướng lãnh của QLVNCH.

Tam Thanh

Vị tướng được kể tên thứ ba là Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh (1931-1970)
Ông sinh ngày 31-3-1931 tại Tân An, Long An, theo học Khóa 4 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, mãn khóa ngày 1-12-1951 với cấp bậc Thiếu Úy, và lần lượt thăng cấp như sau: 13 · Thăng cấp Trung Úy tháng 12-1953 · Thăng cấp Đại Úy năm 1955 · Thăng cấp Thiếu Tá tạm thời ngày 26-10-1959 · Thăng cấp Trung Tá nhiệm chức năm 1964 · Thăng cấp Đại Tá nhiệm chức ngày 9-10-1965 · Thăng cấp Đại Tá thực thụ tháng 12-1965 · Thăng cấp Chuẩn Tướng nhiệm chức ngày 19-6-1966 · Thăng cấp Chuẩn Tướng thực thụ ngày 19-6-1967 · Thăng cấp Thiếu Tướng nhiệm chức ngày 19-6-1968 Ông cũng đã chỉ huy các đơn vị tác chiến sau đây: · Trung Đội Trưởng, Trung Đội 12, Đại Đội 51, Tiểu Đoàn 15 Việt Nam vào tháng 12-1951 · Đại Đội Trưởng, Tiểu Đoàn 15 cuối năm 1952 · Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 707 ĐỊa Phương vào năm 1953 · Trung Đoàn Trưởng, Trung Đoàn 12, Sư Đoàn 7 Bộ Binh năm 1962 · Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh ngày 9-10-1965 · Tư Lệnh Quân Đoàn IV ngày 1-7-1968 Tướng Thanh nổi tiếng trong QLVNCH là một sĩ quan gương mẫu và trong sạch, thanh liêm với khá nhiều giai thoại về đức tính liêm khiết và tận tụy với quân vụ của ông, như trong lời kể lại sau đây:
“Vào giữa năm 1968, Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV. Lúc đó tôi làm Tổng Thư Ký Hội Đồng Tái Thiết Phát Triển kiêm Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Điều Hợp Tỉnh Kiên Giang. Hàng tháng tôi thường về họp tại Trung Tâm Điều Hợp Quân Khu do Đại Tá Phạm Văn Út làm Trung Tâm Trưởng và thỉnh thoảng có ghé qua thăm Thiếu Tướng Thanh. Nhân một buổi họp cuối năm, tôi có chở theo vài món đặc sản Rạch Giá như nước mắm nhĩ Phú Quốc, khô cá thiều và một ít bánh ú lá dừa biếu gia đình ông. Vì biết tôi có quà cho Tướng Thanh nên Trung Tá Tỉnh Trưởng Kiên Giang cũng nhờ tôi chở theo một số quà biếu Tư Lệnh. Ông nghe tiếng Thiếu Tướng Thanh rất thanh liêm, không ưa vụ biếu xén quà cáp, nên ông không dám đích thân đi biếu mà nhờ tôi là chỗ thày trò cũ, may ra được nhận chăng? Hôm đó sau buổi họp ở văn phòng Đại Tá Út, tôi qua thăm Tư Lệnh. Thiếu Tướng Thanh niềm nở tiếp tôi, hỏi thăm chuyện vợ con, hỏi thăm Thiếu Tướng Khuyên, rồi ông nói: “Bây giờ cũng trưa rồi, Quý qua bên nhà ăn cơm với vợ chồng tôi nhé, ăn chay đó.” Tôi thưa: “Cám ơn Thiếu Tướng, hôm nay đàn em không xin được trực thăng, phải đi đường bộ, về trễ sợ nguy hiểm, lần sau sẽ xin ghé tư dinh thăm chị luôn.” Tôi tranh thủ trình bày vụ biếu quà, ông bảo: “Thôi được, món nào của anh thì tôi nhận, nhưng chỉ lần này thôi nhé. Còn của anh Tỉnh Trưởng thì anh đem về nói là tôi rất cám ơn, nên đem mấy món quà đó tặng cho anh em thương bệnh binh nhân dịp Tết cho họ mừng. Đó là điều mà cấp chỉ huy nên làm.” Bất giác tôi chợt nhớ đến cái Tết 10 năm trước ở Vĩnh Bình. Sáng mồng một Tết, ông cùng Thiếu Tá Khuyên vào bệnh viện tỉnh thăm thương bệnh binh. Rồi suốt ngày mồng hai Tết, ông hết đứng lại ngồi đăm chiêu trước bản đồ hành quân để nghiên cứu địa hình và tình hình địch. Hình như ông nóng lòng trông cho mau đến ngày mồng 3, hết hạn hưu chiến để tổ chức hành quân Bình Định. Cuộc đời của ông chỉ biết phục vụ, phục vụ và phục vụ, chí công vô tư, xả thân vì nước.”
Ngoài đức tính cương trực và thanh liêm giống như hai Tướng Thắng và Chinh, Tướng Thanh còn một đặc điểm nữa là gần gủi và chăm lo cho dân rất nhiều trong thời gian ông đảm nhiệm chức vụ Tỉnh Trưởng tại 2 tỉnh Long An (1961) và Gò Công (1963). Do đó mới có một chuyện xảy ra như sau ngoài sức tưởng tượng của mọi người như trong lời kể lại của chính Chuẩn Tướng Hoa Kỳ William R. Desobry (1918-1996), Cố Vấn Trưởng Vùng IV: “Vị Tướng Cố Vấn Quân Đoàn IV đã kể chuyện Tướng Thanh được ái mộ như thế nào: Trong một dịp, lúc đó Tướng Thanh còn làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV ở Cần thơ, ông cùng vị Tướng Cố Vấn bay lên Bản Doanh BTL Sư Đoàn 7 Bộ Binh ở Mỹ Tho. Hai vị Tướng ăn cơm trưa một cách kín đáo trong một nhà hàng ở Thị Xã; người ta xầm xì rỉ tai và mọi người cuối cùng rồi cũng hay tin. Dân chúng và binh sĩ ùn ùn kéo đến chào mừng vị Tư Lệnh cũ của họ. Trong suốt cả tiếng đồng hồ, Tướng Thanh phải gật đầu, bắt tay liên tục cả trăm người.”
Ngoài đức tính cương trực, thanh liêm, lúc nào cũng chăm lo cho đời sống của binh sĩ và dân chúng trong vùng trách nhiệm của mình, Tướng Thanh còn được cấp dưới kính trọng vì sự dũng cảm gần như huyền thoại của ông trong trận mạc. Ông là một trong số rât ít những tuớng lãnh của VNCH được Chính phủ Hoa Kỳ ban thưởng huy chương cao quý Silver Star khi đã là một tướng tư lệnh vùng như chúng ta thấy trong bản tuyên dương sau đây:
Bản Tuyên Dương Kèm Theo Huy Chương Silver Star Trao Tặng Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh Tư Lệnh Quân Đoàn 4 Do Hành Động Dũng Cảm Phi Thường
Ngày 24-2-1969 Tại Tân Châu(Xin tam dịch sang Việt ngữ như sau: “Tồng Thống Hoa Kỳ, được phép do Đạo Luật của Quốc Hội ngày 9-7-1918, hân hạnh ban thưởng huy chương Ngôi Sao Bạc cho Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì sự dũng cảm phi thường trong hành động vào ngày 24-2-1969, gần Tân Châu, trong lúc đang phục vụ với tư cách Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn IV, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Vào ngày hôm đó, Chi Đội A, thuộc Chi Đoàn 1 của Thiết Đoàn 12 Kỵ Binh và Đại Đội 226 Địa Phương Quân đụng nặng với Tiểu Đoàn Mười Trí. Việt Cộng đã bắt đầu cuộc tấn công ác liệt với rốc-kết, bích kích pháo, và các súng liên thanh nhỏ vào cánh phải của đơn vị kỵ binh. Tướng Thanh phản ứng ngay lập tức bằng cách thiết lập liền một căn cứ yểm trợ hỏa lực và sau đó ra lệnh cho cạnh trái phản công để tái lập thế trận. Địch quân phản công và đẩy lui quân bạn. Hoàn toàn bất kể sự an nguy của bản thân, Tướng Thanh xông lên giữa trận, kêu gọi và cỗ vũ binh sĩ của mình, tiếp đó ông sử dụng một thiết vận xa để tiến về phía Đại Đội 226 Địa Phương Quân, tập họp họ lại và ra lệnh phản công. Tướng Thanh từ trên nóc chiến xa chỉ huy cuộc phản công mãnh liệt vào địch quân. Địch quân bị đẩy lui với rất nhiều thương vong, và quân ta chiếm lại trận địa. Sư hiện diện của ông tại mặt trận, vào lúc quyết định nhứt của trận đánh, là tác nhân trực tiếp khôi phục lại sức chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sự anh dũng nổi bật trong hành động của Tướng Thanh phản ánh rõ rệt công trạng của ông cũng như của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.”). Ngày 2-5-1970, lúc 1 giờ 40 trưa, trong khi đang thị sát mặt trận tại biên giới Việt-Miên, ông đã tử nạn khi chiếc trực thăng chở ông bị rớt vì đụng phải một chiếc trực thăng Cobra. Ông được Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu truy thăng lên cấp Trung Tướng và truy tặng Đệ Nhị Đẳng Bảo Quốc Huân Chương.


Tứ Trưởng

Vị tướng được kể tên thứ tư là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (1929-2007)



*Ông sinh ngày 13-12-1929 tại tỉnh Bến Tre (sau đổi tên là Kiến Hòa), theo học Khóa 4 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, mãn khóa ngày 1-6-1954 với cấp bậc Thiếu Úy, tình nguyện vào Binh chủng Nhảy Dù, và là một Trung Đội Trưởng của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Ông đã lần lượt thăng cấp như sau:16 ·


Thăng cấp Trung Úy ngày 1-12-1955 ·
Thăng cấp Đại Úy năm 1961 ·
Thăng cấp Thiếu Tá năm 1964 ·
Thăng cấp Trung Tá tháng 4-1965 ·
Thăng cấp Đại Tá nhiệm chức ngày 19-6-1966 ·
Thăng cấp Chuẩn Tướng nhiệm chức ngày 4-2-1967 ·
Thăng cấp Thiếu Tướng nhiệm chức ngày 3-6-1968 ·
Thăng cấp Trung Tướng nhiệm chức ngày 1-11-1971 .


Ông nổi tiếng là một tướng lãnh rất gương mẫu về quân phong, quân kỷ, rất tận tụy với trách nhiệm, và luôn luôn có mặt tại những điểm nóng trong khu vực thuộc trách nhiệm của mình, như đoạn văn mô tả sau đây: “Tư-Lệnh Quân-Đoàn I & Quân-Khu I Ngô Quang Trưởng được hầu hết mọi người khâm-phục. Ông đã dành nhiều tâm-trí, công-sức, và thì-giờ vào các cuộc hành-quân hơn là vào công việc văn-phòng. Ông thường-xuyên mặc chiến-phục, đội mũ sắt, mang áo giáp, bay đến tận từng đồn , chốt khắp Quân-Khu, để quan-sát, nghiên-cứu tình-hình tại chổ, và kiểm-tra tác-phong, kỷ-luật của các cấp quân-nhân.
Bản-thân ông ít thích truy-hoan, nên cấm sĩ-quan thuộc quyền đến khiêu-vũ ở các nhà hàng ca vũ nhạc, khiến các Tỉnh-Trưởng và Thị-trưởng cấm luôn cả các phòng trà ca-nhạc tổ chức khiêu-vũ cho bất cứ giới khách hàng nào.” 17 Ông cũng nổi tiếng là một tướng lãnh trong sạch, thanh liêm, và không dung túng cho cấp dưới làm bậy, xâm phạm tài sản của dân chúng, như trong giai thoại sau đây:
“Trong giữa năm 1974, Ông đã có một hành động rất ngoạn mục. Lính của một sư đoàn tại vùng I đã lùa một đàn bò của dân chúng, đem cất giấu tại thung lũng Quế Sơn. Khi nghe dân chúng tố cáo, ông đích thân bay đi tìm và đem trao trả cho khổ chủ. Số bò còn thiếu, ông trừ lương từ Trung Đoàn Trưởng đến binh sĩ, lấy tiền mua bò trả đủ số cho dân, không dung dưỡng bao che các việc làm mờ ám của thuộc cấp, như một số các vị chỉ huy khác.”


Ông cũng là một trong số rất ít các tướng lãnh hoàn toàn không có tham vọng chính trị và không bao giờ dính líu vào các âm mưu, biến cố chính trị. Ông dành toàn thời gian cho quân vụ. Cũng như Tướng Thanh, Tướng Trưởng là một trong số ít các vị tướng lãnh của QLVNCH đã chỉ huy các đơn vị tác chiến từ cấp thấp nhứt đến cấp cao nhứt: · Trung đội trưởng: tháng 7-1954 (một trung đội của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù) · Đại đội trưởng: đầu năm 1955 (Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù) · Tiểu đoàn trưởng: năm 1961 (Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù) · Tư lệnh sư đoàn: năm 1966 (Sư Đoàn 1 Bộ Binh) · Tư lệnh quân đoàn: năm 1972 (Quân Đoàn IV và Quân Đoàn I) Ông đã tham dự nhiều trận đánh quan trọng khi còn phục vụ trong Binh chủng Nhảy Dù, nhưng nổi tiếng nhất là trận Hắc Dịch vào tháng 2-1965. Lúc đó ông còn mang cấp bậc Thiếu Tá và là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù.


Hắc Dịch là một mật khu của Công Trường 7 (tức Sư Đoàn 7) của Việt Cộng nằm trong một khu rừng ở phía Bắc Núi Ông Trịnh thuộc tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa). Cuộc hành quân tấn công vào Hắc Dịch do Bộ Tư Lệnh Vùng III tổ chức để càn quét các lượng Cộng quân đã gây thiệt hại nặng cho Tiểu Đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) trong trận Bình Giả (gần khu vực mật khu Hắc Dịch, vào cuối năm 1964 đầu năm 1965). Cuộc hành quân này được đặt tên là Chiến dịch Nguyễn Văn Nho (đặt theo tên của vị Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 4 TQLC đã tử trận trong trận Bình Giả) và bắt đầu vào ngày 9-2-1965. Tham gia cuộc hành quân có Chiến Đoàn II Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Trương Quang Ân (về sau thăng cấp Chuẩn Tướng, làm Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và tử nạn trực thăng vào ngày 8-9-1968). Chiến Đoàn II Nhảy Dù gồm 3 tiểu đoàn trong đó Tiểu Đoàn 5 của Thiếu Tá Ngô Quang Trưởng là chủ lực. Tiểu Đoàn 5 đã gây thiệt hại rất nặng nề cho 2 Trung Đoàn Q761 và Q762 của Công Trường 7, với “hằng trăm xác cộng quân tràn ngập chung quanh tuyến phòng thủ, đầy dẫy hằng trăm vũ khí đũ loại từ AK47, súng trường CKC, súng chống chiến xa B40, B41 đến trung liên nồi, đại liên 12.8 ly, cối 61 ly, đạn dược quân trang quân dụng nhiều vô kể.” 19 Thiếu Tá Ngô Quang Trưởng được vinh thăng lên Trung Tá đặc cách tại mặt trận và được ban thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Sau trận này, ông rời Tiểu Đoàn 5 về làm Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn Nhảy Dù, và qua năm sau, 1966, khi Lữ Đoàn Nhảy Dù được nâng lên thành Sư Đoàn, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Phó Tư Lệnh. Tuy nhiên, đối với gần như tất cả quân dân VNCH, ông nổi tiếng nhứt về chiến công giữ vững được Huế và tái chiếm Quảng Trị trong trận Tổng Tấn Công của Cộng sản vào Mùa Hè năm 1972 khi ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I thay thế Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm. Giữa trưa ngày Thứ Năm, 30-3-1972, trong Mùa Lễ Phục Sinh, Cộng quân bắt đầu cuộc Tổng Tấn Công trên khắp lãnh thổ của VNCH. Riêng tại vùng giới tuyến ngay phía Nam vĩ tuyến 17, sau một loạt pháo kích dữ dội, 3 sư đoàn chủ lực của Bắc Việt (các Sư Đoàn 304, 308, và 320B), vượt Vùng Phi Quân Sự, tấn công vào phía Bắc và phía Tây của tỉnh Quảng Trị. Phòng thủ lãnh thổ của tỉnh Quảng Trị là trách nhiệm của Sư Đoàn 3 Bộ Binh dưới quyền tư lệnh của Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai (tốt nghiệp Khóa 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt), gồm có 3 trung đoàn (2, 56 và 57) và được tăng viện với 2 lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến (Lữ Đoàn 147 TQLC và Lữ Đoàn 258TQLC).


Tất cả các căn cứ đóng quân và căn cứ hỏa lực của Sư Đoàn 3 lần lượt thất thủ rất bi thảm, trong đó có vụ đầu hàng của cả Trung Đoàn 56 tại trại Carroll dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Phạm Văn Đính (tốt nghiệp Khóa 9, Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, năm 1960) làm chấn động QLVNCH và Đồng Minh. Ngày 1-5-1972, tỉnh Quảng Trị thất thủ, Sư Đoàn 3 Bộ Binh tan rã, tháo chạy về Huế ở phía Nam, dân chúng thạy theo, bị địch quân truy kích rất tàn bạo, tạo ra “Đại Lộ Kinh Hoàng” trên đoạn Quốc Lộ 1 giữa Quảng Trị và Thừa Thiên (Huế), và kế tiếp gây ra cảnh hỗn loạn ngay trong thành phố Huế, với một số binh sĩ QLVNCH rời bỏ đơn vị, vô kỷ luật, cướp bóc , hà hiếp dân. Trong cảnh hỗn loạn này, người dân Huế còn có thêm nổi lo sợ Huế có thể sẽ lại rơi vào tay Cộng quân và họ nhớ lại trong kinh hoàng vụ tàn sát hồi Tết Mậu Thân 1968, và họ không còn cách nào khác hơn là tìm mọi cách thoát ra khỏi Huế, làm cho tình hình rối loạn tại Huế càng tệ hại thêm. Ngày 3-5-1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm Trung Tướng Ngô Quang Trưởng làm Tư Lệnh Quân Đoàn I thay cho Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm. Ngay buổi chiều hôm đó, Tướng Trưởng cùng bộ tham mưu của ông bay ra Huế liền lập tức. Ngày hôm sau, ông ban hành 2 lệnh quan trọng:
1) Thiết lập Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Quân Đoàn I ngay tại phía Bắc thành phố Huế với nhiệm vụ chận đứng tất cả các cuộc tấn công của Cộng quân; và,
2) Tất cả quân nhân, lạc đơn vị, bỏ đơn vị, hay không còn đơn vị nữa đều phải lập tức trình diện tại những nơi có các cấp thẩm quyền quân sự; quân nhân nào bất tuân lệnh này sẽ bị bắn bỏ tại chổ.


Trật tự lập tức được vãn hồi ngay. Đồng thời, dân chúng Huế rĩ tai nhau là “Tướng Trưởng đã về” và tất cả mọi người yên tâm không bỏ chạy nữa. Chuyện này không có gì lạ vì người dân Huế hết sức tin tưởng Tướng Trưởng vì họ đã biết quá rõ tính cương quyết và tài dụng binh của ông trong Trận Mậu Thân 1968 khi gần như toàn thành phố Huế đã lọt vào tay Cộng quân ông vẫn tiếp tục chiến đấu cùng với quân nhân các cấp của Sư Đoàn 1 Bộ Binh mà ông là Tư Lệnh và giữ vững được tổng hành dinh tại Mang Cá trong Thành Nội Huế, và sau đó phản công giải phóng Huế. Trong suốt lịch sử của VNCH và chiến tranh Việt Nam, chưa bao giờ có hiện tượng này: một cá nhân có thể làm thay đổi diễn tiến của cuộc chiến một cách rõ rệt như vậy.Sau khi ổn định tình hình và chận đứng được cuộc tấn công của Cộng quân vào tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế, Tướng Trưởng lập tức lên kế hoạch phản công để chiếm lại Quảng Trị.20 Địch quân cố thủ trong Cổ Thành Quảng Trị chống trả mãnh liệt. Tướng Trưởng phải sử dụng đến 2 đại đơn vị thiện chiến nhứt của QLVNCH là Sư Đoàn Nhảy Dù và Sư Đoàn TQLC để tấn công tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Trận đánh này trở thành trận đánh gây thương vong nhiều nhứt cho cả 2 phía trong Chiến tranh Việt Nam. Sau cùng chính các binh sĩ của Đại Đội 2, Tiểu Đoàn 3, Lữ Đoàn 147 TQLC đã thượng kỳ VNCH trên Cổ Thành Quảng Trị “vào lúc 12 giờ 45 ngày 16/9/1972 sau 51 ngày đêm nhận lãnh trách nhiệm mà Sư Đoàn Dù giao lại và sau 78 ngày cuộc Hành quân tái chiếm Quảng trị được khởi sư.”21 Khả năng lãnh đạo và điều quân ở cấp đại đơn vị của Tướng Trưởng không phải chỉ nổi tiếng trong hàng tướng lãnh của QLVNCH mà nay cả các cấp tướng lãnh của quân đội Hoa Kỳ đã từng tham chiến tại VNCH cũng đều khâm phục. Lời phẩm bình sau đây của một tác giả Mỹ đã mô tả một cách ngắn gọn nhưng vô cùng chính xác về con người và tài năng quân sự của Tướng Trưởng:


“He was considered one of the most honest and capable generals of the South Vietnamese army during the long war in Southeast Asia. General Bruce Palmer described him in his book The 25-Year War as a “tough, seasoned, fighting leader” and “probably the best field commander in South Vietnam.” 22 (Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Ông được xem như là một trong những vị tướng lãnh lương thiện nhứt và có khả năng nhứt của quân đội Nam Việt Nam trong cuộc chiến dài tại Đông Nam Á. Trong tác phẩm “Cuộc chiến tranh 25 năm” của ông, Tướng Bruce Palmer [là Trung Tướng Phó Tư Lệnh MACV dưới quyền tư lệnh của Đại Tướng Westmoreland] mô tả Tướng Trưởng như là một nhà lãnh đạo cứng cỏi, dày kinh nghiệm, và, có lẻ là vị tướng cầm quân giỏi nhứt của Nam Việt Nam.”).


Sau ngày 30-4-1975, Tướng Trưởng định cư tại tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ. Ông mất ngày 22-1-2007 tại thành phố Fairfax, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ và tang lễ của ông đã được cộng đồng người Việt trong vùng tổ chức rất trọng thể với đầy đủ lễ nghi quân cách dành cho một tướng lãnh của QLVNCH. Theo ý nguyện của ông, tro hài cốt của tướng quân Ngô Quang Trưởng đã được gia đình ông mang về Việt Nam và rải trên Đèo Hải Vân.23

Thay Lời Kết
LỊch sử VNCH chỉ khoảng 20 năm và gần như lúc nào cũng ở trong tình trạng chiến tranh. Trong dân chúng, gần như không có gia đình nào không có con em trong quân đội. Càng gần cuối cuộc chiến, vai trò của các tướng lãnh ngày càng quan trọng hơn. Một số không nhỏ các tướng lãnh đã tham nhủng và làm giàu, nhiều khi là trên xương máu của chính binh sĩ dưới quyền mình. Dân chúng rất bất mãn với tình trạng tham nhủng này. Do đó họ đặc biệt quan tâm theo dõi các vị tướng trong sạch thanh liêm, và, sau cùng, đã “xếp hạng” 4 vị tướng trong sạch nhứt của QLVNCH: ‘Nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng.”Cả 4 vị tướng được dân chọn đều rất xứng đáng với lòng tin của dân chúng VNCH.

Nguồn: http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2021/11/long-nguong-mo-nhat-thang-nhi-chinh-tam.html

Thả bom không cần máy nhắm – Phượng hoàng nâu

Thành kính cầu nguyện cho người ( T/T LOAN ) được an lành nơi miền vỉnh cửu.

Phượng hoàng nâu.

Old School Spad, Monogram's 1/48 A-1 Skyraider VNAF, Finished!!! - Page 2 -  Vietnam GB - Britmodeller.com

Chúng tôi vẩn nhớ đến ” Anh Tư mắt kiến “, một người Anh rất bình dị, không trình diển, can đãm và rất thương đàn em, luôn luôn bảo bọc, che chở, chăm sóc cho chúng tôi, mong rằng ngày giồ cuả anh được anh em trang trọng tổ chức để có dịp gặp lại nhau, kể cho nhau nghe những huyền thoại về anh, và thắc chặc tình chiến hửu một thời bên nhau.
Năm ấy 1963, sau vụ hai phi cơ phãn loạn oanh kích dinh độc lập, tình hình thật căn thẳng trong quân đội nói chung, riêng trong KQ, anh em khu trục tại biên hòa mổi khi ra phi cơ đi bay, trên đoản lệnh hành quân phải ghi tên hoa tiêu và chiếc phi cơ được bay để họ kiểm soát hành vi cuả mổi hoa tiêu.

Riêng tại phi trường TSN có hai phi cơ khu trục được biệt phái túc trực bào vệ bảo vệ không phận thủ đô.Đối với phái bộ cố vấn HK vũ khí viện trợ chỉ được xữ dụng cho HQ chống CS, không thể xử dụng trong mục đích chính trị. BTLKQ thành lập phi đoàn không thám 716 do Đ/U Hà Xuân Vịnh CHT, đặt tại TSN, gồm một số phi cơ T-28B và phi cơ quan sát trang bị hệ thống dò sóng do phòng 6/BTTM cai quãn.Như vậy chúng ta hợp thức hóa hai chiếc khu trục túc trực bảo vệ không phận thủ đô suốt ngày, tuy nhiên vấn đề phi xuất hành quân phải có, nên chúng tôi mổi buổi chiều thi hành những phi vụ oanh kích tự do tại vùng mật khu.
D/U Nguyển ngọc Loan CHT bộ chỉ huy không chiến, một hoa tiêu xuất sắc của KQ, rất đam mê bay bổng, mổi buổi chiều Ông thường lái xe sang phi đoàn để được bay.Vì vấn đề an phi, chúng tôi đưa cuốn TO ( technical manual) cho Ông bắt học và xúm lại khảo sát rất cặn kẻ, Ông rất thông minh, trả lời từng điểm một không thiếu một điểm nào.Chúng tôi đồng ý thả bay và xác định hành quân cho Ông.

Trong một phi vụ hành quân oanh kích tự do tại phước hoà sát vùng chiến khu D do tôi hướng dẩn phi tuần 2 chiếc, sau khi cất cánh tại TSN, lấy hướng đi về chiến khu D, chiếc số 2 do Ông tư mắt kiến lái cứ nhảy lên nhảy xuống không vào vị trí hợp đoàn chiến đấu, tôi lo sợ Ông bị trở ngại kỹ thuật nên gọi vô tuyến hỏi chuyện gì xảy ra ?Ông tư trả lời rằng : Tao tìm cái bật lửa rớt xuống sàn taù để đốt thuốc lá, thèm thuốc lắm rồi !!!.
Tôi trả lời : Thôi Ông Ghiền ơi, hảy bay cẩn thận, tôi bày cho cách đốt thuốc lá mà không cần bật lửa. turn on đèn cái maý mhắm nó đủ nóng để đốt thuốc lá đấy. Ông Tư thực hành ngay, có hiệu quả và có lẻ Ông Tư ” phê “quá nên quên turn off đèn cái máy nhắm, khi đến mục tiêu thì đèn máy nhắm cũng tắc luôn vì quá nóng.

Tôi quần thảo trên mục tiêu, lựa chọn những chòi lá để thực tập nghề thả bom và bảo số 2 hang in high mang bom về đáp, Ông Tư không chịu đòi xuống thực tập thả bom *!!. Để làm vui lòng Ông xếp, tôi đề nghị hợp đoàn sát cánh thả bom dùng máy nhắm của phi cơ tôi, Ông xếp đồng ý thế là chúng tôi thi hành, khi vào cận tiến thả bom, tôi nói “now” Ông bấm nút, nhưng vì thời gian tính delay nên bom rơi ngoài mục tiêu trên một trăm thước vào đám rừng gần bên bờ suối cạn.
Hai tuần sau phi vụ này, Ông Tư gọi điện thoại qua phi đoàn, báo rằng bộ binh hành quân lục soát vùng phước hoà đã phát giác tử thi cuả huyện ủy do Kq oanh kích chết và họ dề nghị cho huy chương đồng Ông ghi tên tôi được lảnh huy chương ?Tôi không chụi lảnh huy chương với lý do tôi đánh trúng mục tiêu nên không có hiệu quả, còn Ông thả bom trật mục tiêu đến một trăm thước nên các cấp chỉ huy quân CS chạy nhanh trước thuộc cấp mới lảnh đạn ?Ông trả lời: Tao nhốt mầy bây giờ !!!
Phượng hoàng nâu.

( *) Thường anh em khu trục đi hành quân, không thích mang bom về dáp, vì lở tai nạn xảy ra rất nguy hiểm và nhất là ” tái dức ” giống như các em độc thân mang đạn đi tìm chị em ta gặp ngày cảnh sát bố ráp chị em ta tản mát, không có mục tiêu phải quay về năng nề thật “tái dức”.

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1190135128&first=1680&last=1739

Chuyện tầm phào : Covid và Bikini medicine – Lý sự Cùn

Lý sự Cùn

Có các ông bạn yamaha ‘khen’ Lý Toét viết tầm bậy.. trúng tầm bạ, bàn chuyện trên trời dưới đất .. trật đường rầy.. nhưng cũng có các vị Nữ lưu ‘chê’ là viết nhảm.. Đọc ‘chẳng hiểu gì.. sốt’ viết lưng chừng loạn xà ngầu..

   Lý Toét xin cám ơn các Vị : Nam, Nữ và cả các Vị không phái tính! (Chính phủ Mỹ vừa cho phát hành Passport, không ghi.. Sex! vào phòng vệ sinh khỏi nhìn nhìn bảng treo cửa).. Đang nhổ râu, nghĩ xem mình bây giờ nên chọn ‘sex’ nào đây? cứ lửng lơ có lợi quá đi.. thì Bác Xạ Xệ, trời Tây, gửi cho bài báo Mỹ (?) “The Danger of ‘bikini medicine’ của các ông bà MD (có thẩm quyền) viết.. Ngộ quá chời?

  Ngay cái tựa : Bikini Medicine (?) thật cố dịch .. sát nghĩa : Y học Hai mảnh (?) : mảnh trên, mảnh dưới? và ‘mảnh là mảnh gì đây! Thật rắc rối? Lý Toét đành giữ nguyên hai chữ .. bikini? California có những quán Cà phê bikini, đèn sáng choang ; các nơi khác tại Mỹ có kiosque cà phê.. gọi là Coffee Bikini-barista… kỳ lạ vì từ nhỏ khi đi bơi .. thì bikini chỉ trong hồ bơi (piscine) hay ra bãi biển..

                                                              Bikini coffee

   Hỏi Bác Xã nên dịch bikini là gì thì Bác dậy : vào Wikipedia thì sẽ biết!

“Bikini .. cứ tưởng chữ Nhật, chữ Mỹ.. lại là chữ Tây! Phờ-răng-xe tuyệt vời .. là bộ áo tắm hai mảnh.. Wikipedia viết.. “featuring 2 triangles of fabric on top that covers the woman’s (kiểm duyệt đục bỏ) and two triangles of the bottom : the front covering.. (đục bỏ luôn..) .. Vậy bikini có đến 4 mảnh tam giác? Ngộ thật, bây giờ nhờ wikipedia Lý Toét mới hay 

Bikini  và Biểu tượng Y khoa

Bài báo : Bikini Medicine này trên MDLinx ngày 21 tháng 10 , 2021..https://www.mdlink.com/article/the-dangers-of-and-8216-bikini-medicine-and-8217/

   Lý Toét đọc liền, cứ tưởng là được xem hình .. bikini ! (như Sport Illustrated), chẳng thấy gì hết trơn, gọi cho Bác Xã phản đối.. bị mắng : Đồ già .. dịch.. và cúp máy..ụt ụt !

Thôi thì ráng đọc , may quá có đoạn viết về Cô.. Vít thiệt hay :

.. “Trong cơn đại dịch Covids 19.. Các nghiên cứu cho thấy cần “cởi tuốt vụ khác biệt phái tính” (uncovering sex-specific differences) thì mới chữa bệnh hữu hiệu..

   Nghiên cứu công bố trên báo Journal of Women’s Health, theo dõi các dữ kiện thu được từ 1.4 triệu bệnh nhân, ghi chép trong khoảng thời gian 1 tháng Giêng đến 1 tháng 5 năm 2020, các nhà nghiên cứu ghi nhận; “ Các triệu chứng như nhức đầu, ngửi không thấy mùi (anosmia) và nếm không biết vị (ageusia) xảy ra nhiều hơn ở nữ bệnh nhân… Triệu chứng về tai, mũi và họng cũng thường gặp hơn nơi người nữ.. Quý Bà ít được thường xuyên  làm X-ray ngực, và thử máu hơn.. tỷ lệ được nhập viện rồi vào ICU cũng thấp hơn Quý Ông.

   MDLink May 20, 2021 còn có bài so sánh tác dụng thuốc chủng ngừa covid-19 trên hai phái Nam-Nữ  về hoạt tính (effectiveness) cũng có sự khác biệt .. tuy nhỏ : dữ kiện thu thập từ 851 Nam và 430 Nữ:

  • Moderna : 95.4 % cho Nam và 93.1 % cho Nữ
  • Pfizer & BioNTech : 96.4 % Nam và 97.3% cho Nữ

   Bài báo cho rằng.. “ có sự phân biệt đối xử ‘ khi chữa trị bệnh  dựa trên phái tính ?.. Phe Nữ có phần bị .. lơ là !  “Vùng lên chăng ?..

   Thì ra Bikini Medicine liên quan đến “Giải phóng Phụ Nữ” mà XHCH gọi là .. Phụ nữ đòi QL (quyền lợi ?) hay các lão già dịch bàn nhau.. “đòi.. lại”? Bá láp hết ý luôn!

 Theo MDLink :

    Y Học Phương Tây hiện vẫn theo một chủ trương “Trị bệnh dùng một tiêu chuẩn chung cho mọi người (one-size- fits- all) trong việc chẩn đoán và điều trị. Phái Nam được dùng  nhiều hơn ( dựa theo số mẫu thu thập) trong các cuộc thử nghiệm hơn là phái Nữ; và khi số mẫu quá ít, không tương đồng, thì kết quả (outcome) sẽ có thiếu chính xác?

   Bản báo cáo của Ludeman Family Center for Women’s Health Research , Colorado (School of Medicine) June 11 2019 :

  Sự khác biệt giới tính (sex differences) đưa đến sư chẩn đoán thấp (underdiagnostic) hay chẩn đoán trễ trong hơn 700 loại bệnh nơi phụ nữ (so với quý ông).

   Nhận định lỗi thời và không  phân chia phái tính : Chữa bệnh cho Nam Nữ.. giống nhau được gọi là.. bikini medicine !..để ‘tượng hình ‘cho quan điểm sai lầm : Sức khỏe Phụ Nữ chỉ.. khác với Nam giới.. ở các phần cơ thể che bằng bikini (parts of the body that bikini could cover )!

   Lý Toét.. tạm hiểu là .. trần gian có hai phái Nam và Nữ, cơ thể khác nhau (?), Nữ có cái mà Nam không có và ngược lại ? và có cái phải che bằng bikini? và nếu không che thì sẽ giống nhau?.. còn các Vị không nam chẳng nữ thì làm sao đây ? không lẽ phải  có thêm môn monokini medicine ?

  Bài báo trong Nature Communications  (8 Feb 2019) bàn về lý thuyết trên :https://www.nature.com/articles/s41467-019-08475-9
  Sex và gender là hai yếu tố căn bản cho một nền Y học chính xác (sex được định nghĩa là các khác biệt sinh học = biological component) còn gender là cấu trúc xã hội = social construction). Các tác giả đã ghi rõ một số bệnh như bệnh tim mạch, xương xốp và bệnh “tự miễn dịch” (auto-immune) có các tác động rất khác nhau trên các bệnh nhân Nam và Nữ. Việc chữa trị cần lưu tâm hơn và chú ý đến giới tính.

1- Bệnh Tim mạch :

    Sex ảnh hưởng rất nhiều đến các bệnh tim-mạch (bây giờ Tây mới biết..Thầy Lang biết từ khuya, nữ nhân Tàu.. cài trâm) từ cách biểu hiện của triệu chứng đến cách cơ thể đáp ứng với thuốc. Thí dụ ghi trong nghiên cứu tại ĐH Colorado (dẫn trên) cho thấy phụ nữ dùng thuốc tim mạch nhiều gấp đôi và cũng bị phản ứng phụ với thuốc nhiều hơn khi cả hai ‘phe’ uống cùng một loại thuốc..Tuy vậy các Quan Đốc vẫn kê toa.. cùng liều cho cả hai.. phe !

    Tạp chí Circulation (15-Feb-2021) đưa ra một nhận xét rất hay :   Hàng chục năm nay, con số  giới hạn cao (upperlimit) của áp suất tâm thu (systolic blood pressure (SBP) nơi người lớn là 120mm thủy ngân (Lý Toét chỉ biết khi được quan Đốc đo tăng xông, bóp bóp quả banh cao-su, rồi phán.. Cụ Lý.. cao quá 180.. a lê uống thuốc!), nhưng các nhà ‘Tim học’ lại nói ‘cần phải định lại cái con số SBP tối ưu áp dụng cho.. Quý Bà” và cần hạ bớt con số này?   Nghiên cứu tìm hiểu trong 27.542 người có SBP tiêu chuẩn, trong đó 54% là Phe Nữ. Phân tích dữ liệu theo dõi 28 năm về sức khỏe, họ tìm được “nguy cơ mắc bệnh tim mạch cùng các trường hợp bệnh xảy ra (incidence) tăng lên nơi ngưỡng thấp (lower threshold) của SBP nơi Nữ giới (so với quý ông.).

     Lý do được giải thích là  có sự ‘khác biệt về cấu tạo thân thể ‘tim-mạch’ giữa Nam và Nữ’ (Ngộ thiệt.. vì còn khác biệt quan trọng khác nữa mà các Quan Đốc Tim lại  không bàn) Phụ nữ có các mạch máu động mạch (arterial) đường kính hẹp hơn (so với Nam và tính theo tỷ lệ cơ thể..) Do đó cẩn xác định lại khoảng đo (range) của SBP thích hợp nơi phái Nữ..Nếu chỉ dựa theo tiêu chuẩn chung cho hai phe.. sẽ đưa đến việc chẩn đoán ‘thiếu sót’ khi định bệnh cho Nữ giới ?Mời đọc : https://www.ahajournals.org/doi/10.1161/CIRCULATIONAHA.120.049360

2- Bệnh Tâm thần ?”

   Các Ông Bà Đốc tờ phán : “ Sex ảnh hưởng đến việc chẩn đoán bệnh tâm thần ! kể cả loại Bệnh ‘kém chú tâm/ hoạt động tâm thần hăng vượt mức (ADHD)..

  Các Ông Đốc không dậy thì Lý Toét cũng đã ‘ trải nghiệm’ vụ này từ xưa rồi! Sư tử.. Hà Đông mà nhất là các mợ.. xồn xồn (?) : Sáng nắng, chiều mưa và nạn nhân luôn luôn là phe ta , râu quặp.. cứ xem chân dung Lý Toét là thấy ngay..

  “Nordic Journal of Psychiatry” (Nov 2020) (Báo của dân xứ.. lạnh).. khi nghiên cứu dữ liệu sức khỏe tâm thần của 100 (50/50) tây-đầm mắc chứng ADHD,  xét về lúc giới thiệu (referral), tiến trình định bệnh và điều trị.. Bài báo tìm thấy :

  • Đầm đi khám bệnh ‘siêng năng’ hơn, trước khi được đốc tờ xác định bệnh và Đầm thường hay được cho thuốc ‘không trị ADHD’.. hơn Tây ?
  • Đầm được giới thiệu đến các BS ‘tâm lý’ nhiều hơn ( chắc vì lý do của con Tim= emotional  chăng ?)

  Các chuyên gia kết luận :  “Vấn đề.. hóc môn, và thành kiến xã hội về giới tính là lý do Đầm ít được chú ý và chữa trị đúng mức ?”  “BMJ Open Sport & Exercise Medicine (March 2021) tìm ra khác biệt “tâm thần’ giữa Nam-Nữ trong giới lực sĩ nhà nghề : 523 vị (56% Nữ) cho thấy các Bà.. bị ‘bệnh tâm thần (không ghi rõ là mát, tưng tửng hay.. gì đó ?) nhiều hơn! và ít.. yêu đời hơn Quý Ông? Báo giải thích lý do là do yếu tố xã hội (!) Nữ lãnh lương thấp hơn! báo chí tạo nhiều ..xì trét hơn?

3- Triệu chứng Sì tróc (Stroke) : (Tai biến mạch máu não)

   Trong một số trường hợp , biết rõ sự khác biệt về triệu chứng bệnh giữa Nam-Nữ là có thể cứu bệnh nhân khỏi chết, thoát nạn trong trường hợp ‘’ngàn cân treo sợi tóc’

   Northwestern Medicine liệt kê một số triệu chứng stroke tại Quý Bà, mà quý Ông lại không có!

   Khi xảy ra stroke : cả hai phái thường có cảm giác tê hay suy yếu nơi mặt, cánh tay hay bắp chân; lẫn lộn (confusion), nói lắp bắp, nhìn mờ nhạt ; khó bước đi; choáng váng hay mất thăng bằng và.. nhức đầu nhiều..

   Phía Nữ, còn  thêm các triệu chứng riêng như : nấc cục (hiccup); buồn nôn, đau tức ngực, mệt mỏi, hụt hơi (shortness of breath) và tim đập nhanh..

  Phe Nữ có khuynh hướng có thêm nhiều yếu tố tạo nguy cơ stroke hơn như uống thuốc ngừa thai, huyết áp tăng khi có bầu (preeclampsia), nhức đầu loại migraine vả các bệnh tim khác như rung tâm nhĩ (atrial fibrillation)..

  Nên lưu ý là 1 trong 5 quý Bà sẽ bị.. stroke trong cuộc đời đó ? nhưng cũng chớ lo vì cũng theo thống kê thí..”Các Bà .. thọ hơn các Ông “?, các Bà ‘kiên cường’ lại còn sống “độc thân tại chỗ’ mới đáng .. quan ngại ?

   Xin mời đọc bài ‘quá hay’ này tại

https://www.nm.org/healthbeat/healthy-tips/what-are-differences-stroke-symptoms-women-men
Avertissement de redirection

  Lý Toét lẩm cẩm chợt nhận ra rằng : Giời sinh làm gì.. Đàn bà đây? để các Ông Đốc tờ có thêm cái ngành Y khoa mới Bikini này ?

                                                                          Lý sự Cùn (10/2021)

Nguồn: Cảm ơn Mr TL chuyển bài.

Trong nghĩa trang buồn – Huy Phương

Huy Phương

Trong sinh hoạt cộng đồng đã qua tại Nam California, Vietnamfimls Club từ Hoa Thịnh Ðốn đến, đã  tổ chức một buổi ra mắt cuốn DVD “Hồn Tử Sĩ, Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hoà” trước một số người tham dự đông đảo, phần lớn là các cựu quân nhân VNCH.

Câu chuyện Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hoà được mọi người quan tâm không phải bây giờ mà cách đây đã khá lâu, khi một số người tỵ nạn Cộng Sản đã ra được nước ngoài, vẫn canh cánh bên lòng câu chuyện đau lòng của nghĩa trang miền Nam, nơi đã chôn cất hàng chục nghìn tử sĩ của miền Nam. Nghĩa trang này sau khi miền Nam thất thủ, đã không được chính quyền Cộng Sản, những người thắng cuộc tôn trọng và cư xử với đạo lý “nghĩa tử là nghĩa tận” của người Ðông phương hay với tính cách nghĩa hiệp của người văn minh phương Tây, đối với những người cùng chung một nước, như sự cư xử của Bắc quân khi miền Nam thất trận trong cuộc nội chiến (Civil War 1861-1865) của Hoa Kỳ.

Ngay đối với đội quân xâm lược từ một quốc gia khác, khi tiếng súng đã ngưng, những đối thủ ngày trước, bây giờ cũng phải được tôn trọng, nhất là đối với những người đã chết.

Nước Pháp có mộ chiến sĩ vô danh nằm dưới Khải Hoàn Môn từ ngày 11 Tháng Mười Một, 1920, nơi có khắc hàng chữ “Nơi đây yên nghỉ một người lính Pháp chết cho tổ quốc.”(1914-1918). Tuy vậy vào ngày 14 tháng 7 năm 1940, nghĩa là trong thời gian Quân đội Ðức chiếm đóng Paris, buổi lễ Chiến Sĩ Trận Vong, vẫn được tổ chức với sự cho phép của sĩ quan Ðức.

Thay vì đào mồ bới mả kẻ thù lên mà hả hê sung sướng, reo hò khi đã thắng được kẻ thù, chúng ta được biết trong năm 2015, Ukraine đã tháo dỡ gần 140 tượng đài của Liên Xô và chính phủ Ba Lan có kế hoạch hạ bỏ  khoảng 500 tượng đài Liên Xô, kẻ thù ngày trước, nhưng không đụng đến tượng đài ở các nghĩa trang, nơi an nghỉ của những người lính Xô viết.

Sau khi cuộc nội chiến ở Mỹ kéo dài 4 năm kết thúc, chính phủ Liên Bang đã trả lại tài sản bị trưng dụng hoặc bị chiếm đoạt cho phe bại trận để hàn gắn vết thương chiến tranh và những người lính hy sinh từ hai chiến tuyến được chôn chung trong một nghĩa trang với nhau, hoàn toàn không có sự phân biệt kẻ thắng người thua.

Chỉ vài ngày sau khi miền Nam thất thủ, bức tượng “Thương Tiếc,” tác phẩm điêu khắc của Nguyễn Thanh Thu, bằng đồng, nặng 10 tấn, cao hơn 6m, ghi lại hình ảnh của một người lính gác súng, ngồi trên bệ đá trước nghĩa trang, đã bị Cộng Sản giật sập và kéo đi. Từ đó, nghĩa trang Quân Ðội Biên Hoà được xem như một vùng quân sự, cấm người dân ra vào.

Năm 1995, ký giả Gordon Dillow, sau khi bất ngờ vào được trong Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hoà, ông đã viết trên Orange County Register như sau: “Hai mươi năm trước, đây là Nghĩa Trang Quốc Gia lớn nhất với đài tưởng niệm các chiến sĩ của miền Nam VNCH, bây giờ là bãi đất hoang vu, bị bỏ mặc không ai chăm sóc, bị phá hoại. Những nấm mồ bị đào xới không còn nhận dạng được. Nhà cầm quyền CS đã trồng một số cây, ngay bên cạnh các mộ phần, khiến cho bộ rễ của cây khi lớn lên sẽ phá nát những ngôi mộ bên dưới.

Ký giả Dan Southerland của đài Á Châu Tự Do, năm 2005, khi ghé thăm Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hoà, đã nhận ra đây là một khung cảnh thù địch, khiến cho ông phải bàng hoàng. Nghĩa trang như một căn cứ quân sự, hay như một nhà tù, có lính Cộng Sản canh gác ngày đêm. Họ sợ điều gì vậy?

Ông Dan cũng đã đi thăm một vài nghĩa trang của những người lính Cộng Sản, sự tương phản làm cho ông ngỡ ngàng, một bên được chăm sóc đẹp đẽ, mở cửa cho mọi người vào, một bên như là một nhà tù. Tất cả chỉ là hoang phế, phá hoại và lấn chiếm.

Sau ngày 30/4 một trong những chủ trương trả thù của quân Cộng Sản, nhằm xoá bỏ di tích của cuộc chiến, là triệt phá tất cả các nghĩa trang của quân đội VNCH trên toàn miền Nam, ngoại trừ duy nhất là Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hoà chưa bị san bằng và mọi việc thăm viếng đều bị kiểm soát.

Bằng chứng là vào đầu tháng 5-1975, Cộng Sản đã cho san bằng hằng nghìn ngôi mộ ở Nghĩa trang Quân Ðội Gò Vấp, và sau đó là số phận của Nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi, nơi chôn cất Thống Tướng Lê Văn Tỵ và hai anh em Tổng Thống Ngô Ðình Diệm.

Theo Wikileaks, hồi năm 2008, Nghị Sĩ Jim Webb đã bí mật đến thăm Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, nằm trong tình trạng hoang phế vì không có người chăm sóc. Dịp này, Nghị Sĩ Webb gặp bí thư thành ủy và chủ tịch thành phố Sài Gòn là Lê Thanh Hải và Nguyễn Hoàng Quân. Ông Webb khuyến khích nhà cầm quyền Cộng Sản, đây đã đến lúc hòa giải với cựu quân nhân VNCH.

Các viên chức đảng Cộng Sản này, khi đáp lời ông Webb, đã không nhắc gì tới quân đội VNCH mà chỉ nói tới vai trò quan trọng của Mỹ trong việc phát triển kinh tế Việt Nam, tức là xin viện trợ. Cả hai đều nhắc tới những “bước tiến trong quan hệ hai nước, để người Việt ở Mỹ có thể trở về nước làm ăn!”

Báo chí ở Việt Nam hàng năm nêu ra con số hàng trăm tỉ đô la do người Việt hải ngoại, đa số là những người chạy trốn Cộng Sản, gửi về nước cho thân nhân mà nhờ đó có tiền nuôi chế độ. Nhưng chế độ này, tuy bề ngoài vẫn hô hào hoà hợp hoà giải, quên đi quá khứ, nhưng vẫn quyết tâm ngoảnh mặt làm ngơ, không tương nhượng với việc hoà giải ngay cả với người chết là việc trùng tu Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hoà hay coi đây như là một di tích lịch sử.

Thật bất hạnh cho miền Nam chúng ta, đã có một đồng minh bội phản và hơn thế, một thứ kẻ thù mọi rợ, nhỏ nhen.

HP

Nguồn: https://baotreonline.com/van-hoc/chuyen-doi-thuong/trong-nghia-trang-buon.baotre

TT NĐ Diệm Chết Vì TT Kennedy Quyết Định Trao Toàn Quyền Hành Động Cho ĐS Lodge Năm 1963

  • Đào Văn

* TT Kennedy:Đại Sứ Lodge  có toàn quyền hành xử đối với tất cả các hoạt động công khai và bí mật

* Bộ trưởng Rusk: muốn cứu ông Diệm, nhưng Đại sứ Lodge cho rằng không có hy vọng tách rời Diệm và Nhu

* Lệnh  của TT Diệm yêu cầu TT Cao và Đại Tá Dinh mang quân về Sài Gòn cứu nguy
* Đại sứ  Lodge: yêu cầu các Tướng ra tuyên bố tránh né vụ  sát  hại Diệm –  Nhu,  và lo ngại về thi thể TT Diệm có dấu vết bị đánh đập
* Các Tướng phe đảo chánh bất hòa, bị phía TQLC đe dọa đảo chánh
* TT Kennedy gửi điện văn khen Đại sứ Lodge hoàn thành tốt nhiệm vụ.

https://vietbao.com/images/file/HvV0TdOX2QgBACpB/dao-van.jpg

Phần trình bày sau  tóm lược trích đoạn các văn bản của thư viện Kennedy được giải mật và được  phổ biến trên thư viện Bộ Ngoại Giao online về các diễn biến sau cuộc đảo chánh, bao gồm điện văn của TT Kennedy gửi chúc mừng Đại sứ Lodge hoàn thành tốt nhiệm vụ trao phó sau cuộc đảo chánh thành công.

** Diễn tiến trước ngày đảo chánh 01.11.1963

Thư viện CIA 16.12.2016 – Theo tài liệu phổ biến trên thư viện online của Cơ quan Tình Báo Trung Ương CIA:” Tướng Taylor đã khơi lại chủ đề về việc loại bỏ chính phủ Diệm. Vào ngày 24 tháng 8, khi ông còn là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, có  thấy bản văn  của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ  gửi  đến đại sứ quán ở Sài Gòn.

Đó là điện tín của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao W. Averell Harriman, Phụ Tá Ngoại trưởng Roger Hilsman và một nhân viên Nhà Trắng, Michael Forrestal… cho thấy chủ yếu về  sự thay đổi lớn và mang tính cưỡng chế trong chính sách của Mỹ. Đáng chú ý  là điện văn  đã không qua tay của  Ngoại trưởng Dean Rusk, người không chống Diệm.

Ý nghĩa của bản văn gửi cho tân đại sứ Henry Cabot Lodge, là Hoa Kỳ sẽ không còn dung thứ cho sự hiện diện của  Nhu trong chính quyền Sài Gòn. Tuy nhiên, Diệm phải được tạo cơ hội để tránh xa Nhu. Đồng thời, Lodge phải thông báo cho các tướng chủ chốt  cuộc đảo chánh  về sự thay đổi lập trường của Hoa Kỳ. Không chỉ có vậy, nếu tại một thời điểm nào đó các tướng lĩnh quyết định loại bỏ Tổng thống Diệm, họ phải được cho biết là phía Hoa Kỳ sẽ trực tiếp hỗ trợ hành động của họ – if at any point the generals decided to get rid of President Diem, they were told the United States would directly support their action. Vậy thực chất lời chỉ dẫn này đối với đại sứ là gì? Chỉ có một bộ óc méo mó mới coi đó không phải là giấy phép cấp cho quân đội miền Nam Việt Nam thành lập một băng nhóm để bắn hạ Diệm và Nhu với sự chấp thuận của Hoa Kỳ – but if at any point the generals decided to get rid of President Diem, they were told the United States would directly support their action”.[1]

* Hội Đồng An Ninh Quốc Gia họp bàn kế hoạch lật đổ chính phủ NĐ Diệm

29.8.1963  Biên bản cuộc họp giữa Tổng Thống Kennedy và HĐANQG
Thành phần tham dự cuộc họp: ” President Kennedy, Secretary Rusk, Secretary McNamara, Secretary Dillon, General Carter, Director Murrow, Under Secretary Harriman, Deputy Secretary Gilpatric, General Krulak, Ambassador Nolting, Assistant Secretary Hilsman, Mr. Helms, Mr. Bundy, General Clifton, Mr. Forrestal, Mr. Bromley Smith “…”

” -Tướng Harkins muốn cố gắng tách người Nhu ra  khỏi ông Diệm. Ông ta tin rằng mục tiêu của chúng ta là Nhu hơn là Diệm- our target is more Nhu than Diem.

– “Đại sứ Nolting hỏi liệu chúng ta có ý định dùng  thiết bị quân sự vào cuộc đảo chính chống Diệm hay không, chẳng hạn như sử dụng trực thăng Mỹ để vận chuyển lực lượng của các Tướng đảo chính đến Sài Gòn. “Tổng thống nói rằng ông ấy muốn quay lại câu hỏi cơ bản. Qua  các bức điện từ Lodge và Harkins, có ai trong Ủy Ban đảo chánh  muốn rút  tên ra khỏi chiến dịch này không? Và, thứ hai, Ủy Ban đảo chánh nghĩ  thế nào về  cách tiếp cận với ông Diệm? – what was the feeling of the EXCOM about the issue of an approach to Diem?”

– Ông Gilpatric nói  rằng chúng ta nên đối đầu với Diệm bằng một tối hậu thư có hiệu lực trong vòng vài giờ để Diệm không thể có hành động phản công nào chống lại các tướng lĩnh trong giai đoạn trước khi họ ra tay  hành động – so that Diem could not take counteraction against the generals in the period before they were ready to act.

– Đại sứ Nolting – Để trả lời câu hỏi của Tổng thống về việc ai đang điều hành chính phủ hiện nay, Đại sứ Nolting trả lời rằng Tổng thống Diệm đang nắm quyền kiểm soát và tiếp tục làm việc mười tám giờ một ngày như thường lệ.   Diệm dựa vào các ý tưởng của Nhu. Nhân viên hành pháp của ông là Thuần, người chống lại Nhu nhưng trung thành với Diệm. Thuần sẽ ở lại với Diệm nếu Nhu bị cách chức.

– Bộ trưởng Rusk nói  rằng chúng tôi đang đối phó với Nhu,  nếu  cuộc đảo chính thành công, Nhu sẽ mất quyền lực và có thể mất cả tính mạng của ông tawould lose power and possibly his life. Vì vậy, Nhu không còn gì để mất và chúng ta phải nhìn nhận sự thật này khi đối phó với ông ta. Hoa Kỳ không nên đến gặp Diệm  với  yêu cầu sa thải Nhu, mà là để các tướng lĩnh Việt Nam yêu cầu Diệm cách chức Nhu, coi  như một màn dạo đầu cho  cuộc đảo chính– as a prelude to a coup.

– Bộ trưởng McNamara nói ông ta ủng hộ việc cố gắng cứu ông Diệm, nhưng Đại sứ Lodge dường như không ủng hộ nỗ lực này.-he favors trying to save Diem, but Ambassador Lodge appears not to support such an attempt.

– Bộ trưởng Rusk nói rằng giai đoạn đầu tiên là loại bỏ Nhu và bà Nhu khỏi chính quyền. Đại sứ Lodge cho rằng không có hy vọng tách rời Diệm và Nhu-  there is no hope of separating Diem and Nhu. “…”

– Tổng thống nói rằng chúng ta có thể thông báo sẽ ngừng viện trợ vì điều kiện bất ổn ở Việt Nam. Tuy nhiên, đây sẽ là biện pháp tiếp theo sau  khi  quyết định về các  hành động cần thực hiện ngay lập tức-we should decide now on the actions to be taken immediately..

– Bộ trưởng Rusk và Bộ trưởng McNamara đồng ý rằng nên chỉ thị cho Tướng Harkins hỗ trợ CIA và lấy thông tin về kế hoạch đảo chính. Tướng Taylor yêu cầu chúng tôi tránh đưa ra bất kỳ cam kết nào với các tướng lãnh cho đến khi họ đưa ra một kế hoạch đảo chính được chúng tôi chấp nhận– we avoid making any commitment to the generals until they had produced a coup plan acceptable to us.“…”

-Tổng thống nhận xét rằng các tướng lĩnh Việt Nam rõ ràng đang cố gắng để chúng ta tham gia ngày càng nhiều hơn, nhắc lại nhận xét của Đại sứ Nolting – lập trường của chúng ta là gì nếu chúng ta được hỏi liệu lực lượng Hoa Kỳ có sẵn sàng hỗ trợ các tướng lĩnh Việt Nam hay không?

– Ông Hilsman cho biết mục tiêu của chúng ta cần trấn an các tướng lĩnh ủng hộ chúng ta. Những vị tướng này muốn làm cuộc đảo chính không đổ máu và sẽ không cần sử dụng thiết bị của Hoa Kỳ, ngoại trừ có thể là dùng trực thăng của Hoa Kỳ.

– Tổng thống tóm tắt các hành động đã thống nhất sẽ được thực hiệnThe President summarized the agreed actions to be taken:

  1. Tướng Harkins sẽ được chỉ thị để hỗ trợ các phương pháp tiếp cận của CIA với các tướng lĩnh Việt Nam.
  2. Ambassador Lodge được ủy quyền để thông báo về việc Hoa Kỳ ngừng viện trợ-  
Ambassador Lodge is to be authorized to announce the suspension of U.S. aid.

  3. Không có thông báo nào được đưa ra về việc di chuyển của các lực lượng Hoa Kỳ đến khu vực này.  Chúng ta không nên để người Việt Nam kết luận rằng chúng ta đang trong  tư thế can thiệp vào Việt Nam cùng với các lực lượng chiến đấu của Hoa Kỳ.
  4. Đại Sứ Lodge  có toàn quyền hành xử đối với tất cả các hoạt động công khai và bí mậtAmbassador Lodge is to have authority over all overt and covert operations..   “…”

“Tổng thống hỏi chúng tôi sẽ phải nói gì với ông Diệm. Chúng ta nói rằng ông ta ( Diệm) phải chọn giữa việc sa thải Nhu – Must we tell him that he must choose among firing Nhu hoặc ngừng viện trợ or having us cease our aid hoặc đối mặt với một cuộc đảo chính quân sựor being faced with a military coup. .”…”

    “Đại sứ Lodge đã trả lời vào sáng hôm sau, bày tỏ sự hiểu biết của ông ta về các chỉ thị  của Tổng thống. Các Bộ Trưởng  Rusk và McNamara là những quan chức duy nhất trong chính phủ biết về thông điệp này và thư trả lời ( của ĐS Lodge) Secretaries Rusk and McNamara were the only officials in the government who knew of this message and the reply.”[2]

**  Diễn biến  trong và sau  ngày 01.11.1963

“Mệnh lệnh của Ngô Đình Diệm” kêu gọi đem quân về ” giải phóng thủ đô”

Ngày 01.11.1963 –  TT Diệm đánh điện kêu cứu…Bản văn này là bản sao của ” phiếu nghiên cứu”, ghi lại  “mệnh lệnh” của ông Diệm, thuộc KBC 3401. Bản sao này được ghi là lấy từ nguồn của NSA, nội dung ” mệnh lệnh ”  như sau: 
“1/-  Sơ lược vấn đề: Mệnh lệnh của Ngô Đình Diệm gửi cán bộ quân dân chính khi cách mạnh bùng nổ. Trong số này cố  gọi Đại Tá Bùi Dinh và Thiếu tướng Cao đem 4 tiểu đoàn về giải phóng thủ đô vào 4 giờ chiều ngày 01.11.1963.
2/- Nhận xét và đề nghị: Kính trình Thiếu Tá
          KBC 3401, ngày 20.11.1963 – Ký tên – BẢN SAO”

https://vietbao.com/images/file/YZmUlNOX2QgBAEk5/w600/dao-van-2.jpg

( Ghi chú: bản văn không phải do TT Diệm viết tay như chú thích trên bản chụp của ” Phiếu Nghiên Cứu’” là “Diem’s handwritten proclamation…” )

* Thiếu Tướng HV Cao và Đại Tá Bùi Dinh đem quân về cứu, nhưng…Đại Tá Bùi Dinh, Tư lệnh Sư Đoàn 9 BB vào ngày 01/11/1963 đã điều binh từ Bộ Tư lệnh đóng tại Sa Đéc về Sài Gòn cứu TT.Diệm; Nhưng Đại tá Nguyễn hữu Có tân Tư lệnh SĐ 7 BB (nhậm chức vào ngày 31/10/1963) dàn quân ra chặn ở ngã ba Trung Lương – đồng thời ra lệnh  rút hết các phà tại Rạch Miễu và tại  Bắc Mỹ Thuận, để cản trở binh lính SĐ9 BB vượt sông. Trường hợp Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, không thể đưa quân về ứng cứu được vì các phà tại bắc Mỹ Thuận đã bị lấy đi, nên không thể đưa quân  qua sông, và sau đó mới đánh điện công nhận HĐQN Cách Mạng. Cũng vì lý do này, vào ngày 3 tháng 11, Thiếu tướng Cao  bị cách chức Tư lệnh Quân đoàn IV và Đại Tá Bùi Dinh mất chức Tư Lệnh SĐ 9 BB.(Theo Wikipedia).

** Diễn tiến sau ngày 01.11.1963

 * Bộ Ngoại Giao yêu cầu ĐS Lodge  tái khởi động chính sách CIP

– Ngày 02.11.1963, 8:13 p.m- Điện văn của BNG gửi ĐS Lodge:   “Đại sứ Lodge ,  yêu cầu ông thảo luận các hướng dẫn sau … Tùy theo cách của ông, nhưng không sớm hơn ngày Thứ Hai giờ Hoa Thịnh Đốn, ông thông báo cho chính phủ Việt Nam biết rằng Hoa Kỳ chuẩn bị mở lại chương trình Chống Nổi Dậy Counter-insurgency /CIP /và PL 4802, ngõ hầu tránh sự gián đoạn về nỗ lực chiến tranh, kinh tế và tránh các khó khăn về dân số”- ” Theo gợi ý của ông, chúng tôi không  thông báo công khai về việc nối lại các chính sách  CIP và PL 480 – we plan no public announcement of resumption of CIP [3]
 
Ghi chú   
của người viết liên quan đến  chương trình Counter-insurgency Program / CIP-Chống chiến tranh nổi dậy (chống Mặt trận giải phóng tại MNVN) ghi trên.

 a- Bài viết trước có đoạn văn:” Năm 1961 về phía Mỹ, nhằm chống lại Liên xô qua chiến tranh giải phóng,  ngay sau khi nhậm chức vào tháng 1.1961, TT Kennedy phát động chiến tranh chống nổi dậy, chống giải phóng – Counter Insurgency Progam / CIP  – Nhưng chỉ sau khi nền đệ Nhất VNCH  bị lật đổ, thời Mỹ mới có thể đưa quân vào Việt Nam (Mar.1965) để thực hiện chiến lược này”. <

 Việt Báo ngày 11.10.2021>

   b- Theo tài liệu Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers). Từ tháng 5.1961 đến tháng 11.1963, tức khoảng thời gian 30 tháng  TT Diệm không chấp nhận thi hành chương trình CIP do Mỹ đề xướng, vì  trong đó buộc phải chấp thuận cho quân đội Mỹ vào Việt Nam tham gia cuộc chiến “When Diem  talked  of  his  worries  about  U.S . policy  in  Laos, Johnson, obviously acting  on  instructions, raised  the  possibility of  stationing  American  troops in Vietnam  or  of  a  bilateral  treaty. But  Diem  wanted  neither  at  that  time”.  Vì thế ” Các cuộc đàm phán với Diệm (về CIP) đã kết thúc vào tháng 5 (1961), không phải vì vấn đề đã được giải quyết, mà vì Mỹ quyết định ngừng một thời gian  không  gây áp lực đối với Diệm – Negotiations  with  Diem came to an end  in May, (1961) not  because  the  issues had  been  resolved,  but  because  the  U. S  decided  to  forget trying  to  pressure Diem  for  a  while“.  Và vì vậy tổng thống “Kennedy không còn có cơ hội để xem xét lại quyết định của mình về việc gửi quân đội tham chiến-Kennedy never had occasion to reconsider his decision on combat troops; ; và không có lý do để xem xét lời khuyên của Galbraith về việc loại bỏ Diệm cho đến cuối năm 1963– and no  urgent reason to consider Galbraith’s advice on getting rid of Diem  until late 1963” .[4]

  c-  Cũng trong năm 1961, về chính sách đối ngoại của TT Kennedy: Vào tháng 6 năm 1961 tại Hội nghị thượng đỉnh Vienna với Thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev, Kennedy không chuẩn bị trước và dường như bị lép vế.  Tiếp theo, các tuyên bố  cứng rắn của Kennedy về Liên Xô ở Berlin không cải thiện được tình hình — Ngược lại  Liên Xô đã  cho xây dựng Bức tường Berlin. Cuối cùng, quyết định của ông không vạch ra đường lối chống lại chủ nghĩa cộng sản ở Lào, như Chính quyền Eisenhower đã thúc giục, trái lại dùng miền Nam Việt Nam làm nơi chống lại chủ nghĩa cộng sản ở châu Á  Finally, his decision not to draw the line against communism in Laos, as the Eisenhower Administration had urged, left South Vietnam as the place to fight communism in Asia.[5]

    d- Cũng theo bài viết trước, vào năm 1960, TBT đảng Khrushchev lên tiếng kêu gọi phát động chiến tranh giải phóng để chống  lại đế quốc Mỹ, đồng thời thông báo ” Một phong trào dân tộc  giải phóng, nhằm trực tiếp chống lại đế quốc Mỹ và những kẻ làm tay sai  của chúng, đang phát triển ở Nam Việt Nam và Lào –A national-democratic movement, directed against the U.S. imperialists and their flunkeys, is developing in South Vietnam and Laos”.  <Việt Báo ngày 11.10.2021>

   e- Tháng 10.1963, trên truyền hình Pháp ông Ngô Đình Nhu lên tiếng cáo buộc Mỹ “dàn dựng” (de facon orchestrée) nhằm  tạo ra  “lý do”  để chống chính quyền Ngô Đình Diệm: ” Vụ Phật giáo và vụ sinh viên đã bị thổi phồng và loan truyền rộng rãi đã được  dàn dựng –de facon orchestrée để đầu độc dư luận trong nước và quốc tế nhằm chống lại chính phủ miền Nam Việt Nam, …  vì Ông ta  từ chối làm chính phủ  bù nhìn – et parce qu’il refuse d’être un gouvernement puppet<French TV 10.1963Ông Ngộ Đ.Nhu lên tiếng về các vụ biểu tình 1963>

* Hai tướng Đôn và Kim gặp ĐS Lodge vềvụ ra tuyên bố để tránh né vụ ám sát Diệm và Nhu

“(Đại sứ Lodge) Tướng Đôn và Tướng Kim hẹn gặp  lúc 3 giờ 03.11.1963. (Họ giải thích rằng Đại tướng Big Minh đang bận rộn họp với phó TT Thơ.) Sau khi tôi (Lodge) gửi lời chúc mừng về công tác tuyệt vời của họ và lời đề nghị sự hỗ trợ của tôi, họ hỏi tôi có câu hỏi nào không …

*1. Tôi (Lodge) hỏi liệu họ có chuẩn bị ra tuyên bố để tránh né vụ ám sát Diệm và Nhu – planning a statement which would absolve themselves from the assassination of Diem and Nhu … -*2. Tôi hỏi liệu họ có ý tưởng nào trong đầu về mối liên hệ giữa Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam không… -*3.Sau đó tôi đã hỏi về việc hình thành chính phủ tương lai như thế nào, sẽ là một ủy ban quân sự hoặc chính phủ kế nhiệm, hoặc những gì. Tướng Kim, người đã trả lời hầu hết trong cuộc nói chuyện, trả lời rằng có ba giải pháp đã được bàn thảo…. *4. Sau đó tôi hỏi họ rằng liệu các Tướng lãnh có đoàn kết để chiến thắng cuộc chiến này không?… -*5. Tôi hỏi về giải pháp an toàn cho con cái của Nhu và cho các thành viên trong gia đình xuất ngoại… -*6. Tôi hỏi họ về những người đã bị bắt và các Bộ trưởng chế độ cũ, liệu họ có được đối xử nhân đạo hay không…. -*7. Sau đó tôi hỏi về Trí Quang… -*8.Tôi hỏi về những cuộc trả thù và thanh trừng để hy vọng rằng sẽ không có những cuộc thanh trừng, những cá nhân đáng trách sẽ đối xử như những trường hợp đặc biệt…. – *9. Tôi hỏi về việc dỡ bỏ lệnh giới nghiêm và phục hồi khiêu vũ… [6]

* BNG chỉ thị  Đại sứ Lodge gặp tướng Minh để hỏi về cái chết của hai ông Diệm-Nhu

(Gửi Đại sứ Lodge) Các báo cáo về cái chết của Diệm và Nhu (bị bắn và đâm với các chi tiết đẫm máu-shot and stabbed with gory details) được báo chí đưa lên hàng đầu đã gây kinh ngạc đáng kể. Khi hình ảnh xác chết loan truyền đến Hoa Kỳ, phản ứng sẽ còn tồi tệ hơn. Cần nhanh chóng ra tuyên bố  rõ ràng và đầy đủ-Urgent that prompt and complete clarifying statement be made. Làm rõ việc đã mô tả trong công điện số 900 (November 3, 1963, 7pm ghi trên) của ông nên tính toán mọi kế hoạch hành động, và sắp xếp di chuyển quan tài Diệm và Nhu.” [7]

Báo cáo của ĐS Lodge về Bộ Ngoại Giao liên quan đến các tướng cãi vã lẫn nhau, TQLC đe dọa đảo chánh…

“1. Vào ngày 4 tháng 11, nguồn tin thân cận nói với Tướng Trần Văn Minh rằng cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính Hà Văn Vượng, và cựu Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Lê Văn Đồng, cho Minh biết rằng các Tướng đang cãi vã với nhau- the Generals are quarreling among themselves. Họ nói rằng nếu các Tướng không thể đi đến một thỏa thuận trong ngày hôm sau thì Thủy Quân Lục Chiến sẽ lãnh đạo cuộc đảo chính chống lại chế độ – if the Generals cannot come to an agreement within next day then the Marines who actually led the coup against the regime would lead a countercoup..
 2. Theo Minh (TVM), một số vật phẩm đã góp phần vào sự bất hòa giữa các Tướng lãnh–  these several items are contributing to the discord among the Generals.  Không một vị tướng nào vui mừng trước vụ sát hại Diệm. Điều kiện duy nhất của Tướng Nguyễn Khánh khi tham gia đảo chính là Tổng thống (Diệm) sẽ không bị giết. Các Tướng lãnh đã đồng ý rằng càng ít đổ máu càng tốt. Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh chỉ chiến đấu với các mục tiêu được đưa ra và tài sản sẽ không bị phá hủy.  
3. Cuộc họp của các Tướng lãnh đã chấm dứt vào lúc 03 giờ 4 phút sáng ngày 4 tháng 11 và sẽ được tiếp tục vào sau 13 giờ chiều ngày 4 tháng 11. Các Tướng lãnh không thể đi đến thỏa thuận về thành viên trong nội các. Điểm bất đồng lớn là về vai trò của Tướng Tôn Thất Đính.  Đính muốn trở thành Bộ trưởng Bộ Nội Vụ. Nguyên Phó Tổng thống Thơ phản đối mạnh mẽ việc chọn Đính đảm nhận vị trí này. Ngoài ra, một số Tướng lãnh ngần ngại về yêu cầu thứ hai của Đính là bổ nhiệm Tướng Đỗ Mậu làm Bộ trưởng Thanh niên. 
[8]

Ghi chú để bổ túc thông tin về  “một số vật phẩm đã góp phần vào sự bất hòa”  nêu trên, bản văn do BNG phổ biến không ghi rõ là “vật phẩm” gì, nhưng theo tác giả  VNMLQHT: vụ ba triệu bạc mà tướng Trần Văn Đôn nhận của Trung tá Conein trong ngày 1/11/1963. …, trong Hồi ký “Việt Nam Nhân Chứng”, tướng Đôn đã trình bày cặn kẽ số tiền kia được chia cho ai (tướng Đôn và cả tôi đều không hề sử dụng gì số tiền ấy cả) “. Theo VNMLQHT Chương 17 <Sách Hiếm net>
Tướng Harkins  hỏi tướng Đôn về các mâu thuẫn nảy sinh sau cuộc đảo chính 
“(Tướng Harkins) Tướng Đôn gọi cho tôi sáng nay. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc  với ông ta kể từ khi tướng Felt rời đi vào thứ Sáu tuần trước. Chúng tôi đã thảo luận về các kế hoạch trong quá khứ và tương lai. Tôi nói rằng tôi đã nghe rất nhiều câu chuyện mâu thuẫn về cuộc đảo chính và về cái chết của Diệm và Nhu, tôi muốn  biết chuyện này ra sao từ nơi ông ta….
    Ông ta (Đôn) cho biết sẽ nói những gì có thể, Diệm và Nhu rời Dinh (Độc Lập) tối thứ Sáu khoảng mười giờ tối. Họ đi trong một chiếc xe hơi của một thường dân Trung Quốc đến ngôi nhà ở Chợ Lớn. Mặc dù các Tướng lãnh đã nói chuyện với Diệm và Nhu vào buổi tối, nhưng cả hai anh em họ không còn ở trong Dinh (Độc Lập) nữa. Phía Bộ  Tổng Tham Mưu/TTM  biết  ngôi nhà ở Chợ Lớn và hai người ở đó đã bị bắt vào sáng thứ Bảy. Để đảm bảo an ninh, hai ông được cho lên một chiếc M-113 và chở họ về bộ Tổng Tham Mưu. Khi về đến nơi, phát giác ra hai người đã chết. Các Tướng lãnh thực sự đau buồn vì điều này, bởi họ đã nhận được sự hứa hẹn là sẽ bảo đảm an toàn. Đôn không giải thích chuyện gì đã xảy ra, và có phải là tự sát hay không nhưng không ai lên tiếng…Đôn thừa nhận rằng ông ta và Big Minh có thảo luận về khả năng sẽ có cuộc đảo chính nhưng không quá lo ngại vì họ biết khá rõ ai là người liên quan.”
[9]* Điện văn của Tổng thống Kennedy khen ngợi  Đại sứ Lodge đã hoàn thành tốt chiến dịch…

 Chính phủ Hoa Kỳ công nhận tài  lãnh đạo của ông trong việc phối hợp và chỉ đạo toàn bộ hoạt động của Mỹ tại Nam Việt Nam trong những tháng gần đây, đã mang tầm quan trọng lớn mà ông đã hoàn thành – Your own leadership… this achievement is recognized here throughout the Government.
   
Bây giờ có một tân Chính phủ  mà chúng ta sắp công nhận, tất cả chúng ta phải tăng cường nỗ lực để giúp họ giải quyết nhiều vấn đề khó khăn. Như ông đã nói, mặc dù đây là nỗ lực của người Việt Nam, nhưng công việc của chúng ta là muốn cải thiện và những việc này không đến từ Chính phủ Diệm, chúng ta phải đối mặt và chấp nhận về khả năng rằng trong vai trò của chúng ta có thể khuyến khích một sự thay đổi chính phủ. Do đó, chúng ta có trách nhiệm giúp chính phủ mới này hoạt động có hiệu quả theo mọi cách có thể, và trong những tuần đầu tiên này, chúng ta có thể tạo nhiều ảnh hưởng hơn và tạo nhiều cơ hội hữu ích hơn là trong những năm qua.
    Tôi đặc biệt quan tâm đến trọng tâm chính của chúng ta là về hiệu quả hơn là sự xuất hiện trước công chúng. Nếu Chính phủ mới có thể hạn chế sự nghi kỵ giữa các thành viên của mình với nhau và tập trung sức lực vào việc làm sao giành chiến thắng trong cuộc chiến chống Cộng sản và tạo niềm tin với chính người dân của mình, thời họ sẽ vượt qua mọi khó khăn. Đây là những gì chúng ta phải giúp đỡ, vì một khi không đạt hiệu quả, sẽ làm mất niềm trong dân chúng và viễn cảnh thất bại sẽ như  mối quan hệ của chúng ta với chế độ Diệm trước đây.
    Tôi chắc chắn rằng nhiều điều tốt đẹp sẽ đến từ việc đánh giá toàn diện về tình hình hiện đang được lên kế hoạch cho cuộc họp tại Honolulu, và tôi mong đợi gặp riêng ông, khi ông về Hoa Thịnh Đốn để ông và tôi có thể đối diện cùng nhau duyệt  xét toàn bộ tình hình.
    Tái xác nhận sự cảm kích về công việc tốt đẹp -…appreciation for a fine job. John F. Kennedy.
[10]Sau cuộc đảo chánh, chính phủ kế nhiệm ” mời ” Mỹ  đem quân đến Việt Nam. ” Vào ngày 1 tháng 3, Đại sứ Maxwell Taylor đã thông báo cho Thủ tướng Nam Việt Nam Phan Huy Quát rằng Hoa Kỳ  chuẩn bị gửi Thủy Quân Lục Chiến đến Việt Nam. Ba ngày sau, Đại sứ quán Hoa Kỳ gửi văn thư  chính thức, yêu cầu chính phủ Nam Việt Nam “mời” Hoa Kỳ gửi Thủy quân lục chiến đến – asking the South Vietnamese government to “invite” the United States to send the Marines.” < Web History 08.03.1965: U.S. Marines land at Da Nang>.   

     Còn theo tài liệu  Ngũ Giác Đài :”  Vào ngày 8 tháng 3 năm 1965, hai  Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã đổ bộ vào Đà Nẵng với nhiệm vụ giúp bảo vệ căn cứ Không quân và các cơ sở liên quan. Lý do đằng sau khi quyết định đưa các đơn vị quân đội Mỹ vào chiến đấu tại Việt Nam là gì? Đây có phải là tiền đề của việc Mỹ muốn đóng vai trò chủ động trong cuộc chiến tại Việt Nam?- Was this a conscious  prelude to U.S.assumption of a ground combat role in the  Vietnam war?” [11]

Căn cứ vào các tài liệu trích dẫn trên, từ việc chính phủ Ngô Đình Diệm không chấp thuận thi hành chính sách  ” Chiến tranh chống nổi dậy/CIP ” nên  đã  không  cho Mỹ ” stationing  American  troops in Vietnam” để Mỹ “dùng miền Nam Việt Nam làm nơi chống lại chủ nghĩa cộng sản“, đối đầu với Liên Xô qua chiến tranh giải phóng do Liên Xô đề xướng; Đến việc từ tháng 5.1961 phía Mỹ “ không có lý do để xem xét lời khuyên của Galbraith về việc loại bỏ Diệm cho đến cuối năm 1963– and no  urgent reason to consider Galbraith’s advice on getting rid of Diem unntil late 1963” – Cũng như “lý do” chính phủ Diệm ”  từ chối làm chính phủ  bù nhìn ” đã dẫn đến kết quả là một ” giấy phép cấp cho quân đội miền Nam Việt Nam thành lập một băng nhóm để bắn hạ Diệm và Nhu với sự chấp thuận của Hoa Kỳ” , để rồi sau đó chính phủ  Phan Huy Quát   mời  Mỹ  đổ quân vào  Việt Nam, để Mỹ thi hành ” chiến lược” qua chính sách CIP, trái ngược với đường lối của chính phủ tiền nhiệm, vì  ” But  Diem  wanted  neither  at  that  time”.  

     Nhưng theo VNMLQHT đưa ra  nhận xét về mục đích cuộc đảo chánh: “Cho nên khi làm tròn nhiệm vụ vì dân vì nước đó trong những ngày đầu của tháng 11 năm 1963, quân đội đã được quần chúng tin tưởng và thương yêu đến độ “Hồ Chí Minh cũng phải công nhận cái uy tín lớn lao của tướng Minh và Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng”. Và tại Hà Nội, cấp lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt đã phải ý thức rằng: “… các tướng lãnh đã được nhân dân tin tưởng trao trọn quyền hành và tin rằng họ độc lập hơn gia đình Diệm-Nhu, vốn đã hành xử như một dụng cụ dễ bảo của chính sách Mỹ. Hà Nội đã lý luận một cách đơn giản: ai lật đổ chế độ bù nhìn thì không thể là bù nhìn được”. VNMLQHT chương 17 <Sách Hiếm net>.

     
Phải chăng chính phủ Ngô Đình Diệm vì chống đối việc Mỹ đưa quân vào Việt Nam ” stationing  American  troops in Vietnam  – ”  từ chối làm chính phủ  bù nhìn ” để rồi bị lật đổ, nhưng vẫn bị mang cái tiếng là gia đình Diệm-Nhu,vốn đã hành xử như một dụng cụ dễ bảo của chính sách Mỹ “?  Và phải chăng chỉ đến khi  ” chế độ bù nhìn “ (Diệm – Nhu) bị lật đổ để rồi chính phủ “ cách mạng “  Phan Huy Quát mới có  lý do ” để  “invite”  Mỹ  đem quân vào Việt Nam, ” trao trọn quyền hành” cho Mỹ,  để Mỹ thực hiện  mục tiêu ” chiến lược” qua chính sách CIP, là “dùng miền Nam Việt Nam làm nơi”  “chống lại Liên xô qua chiến tranh giải phóng”, dẫn đến kết quả đau thương là nền đệ Nhị VNCH bị bức tử qua thỏa hiệp “da beo 1973”, cho nên chính phủ thời hậu “cách mạng”  ” không thể là bù nhìn được”?  Lại xin nhường bạn đọc đưa ra  nhận xét và phê bình.  ( DV: mượn chữ ” chiến lược ” của Tướng Westmoreland tuyên bố tại Nam Cali 09.1995,  tiết lộ về mục tiêu chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tại VN: “…cuộc  chiến không được lan rộng ra khỏi lãnh thổ miền Nam…không bao giờ được quyền cắt đứt con đường (HCM)-việc cắt đứt con đường này sẽ giảm thiểu các chiến lược của chúng tôi rất nhiều”) <VB ngày 03.09.2021>

Đào Văn

NGUỒN:

[1]- Thư viện CIA 16.12.2016: Diem Assassination Was A ‘Monstrous Blunder’

[2]- Thư viện  BNG / HĐANQG 29.8.1963:Memorandum of Conference With the President. 

[3]- Thưviện  BNG 02.11.1963: Telegram From the Department of State to the Embassy in Vietnam 
[4]-Văn Khố Quốc Gia 2011-The Pentagon PapesCIP-The Kennedy Commitments and  Programs,1961.pdf

[5]– Thư v.  BNG   1961    :  Kennedy’s Foreign Policy
[6]- Thư v.  BNG   03.11.1963: Telegram From the Embassy in Vietnam to the Department of State 

[7]- Thư v.  BNG   03.11.1963: Telegram From the Department of State to the Embassy in Vietnam

[8]- Thư v.  BNG   04.11.1963: Telegram From the Ambassador in Vietnam (Lodge) to the Department of State

[9]- Thư v.  BNG   05.11.1963: Telegram From the Commander, Military Assistance Command, Vietnam (Harkins) to the Chairman of the Joint Chiefs of Staff (Taylor)

[10]- Thư v. BNG 06.11.1963: Eyes only for Ambassador Lodge from the President.

[11]-  Văn Khố Quốc Gia 2011-The Pentagon Papers-p.IV.The Johnson Commiments-MARINE COMBAT UNITS GO TO DA NANG, MARCH 1965 .pdf

Nguồn: https://vietbao.com/p302901a309979/tt-nd-diem-chet-vi-tt-kennedy-quyet-dinh-trao-toan-quyen-hanh-dong-cho-ds-lodge-nam-1963

Khóa xuyên huấn đầu tiên về F-5 của Không quân VNCH – Trần Lý

Trần Lý

Từ cuối năm 1965, các Cố vấn Hk đã đưa ra những kế hoạch để tối tân hóa các phi cơ mà KQ VNCH đang sử dụng. Các dự án đã được phác họa vào tháng 12 và dự trù sẽ được thực hiện trong thời gian kéo dài 3 năm sắp tới : 2 trong 6 phi đoàn chiến đấu của KQ VNCH sẽ được đổi dần sang F-5 (nếu thuyết phục được Mc Namara), các trực thăng H-34 sẽ được thay bằng loại UH-1 mới hơn và ít nhất là một phi đoàn C-47 sẽ được chuyển sang C-119.

Ngày 13 tháng 7 năm 1966 Tổng trưởng Quốc Phòng Mỹ Mc Namara đã chấp thuận việc trang bị cho KQ VNCH 2 Phi đoàn F-5 và 4 Phi đoàn A-37, để thay thế cho 6 Phi đoàn A-1 Skyraider đã đi vào giai đoạn ‘hết thời hạn sử dụng’.

Việc chấp thuận này diễn ra vào lúc các F-5 đang được KQ Hoa Kỳ sử dụng tại chiến trường VN.
Đơn vị đầu tiên được chọn để chuyển đổi từ A-1 sang F-5 là Phi đoàn 522, đồn trú tại Biên Hòạ Phi đoàn được đình động vào thượng tuần tháng 9 năm 1966 để có thể gửi một số nhân viên bảo trì sang thụ huấn về loại phi cơ mới này tại Căn cứ KQ Clark (Phillipines).

Vào khoảng giữa tháng 7 năm 1966, Bộ Tư lệnh KQ đã công bố danh sách các phi công được chọn để dự khóa xuyên huấn về F-5 tại Hoa Kỳ.

Tiêu chuẩn để tuyển chọn là các phi công từ những Phi đoàn A-1 đang là Phi tuần trưởng, Phi tuần phó và Phi tuần viên thâm niên kinh nghiệm bay A-1; các phi công phản lực B-57 (Biệt đội này đã giải thể và các B-57 được hoàn trả KQ HK) :

Danh sách tuyển chọn như sau :

Phi công phản lực B-57 (ưu tiên chuyển đổi sang F-5, số còn lại trở về đơn vị cũ hay chuyển sang bay Vận tải) gồm:
– Đại uý Lê Xuân Lan
– Đại úy Nguyễn Hữu Hoài
– Trung úy Đàm Thượng Vũ.

Tuyển chọn từ các Phi đoàn, mỗi Phi đoàn 4 phi công :

Phi đoàn 514 (Phượng Hoàng) :
– Thiếu úy Lê Như Hoàn
– Th/u Thăng Quốc Phan
– Th/u Nguyễn Trí Kiên
– Th/u Trịnh Hữu Trí

Phi đoàn 516 (Phi Hổ) :
– Trung úy Phạm Quang Điềm
– Th/u Nguyễn văn Ghi
– Th/u Vũ Viết Quý
– Th/u Mạc Đức Ninh

Phi đoàn 518 (Phi Long) :
– Th/u Phạm Đình Anh
– Th/u Nguyễn Quang Vinh
– Th/u Nguyễn Xuân Dũng
– Th/u Võ Anh Tài

Phi đoàn 520 (Thần báo) :
– Th/u Trịnh Bửu Quang
– Th/u Nguyễn Đạm Thuyên
– Th/u Trương Công Chánh
– Th/u Trịnh Thành Châu

Phi đoàn 522 (Biệt đoàn 83) :
– Th/u Lê My
– Th/u Nguyễn Quốc Trị
– Th/u Lê Hải
– Th/u Vũ Ngô Dũng

Phi đoàn 524 (Thiên lôi ) :
– Th/u Nguyển Văn Tường
– Th/u Nguyễn Anh Tăng
– Th/u Nguyển văn Cổn
– Th/u Đào văn Lập

Ngoài ra còn có một số phi công được Bộ Tư lệnh KQ chọn trực tiếp theo đề nghị của Thiếu tá Võ văn Sĩ gồm :
– Đại úy Nguyễn Quốc Phiên
– Tr/u Lưu Tùng Cương
– Tr/u Nguyễn Thành Dũng
– Tr/u Nguyển văn Vui

Riêng Đại úy Nguyễn Quốc Hưng sẽ tham gia Khóa xuyên huấn ngay khi mãn nhiệm chức vụ Sĩ quan liên lạc của KQ VNCH tại Căn cứ Lackland.

Tổng cộng số phi công được gửi đi thụ huấn F-5 là 33 người..

Chương trình xuyên huấn được bắt đầu vào tháng 8 năm 1966 ;

Các phi công được gửi đến Căn cứ KQ Williams tại Chandler (Arizona) để được học về phản lực trong 88 giờ bay, bay trên loại phi cơ huấn luyện phản lực T-38 Talon (rất tương tự như F-5). Sau khi hoàn thành việc bay trên T-38, họ sẽ được chuyển sang bay tiếp trên F-5Ạ Chương trình huấn luyện dự trù kéo dài từ 3 tháng rưỡi đến 4 tháng.

Chương trình huấn luyện được hoàn tất vào ngày 29 tháng 3 năm 1967 (Tập Quân sử KQ dựa theo Flying Dragons ghi cuối tháng 5 ). Các phi công trở về VN ngày 11 tháng 4 và trình diện Bộ Tư lệnh KQ ngày 17 tháng 4 năm 1967.

Trong thời gian huấn luyện có 2 phi công không tốt nghiệp vì lý do sức khỏe. Thiếu Úy Nguyễn Đạm Thuyên đã đoạt giải thưởng xuất sắc nhất về Tác xạ chính xác (Top Gun Trophy); các Th/u Nguyễn Thành Dũng, Nguyễn văn Ghi và Trương Công Chánh đoạt các Bằng ưu hạng (Academic trophies)

Phi công Vũ Ngô Dũng trong bài Đứa con cầu tự (Đặc San KQ Bắc California tháng 7 năm 2006) đã ghi lại một số nét chính về khóa huấn luyện này như sau :

..’ Chúng tôi rời Sài gòn vào giữa tháng 8-66, trực chỉ Trường Anh ngữ Lackland Texas.. Có lẽ Phòng Huấn luyện Bộ Tư lệnh nghi ngờ khả năng Anh ngữ..ăn đong của chúng tôi nên đã xếp đặt chương trình 6 tuần lễ để ôn lại môn ngoại ngữ này.’

‘.. Sáu tuần trôi qua mau chóng,. chúng tôi mãn khóa và..sang trường bay..

Williams AFB là căn cứ huấn luyện hoa tiêu căn bản trên các loại phi cơ T-37 và T-38..’

‘..4441st CCTS (Combat Crew Training Squadron) là đơn vị được thành lập để huấn luyện phi công F-5 cho Không lực các Quốc gia Đồng Minh nhận viện trợ của HK trong Chương Trình MAP và VN là một trong những quốc gia trong Chương trình nàỵ Đơn vị 4441 tiếp nhận khoá sinh ngoại quốc đầu tiên vào tháng 4 năm 1964. Khi chúng tôi đến thụ huấn, các huấn luyện viên đều là những phi công đã từng bay hành quân trên F-5 tại chiến trường VN..’

Trần Lý
(Trích trong Phi cơ phản lực và KQ VNCH)

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1204509298

Chuyện tầm phào : Covid và Bikini medicine – Lý sự Cùn

Lý sự Cùn

Có các ông bạn yamaha ‘khen’ Lý Toét viết tầm bậy.. trúng tầm bạ, bàn chuyện trên trời dưới đất .. trật đường rầy.. nhưng cũng có các vị Nữ lưu ‘chê’ là viết nhảm.. Đọc ‘chẳng hiểu gì.. sốt’ viết lưng chừng loạn xà ngầu..

   Lý Toét xin cám ơn các Vị : Nam, Nữ và cả các Vị không phái tính! (Chính phủ Mỹ vừa cho phát hành Passport, không ghi.. Sex! vào phòng vệ sinh khỏi nhìn nhìn bảng treo cửa).. Đang nhổ râu, nghĩ xem mình bây giờ nên chọn ‘sex’ nào đây? cứ lửng lơ có lợi quá đi.. thì Bác Xạ Xệ, trời Tây, gửi cho bài báo Mỹ (?) “The Danger of ‘bikini medicine’ của các ông bà MD (có thẩm quyền) viết.. Ngộ quá chời?

  Ngay cái tựa : Bikini Medicine (?) thật cố dịch .. sát nghĩa : Y học Hai mảnh (?) : mảnh trên, mảnh dưới? và ‘mảnh là mảnh gì đây! Thật rắc rối? Lý Toét đành giữ nguyên hai chữ .. bikini? California có những quán Cà phê bikini, đèn sáng choang ; các nơi khác tại Mỹ có kiosque cà phê.. gọi là Coffee Bikini-barista… kỳ lạ vì từ nhỏ khi đi bơi .. thì bikini chỉ trong hồ bơi (piscine) hay ra bãi biển..

                                                              Bikini coffee

   Hỏi Bác Xã nên dịch bikini là gì thì Bác dậy : vào Wikipedia thì sẽ biết!

“Bikini .. cứ tưởng chữ Nhật, chữ Mỹ.. lại là chữ Tây! Phờ-răng-xe tuyệt vời .. là bộ áo tắm hai mảnh.. Wikipedia viết.. “featuring 2 triangles of fabric on top that covers the woman’s (kiểm duyệt đục bỏ) and two triangles of the bottom : the front covering.. (đục bỏ luôn..) .. Vậy bikini có đến 4 mảnh tam giác? Ngộ thật, bây giờ nhờ wikipedia Lý Toét mới hay 

Bikini  và Biểu tượng Y khoa

Bài báo : Bikini Medicine này trên MDLinx ngày 21 tháng 10 , 2021..https://www.mdlink.com/article/the-dangers-of-and-8216-bikini-medicine-and-8217/

   Lý Toét đọc liền, cứ tưởng là được xem hình .. bikini ! (như Sport Illustrated), chẳng thấy gì hết trơn, gọi cho Bác Xã phản đối.. bị mắng : Đồ già .. dịch.. và cúp máy..ụt ụt !

Thôi thì ráng đọc , may quá có đoạn viết về Cô.. Vít thiệt hay :

.. “Trong cơn đại dịch Covids 19.. Các nghiên cứu cho thấy cần “cởi tuốt vụ khác biệt phái tính” (uncovering sex-specific differences) thì mới chữa bệnh hữu hiệu..

   Nghiên cứu công bố trên báo Journal of Women’s Health, theo dõi các dữ kiện thu được từ 1.4 triệu bệnh nhân, ghi chép trong khoảng thời gian 1 tháng Giêng đến 1 tháng 5 năm 2020, các nhà nghiên cứu ghi nhận; “ Các triệu chứng như nhức đầu, ngửi không thấy mùi (anosmia) và nếm không biết vị (ageusia) xảy ra nhiều hơn ở nữ bệnh nhân… Triệu chứng về tai, mũi và họng cũng thường gặp hơn nơi người nữ.. Quý Bà ít được thường xuyên  làm X-ray ngực, và thử máu hơn.. tỷ lệ được nhập viện rồi vào ICU cũng thấp hơn Quý Ông.

   MDLink May 20, 2021 còn có bài so sánh tác dụng thuốc chủng ngừa covid-19 trên hai phái Nam-Nữ  về hoạt tính (effectiveness) cũng có sự khác biệt .. tuy nhỏ : dữ kiện thu thập từ 851 Nam và 430 Nữ:

  • Moderna : 95.4 % cho Nam và 93.1 % cho Nữ
  • Pfizer & BioNTech : 96.4 % Nam và 97.3% cho Nữ

   Bài báo cho rằng.. “ có sự phân biệt đối xử ‘ khi chữa trị bệnh  dựa trên phái tính ?.. Phe Nữ có phần bị .. lơ là !  “Vùng lên chăng ?..

   Thì ra Bikini Medicine liên quan đến “Giải phóng Phụ Nữ” mà XHCH gọi là .. Phụ nữ đòi QL (quyền lợi ?) hay các lão già dịch bàn nhau.. “đòi.. lại”? Bá láp hết ý luôn!

 Theo MDLink :

    Y Học Phương Tây hiện vẫn theo một chủ trương “Trị bệnh dùng một tiêu chuẩn chung cho mọi người (one-size- fits- all) trong việc chẩn đoán và điều trị. Phái Nam được dùng  nhiều hơn ( dựa theo số mẫu thu thập) trong các cuộc thử nghiệm hơn là phái Nữ; và khi số mẫu quá ít, không tương đồng, thì kết quả (outcome) sẽ có thiếu chính xác?

   Bản báo cáo của Ludeman Family Center for Women’s Health Research , Colorado (School of Medicine) June 11 2019 :

  Sự khác biệt giới tính (sex differences) đưa đến sư chẩn đoán thấp (underdiagnostic) hay chẩn đoán trễ trong hơn 700 loại bệnh nơi phụ nữ (so với quý ông).

   Nhận định lỗi thời và không  phân chia phái tính : Chữa bệnh cho Nam Nữ.. giống nhau được gọi là.. bikini medicine !..để ‘tượng hình ‘cho quan điểm sai lầm : Sức khỏe Phụ Nữ chỉ.. khác với Nam giới.. ở các phần cơ thể che bằng bikini (parts of the body that bikini could cover )!

   Lý Toét.. tạm hiểu là .. trần gian có hai phái Nam và Nữ, cơ thể khác nhau (?), Nữ có cái mà Nam không có và ngược lại ? và có cái phải che bằng bikini? và nếu không che thì sẽ giống nhau?.. còn các Vị không nam chẳng nữ thì làm sao đây ? không lẽ phải  có thêm môn monokini medicine ?

  Bài báo trong Nature Communications  (8 Feb 2019) bàn về lý thuyết trên :https://www.nature.com/articles/s41467-019-08475-9
  Sex và gender là hai yếu tố căn bản cho một nền Y học chính xác (sex được định nghĩa là các khác biệt sinh học = biological component) còn gender là cấu trúc xã hội = social construction). Các tác giả đã ghi rõ một số bệnh như bệnh tim mạch, xương xốp và bệnh “tự miễn dịch” (auto-immune) có các tác động rất khác nhau trên các bệnh nhân Nam và Nữ. Việc chữa trị cần lưu tâm hơn và chú ý đến giới tính.

1- Bệnh Tim mạch :

    Sex ảnh hưởng rất nhiều đến các bệnh tim-mạch (bây giờ Tây mới biết..Thầy Lang biết từ khuya, nữ nhân Tàu.. cài trâm) từ cách biểu hiện của triệu chứng đến cách cơ thể đáp ứng với thuốc. Thí dụ ghi trong nghiên cứu tại ĐH Colorado (dẫn trên) cho thấy phụ nữ dùng thuốc tim mạch nhiều gấp đôi và cũng bị phản ứng phụ với thuốc nhiều hơn khi cả hai ‘phe’ uống cùng một loại thuốc..Tuy vậy các Quan Đốc vẫn kê toa.. cùng liều cho cả hai.. phe !

    Tạp chí Circulation (15-Feb-2021) đưa ra một nhận xét rất hay :   Hàng chục năm nay, con số  giới hạn cao (upperlimit) của áp suất tâm thu (systolic blood pressure (SBP) nơi người lớn là 120mm thủy ngân (Lý Toét chỉ biết khi được quan Đốc đo tăng xông, bóp bóp quả banh cao-su, rồi phán.. Cụ Lý.. cao quá 180.. a lê uống thuốc!), nhưng các nhà ‘Tim học’ lại nói ‘cần phải định lại cái con số SBP tối ưu áp dụng cho.. Quý Bà” và cần hạ bớt con số này?   Nghiên cứu tìm hiểu trong 27.542 người có SBP tiêu chuẩn, trong đó 54% là Phe Nữ. Phân tích dữ liệu theo dõi 28 năm về sức khỏe, họ tìm được “nguy cơ mắc bệnh tim mạch cùng các trường hợp bệnh xảy ra (incidence) tăng lên nơi ngưỡng thấp (lower threshold) của SBP nơi Nữ giới (so với quý ông.).

     Lý do được giải thích là  có sự ‘khác biệt về cấu tạo thân thể ‘tim-mạch’ giữa Nam và Nữ’ (Ngộ thiệt.. vì còn khác biệt quan trọng khác nữa mà các Quan Đốc Tim lại  không bàn) Phụ nữ có các mạch máu động mạch (arterial) đường kính hẹp hơn (so với Nam và tính theo tỷ lệ cơ thể..) Do đó cẩn xác định lại khoảng đo (range) của SBP thích hợp nơi phái Nữ..Nếu chỉ dựa theo tiêu chuẩn chung cho hai phe.. sẽ đưa đến việc chẩn đoán ‘thiếu sót’ khi định bệnh cho Nữ giới ?Mời đọc : https://www.ahajournals.org/doi/10.1161/CIRCULATIONAHA.120.049360

2- Bệnh Tâm thần ?”

   Các Ông Bà Đốc tờ phán : “ Sex ảnh hưởng đến việc chẩn đoán bệnh tâm thần ! kể cả loại Bệnh ‘kém chú tâm/ hoạt động tâm thần hăng vượt mức (ADHD)..

  Các Ông Đốc không dậy thì Lý Toét cũng đã ‘ trải nghiệm’ vụ này từ xưa rồi! Sư tử.. Hà Đông mà nhất là các mợ.. xồn xồn (?) : Sáng nắng, chiều mưa và nạn nhân luôn luôn là phe ta , râu quặp.. cứ xem chân dung Lý Toét là thấy ngay..

  “Nordic Journal of Psychiatry” (Nov 2020) (Báo của dân xứ.. lạnh).. khi nghiên cứu dữ liệu sức khỏe tâm thần của 100 (50/50) tây-đầm mắc chứng ADHD,  xét về lúc giới thiệu (referral), tiến trình định bệnh và điều trị.. Bài báo tìm thấy :

  • Đầm đi khám bệnh ‘siêng năng’ hơn, trước khi được đốc tờ xác định bệnh và Đầm thường hay được cho thuốc ‘không trị ADHD’.. hơn Tây ?
  • Đầm được giới thiệu đến các BS ‘tâm lý’ nhiều hơn ( chắc vì lý do của con Tim= emotional  chăng ?)

  Các chuyên gia kết luận :  “Vấn đề.. hóc môn, và thành kiến xã hội về giới tính là lý do Đầm ít được chú ý và chữa trị đúng mức ?”  “BMJ Open Sport & Exercise Medicine (March 2021) tìm ra khác biệt “tâm thần’ giữa Nam-Nữ trong giới lực sĩ nhà nghề : 523 vị (56% Nữ) cho thấy các Bà.. bị ‘bệnh tâm thần (không ghi rõ là mát, tưng tửng hay.. gì đó ?) nhiều hơn! và ít.. yêu đời hơn Quý Ông? Báo giải thích lý do là do yếu tố xã hội (!) Nữ lãnh lương thấp hơn! báo chí tạo nhiều ..xì trét hơn?

3- Triệu chứng Sì tróc (Stroke) : (Tai biến mạch máu não)

   Trong một số trường hợp , biết rõ sự khác biệt về triệu chứng bệnh giữa Nam-Nữ là có thể cứu bệnh nhân khỏi chết, thoát nạn trong trường hợp ‘’ngàn cân treo sợi tóc’

   Northwestern Medicine liệt kê một số triệu chứng stroke tại Quý Bà, mà quý Ông lại không có!

   Khi xảy ra stroke : cả hai phái thường có cảm giác tê hay suy yếu nơi mặt, cánh tay hay bắp chân; lẫn lộn (confusion), nói lắp bắp, nhìn mờ nhạt ; khó bước đi; choáng váng hay mất thăng bằng và.. nhức đầu nhiều..

   Phía Nữ, còn  thêm các triệu chứng riêng như : nấc cục (hiccup); buồn nôn, đau tức ngực, mệt mỏi, hụt hơi (shortness of breath) và tim đập nhanh..

  Phe Nữ có khuynh hướng có thêm nhiều yếu tố tạo nguy cơ stroke hơn như uống thuốc ngừa thai, huyết áp tăng khi có bầu (preeclampsia), nhức đầu loại migraine vả các bệnh tim khác như rung tâm nhĩ (atrial fibrillation)..

  Nên lưu ý là 1 trong 5 quý Bà sẽ bị.. stroke trong cuộc đời đó ? nhưng cũng chớ lo vì cũng theo thống kê thí..”Các Bà .. thọ hơn các Ông “?, các Bà ‘kiên cường’ lại còn sống “độc thân tại chỗ’ mới đáng .. quan ngại ?

   Xin mời đọc bài ‘quá hay’ này tại

https://www.nm.org/healthbeat/healthy-tips/what-are-differences-stroke-symptoms-women-men
Avertissement de redirection

  Lý Toét lẩm cẩm chợt nhận ra rằng : Giời sinh làm gì.. Đàn bà đây? để các Ông Đốc tờ có thêm cái ngành Y khoa mới Bikini này ?

                                                                          Lý sự Cùn (10/2021)

Nguồn: Cảm ơn Mr TL chuyển bài.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm và 5 năm vàng son 1955-1960

Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu tổng trưởng Kế Hoạch VNCH

Từ trên cao nguyên Tây Tạng con sông Cửu Long cuồn cuộn chảy như thác lũ xuống phía Nam qua tỉnh Vân Nam, tới Lào, Thái Lan, Cambodia, rồi Việt Nam trước khi ra Biển Đông.
May cho miền Nam Việt Nam là có hồ lớn Tonle Sap ở Cambodia hút đi một phần lớn lượng nước từ thượng nguồn, cho nên từ đây dòng sông lại uốn khúc hiền hòa chảy vào. Tới gần biên giới thì con sông chia ra làm tám nhánh. Nhưng con số “9” được coi là may mắn cho nên phải tìm ra cho được một nhánh nữa, tuy là rất nhỏ (dài khoảng 10 dặm) để cộng lại thành ra chín nhánh, gọi là Cửu Long Giang. Dòng sông Chín Con Rồng uốn mình tưới nước cho vùng đồng bằng Nam Bộ màu mỡ, phì nhiêu, trở thành vựa lúa của cả nước. Người nông dân nơi đây chỉ cần trồng mỗi năm một vụ là cũng đủ ăn, lại còn dư thừa để tiếp tế ra miền Bắc và xuất cảng.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm (phải) hội đàm với Tổng Thống Lý Thừa Vãn ngày 14 Tháng Mười Một, 1958 khi nhà lãnh đạo Nam Hàn thăm Việt Nam. (Hình minh họa: Keystone/Getty Images)

Khởi đầu gian khó

Nhưng trong 10 năm chiến tranh loạn lạc, trên một phần ba đất trồng trọt đã bị bỏ hoang, nhường chỗ cho những bụi rậm và cỏ dại lan tràn. Một phần lớn hệ thống kênh rạch cũng bị khô cạn hay sình lầy. Hệ thống bơm nước, thoát nước cũng bị hư hại. Bởi vậy, sản xuất thóc gạo của miền Nam trong 10 năm trước 1955 bị giảm đi đáng kể. Ngoài ra, các phương tiện giao thông như đường bộ, đường sắt, cầu cống và các cơ sở công kỹ nghệ như đường trắng, rượu bia, sợi bông cũng đều bị hư hại. Cho nên vào năm 1955, khi “Một Quốc Gia Vừa Ra Đời,” như báo chí Mỹ tuyên dương, thì quốc gia ấy phải đối diện với bao nhiêu khó khăn khôn lường.

Ngân sách của Pháp để lại thì thật eo hẹp. Kỹ sư, chuyên viên trong mọi lãnh vực đều hết sức hiếm hoi vì Pháp đã rút đi hầu hết, để lại một lỗ hổng lớn cho cả nền kinh tế lẫn hành chánh, giáo dục, y tế.

May mắn là trong năm năm đầu, từ mùa Thu 1955 tới mùa Thu 1960, miền Nam có được năm năm vàng son, vừa có hòa bình lại được đồng minh Hoa Kỳ hết lòng yểm trợ vật chất và kỹ thuật, cho nên thu lượm được nhiều kết quả có thể nói là vượt bực. Hồi tưởng lại thời gian ấy, nhiều độc giả chắc còn nhớ lại cái cảnh thanh bình khi các em học sinh mặc áo chemise trắng, quần xanh, các nữ sinh với những chiếc áo dài trắng tha thướt ngày ngày cắp sách đến trường.

Cha mẹ, anh em thì lo công việc làm ăn. Giàu có thì chưa thấy nhưng hầu hết đủ ăn đủ mặc, xã hội trật tự, kỷ cương. Tuy có nhiều bất mãn khó tránh về chính trị, tôn giáo và xã hội, nhưng tương đối thì chúng ta phải công nhận rằng đây là thời gian hào quang nhất của VNCH.

Định cư gần 1 triệu người di cư từ miền Bắc

Công việc đầu tiên và khẩn cấp nhất là phải định cư tới gần 1 triệu người – trong đó có gia đình tác giả, tương đương 7% dân số miền Bắc di cư vào Nam. Đoàn người này hoàn toàn “tay trắng.” Chúng tôi gọi là đoàn người “bốn không:” Không nhà cửa, không đất đai, không tiền bạc, và không có ngành nghề chuyên môn ngoài nghề nông.

Làm sao tìm được nơi ăn, chỗ ở, tạo dựng lại được công ăn việc làm, đào giếng nước, xây nhà thương, bệnh xá, trường học cho con em để đáp ứng nhu cầu? Ngoài việc hành chính, lại còn tìm đâu ra bác sĩ, y tá, thầy dạy cho con em.

Sau này khi nói về thành công của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống John F. Kennedy của Mỹ viết cho ông nhân ngày Quốc Khánh 26 Tháng Mười, 1961 như sau:

“Kính thưa tổng thống,
Thành tích mà ngài đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn cộng sản từ miền Bắc nổi bật như một trong những nỗ lực đáng được tán dương nhất và được điều hành tốt nhất trong thời kỳ hiện đại.”

Tái thiết và phát triển nông nghiệp

Ưu tiên của công việc tái thiết và phát triển phải là nông nghiệp vì đại đa số nhân dân làm nghề nông. Đồng bằng Cửu Long là vựa lúa của cả nước, nhưng sản xuất đã giảm đi đáng kể trong 10 năm ly loạn.

Thời tiền chiến, sản xuất lên tới 4.2 triệu tấn (1939). Tới 1954 chỉ còn 2.5 triệu tấn. Năm 1939 xuất cảng gạo là gần 2 triệu tấn, năm 1954 còn 520,000 tấn.

Tại vùng đồng bằng, trong tổng số 7 triệu mẫu đất trồng trọt có tới 2.5 triệu mẫu (trên một phần ba) bị bỏ hoang. Lúa gạo là mạch máu của người dân cho nên công việc đầu tiên là phải đưa diện tích này vào canh tác. Đây là một cố gắng vượt mức vì không những nó đòi hỏi phải tốn phí nhiều tiền bạc, công sức, để sửa chữa lại hệ thống thủy lợi, vét nạo kênh rạch, lại còn làm sao xây dựng được quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất cho người nông dân.

Cải cách điền địa: Khó khăn và giải pháp thành công

Người khôn của khó. Lo lắng chính của người dân là làm sao có được một mảnh đất để sinh sống. Nếu như mảnh đất ấy lại nằm gần nước thì là vàng. “Đất nước tôi:” Đất và nước. Chỉ có người Việt Nam chúng ta mới dùng hai chữ “đất” và “nước” để chỉ quê hương, tổ quốc mình, vì tấc đất là tấc vàng.

Các biện pháp cải cách ruộng đất bắt đầu vào năm 1955 với biện pháp giới hạn địa tô (tiền thuê đất) và những biện pháp giúp cho tá điền có được sự yên tâm về quyền sử dụng đất.

Cải cách điền địa là công việc rất khó khăn của các chính phủ Châu Á, nhưng ở miền Nam Việt Nam thì nó là khó khăn nhất. Làm sao mà lấy ruộng của người này chuyển cho người khác, nhất là khi đất canh tác lại tập trung vào một số rất nhỏ đại điền chủ? Họ là những người nắm thực quyền tại địa phương và gián tiếp, tại đô thị. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sự tập trung quyền sở hữu đất vào một số điền chủ là cao nhất ở vùng Đông Nam Á: Chỉ có 2.5% điền chủ sở hữu tới một nửa diện tích canh tác, trung bình mỗi điền chủ có hơn 50 mẫu đất. Khi chúng tôi vừa mới di cư từ Bắc vào Nam thì đã nghe câu “nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Hỏa.” Đây là tứ đại gia, tuy họ ở Sài Gòn, Chợ Lớn, nhưng là những ông đại diền chủ của vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long.

Trước tình huống ấy, Tổng Thống Diệm phải đối mặt với một khủng hoảng xã hội tiềm ẩn về chương trình cải cách điền địa. Tuy vậy, ông vẫn đặt vấn đề này là ưu tiên số một của chính sách kinh tế, bắt đầu ngay từ 1955, bằng việc cải tổ quy chế tá điền.

Để hỗ trợ cho nông dân được yên tâm khi chồng cày vợ cấy, điền chủ phải ký hợp đồng với tá điền về những điều kiện thuê đất: Tiền thuê đất, thời hạn thuê, triển hạn khế ước, giảm tô trong trường hợp mất mùa.

Kết quả về nông nghiệp trong năm năm là khả quan: Sản xuất cây lương thực tăng 32%, vượt qua tất cả mức sản xuất thời tiền chiến. Năm 1959, sản xuất gạo lên 5.3 triệu tấn, cao nhất trong lịch sử kinh tế miền Nam cho tới thời điểm đó. Về xuất cảng, với tổng xuất cảng là 340,000 tấn, năm 1960 cũng đánh dấu mức xuất cảng cao nhất.

Phát triển công kỹ nghệ và áp đặt quy chế “Quốc tịch Việt”

Dưới thời Pháp thuộc, kỹ nghệ và tài nguyên hầu như không được phát triển vì người Pháp chia ra hai vùng rõ rệt: Miền Bắc tập trung vào kỹ nghệ và khai thác hầm mỏ, miền Nam tập trung vào nông nghiệp và một số sản phẩm tiêu thụ như nhà máy bia, diêm quẹt, thuốc lá, độc quyền thuốc phiện. Bởi vậy, từ 1955, miền Nam bị cắt đứt tiếp liệu về than và khoáng sản. Chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư lại thật ít ỏi vì Pháp đã rút đi hầu hết.

Từng bước, chính phủ bắt đầu khai thác tài nguyên với ba dự án chính: Mỏ than Nông Sơn, thủy điện Đa Nhim, và mỏ phốt phát tại Hoàng Sa – Trường Sa. Lúc ấy thì chưa biết là có dự trữ dầu lửa lớn ở những quần đảo này.

Một chuyện ít người biết là việc đổi quốc tịch

Nhiều người lên án hành động của Tổng Thống Diệm là độc tài khi ông đưa ra quy định vào mùa Hè 1955, căn bản là nhắm vào các thương gia người Hoa (đa số sinh sống ở Chợ Lớn): Nếu muốn làm ăn ở Việt Nam thì phải đổi sang quốc tịch Việt Nam.

Chúng tôi nghiên cứu thì mới biết lý do thầm kín của biện pháp này. Đó là vì thời gian ấy, cơ sở kỹ nghệ ở miền Nam căn bản là thuộc quyền sở hữu của người Pháp. Cho nên khi Tổng Thống Diệm quyết tâm đẩy người Pháp ra khỏi miền Nam thì ông tiên liệu trước và mở đường để người Hoa nhập quốc tịch Việt Nam, với mục đích là để cho họ (vì có nhiều vốn liếng) sẽ có thể mua lại những cơ sở kỹ nghệ của người Pháp. Há miệng mắc quai: Khi bị chỉ trích là áp đặt, độc tài thì ông đành phải cam chịu trong yên lặng. Mặt khác, biện pháp này còn có cái lợi là đưa cộng đồng người Hoa vào khuôn khổ luật pháp của Việt Nam để có thể kiểm soát những kinh doanh có chiều hướng làm lũng đoạn nền kinh tế. Người Hoa nắm giữ tất cả các hệ thống phân phối trên thị trường, cho nên dễ đầu cơ tích trữ.

Một kích thích kinh tế nổi bật khác là chính sách cởi mở, ưu đãi đối với các nhà đầu tư ngoại quốc: Bảo đảm về chiến tranh, cam kết không tịch thu hay quốc hữu hóa tài sản của người ngoại quốc, ưu đãi về thuế má và cho phép chuyển tiền lời ra ngoại quốc.

Hạ tầng cơ sở

Tái thiết mạng lưới giao thông bị hư hại trong thời chiến và xây dựng thêm nữa là đòi hỏi tiên quyết cho việc phát triển kinh tế và xã hội. Tới năm 1960, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy và các tuyến hàng không đã được cải thiện và mở rộng đáng kể. Hệ thống vận chuyển hiện đại bao gồm đường sắt, một mạng lưới các đường quốc lộ, liên tỉnh lộ, hương lộ, đường thủy, và đường hàng không.

1-Đường bộ: Tới đầu thập niên 1960, trong khoảng 9,000 dặm đường thì đã có hơn 2,000 dặm là bê tông nhựa, 3,000 dặm đường có cán đá, và khoảng 4,000 dặm là đường hương lộ.

2-Đường sắt: Năm 1955 giao thông đường sắt cũng bắt đầu được sửa chữa và canh tân. Tới 1959 toàn thể hệ thống bao gồm 870 dặm, gồm một tuyến đường chính chạy từ Sài Gòn đến Đông Hà, nối kết toàn bộ các tỉnh dọc miền duyên hải (nhiều khúc bị cắt đứt trong 12 năm chiến tranh). Một chi nhánh đường sắt (có móc để leo đồi) đi từ Phan Rang lên Đà Lạt, và một chặng nối với mỏ than Nông Sơn. Một khúc ngắn về phía Đông Bắc, đi từ Sài Gòn tới Lộc Ninh.

3-Hàng không: Hãng hàng không quốc gia Việt Nam – Air Vietnam – được thành lập lúc đầu để bay trong nước. Ngoài phi trường Tân Sơn Nhất, các phi trường được sửa chữa lại và xây dựng thêm gồm Huế, Đà Nẵng, Nha trang, Qui Nhơn, Biên Hòa, Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Pleiku, Hải Ninh, Cần Thơ, và Phú Quốc. Ngoài ra, còn những phi đạo nho nhỏ do các đồn điền Pháp xây dựng. Từ nội địa, Air Vietnam bắt đầu bay tới Phnom Penh, Siem Reap, Bangkok, Vientianne, và Savannakhet. Đường bay quốc tế phần lớn được các hãng Air France, Pan American, World Airways, British Airways, Royal Dutch, Cathay Pacific, và Thai Airways đảm trách.

Ngân hàng và tiền tệ

Thiết lập được một ngân hàng trung ương và một hệ thống ngân hàng thương mại để thay thế cho Banque de L’Indochine và các ngân hàng thương mại Pháp ở Sài Gòn là một thành quả lớn lao của thời Đệ Nhất Cộng Hòa, nhưng nó cũng là nguồn gốc của sự căm phẫn của giới tư bản Pháp, cho nên họ chống đối ông Diệm kịch liệt.

Ngay từ Tháng Giêng, 1955, Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam được thành lập để phát hành đồng tiền Việt Nam và thực hiện các nghiệp vụ của một ngân hàng trung ương tân tiến.

Giáo dục và đào tạo

Xét đến cùng, con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế lâu dài. Trong thời kỳ 1955-1960, miền Nam Việt Nam phát triển giáo dục rất nhanh.

1-Tiểu học: Năm 1960, miền Nam có tới 4,266 trường tiểu học công và 325 trường tiểu học tư thục. Tổng số học trò lên tới gần 1,200,000.

2-Trung học: Các trường trung học công lập tăng từ 29 lên 101 trường. Thí dụ như trường Gia Long, số học sinh tăng từ 1,200 lên tới 5,000.

3-Đại học: Trước năm 1954, miền Nam không có đại học. Muốn học cử nhân phải ra Hà Nội. Năm 1955 chính thức thành lập Đại Học Sài Gòn, rồi tới Đại Học Huế, Đại Học Đà Lạt. Tới năm 1962 số sinh viên lên tới 12,000.

Xem như vậy, thành quả của “Năm Năm Vàng Son 1955-1960” là thời gian trân quý nhất của VNCH.

Nhân ngày Quốc Khánh 26 Tháng Mười, 1960, Tổng Thống Dwight Eisenhower của Mỹ viết cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm như sau:

“Kính thưa tổng thống,
Trong năm năm ngắn ngủi kể từ khi thành lập nước Cộng Hòa, nhân dân miền Nam đã phát triển đất nước của mình trong hầu hết các lĩnh vực. Tôi đặc biệt ấn tượng qua một thí dụ. Tôi được thông báo rằng năm ngoái hơn 1,200,000 trẻ em Việt Nam đã có thể đi học trường tiểu học, như vậy là nhiều hơn gấp ba lần so với năm năm trước đó. Điều này chắc chắn là một yếu tố hết sức thuận lợi cho tương lai của Việt Nam.”

Hòa bình là một điều kiện tiên quyết cho xây dựng và phát triển. Nhân dân miền Nam đã có được năm năm vàng son để làm ăn, sinh sống trong hoàn cảnh tương đối là thanh bình.

Tuy còn nghèo nhưng mỗi ngày lại thêm một bước tiến. Bao nhiêu độc giả cao niên còn nhớ lại những kỷ niệm êm đềm về thời gian ấy. Thí dụ, quý vị có thể đi bất cứ nơi nào một cách tự do từ Cà Mau ra tới tận Đông Hà. Mờ sáng lên xe buýt ra Vũng Tàu tắm biển hay buổi chiều đến ga xe lửa gần chợ Bến Thành mua vé đi Đà Lạt. Chỉ trong chốc lát, con tàu bắt đầu phun khói, còi tàu rít lên trước khi khởi hành. Khi mặt trời mọc lên thì tàu chạy ngang bờ biển cát trắng Phan Rang, rẽ trái rồi ỳ ạch leo tuyến đường sắt có móc để trèo dốc lên Đà Lạt. Cái thú vui khi rời ga Đà Lạt (đẹp nhất Đông Nam Á) để mau tới “Café Tùng” hay “Phở Bằng” thưởng thức một ly cà phê sữa nóng thì khó có thể diễn tả được.

***

Với sự thông minh, cần cù của người dân Việt thì chỉ cần có hòa bình là tiến bộ trông thấy. Người dân lam lũ vất vả nhưng luôn vui với cuộc sống. Người nông phu không quản ngại thức khuya, dậy sớm để cày sâu cuốc bẫm, chờ đợi cho tới ngày lúa vàng.

Tâm tư ấy luôn được phản ảnh trong thơ văn, âm nhạc miền Nam trong thời gian này. Trời mùa Hè oi ả, nóng nực, nhưng đêm đêm tiếng hát của ca sĩ Thái Thanh vọng ra từ những chiếc radio transistor nho nhỏ vẽ lên hình ảnh đồng quê thanh bình, đem lại luồng gió mát làm cho lòng người lắng dịu:

“Mùa màng năm nay, gạo tròn ta xay
Đêm đêm thức giấc lúc gà chưa gáy
Vì đời an lành, nên lúa đa tình
Hứa cho đôi mình kiếp sống thanh bình.”

Và khi thanh bình, con người lại đối xử với nhau cho hài hòa thì mọi việc – dù là tát cạn Biển Đông – cũng đều có thể ước mơ, như trong bài “Vợ chồng quê” của nhạc sĩ Phạm Duy:

“Hỡi em tát nước bên ngòi,
Nàng ơi, Biển Đông ta tát cạn,
Nàng nàng ơi, cho đời thuận nhau.”

Tuy các kết quả phát triển kinh tế xã hội đó thật là nhỏ nhoi theo tiêu chuẩn ngày nay, nhưng đáng kể so với các nước láng giềng thưở ấy, như ngay cả Nam Hàn, dưới thời Tổng Thống Lý Thừa Vãn. Miền Nam Việt Nam thực sự đã đặt được những viên gạch đầu tiên trong các năm 1955-1960 cho mô hình phát triển sau này của chính Nam Hàn dưới thời Tổng Thống Phác Chính Hy, như chúng tôi đã đề cập trong cuốn sách “Khi Đồng Minh Nhảy Vào” (Chương 13).

Xây dựng và phát triển trong hòa bình đã đưa miền Nam tới chỗ vươn lên – kinh tế học gọi là điểm cất cánh (take-off) để trở thành một cường quốc tại Đông Nam Á.

Buổi bình minh của nền Cộng Hòa do Tổng Thống Ngô Đình Diệm khai phóng thật là huy hoàng rực rỡ. Nhiều quan sát viên ngoại quốc cho rằng đây chính là “một cuộc cách mạng đã bị mất đi” (the lost revolution) của miền Nam Việt Nam. [đ.d.]

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/dien-dan/tt-ngo-dinh-diem-va-5-nam-vang-son-1955-1960/

TT NĐ Diệm Chết Vì TT Kennedy Quyết Định Trao Toàn Quyền Hành Động Cho ĐS Lodge Năm 1963

  • Đào Văn

* TT Kennedy:Đại Sứ Lodge  có toàn quyền hành xử đối với tất cả các hoạt động công khai và bí mật

* Bộ trưởng Rusk: muốn cứu ông Diệm, nhưng Đại sứ Lodge cho rằng không có hy vọng tách rời Diệm và Nhu

* Lệnh  của TT Diệm yêu cầu TT Cao và Đại Tá Dinh mang quân về Sài Gòn cứu nguy
* Đại sứ  Lodge: yêu cầu các Tướng ra tuyên bố tránh né vụ  sát  hại Diệm –  Nhu,  và lo ngại về thi thể TT Diệm có dấu vết bị đánh đập
* Các Tướng phe đảo chánh bất hòa, bị phía TQLC đe dọa đảo chánh
* TT Kennedy gửi điện văn khen Đại sứ Lodge hoàn thành tốt nhiệm vụ.

https://vietbao.com/images/file/HvV0TdOX2QgBACpB/dao-van.jpg

Phần trình bày sau  tóm lược trích đoạn các văn bản của thư viện Kennedy được giải mật và được  phổ biến trên thư viện Bộ Ngoại Giao online về các diễn biến sau cuộc đảo chánh, bao gồm điện văn của TT Kennedy gửi chúc mừng Đại sứ Lodge hoàn thành tốt nhiệm vụ trao phó sau cuộc đảo chánh thành công.

** Diễn tiến trước ngày đảo chánh 01.11.1963

Thư viện CIA 16.12.2016 – Theo tài liệu phổ biến trên thư viện online của Cơ quan Tình Báo Trung Ương CIA:” Tướng Taylor đã khơi lại chủ đề về việc loại bỏ chính phủ Diệm. Vào ngày 24 tháng 8, khi ông còn là Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, có  thấy bản văn  của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ  gửi  đến đại sứ quán ở Sài Gòn.

Đó là điện tín của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao W. Averell Harriman, Phụ Tá Ngoại trưởng Roger Hilsman và một nhân viên Nhà Trắng, Michael Forrestal… cho thấy chủ yếu về  sự thay đổi lớn và mang tính cưỡng chế trong chính sách của Mỹ. Đáng chú ý  là điện văn  đã không qua tay của  Ngoại trưởng Dean Rusk, người không chống Diệm.

Ý nghĩa của bản văn gửi cho tân đại sứ Henry Cabot Lodge, là Hoa Kỳ sẽ không còn dung thứ cho sự hiện diện của  Nhu trong chính quyền Sài Gòn. Tuy nhiên, Diệm phải được tạo cơ hội để tránh xa Nhu. Đồng thời, Lodge phải thông báo cho các tướng chủ chốt  cuộc đảo chánh  về sự thay đổi lập trường của Hoa Kỳ. Không chỉ có vậy, nếu tại một thời điểm nào đó các tướng lĩnh quyết định loại bỏ Tổng thống Diệm, họ phải được cho biết là phía Hoa Kỳ sẽ trực tiếp hỗ trợ hành động của họ – if at any point the generals decided to get rid of President Diem, they were told the United States would directly support their action. Vậy thực chất lời chỉ dẫn này đối với đại sứ là gì? Chỉ có một bộ óc méo mó mới coi đó không phải là giấy phép cấp cho quân đội miền Nam Việt Nam thành lập một băng nhóm để bắn hạ Diệm và Nhu với sự chấp thuận của Hoa Kỳ – but if at any point the generals decided to get rid of President Diem, they were told the United States would directly support their action”.[1]

* Hội Đồng An Ninh Quốc Gia họp bàn kế hoạch lật đổ chính phủ NĐ Diệm

29.8.1963  Biên bản cuộc họp giữa Tổng Thống Kennedy và HĐANQG
Thành phần tham dự cuộc họp: ” President Kennedy, Secretary Rusk, Secretary McNamara, Secretary Dillon, General Carter, Director Murrow, Under Secretary Harriman, Deputy Secretary Gilpatric, General Krulak, Ambassador Nolting, Assistant Secretary Hilsman, Mr. Helms, Mr. Bundy, General Clifton, Mr. Forrestal, Mr. Bromley Smith “…”

” -Tướng Harkins muốn cố gắng tách người Nhu ra  khỏi ông Diệm. Ông ta tin rằng mục tiêu của chúng ta là Nhu hơn là Diệm- our target is more Nhu than Diem.

– “Đại sứ Nolting hỏi liệu chúng ta có ý định dùng  thiết bị quân sự vào cuộc đảo chính chống Diệm hay không, chẳng hạn như sử dụng trực thăng Mỹ để vận chuyển lực lượng của các Tướng đảo chính đến Sài Gòn. “Tổng thống nói rằng ông ấy muốn quay lại câu hỏi cơ bản. Qua  các bức điện từ Lodge và Harkins, có ai trong Ủy Ban đảo chánh  muốn rút  tên ra khỏi chiến dịch này không? Và, thứ hai, Ủy Ban đảo chánh nghĩ  thế nào về  cách tiếp cận với ông Diệm? – what was the feeling of the EXCOM about the issue of an approach to Diem?”

– Ông Gilpatric nói  rằng chúng ta nên đối đầu với Diệm bằng một tối hậu thư có hiệu lực trong vòng vài giờ để Diệm không thể có hành động phản công nào chống lại các tướng lĩnh trong giai đoạn trước khi họ ra tay  hành động – so that Diem could not take counteraction against the generals in the period before they were ready to act.

– Đại sứ Nolting – Để trả lời câu hỏi của Tổng thống về việc ai đang điều hành chính phủ hiện nay, Đại sứ Nolting trả lời rằng Tổng thống Diệm đang nắm quyền kiểm soát và tiếp tục làm việc mười tám giờ một ngày như thường lệ.   Diệm dựa vào các ý tưởng của Nhu. Nhân viên hành pháp của ông là Thuần, người chống lại Nhu nhưng trung thành với Diệm. Thuần sẽ ở lại với Diệm nếu Nhu bị cách chức.

– Bộ trưởng Rusk nói  rằng chúng tôi đang đối phó với Nhu,  nếu  cuộc đảo chính thành công, Nhu sẽ mất quyền lực và có thể mất cả tính mạng của ông tawould lose power and possibly his life. Vì vậy, Nhu không còn gì để mất và chúng ta phải nhìn nhận sự thật này khi đối phó với ông ta. Hoa Kỳ không nên đến gặp Diệm  với  yêu cầu sa thải Nhu, mà là để các tướng lĩnh Việt Nam yêu cầu Diệm cách chức Nhu, coi  như một màn dạo đầu cho  cuộc đảo chính– as a prelude to a coup.

– Bộ trưởng McNamara nói ông ta ủng hộ việc cố gắng cứu ông Diệm, nhưng Đại sứ Lodge dường như không ủng hộ nỗ lực này.-he favors trying to save Diem, but Ambassador Lodge appears not to support such an attempt.

– Bộ trưởng Rusk nói rằng giai đoạn đầu tiên là loại bỏ Nhu và bà Nhu khỏi chính quyền. Đại sứ Lodge cho rằng không có hy vọng tách rời Diệm và Nhu-  there is no hope of separating Diem and Nhu. “…”

– Tổng thống nói rằng chúng ta có thể thông báo sẽ ngừng viện trợ vì điều kiện bất ổn ở Việt Nam. Tuy nhiên, đây sẽ là biện pháp tiếp theo sau  khi  quyết định về các  hành động cần thực hiện ngay lập tức-we should decide now on the actions to be taken immediately..

– Bộ trưởng Rusk và Bộ trưởng McNamara đồng ý rằng nên chỉ thị cho Tướng Harkins hỗ trợ CIA và lấy thông tin về kế hoạch đảo chính. Tướng Taylor yêu cầu chúng tôi tránh đưa ra bất kỳ cam kết nào với các tướng lãnh cho đến khi họ đưa ra một kế hoạch đảo chính được chúng tôi chấp nhận– we avoid making any commitment to the generals until they had produced a coup plan acceptable to us.“…”

-Tổng thống nhận xét rằng các tướng lĩnh Việt Nam rõ ràng đang cố gắng để chúng ta tham gia ngày càng nhiều hơn, nhắc lại nhận xét của Đại sứ Nolting – lập trường của chúng ta là gì nếu chúng ta được hỏi liệu lực lượng Hoa Kỳ có sẵn sàng hỗ trợ các tướng lĩnh Việt Nam hay không?

– Ông Hilsman cho biết mục tiêu của chúng ta cần trấn an các tướng lĩnh ủng hộ chúng ta. Những vị tướng này muốn làm cuộc đảo chính không đổ máu và sẽ không cần sử dụng thiết bị của Hoa Kỳ, ngoại trừ có thể là dùng trực thăng của Hoa Kỳ.

– Tổng thống tóm tắt các hành động đã thống nhất sẽ được thực hiệnThe President summarized the agreed actions to be taken:

  1. Tướng Harkins sẽ được chỉ thị để hỗ trợ các phương pháp tiếp cận của CIA với các tướng lĩnh Việt Nam.
  2. Ambassador Lodge được ủy quyền để thông báo về việc Hoa Kỳ ngừng viện trợ-  
Ambassador Lodge is to be authorized to announce the suspension of U.S. aid.

  3. Không có thông báo nào được đưa ra về việc di chuyển của các lực lượng Hoa Kỳ đến khu vực này.  Chúng ta không nên để người Việt Nam kết luận rằng chúng ta đang trong  tư thế can thiệp vào Việt Nam cùng với các lực lượng chiến đấu của Hoa Kỳ.
  4. Đại Sứ Lodge  có toàn quyền hành xử đối với tất cả các hoạt động công khai và bí mậtAmbassador Lodge is to have authority over all overt and covert operations..   “…”

“Tổng thống hỏi chúng tôi sẽ phải nói gì với ông Diệm. Chúng ta nói rằng ông ta ( Diệm) phải chọn giữa việc sa thải Nhu – Must we tell him that he must choose among firing Nhu hoặc ngừng viện trợ or having us cease our aid hoặc đối mặt với một cuộc đảo chính quân sựor being faced with a military coup. .”…”

    “Đại sứ Lodge đã trả lời vào sáng hôm sau, bày tỏ sự hiểu biết của ông ta về các chỉ thị  của Tổng thống. Các Bộ Trưởng  Rusk và McNamara là những quan chức duy nhất trong chính phủ biết về thông điệp này và thư trả lời ( của ĐS Lodge) Secretaries Rusk and McNamara were the only officials in the government who knew of this message and the reply.”[2]

**  Diễn biến  trong và sau  ngày 01.11.1963

“Mệnh lệnh của Ngô Đình Diệm” kêu gọi đem quân về ” giải phóng thủ đô”

Ngày 01.11.1963 –  TT Diệm đánh điện kêu cứu…Bản văn này là bản sao của ” phiếu nghiên cứu”, ghi lại  “mệnh lệnh” của ông Diệm, thuộc KBC 3401. Bản sao này được ghi là lấy từ nguồn của NSA, nội dung ” mệnh lệnh ”  như sau: 
“1/-  Sơ lược vấn đề: Mệnh lệnh của Ngô Đình Diệm gửi cán bộ quân dân chính khi cách mạnh bùng nổ. Trong số này cố  gọi Đại Tá Bùi Dinh và Thiếu tướng Cao đem 4 tiểu đoàn về giải phóng thủ đô vào 4 giờ chiều ngày 01.11.1963.
2/- Nhận xét và đề nghị: Kính trình Thiếu Tá
          KBC 3401, ngày 20.11.1963 – Ký tên – BẢN SAO”

https://vietbao.com/images/file/YZmUlNOX2QgBAEk5/w600/dao-van-2.jpg

( Ghi chú: bản văn không phải do TT Diệm viết tay như chú thích trên bản chụp của ” Phiếu Nghiên Cứu’” là “Diem’s handwritten proclamation…” )

* Thiếu Tướng HV Cao và Đại Tá Bùi Dinh đem quân về cứu, nhưng…Đại Tá Bùi Dinh, Tư lệnh Sư Đoàn 9 BB vào ngày 01/11/1963 đã điều binh từ Bộ Tư lệnh đóng tại Sa Đéc về Sài Gòn cứu TT.Diệm; Nhưng Đại tá Nguyễn hữu Có tân Tư lệnh SĐ 7 BB (nhậm chức vào ngày 31/10/1963) dàn quân ra chặn ở ngã ba Trung Lương – đồng thời ra lệnh  rút hết các phà tại Rạch Miễu và tại  Bắc Mỹ Thuận, để cản trở binh lính SĐ9 BB vượt sông. Trường hợp Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, không thể đưa quân về ứng cứu được vì các phà tại bắc Mỹ Thuận đã bị lấy đi, nên không thể đưa quân  qua sông, và sau đó mới đánh điện công nhận HĐQN Cách Mạng. Cũng vì lý do này, vào ngày 3 tháng 11, Thiếu tướng Cao  bị cách chức Tư lệnh Quân đoàn IV và Đại Tá Bùi Dinh mất chức Tư Lệnh SĐ 9 BB.(Theo Wikipedia).

** Diễn tiến sau ngày 01.11.1963

 * Bộ Ngoại Giao yêu cầu ĐS Lodge  tái khởi động chính sách CIP

– Ngày 02.11.1963, 8:13 p.m- Điện văn của BNG gửi ĐS Lodge:   “Đại sứ Lodge ,  yêu cầu ông thảo luận các hướng dẫn sau … Tùy theo cách của ông, nhưng không sớm hơn ngày Thứ Hai giờ Hoa Thịnh Đốn, ông thông báo cho chính phủ Việt Nam biết rằng Hoa Kỳ chuẩn bị mở lại chương trình Chống Nổi Dậy Counter-insurgency /CIP /và PL 4802, ngõ hầu tránh sự gián đoạn về nỗ lực chiến tranh, kinh tế và tránh các khó khăn về dân số”- ” Theo gợi ý của ông, chúng tôi không  thông báo công khai về việc nối lại các chính sách  CIP và PL 480 – we plan no public announcement of resumption of CIP [3]
 
Ghi chú   
của người viết liên quan đến  chương trình Counter-insurgency Program / CIP-Chống chiến tranh nổi dậy (chống Mặt trận giải phóng tại MNVN) ghi trên.

 a- Bài viết trước có đoạn văn:” Năm 1961 về phía Mỹ, nhằm chống lại Liên xô qua chiến tranh giải phóng,  ngay sau khi nhậm chức vào tháng 1.1961, TT Kennedy phát động chiến tranh chống nổi dậy, chống giải phóng – Counter Insurgency Progam / CIP  – Nhưng chỉ sau khi nền đệ Nhất VNCH  bị lật đổ, thời Mỹ mới có thể đưa quân vào Việt Nam (Mar.1965) để thực hiện chiến lược này”. <

 Việt Báo ngày 11.10.2021>

   b- Theo tài liệu Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers). Từ tháng 5.1961 đến tháng 11.1963, tức khoảng thời gian 30 tháng  TT Diệm không chấp nhận thi hành chương trình CIP do Mỹ đề xướng, vì  trong đó buộc phải chấp thuận cho quân đội Mỹ vào Việt Nam tham gia cuộc chiến “When Diem  talked  of  his  worries  about  U.S . policy  in  Laos, Johnson, obviously acting  on  instructions, raised  the  possibility of  stationing  American  troops in Vietnam  or  of  a  bilateral  treaty. But  Diem  wanted  neither  at  that  time”.  Vì thế ” Các cuộc đàm phán với Diệm (về CIP) đã kết thúc vào tháng 5 (1961), không phải vì vấn đề đã được giải quyết, mà vì Mỹ quyết định ngừng một thời gian  không  gây áp lực đối với Diệm – Negotiations  with  Diem came to an end  in May, (1961) not  because  the  issues had  been  resolved,  but  because  the  U. S  decided  to  forget trying  to  pressure Diem  for  a  while“.  Và vì vậy tổng thống “Kennedy không còn có cơ hội để xem xét lại quyết định của mình về việc gửi quân đội tham chiến-Kennedy never had occasion to reconsider his decision on combat troops; ; và không có lý do để xem xét lời khuyên của Galbraith về việc loại bỏ Diệm cho đến cuối năm 1963– and no  urgent reason to consider Galbraith’s advice on getting rid of Diem  until late 1963” .[4]

  c-  Cũng trong năm 1961, về chính sách đối ngoại của TT Kennedy: Vào tháng 6 năm 1961 tại Hội nghị thượng đỉnh Vienna với Thủ tướng Liên Xô Nikita Khrushchev, Kennedy không chuẩn bị trước và dường như bị lép vế.  Tiếp theo, các tuyên bố  cứng rắn của Kennedy về Liên Xô ở Berlin không cải thiện được tình hình — Ngược lại  Liên Xô đã  cho xây dựng Bức tường Berlin. Cuối cùng, quyết định của ông không vạch ra đường lối chống lại chủ nghĩa cộng sản ở Lào, như Chính quyền Eisenhower đã thúc giục, trái lại dùng miền Nam Việt Nam làm nơi chống lại chủ nghĩa cộng sản ở châu Á  Finally, his decision not to draw the line against communism in Laos, as the Eisenhower Administration had urged, left South Vietnam as the place to fight communism in Asia.[5]

    d- Cũng theo bài viết trước, vào năm 1960, TBT đảng Khrushchev lên tiếng kêu gọi phát động chiến tranh giải phóng để chống  lại đế quốc Mỹ, đồng thời thông báo ” Một phong trào dân tộc  giải phóng, nhằm trực tiếp chống lại đế quốc Mỹ và những kẻ làm tay sai  của chúng, đang phát triển ở Nam Việt Nam và Lào –A national-democratic movement, directed against the U.S. imperialists and their flunkeys, is developing in South Vietnam and Laos”.  <Việt Báo ngày 11.10.2021>

   e- Tháng 10.1963, trên truyền hình Pháp ông Ngô Đình Nhu lên tiếng cáo buộc Mỹ “dàn dựng” (de facon orchestrée) nhằm  tạo ra  “lý do”  để chống chính quyền Ngô Đình Diệm: ” Vụ Phật giáo và vụ sinh viên đã bị thổi phồng và loan truyền rộng rãi đã được  dàn dựng –de facon orchestrée để đầu độc dư luận trong nước và quốc tế nhằm chống lại chính phủ miền Nam Việt Nam, …  vì Ông ta  từ chối làm chính phủ  bù nhìn – et parce qu’il refuse d’être un gouvernement puppet<French TV 10.1963Ông Ngộ Đ.Nhu lên tiếng về các vụ biểu tình 1963>

* Hai tướng Đôn và Kim gặp ĐS Lodge vềvụ ra tuyên bố để tránh né vụ ám sát Diệm và Nhu

“(Đại sứ Lodge) Tướng Đôn và Tướng Kim hẹn gặp  lúc 3 giờ 03.11.1963. (Họ giải thích rằng Đại tướng Big Minh đang bận rộn họp với phó TT Thơ.) Sau khi tôi (Lodge) gửi lời chúc mừng về công tác tuyệt vời của họ và lời đề nghị sự hỗ trợ của tôi, họ hỏi tôi có câu hỏi nào không …

*1. Tôi (Lodge) hỏi liệu họ có chuẩn bị ra tuyên bố để tránh né vụ ám sát Diệm và Nhu – planning a statement which would absolve themselves from the assassination of Diem and Nhu … -*2. Tôi hỏi liệu họ có ý tưởng nào trong đầu về mối liên hệ giữa Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam không… -*3.Sau đó tôi đã hỏi về việc hình thành chính phủ tương lai như thế nào, sẽ là một ủy ban quân sự hoặc chính phủ kế nhiệm, hoặc những gì. Tướng Kim, người đã trả lời hầu hết trong cuộc nói chuyện, trả lời rằng có ba giải pháp đã được bàn thảo…. *4. Sau đó tôi hỏi họ rằng liệu các Tướng lãnh có đoàn kết để chiến thắng cuộc chiến này không?… -*5. Tôi hỏi về giải pháp an toàn cho con cái của Nhu và cho các thành viên trong gia đình xuất ngoại… -*6. Tôi hỏi họ về những người đã bị bắt và các Bộ trưởng chế độ cũ, liệu họ có được đối xử nhân đạo hay không…. -*7. Sau đó tôi hỏi về Trí Quang… -*8.Tôi hỏi về những cuộc trả thù và thanh trừng để hy vọng rằng sẽ không có những cuộc thanh trừng, những cá nhân đáng trách sẽ đối xử như những trường hợp đặc biệt…. – *9. Tôi hỏi về việc dỡ bỏ lệnh giới nghiêm và phục hồi khiêu vũ… [6]

* BNG chỉ thị  Đại sứ Lodge gặp tướng Minh để hỏi về cái chết của hai ông Diệm-Nhu

(Gửi Đại sứ Lodge) Các báo cáo về cái chết của Diệm và Nhu (bị bắn và đâm với các chi tiết đẫm máu-shot and stabbed with gory details) được báo chí đưa lên hàng đầu đã gây kinh ngạc đáng kể. Khi hình ảnh xác chết loan truyền đến Hoa Kỳ, phản ứng sẽ còn tồi tệ hơn. Cần nhanh chóng ra tuyên bố  rõ ràng và đầy đủ-Urgent that prompt and complete clarifying statement be made. Làm rõ việc đã mô tả trong công điện số 900 (November 3, 1963, 7pm ghi trên) của ông nên tính toán mọi kế hoạch hành động, và sắp xếp di chuyển quan tài Diệm và Nhu.” [7]

Báo cáo của ĐS Lodge về Bộ Ngoại Giao liên quan đến các tướng cãi vã lẫn nhau, TQLC đe dọa đảo chánh…

“1. Vào ngày 4 tháng 11, nguồn tin thân cận nói với Tướng Trần Văn Minh rằng cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính Hà Văn Vượng, và cựu Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Lê Văn Đồng, cho Minh biết rằng các Tướng đang cãi vã với nhau- the Generals are quarreling among themselves. Họ nói rằng nếu các Tướng không thể đi đến một thỏa thuận trong ngày hôm sau thì Thủy Quân Lục Chiến sẽ lãnh đạo cuộc đảo chính chống lại chế độ – if the Generals cannot come to an agreement within next day then the Marines who actually led the coup against the regime would lead a countercoup..
 2. Theo Minh (TVM), một số vật phẩm đã góp phần vào sự bất hòa giữa các Tướng lãnh–  these several items are contributing to the discord among the Generals.  Không một vị tướng nào vui mừng trước vụ sát hại Diệm. Điều kiện duy nhất của Tướng Nguyễn Khánh khi tham gia đảo chính là Tổng thống (Diệm) sẽ không bị giết. Các Tướng lãnh đã đồng ý rằng càng ít đổ máu càng tốt. Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh chỉ chiến đấu với các mục tiêu được đưa ra và tài sản sẽ không bị phá hủy.  
3. Cuộc họp của các Tướng lãnh đã chấm dứt vào lúc 03 giờ 4 phút sáng ngày 4 tháng 11 và sẽ được tiếp tục vào sau 13 giờ chiều ngày 4 tháng 11. Các Tướng lãnh không thể đi đến thỏa thuận về thành viên trong nội các. Điểm bất đồng lớn là về vai trò của Tướng Tôn Thất Đính.  Đính muốn trở thành Bộ trưởng Bộ Nội Vụ. Nguyên Phó Tổng thống Thơ phản đối mạnh mẽ việc chọn Đính đảm nhận vị trí này. Ngoài ra, một số Tướng lãnh ngần ngại về yêu cầu thứ hai của Đính là bổ nhiệm Tướng Đỗ Mậu làm Bộ trưởng Thanh niên. 
[8]

Ghi chú để bổ túc thông tin về  “một số vật phẩm đã góp phần vào sự bất hòa”  nêu trên, bản văn do BNG phổ biến không ghi rõ là “vật phẩm” gì, nhưng theo tác giả  VNMLQHT: vụ ba triệu bạc mà tướng Trần Văn Đôn nhận của Trung tá Conein trong ngày 1/11/1963. …, trong Hồi ký “Việt Nam Nhân Chứng”, tướng Đôn đã trình bày cặn kẽ số tiền kia được chia cho ai (tướng Đôn và cả tôi đều không hề sử dụng gì số tiền ấy cả) “. Theo VNMLQHT Chương 17 <Sách Hiếm net>
Tướng Harkins  hỏi tướng Đôn về các mâu thuẫn nảy sinh sau cuộc đảo chính 
“(Tướng Harkins) Tướng Đôn gọi cho tôi sáng nay. Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc  với ông ta kể từ khi tướng Felt rời đi vào thứ Sáu tuần trước. Chúng tôi đã thảo luận về các kế hoạch trong quá khứ và tương lai. Tôi nói rằng tôi đã nghe rất nhiều câu chuyện mâu thuẫn về cuộc đảo chính và về cái chết của Diệm và Nhu, tôi muốn  biết chuyện này ra sao từ nơi ông ta….
    Ông ta (Đôn) cho biết sẽ nói những gì có thể, Diệm và Nhu rời Dinh (Độc Lập) tối thứ Sáu khoảng mười giờ tối. Họ đi trong một chiếc xe hơi của một thường dân Trung Quốc đến ngôi nhà ở Chợ Lớn. Mặc dù các Tướng lãnh đã nói chuyện với Diệm và Nhu vào buổi tối, nhưng cả hai anh em họ không còn ở trong Dinh (Độc Lập) nữa. Phía Bộ  Tổng Tham Mưu/TTM  biết  ngôi nhà ở Chợ Lớn và hai người ở đó đã bị bắt vào sáng thứ Bảy. Để đảm bảo an ninh, hai ông được cho lên một chiếc M-113 và chở họ về bộ Tổng Tham Mưu. Khi về đến nơi, phát giác ra hai người đã chết. Các Tướng lãnh thực sự đau buồn vì điều này, bởi họ đã nhận được sự hứa hẹn là sẽ bảo đảm an toàn. Đôn không giải thích chuyện gì đã xảy ra, và có phải là tự sát hay không nhưng không ai lên tiếng…Đôn thừa nhận rằng ông ta và Big Minh có thảo luận về khả năng sẽ có cuộc đảo chính nhưng không quá lo ngại vì họ biết khá rõ ai là người liên quan.”
[9]* Điện văn của Tổng thống Kennedy khen ngợi  Đại sứ Lodge đã hoàn thành tốt chiến dịch…

 Chính phủ Hoa Kỳ công nhận tài  lãnh đạo của ông trong việc phối hợp và chỉ đạo toàn bộ hoạt động của Mỹ tại Nam Việt Nam trong những tháng gần đây, đã mang tầm quan trọng lớn mà ông đã hoàn thành – Your own leadership… this achievement is recognized here throughout the Government.
   
Bây giờ có một tân Chính phủ  mà chúng ta sắp công nhận, tất cả chúng ta phải tăng cường nỗ lực để giúp họ giải quyết nhiều vấn đề khó khăn. Như ông đã nói, mặc dù đây là nỗ lực của người Việt Nam, nhưng công việc của chúng ta là muốn cải thiện và những việc này không đến từ Chính phủ Diệm, chúng ta phải đối mặt và chấp nhận về khả năng rằng trong vai trò của chúng ta có thể khuyến khích một sự thay đổi chính phủ. Do đó, chúng ta có trách nhiệm giúp chính phủ mới này hoạt động có hiệu quả theo mọi cách có thể, và trong những tuần đầu tiên này, chúng ta có thể tạo nhiều ảnh hưởng hơn và tạo nhiều cơ hội hữu ích hơn là trong những năm qua.
    Tôi đặc biệt quan tâm đến trọng tâm chính của chúng ta là về hiệu quả hơn là sự xuất hiện trước công chúng. Nếu Chính phủ mới có thể hạn chế sự nghi kỵ giữa các thành viên của mình với nhau và tập trung sức lực vào việc làm sao giành chiến thắng trong cuộc chiến chống Cộng sản và tạo niềm tin với chính người dân của mình, thời họ sẽ vượt qua mọi khó khăn. Đây là những gì chúng ta phải giúp đỡ, vì một khi không đạt hiệu quả, sẽ làm mất niềm trong dân chúng và viễn cảnh thất bại sẽ như  mối quan hệ của chúng ta với chế độ Diệm trước đây.
    Tôi chắc chắn rằng nhiều điều tốt đẹp sẽ đến từ việc đánh giá toàn diện về tình hình hiện đang được lên kế hoạch cho cuộc họp tại Honolulu, và tôi mong đợi gặp riêng ông, khi ông về Hoa Thịnh Đốn để ông và tôi có thể đối diện cùng nhau duyệt  xét toàn bộ tình hình.
    Tái xác nhận sự cảm kích về công việc tốt đẹp -…appreciation for a fine job. John F. Kennedy.
[10]Sau cuộc đảo chánh, chính phủ kế nhiệm ” mời ” Mỹ  đem quân đến Việt Nam. ” Vào ngày 1 tháng 3, Đại sứ Maxwell Taylor đã thông báo cho Thủ tướng Nam Việt Nam Phan Huy Quát rằng Hoa Kỳ  chuẩn bị gửi Thủy Quân Lục Chiến đến Việt Nam. Ba ngày sau, Đại sứ quán Hoa Kỳ gửi văn thư  chính thức, yêu cầu chính phủ Nam Việt Nam “mời” Hoa Kỳ gửi Thủy quân lục chiến đến – asking the South Vietnamese government to “invite” the United States to send the Marines.” < Web History 08.03.1965: U.S. Marines land at Da Nang>.   

     Còn theo tài liệu  Ngũ Giác Đài :”  Vào ngày 8 tháng 3 năm 1965, hai  Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã đổ bộ vào Đà Nẵng với nhiệm vụ giúp bảo vệ căn cứ Không quân và các cơ sở liên quan. Lý do đằng sau khi quyết định đưa các đơn vị quân đội Mỹ vào chiến đấu tại Việt Nam là gì? Đây có phải là tiền đề của việc Mỹ muốn đóng vai trò chủ động trong cuộc chiến tại Việt Nam?- Was this a conscious  prelude to U.S.assumption of a ground combat role in the  Vietnam war?” [11]

Căn cứ vào các tài liệu trích dẫn trên, từ việc chính phủ Ngô Đình Diệm không chấp thuận thi hành chính sách  ” Chiến tranh chống nổi dậy/CIP ” nên  đã  không  cho Mỹ ” stationing  American  troops in Vietnam” để Mỹ “dùng miền Nam Việt Nam làm nơi chống lại chủ nghĩa cộng sản“, đối đầu với Liên Xô qua chiến tranh giải phóng do Liên Xô đề xướng; Đến việc từ tháng 5.1961 phía Mỹ “ không có lý do để xem xét lời khuyên của Galbraith về việc loại bỏ Diệm cho đến cuối năm 1963– and no  urgent reason to consider Galbraith’s advice on getting rid of Diem unntil late 1963” – Cũng như “lý do” chính phủ Diệm ”  từ chối làm chính phủ  bù nhìn ” đã dẫn đến kết quả là một ” giấy phép cấp cho quân đội miền Nam Việt Nam thành lập một băng nhóm để bắn hạ Diệm và Nhu với sự chấp thuận của Hoa Kỳ” , để rồi sau đó chính phủ  Phan Huy Quát   mời  Mỹ  đổ quân vào  Việt Nam, để Mỹ thi hành ” chiến lược” qua chính sách CIP, trái ngược với đường lối của chính phủ tiền nhiệm, vì  ” But  Diem  wanted  neither  at  that  time”.  

     Nhưng theo VNMLQHT đưa ra  nhận xét về mục đích cuộc đảo chánh: “Cho nên khi làm tròn nhiệm vụ vì dân vì nước đó trong những ngày đầu của tháng 11 năm 1963, quân đội đã được quần chúng tin tưởng và thương yêu đến độ “Hồ Chí Minh cũng phải công nhận cái uy tín lớn lao của tướng Minh và Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng”. Và tại Hà Nội, cấp lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt đã phải ý thức rằng: “… các tướng lãnh đã được nhân dân tin tưởng trao trọn quyền hành và tin rằng họ độc lập hơn gia đình Diệm-Nhu, vốn đã hành xử như một dụng cụ dễ bảo của chính sách Mỹ. Hà Nội đã lý luận một cách đơn giản: ai lật đổ chế độ bù nhìn thì không thể là bù nhìn được”. VNMLQHT chương 17 <Sách Hiếm net>.

     
Phải chăng chính phủ Ngô Đình Diệm vì chống đối việc Mỹ đưa quân vào Việt Nam ” stationing  American  troops in Vietnam  – ”  từ chối làm chính phủ  bù nhìn ” để rồi bị lật đổ, nhưng vẫn bị mang cái tiếng là gia đình Diệm-Nhu,vốn đã hành xử như một dụng cụ dễ bảo của chính sách Mỹ “?  Và phải chăng chỉ đến khi  ” chế độ bù nhìn “ (Diệm – Nhu) bị lật đổ để rồi chính phủ “ cách mạng “  Phan Huy Quát mới có  lý do ” để  “invite”  Mỹ  đem quân vào Việt Nam, ” trao trọn quyền hành” cho Mỹ,  để Mỹ thực hiện  mục tiêu ” chiến lược” qua chính sách CIP, là “dùng miền Nam Việt Nam làm nơi”  “chống lại Liên xô qua chiến tranh giải phóng”, dẫn đến kết quả đau thương là nền đệ Nhị VNCH bị bức tử qua thỏa hiệp “da beo 1973”, cho nên chính phủ thời hậu “cách mạng”  ” không thể là bù nhìn được”?  Lại xin nhường bạn đọc đưa ra  nhận xét và phê bình.  ( DV: mượn chữ ” chiến lược ” của Tướng Westmoreland tuyên bố tại Nam Cali 09.1995,  tiết lộ về mục tiêu chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tại VN: “…cuộc  chiến không được lan rộng ra khỏi lãnh thổ miền Nam…không bao giờ được quyền cắt đứt con đường (HCM)-việc cắt đứt con đường này sẽ giảm thiểu các chiến lược của chúng tôi rất nhiều”) <VB ngày 03.09.2021>

Đào Văn

NGUỒN:

[1]- Thư viện CIA 16.12.2016: Diem Assassination Was A ‘Monstrous Blunder’

[2]- Thư viện  BNG / HĐANQG 29.8.1963:Memorandum of Conference With the President. 

[3]- Thưviện  BNG 02.11.1963: Telegram From the Department of State to the Embassy in Vietnam 
[4]-Văn Khố Quốc Gia 2011-The Pentagon PapesCIP-The Kennedy Commitments and  Programs,1961.pdf

[5]– Thư v.  BNG   1961    :  Kennedy’s Foreign Policy
[6]- Thư v.  BNG   03.11.1963: Telegram From the Embassy in Vietnam to the Department of State 

[7]- Thư v.  BNG   03.11.1963: Telegram From the Department of State to the Embassy in Vietnam

[8]- Thư v.  BNG   04.11.1963: Telegram From the Ambassador in Vietnam (Lodge) to the Department of State

[9]- Thư v.  BNG   05.11.1963: Telegram From the Commander, Military Assistance Command, Vietnam (Harkins) to the Chairman of the Joint Chiefs of Staff (Taylor)

[10]- Thư v. BNG 06.11.1963: Eyes only for Ambassador Lodge from the President.

[11]-  Văn Khố Quốc Gia 2011-The Pentagon Papers-p.IV.The Johnson Commiments-MARINE COMBAT UNITS GO TO DA NANG, MARCH 1965 .pdf

Nguồn: https://vietbao.com/p302901a309979/tt-nd-diem-chet-vi-tt-kennedy-quyet-dinh-trao-toan-quyen-hanh-dong-cho-ds-lodge-nam-1963

Những Điệp Khúc Còn Dang Dở… – Trần Ngọc Nguyên Vũ

Trần Ngọc Nguyên Vũ

Pin on Vietnam War

Ngồi trên chiếc xe díp tuần phòng căn cứ, Trung Tá Tựu thấy chiếc C130 bay lướt qua đầu mình đáp xuống phi đạo, anh ra lệnh cho người tài xế ngừng xe lại để quan sát, chiếc phi cơ đang ngừng lại ở cuối phi đạo sát với vòng đai phi trường. Cửa hậu của phi cơ được mở ra, một đám đông khoảng ba bốn chục người tay mang hành lý tràn qua bãi cỏ phóng lên phi cơ. Cửa phi cơ được đóng lại, bốn cánh quạt cùng với hệ thống bán phản lực rít lên, phi cơ lao về phía trước rồi bốc minh rời khỏi phi đạo. Tựu đứng thẳng người, cánh tay giơ lên ra lệnh cho người xạ thủ vào vị thế chờ khi phi cơ vào đúng tầm đạn của khẩu đại liên. Nét mặt người xạ thủ đanh lên, anh cắn chặt môi đến bật máu, trên trán lấm tấm những giọt mồ hôi, ngón tay run run đặt lên cò súng sẵn sàng nhả đạn. Phi cơ bay ngang qua đầu nhưng Tựu vẫn đứng bất động, người xạ thủ ngước mắt nhìn “Ông Thầy” đợi lệnh để khai hỏa. Phi cơ bay lên như cố gắng nâng cao độ “climb” rồi từ từ biến mình sau đám mây mù dầy đặc trên bầu trời của quê hương vào lúc những dòng sử bi hùng của cuộc chiến đang từ khép lại…. Tựu buông một tiếng thở dài, vỗ vai người tài xế nói: “- Thôi mình đi về”. 

Sau bao năm theo “Thầy” đi hành quân ngoại biên, anh tài xế hiểu rõ “Ông Thầy” của mình hơn ai hết. Từ những cuộc hành quân vượt đỉnh Trường Sơn, tới những lần xâm nhập mật khu của địch, anh luôn luôn để toát ra một phong độ hào sảng của một tráng sỹ nơi biên cương quan tái chốn xa trường. Cuộc sống của anh là cuộc sống của những người con yêu sẵn sàng hy sinh thân mình cho đại cuộc. Mỗi bước chân của anh in đậm những dòng thơ đầy tính nhân bản, trên những trang quân sử bi hùng và lãng mạn của dân tộc…Sự quyết định của anh ngày hôm nay có thể là đúng và cũng có thể là sai, nhưng chắc chắn đó không phải là sự quyết định của lý trí mà là sự quyết định của con tim…C130 một cái tên nghe quen thuộc và cũng rất thân thương. Trong những lần làm việc với C130, anh ít tiếp xúc với phi hành đoàn mà chỉ biết họ qua “tần số”. Từ những phi vụ thả toán, đến những phi vụ “bốc” thông điệp và bốc “hàng sống”. anh coi chiếc C130 như một người bạn thân thiết nhất của anh, làm thế nào anh có thể bắn hạ nó, cho dù có phải đánh đổi lấy những hình phạt nặng nề nhất của quân đội dành cho anh. Nghĩ như vậy anh thấy lòng mình thanh thản hơn…Cuộc chiến này rồi cũng có lúc phải kết thúc, kết thúc như thế nào thì anh chưa biết, lệnh từ Nha Kỹ Thuật là phải bảo vệ sân bay để sẵn sàng cho cuộc triệt thoái toàn bộ của quân đội…

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 miền Nam thất thủ, quân đội miền Bắc tràn qua vĩ tuyến 17 tiếp thu miền Nam và thủ đô SàiGòn. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tự giải thể, nhân dân miền Nam tìm đường thoát ra nước ngoài xin tị nạn chính trị đẻ tránh sự trả thù tàn độc của Cộng Sản …Sau 20 năm nội chiến, một cuộc chiến tàn bạo nhất trong lịch sử chiến tranh của nhân loại ở thế kỷ thứ 20 này. Lằn ranh chia cắt đã được xóa bỏ, và Việt Nam trở thành một nước theo chế độ Cộng Sản. Nhưng cũng kể từ đó người dân miền Nam sống trong cảnh tối tăm , u ám với một tương lai mù mịt…Hàng trăm những trại tù, những vùng kinh tế mới được dựng lên để giam giữ hành hạ và cướp bóc vơ vét tài sản của dân miền Nam. Thảm cảnh vợ con của Nguỵ Quân, Nguỵ Quyền ( tiếng của cộng sản ) bị cưỡng bức bởi những kẻ có quyền thế của chế độ mới đã làm cho người dân miền Nam càng thêm tủi hổ…Vết thương đời ngày đêm rỉ máu. ..Bây giờ thì đã hơn nửa thế kỷ trôi qua , cuộc nội chiến đầy hận thù tàn bạo cũng đã chấm dứt, không còn những tiếng bom nổ đạn bay, những xác người gục ngã giờ đậy cũng đã tan biến vào với cát bụi để biến thành chất tố để vun xới cho rừng cây xanh lá cho những khóm hoa trổ sắc vàng tươi và cái còn lại là cái “hào khí” của những anh hùng liệt nữ, những người đã nằm xuống mà không bao giờ được thấy cái thành bại của cuộc chiến mình đã tham dự, cái hào khí đó đang nằm trong những trang “Quân Sử” để tấu lên những “Điệp Khúc” cho bản “Trường Thiên Anh Hùng Ca” bất hủ của dân tộc…

Bây giờ thì đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những người “Tị Nạn” tham dự cuộc chiến ngày nào cũng đang kề cận với những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, nhưng mỗi lần lật qua những trang chính sử của dân tộc thì cái hào khí “Đông A” của những người trai thế hệ “ Mầu Tím Hoa Sim” của một thời chinh chiến ấy lại bùng lên để dệt thành những dòng sử mới cho thế hệ ngàn sau chiêm ngưỡng…

20 năm sau ngày 30 tháng Tư oan nghiệt, tôi tất bật ngược xuôi làm kiếp chim trời xa tổ trên những nẻo đường xa lạ, tôi có dịp ghé thành phố San José, tôi điện thoại cho Tướng Minh xin được đến thăm ông. Nhận ra tôi ông mừng lắm, ông nói ông rất thích những bài viết của tôi trong mục “Đem tâm tình nói chuyện với lịch sử”, rồi ông nói với tôi để ông gọi cho Phan Vũ Điện tổ chức một tiệc rượu bỏ túi và mời một số anh em Không Quân đến nhà Điện để hàn huyên tâm sự…Trong lúc nói chuyện Điện kể lại chuyến bay nghẹt thở trong lúc cất cánh từ phi trường Long Thành, Chiến nói: “ Trong cuộc đời bay bổng, bao nhiêu lần vào sanh ra tử, nhưng chưa bao giờ anh cảm thấy hồi hộp và căng thẳng như lúc bay ngang tầm súng đại liên trên chiếc xe díp phòng vệ phi trường, lúc bấy giờ toàn thân anh như tê dại, miệng thầm đọc kinh “Đức Mẹ” hằng cứu giúp và “Quan Thế Âm Bồ Tát”…Khi phi cơ lên đến cao độ bình phi, thẳng đường lấy hướng đi Singapor anh mới hoàn hồn…Tướng Minh ngồi trầm ngâm nói: “ĐM…Cuộc đời thật là “Vô Thường” không biết đâu mà lường trước được…” 

Bẵng đi một khoảng thời gian sau, tôi có dịp gặp lại Tựu, người bạn cũ từ thủa còn mài đũng quần trên ghế nhà trường. Chung nhóm với Trịnh Đức Tự, Đào Văn Năng…Chúng tôi cùng xin đầu quân vào Quân Chủng Không Quân. Tôi và Tự qua khỏi vòng khám tổng quát, được đi tiếp, còn Tự và Năng phải ở lại để đi theo con đường “định mệnh “ riêng của đời mình…Vì tính đa năng của Không Quân, thỉnh thoảng tôi vẫn được gặp họ, nhất là Tựu, trong những lần hành quân trên Bắc Thái…Chúng tôi yểm trợ cho Tựu “bốc” những toán Biệt Kích Dù trên đất Bắc…Ngồi nói chuyện trong buổi tiệc cưới của cô cháu gái Thanh Hà, nữ ca sĩ duyên giáng nổi tiếng nhất của cộng đồng người Việt tại hành phố Raleigh, thuộc tiểu bang North Carolina. Sau khi nâng ly mừng cho Cô Dâu và Chú Rể được bay cao và bay xa trong vòm trời của yêu đương hạnh phúc, Tựu nói với tôi : “- Trong cuộc sống hiện tại, có những chuyện ngày xưa mà bây giờ nghĩ lại tôi vẫn tưởng chừng như mới xẩy ra ngày hôm qua…Gương mặt Tựu chùng xuống chìm vào một vùng ký ức nhạt nhòa những hình ảnh của một thời…Tựu nói :’- Nếu sáng hôm ấy tôi ra lệnh cho người xạ thủ khai hỏa thì chắc chắn chiếc C130 sẽ bốc cháy và nổ tung trên bầu trời, thì suốt cuộc đời tôi sẽ không lúc nào được hưởng những giây phút thanh thản như ngày hôm nay…và biết đâu tôi lại chẳng theo hai người bạn trong một tai nạn xẩy ra cho 3 người chúng tôi trong toán kiểm tra chương trình xây cất của tập đoàn “Trump Tower” ở Miami, FL. về một cõi vô hình nào đó rồi…Tôi nói với anh :”- Cuộc đời thật là vô thường, nếu nói theo tinh thần “Thập Nhị Nhân Duyên” trong Phật Giáo thì đó là cái nghiệp của chúng sinh, không ai thoát khỏi…Tôi biết người lái chiếc C130 ngày hôm ấy, anh ta đang định cư ở San José, người đầu sông, kẻ cuối sông, nay bắc nhịp cầu “Ô Thước” để nhâm nhi ly rượu “tri kỷ tương phùng như sương khói…” chắc là sẽ thú vị lắm đấy. Tựu trầm ngâm, giọng nói như tan loãng vào khoảng không vô tận :”- Thôi…cứ để chuyện đó nằm yên trong qúa khứ, nhắc đến chỉ làm cho cuộc sống càng thêm sáo trộn…” Tôi nâng ly ngửa cổ uống cạn ly rượu như cảm thông cùng câu nói đầy chất “thiền” của Tựu.

Trần Ngọc Nguyên Vũ
(Những Điệp Khúc Còn Dang Dở…)

(posted by Khongquan2 : https://hoiquanphidung.com/showthread.php?27829-Nh%E1%BB%AFng-%C4%90i%E1%BB%87p-Kh%C3%BAc-C%C3%B2n-Dang-D%E1%BB%9F%E2%80%A6-Tr%E1%BA%A7n-Ng%E1%BB%8Dc-Nguy%C3%AAn-V%C5%A9&nbsp😉

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/vn/item/251-nh-ng-di-p-khuc-con-dang-d-tr-n-ng-c-nguyen-vu

Bên Bờ Sông Cũ – Trần Quang Thiệu

Trần Quang Thiệu

Mike đã lên đường ngay sau khi chúng tôi từ Đông Hà trở về vì quan tâm tới bệnh tình của Louis. [1] Tôi than với Hạnh:

“Vài ngày nữa mới đến chuyến bay về Mỹ của anh. Nhà em xa thành phố, em lại ở trong bệnh viện suốt ngày, thôi để anh ‘check in’ khách sạn Palace trên đường Nguyễn Huệ, đi chơi loanh quanh Sài-Gòn cho vui chứ ở nhà một mình với bà Cai buồn quá.”

Bà Cai là bà người làm đứng tuổi Hạnh mướn để trông nom nhà cửa và lo cơm nước. Bà có người con đi lính, “chết đâu đó bên Campuchia”, bà kể chuyện vài lần, “xác cũng chẳng mang về được”. Giọng bà bình thản như đang đọc báo vì nỗi buồn lâu ngày đã như gỗ đá. Khi không có việc làm bà lân la tìm tôi hỏi đủ thứ chuyện, cứ giống như là mẹ tôi mỗi khi tôi đi xa trở về. Bà làm tôi nhớ mẹ, muốn  về Cali ngay để được mẹ tôi bóc cho quả cam, cắt cho miếng bánh, như những ngày tôi còn thơ dại, dù bây giờ tóc tôi đã pha mầu.

 Palace ở gần bờ sông Sài-Gòn, dòng sông mang nhiều kỷ niệm của một thời khi tôi còn đi biển, khi mà mái tóc tôi còn rất xanh. Lúc tàu về bến, tôi thường đứng trên boong, nhìn những bóng người thấp thoáng trên đường phố, nhìn dòng nuớc chảy xuôi, như cuộc đời buồn. Sau này khi đã ‘lên bờ’ làm việc tại toà nhà ngay cạnh bờ sông, nhiều lúc tôi cũng đã đứng trên lầu cao nhìn xuống dòng sông, uớc gì lại được nó mang đi xa, thoát khỏi những  phố phường bụi bậm ồn ào.

Hình ảnh Công trường Mê Linh ở Sài Gòn qua những biến cố lịch sử

Công việc tham-mưu ngay tại Sài Gòn là một ước mơ của nhiều bạn bè tôi vì họ được gần gụi gia-đình. Tôi còn độc thân nên đôi lúc có bâng khuâng. Tôi nhớ những ngày đi biển, đêm đêm từ ngoài khơi nghe tiếng hát Thái Thanh thăm thẳm từ đất liền, ôm nỗi buồn quạnh hưu, thiết tha nhớ Sài Gòn, nhớ những bến bờ thân quen. Có những lần tàu ghé bến lạ, tôi cùng bạn bè lang thang trên đường phố, uống vài chai bia, khuya về ngất ngưởng leo lên cầu tàu, nghe Vũ lè nhè “Đời vui đếch chịu được!”, mà thấy lòng thanh thản vô cùng.

Ra khỏi khách sạn tôi cầm máy hình đi về hướng bờ sông, tìm nơi làm việc ngày trước, hỏi thầm không biết là mình có được phép chụp tấm hình toà nhà cao, mang về Mỹ, chỉ cho các con tôi “Ngày xưa phòng làm việc của bố ở trên đó …”. Tôi chợt nhớ tới cuốn phim “The Last Emperor”, và thấy thương ông vua từ chốn lưu đày trở về, đứng nhìn Cấm Thành, khoe với thằng bé xa lạ đứng gần “Ngày xưa ta …”.  Vâng, ngày xưa không còn nữa, bây giờ ta như khách lạ ở quê nhà.

Tôi bước chậm trên hè phố. Có vài chiếc xích lô chạy theo, và một chiếc xe vọt lên, người phu xe vẫy tôi chỉ tấm nệm xe “Sir!”. Tôi lắc đầu “Cám ơn. Tôi đi gần đây thôi.”

Chiếc xe thụt lại phiá sau, và tôi nghe tiếng chửi thề “Đ.M., tưởng là Tàu Đài Loan”. Tôi biết người phu xe không chửi tôi mà sao lòng tôi vẫn có chút xót xa buồn.

Đi ngang toà nhà cũ tôi ngước mắt nhìn lên, lòng bồi hồi. Đúng như là tôi nghĩ, “Khu quân sự – Cấm Chụp Hình”. Thoáng một cái đã hơn 30 năm, mà sao nước vôi hình như vẫn không thay mầu, chỉ có lá cờ là khác. Tôi cúi đầu đi trở lui, qua công viên Mê-Linh, tần ngần nhìn tượng Đức Trần Hưng Đạo đứng chỉ tay xuống dòng sông cũ. Nước sông vẫn nâu hồng, không biết còn giọt máu nào của bạn bè tôi ngày xưa.

Tôi ngồi xuống ghế đá, quay mặt nhìn dòng sông, và dù không có hy vọng gì nhiều nhưng tôi vẫn nhủ lòng là biết đâu bạn bè cũ cũng có thể sẽ lang thang tới chỗ này, và chúng tôi gặp lại nhau. Tôi cũng mong gặp lại Quán, người tài xế lái xe cho tôi ngày xưa, để cho Quán chút tiền. Ngày đó ‘thày trò’ đều nghèo xác sơ như nhau, tôi chẳng giúp Quán được gì, ngay cả khi vợ Quán chết trên giường bệnh, bỏ đứa con trai nhỏ cho Quán  lêu bêu với đời. Tôi không biết bây giờ Quán ở đâu. Ngày đó Quán thường thả tôi xuống chỗ này để tôi đi bộ vào sở làm cho khoẻ người, như Quán thường nhắc nhở tôi.

Lại có chiếc xích lô chạy chậm chậm và ngừng trước chỗ tôi ngồi. Người phu xe già mặc chiếc áo lính cũ đã có nhiều nơi sờn rách, mắt mệt mỏi u-buồn, nhìn tôi như mời gọi. Tôi cầm lòng không được, đứng lên giơ tay vẫy.  Giọng người phu xe thoáng có chút vui “Đi đâu thầy?”

Tôi cũng không biết mình định đi đâu nhưng vẫn leo lên xe, tần ngần chỉ tay về phía cuối đường “Bác chạy về hướng đó”, và rồi tôi chợt nhớ ra “qua đường Cường-Để, tới trường Trưng Vương”.

Ngày xưa Trinh học Trưng Vương, và rồi sau đó là trường Dược, cũng đâu đó gần kề. Khi mới yêu nhau tôi đã bao lần đón đưa Trinh trên những con đường thân quen, tưởng như không bao giờ quên lối, thế mà bây giờ vẫn thấy ngẩn ngơ nhìn quanh như sợ lạc đường.

Tôi hỏi “Trường Trưng Vương ở gần sở thú, vẫn còn đó chứ bác?”

Người phu xe giọng chắc nịch “Còn! Thày Việt Kiều hả?”

“Sao biết? Bộ coi không giống ‘dân mình’ à?”

“Giống sao được, người trắng trẻo, cầm máy hình ngẩn ngơ như đi tìm quá khứ thì phải là mấy ông bà Việt Kiều. Dân Sài Gòn còn lo làm giầu, hoặc cực khổ lo kiếm ăn, chứ ai tìm về trường Trưng Vương làm cái gì. Chắc là ngày xưa thày mê cô nào học trường này?”

Tôi hơi ngạc nhiên về nhận xét và lối nói chuyện của người phu xe. Tôi chợt nhớ đến tấm áo lính sờn vai và nghĩ hình như bác ta không phải là người lao động chuyên nghiệp mà có lẽ là một người thuộc chế độ cũ, có học nhưng sa cơ, lỡ vận.

Tôi hỏi thăm “Chà, bác biết rành quá há. Ngày xưa chắc bác học Võ Trường Toản hoặc Chu Văn An.”

Tôi nghe tiếng cười nhẹ “Đâu có. Tôi dân Đà Lạt, học Trần Hưng Đạo. Có biết Bùi Thị Xuân chứ không được có hân hạnh trồng cây si trước trường Trưng Vương.”

Tôi la lên “Cái gì? Trần Hưng Đạo hả? Năm nào?”

“Lâu quá rồi cũng không nhớ. Năm cuối trung học, hình như 1961.”

Tôi nghe choáng váng, đập nhẹ vào thùng xe “Ngừng lại.”

Người phu xe ngơ ngác kéo thắng tay, và trước khi xe ngừng hẳn tôi đã nhẩy ra ngoài, nắm cánh tay bác ta “Tôi cũng Trần Hưng Đạo năm 61 nè. Hơn 40 năm rồi. Hồi đó chỉ có một lớp Đệ Nhất. Chắc chúng mình là bạn học. Bạn tên gì?”

“Tôi hả? Hùng.”

“Hùng Quậy, em Cường Già?”

Người phu xe há hốc mồm “Ừa …”

Giọng tôi như nghẹn lại “Duy đây, Duy Còm đây. Bạn không nhớ tôi sao?”

Hùng vẫn còn ngơ ngác nhìn tôi “Lâu quá rồi làm sao tôi nhận được. Nghe … ông nhắc tôi mới nhớ. Mà ông đâu còn … còm nữa.”

Tôi bùi ngùi “Tôi cũng không nhận ra ông. Ông già và khác xưa quá. Ngồi tạm xuống đây mình nói chuyện.”

Tôi kéo Hùng ngồi ngay xuống lề vỉa hè, không buồn để ý tới những cặp mắt tò mò của vài kẻ qua đường. Ngày xưa cả hai anh em Hùng đều học chung một lớp với tôi. Cường Già hiền lành, còn Hùng trái lại rất ‘quậy’,  có đai đen nhu-đạo nên được bạn bè gọi là ‘Hùng Quậy’ hay ‘Hùng Judo’. Tôi thường hay tới nhà chơi với Cường nên cũng thường gặp Hùng, dù không thân. Hết trung học tôi ra Nha Trang, Hùng vào Thủ-Đức còn Cường Già được miễn dịch vì lý do gia cảnh. Từ đó tôi không gặp lại anh em Hùng, cho đến lúc này.

Tôi bùi ngùi “Sao ông khổ thế này? Còn Cường ra sao?”

Hùng ngồi ôm gối, cúi đầu thở dài “Chuyện dài lắm, nhưng tóm tắt để ông biết là anh Cường mất rồi, ông bà già tôi cũng vậy, còn tôi gà trống nuôi con, đứa con không được bình thường, mà tôi chẳng có nghề ngỗng gì ngoài nghề cầm súng nên đi cải tạo về chỉ biết đi đạp xích lô, kiếm sống qua ngày.”

Tôi thấy cay ở mắt “Tôi nhớ ngày xưa gia-đình ông khá giả, và hình như ông còn mấy đứa em. Không nương tựa nhau được sao?”

Hùng lắc đầu “Còn hai đứa em gái, nhưng chúng lo cho gia đình riêng cũng đủ mệt, mong gì giúp đỡ lẫn nhau.”

Tôi thở dài “Buồn nhỉ”, và rồi tần ngần “Mà thôi không nói chuyện kém vui đó nữa. Hôm nay ông đi chơi với tôi. Gặp bạn cũ mừng quá. Tôi biết bạn bè cùng lớp với chúng mình bên Mỹ còn vài người. Tìm chỗ nào ngồi uống nước rồi tôi kể ông nghe.”

Tôi kéo Hùng đứng lên, và có chút ngập ngừng “Ông đừng lo lắng về thu nhập ngày hôm nay …”

Hùng ngắt lời “Tôi hiểu và không tự ái đâu. Ông trả công hay giúp gì, dù ít nhiều, tôi đều nhận và cảm ơn  … Duy đừng băn khoăn.”

 Tôi mỉn cười với Hùng, rồi để tránh cho Hùng khỏi bối rối tôi hỏi “Bây giờ chúng mình đi đâu uống nước? Tùy Hùng đấy.”

Hùng cũng mỉm cười “Duy còn muốn tới trường Trưng Vương nữa không?”

Tôi lắc đầu “Không. Lúc nẫy không biết đi đâu nên nói đại một cái tên đó thôi.”

Hùng cúi đầu suy nghĩ rồi chợt nhìn tôi tủm tỉm cười “Duy lên xe đi. Đừng đi uống nước. Tôi đưa Duy tới gặp một người bạn cùng lớp ngày xưa.”

Tôi reo lên “Thế thì vui quá! Ai đó Hùng?”

Hùng cười nhẹ “Không nói trước. Để gặp rồi xem Duy có nhận ra không.”

“Ừ để thử xem. Nhưng lâu quá rồi chắc là không nhận ra được ai nữa đâu.”

“Bạn này có tiệm thuốc tây gần đây thôi. Lâu lâu tôi vẫn tới mua thuốc cho thằng con ốm yếu.”

***

Tôi theo sau Hùng buớc vào tiệm thuốc tây Hoàn-Vũ. Người đàn bà ngồi sau quầy hàng ngẩng nên nhìn, mỉm cười với Hùng:

“Kià anh Hùng! Tới chơi hay cần thêm thuốc cho cháu?”

Thay vì trả lời, Hùng chỉ tôi và hỏi người đàn-bà “Nhận ra ai đây không?”

Người đàn bà nhìn tôi vài giây rồi nhè nhẹ lắc đầu, miệng vẫn tươi cười “Xin lỗi, tôi không …”

Hùng quay sang tôi “Ông nhận ra ai đó không?”

Tôi gật đầu, giọng lạc đi vì xúc động “Duy đây, Hoài không nhận ra sao?”

Đôi mắt người đàn bà mở lớn nhìn tôi, kêu lên thảng thốt “Duy đó ư? Trời ơi, Duy đó ư? … Bây giờ thì Hoài nhận ra rồi!”

Mắt Hoài vẫn mở lớn, cặp mắt năm xưa tôi không bao giờ dám nhìn vào mà không luống cuống rụt rè. Tôi tiến gần quầy hàng, muốn nắm lấy hai bàn tay đan vào nhau trên mặt kính, nhưng giống như xưa, tôi không dám, và giọng tôi run rẩy không khác gì ngày đó bao nhiêu: “Như-Hoài…, Hoài … khỏe không?”

Hoài không trả lời, lặng lẽ nhìn tôi rồi cúi đầu gật nhẹ, mái tóc đong đưa, nhiều sợi đã bạc màu.

Cường kéo tôi ra một góc sân “Mày là thằng cù-lần. Hoài nó hỏi xin bài thơ mày làm cho tờ báo cuối năm mà sao mày không mở mồm nói vài lời mà chỉ biết gật gật cái đầu!”

Tôi phân trần “Tại bất ngờ quá không … chuẩn bị gì cả.”

“Chuẩn bị cái gì! Yêu con nhỏ mê tơi cả lớp đều biết mà có dịp vẫn không nói được một câu ra hồn!”

“Mày là bạn thân nên biết chứ đâu có ai biết!”

“Mốc xì. Thấy mày nhìn nó … chó cũng biết. Có thằng viết thư cho chương trình nhạc yêu cầu của đài phát thanh Đà Lạt, ký tên là Trần Quang Duy-Hoài để tặng cho lớp Đệ Nhất Trần Hưng Đạo. Như vậy là cả trường này người ta biết rồi chứ không riêng gì lớp mình!”

Tôi thấy tai nóng bừng “Mày nghĩ là Hoài nó có nghe chương trình nhạc đó không?”

“Làm sao tao biết được. Mày tới hỏi nó xem.”

Tôi dẫy nẩy “Xúi dại! Nhỡ nó mắng cho là hỏi vớ vẩn thì chỉ có nước độn thổ.”

Cường thở ra an ủi “Chắc là nó cũng có nghe. Tụi mình đứa nào cũng thích chương trình nhạc yêu cầu đêm thứ Bảy.”

Tôi thở dài “Không biết đứa nào hại tao! Chắc là thằng em Hùng cà-chớn của mày.”

“Hại gì! Thằng nào đó nó chọc quê mày thì có, nhưng có lẽ giúp mày không chừng.”

Có lẽ Cường nói đúng, tôi đã bỏ mất nhiều cơ hội nói với Hoài,  người con gái bé  nhỏ, mái tóc chấm ngang vai, và ‘mong manh như một cành lan’ ấy là tôi đã yêu Hoài ngay từ hôm Hoài e ấp bước chân vào lớp lần đầu tiên, ngồi ngay bàn đầu, trên tôi và Cường, nên mối tình vẫn chỉ là mối tình câm.

Cường lại an ủi thêm “Yêu thì tao không chắc, nhưng có lẽ là Hoài có cảm tình vớí mày.  Tuần trước tao cũng thấy nó quay  xuống cười với mày khi thày Phụng khen bài giải toán của mày là ‘élégant’. Mà sao lúc đó mày  như người trên mây, chỉ lơ đãng nhìn, không nói với nó một lời hay cười lại với nó. Trông mày buồn buồn thế nào ấy.”

“Lúc đó tao cũng không rõ là tại sao mình có cái gì như vương vấn. Được thầy khen mà không hớn hở, được người con gái mình yêu thầm cười với mình mà mình không thấy vui trọn vẹn. Khi về đến nhà tao mới nhớ ra là tao lãng đãng buồn chỉ vì trước khi đi học nghe tin Việt-Nam mình mới thua Mã-Lai trong giải Merdeka!”

Cường lắc đầu “Cái thằng! Mày đâu có chơi bóng tròn.”

Tôi gật đầu “Nhưng mà vẫn buồn vì Việt-Nam mình thua!”

Cường phê bình “Mày lãng mạn vừa thôi, nếu không sẽ khổ lắm ‘con’ ạ.”

Hùng thấy Hoài và tôi  lúng túng nên xen vào “Ngày xưa tôi thường phá Duy, nghịch ngợm ghép tên ông với Hoài. Lúc đó chúng mình còn quá trẻ nên không suy nghĩ chín chắn. Hai bạn đừng buồn tôi nhé.”

Tôi lắc đầu, quay lại vỗ vai Hùng “Hùng làm tôi nhớ bạn bè và trường cũ quá. Ước gì chúng mình lại nhỏ dại như xưa, dù chỉ một ngày. Thành thật cám ơn Hùng đấy.”

Hùng tế nhị cáo từ “Để hai bạn nói chuyện. Hôm nay mình phải về nhà đưa thằng con tới bệnh viện tái khám.”

Hoài cố mời “Anh ngồi chơi đã. Còn sớm mà!”

Hùng chỉ lặng lẽ cười, giơ tay vẫy chào. Tôi đưa Hùng ra tận ngoài đường, móc gần hết số tiền mang theo dúi vào tay Hùng “Cho tôi địa-chỉ của Hùng.  Sẽ tìm Hùng khi tôi trở về Việt-Nam dạy học năm tới.”

Hùng ngần ngừ “Cám ơn Duy đã giúp tôi. Nhà tôi bên Khánh Hội, khu nhà lao-động, không dễ tìm, và không an-toàn cho những người như Duy. Tôi thường đón khách quanh công viên Mê-Linh. Duy cứ tìm tôi ở đó, hoặc nhắn Hoài. Tháng nào tôi cũng tới Hoài mua thuốc cho cháu.”

Tôi đứng nhìn Hùng mất hút trong đám xe cộ mịt mùng rồi mới quay vào. Khi nghe tin Du chết trận bên Lào tôi khóc nức nở. Đưa xác ‘Thông Sứt’ từ ngoài Trung về Sài-Gòn chôn cất tôi buồn, ngơ ngác như người mộng du. Nhiều bạn bè tôi ra đi lặng lẽ, ‘Thịnh Mù’ bây giờ ở đâu? ‘Quyền Điên’ bây giờ thế nào? Nhìn Hùng sơ xác tôi không khỏi nghẹn ngào. Những ray dứt này có lẽ không bao giờ nguôi.

Hoài nhờ người phụ tá trông coi, mời tôi vào phòng khách bên trong, vừa đi vừa nói “Tội Hùng lắm. Đời sống cơ cực, con đau triền miên, tới mua thuốc nhiều lần mới nhận ra Hoài. Sao Duy nhận ra Hoài ngay?”

Tôi mỉm cười “Đoán vậy thôi. Hùng nói đi gặp bạn cùng lớp, mà bạn gái học cùng lớp chỉ có mấy người, và hình như chỉ có Hoài học Dược.”

Hoài cũng mỉm cười, mắt nhìn xa xôi “Mấy chục năm mới gặp lại Duy mà thấy Duy vẫn thông minh như xưa. Lâu lắm rồi Hoài có gặp Ngà, cô em họ của Duy, bán sách báo ở gần nhà bên Phú-Nhuận. Ngà nói Duy đi du-học, và Hoài cũng chỉ biết vậy về Duy. Duy về VN thăm gia-đình?”

Tôi tóm tắt, gói ghém cuộc đời 40 năm vào vài câu rồi kết luận “Có lẽ tôi có số phiêu bạt nên không được ở yên, hết đi biển tới du-học xa, bây giờ về VN dạy học nhưng gia-đình còn ở bên Cali nên vẫn đi đi, về về.”

Nâng tách nước trà thấm giọng, tôi bâng khuâng nói tiếp “Lần cuối cùng tôi thấy Hoài đi lặng lẽ trong đám sinh viên xuống đường chống chính quyền thời bấy giờ. Tôi đứng trên viả hè, muốn gọi mà không dám, chỉ đứng nhìn, rất lâu và rất xa như hồi chúng mình còn học chung. Từ đó tới giờ đời sống của Hoài ra sao, kể cho tôi nghe được không?”

Hoài có chút thoáng buồn “Đời Hoài không mấy êm đềm, Duy ạ. Tốt nghiệp xong ít lâu Hoài lấy chồng và mấy năm sau mới có được một cháu trai. Chồng Hoài là bác-sĩ quân y. Năm 76 anh Tôn vượt biên một mình vì lúc đó con Hoài còn quá nhỏ, sợ không chịu được gian lao trên biển. Từ đó không bao giờ Hoài được tin anh Tôn. Vì sinh kế Hoài lao mình vào thương trường, và rồi vì sống còn Hoài lấy chồng lần thứ hai. Anh Hoàng nguyên là cán bộ. Hiện giờ anh ấy đang ở ngoài Hà-Nội, xin giấp phép nhập cảng dược liệu. Coi vậy thôi chứ cuộc đời Hoài cũng nhiều cay đắng lắm.”

Tôi thở dài “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen!”

Hoài bật cười “Duy còn làm thơ như hồi học Trần Hưng Đạo không?”

“Cũng thỉnh thoảng, và chỉ được vài bài đáng nhớ, trong đó có bài thơ vụng dại viết về ngày xa Đà Lạt.”

“Duy đọc cho Hoài nghe bài thơ ấy đi.”

“Tôi cũng không nhớ hết, nhưng có mấy câu tôi không bao giờ quên. Ðọc cho Hoài nghe nhé:

Chiều tiễn đưa, mưa rơi trên mái tóc.
Mắt em buồn, đồi thông gió cũng buồn.
Giã từ em, giã từ ga vắng.
Em về giữ lại dấu môi hôn.

Hoài thấy đó, giã từ Đà Lạt bằng xe hoả thì có thật, còn người yêu tiễn đưa thì chỉ là trong giấc mơ .”

Hoài mơ màng “Hồi đó chúng mình còn thơ ngây quá phải không?  Duy vừa học giỏi, vừa si-tình mà nghịch ngợm thì cũng không ai bằng!”

Tôi cười trừ “Tưởng Hoài không biết!”

“Làm sao không biết! Nhớ Kim-Yến ngồi cạnh Hoài không? Nó sửa tên ‘Như-Hoài’ trên tập vở của Hoài thành … ‘Duy-Hoài’ làm Hoài ngượng và tức với Duy luôn. Vậy mà không giận được, hôm đó giờ ra chơi Hoài ngồi lại trong lớp, có cả Duy và Lạc nữa. Anh Lạc hiền lành, bị Duy gọi là … Sư Lạc, và xui anh ấy ‘tu với vãi, đẻ ra tiểu chạy lon ton trong chùa’. Hoài buồn cười quá mà không dám cười vì ngượng với Duy, chỉ ôm bụng cố nhịn, đến nỗi muốn đau luôn.”

Tôi cũng cười “Hồi đó chúng mình đang tuối học trò. Bây giờ dạy học nên tôi ‘nghiêm túc’ lắm. Riêng ‘Sư Lạc’ thì tôi có gặp ở Los Angeles. Lạc quả có tu, nhưng không tu tại chùa mà tu tại gia, theo phái của thiền-sư Nhất Hạnh. Tôi cũng gặp cả Phong ở San Diego. Hoài nhớ ‘Thanh Phong Cơm Gà’ không?”

“Nhớ. Hôm đó lớp mìmh cắm trại tại Đông Sơn, Phong nấu cơm ăn với thịt gà cho mọi người mà rồi bị mang tên “Thanh Phong Cơm Gà’. Không biết ai ‘ác’ vậy?”

“Có lẽ là ‘Tắc Xình’ hoặc ‘Cẩm Bò’ chứ không phải tôi. Tối đó Hoài mang cho tôi bát chè đậu. Tôi không muốn ăn mà chỉ muốn giữ … làm kỷ niệm. Kim-Yến đòi mãi tôi mới ngần ngừ đưa trả cái bát!”

Hoài cười ngất “Duy lãng mạn hơn là Hoài tưởng nhiều.”

“Đêm đó tôi hầu như không ngủ, nằm nhìn trời sao, mong cho có sao băng để ước nguyền.  Sao chỉ lung linh, và lời ước nguyền không bao giờ nói được.”

Hoài nheo mắt “Sao trời lung linh đẹp hơn sao băng Duy ạ. Mà cần gì sao băng. Duy nghịch ngợm vậy mà sao có lúc Duy lại còn nhát hơn cả Hoài nữa!”

Tôi cười gượng “Nhát và mặc cảm. Lúc đó gia đình tôi nghèo lắm. Tôi chỉ có một chiếc áo len độc nhất mặc đi học. Hoài ở villa cạnh nhà Cường. Tôi đến chơi với Cường, đứng bên này balcon nhìn sang bên đó, thấy chị em Hoài thấp thoáng mà không dám  nhìn lâu chỉ sợ Hoài bắt gặp. Nghĩ lại không biết sao mình ‘u-mê’ đến thế.”

Hoài cười nhắc tôi “Có lần Cường đưa Duy sang chơi. Cường ba-hoa như bà già, còn Duy lập cập, chẳng nói được câu nào. ”

Tôi bật cười “Tôi nhớ rồi. Khi đó niên học đã tàn. Chúng mình chuẩn bị mỗi người đi một phương!”

Hoài thở dài hỏi tôi “Mới ngày nào! Bao giờ Duy về lại California?”

“Thứ Ba tuần tới. Cuối tuần này anh Hoàng về chưa? Tôi muốn mời vợ chồng Hoài dùng cơm tối với tôi.”

Hoài lắc đầu “Còn hơn tuần nữa anh Hoàng mới về. Thôi, để khi nào Duy trở lại Việt-Nam Hoài sẽ mời Duy tới nhà ăn cơm. Chịu không?”

Tôi gật đầu mạnh bạo “Chịu là cái chắc.”

Hoài chớp mắt nhìn tôi mỉm cười “Ước gì ngày xưa Duy cũng mạnh bạo như bây giờ!”

Tôi hơi đỏ mặt nhưng cũng thấy thoải mái hơn. Những e-dè ban đầu khi mới gặp lại Hoài hình như đã biến mất. Tôi cười với Hoài, hỏi Hoài câu hỏi mà tôi thắc mắc từ bao nhiêu ngày qua:

“Nếu ngày xưa tôi mạnh bạo, nói với Hoài là  ‘Duy yêu Hoài’ thì Hoài trả lời sao? Có mắng Duy không?”

Hoài cười khúc khích “Chắc là không.”

“Không mắng hay là không … yêu.”

Hoài lắc đầu lảng tránh “Không biết nữa.”

Môi Hoài vẫn chúm chím cười, và tôi thấy chút màu hồng trên đôi má đã có nếp nhăn.

Ngày xưa tôi thường tìm những nơi vắng vẻ, thầm hát như nhắn nhủ tới Hoài:

“Thương đôi mắt sao trời lung linh.
Thương yêu ngón tay ngà xinh xinh.
Thương yêu dáng vai gầy thanh thanh.
Thương yêu vòng tay ghi xiết ân tình
Thương yêu dáng em buồn bơ vơ.
Thương yêu nét môi cười ngây thơ.
Thương yêu tóc buông lơi dịu dàng…
Thương em mong manh như một cành lan.
” [2]

Tôi nhìn Hoài chăm chú hơn. Hoài không còn giống người con gái tôi yêu say mê dưới mái trường trung học, không còn là hình bóng tôi mang theo những ngày dài trên biển để chống chỏi với sóng gió phũ phàng.  Nét yêu kiều của Hoài xưa đã phôi pha, tôi biết tình yêu xưa đã nhạt nhoà và thấy lòng mình chùng xuống vì tiếc nuối nhưng đồng thời cũng thấy một tình cảm khác, ấm áp, chân thành và dịu dàng đang nẩy mầm.

Tôi nói với Hoài “Hy vọng là lúc nào Hoài cũng vẫn coi tôi là bạn. Chúng mình như hai nhánh sông, không thể ngược dòng tìm về chốn cũ, nhưng chúng ta là những nhánh sông hiền hoà xuôi theo dòng đời. Mong Hoài được hạnh phúc, lâu lâu cho tôi tới thăm, giữ chút kỷ niệm êm đềm của thời hoa niên, Hoài bằng lòng không?”

Mắt Hoài long lanh như có ngấn nước “Lúc nào Hoài cũng mong Duy tới thăm. Cám ơn Duy đã gợi lại cho Hoài bao nhiêu là ngày vui cũ. Cho Hoài gửi lời thăm các bạn bên Hoa Kỳ, và mong rằng một ngày nào chúng mình được họp mặt đông đủ. Duy tổ chức ‘class reunion’ đi!”

Tôi đứng lên “Gặp lại Hoài tôi thấy mình như trẻ lại. Vâng, để tôi xem rồi mình có thể tụ họp bạn bè xưa một ngày nào đó không. Ngày vui nào cũng qua mau, thôi chúng mình tạm chia tay.”

Hoài cũng đứng lên “Duy về. Bao giờ trở lại Việt-Nam nhớ tới thăm Hoài nhé.”

Hoài đưa tay nắm nhẹ bàn tay tôi, cái nắm tay 40 năm muộn màng nhưng tôi vẫn bồi hồi “Cám ơn Hoài.  Cám ơn Hoài nhiều lắm.”

Hoài đưa tôi ra tớí cửa. Cả hai chúng tôi vẫn còn như bâng khuâng. Tôi nói nhỏ “Hoài vào đi”, và buớc nhanh ra khỏi cửa.

Chợt Hoài gọi với theo “Duy …”

Tôi quay lại nhìn Hoài như chờ đợi. Giọng Hoài như hơi thở nhẹ “Con trai Hoài hiện đang ở Úc. Tên cháu là … Vũ Như-Duy.”

Tôi lặng người nghe máu nóng chạy trong lồng ngực, câu hỏi 40 năm bây giờ đã có câu trả lời. Bỗng dưng tôi lắp bắp như xưa “Cám ơn … Hoài. Cám ơn Như-Hoài nhiều lắm.”

Không đợi Hoài nói thêm tôi cúi đầu đi nhanh. Tới chỗ rẽ tôi quay đầu nhìn lại, Hoài vẫn còn đứng đó trông theo. Tôi thả bộ trở lại bờ sông Sài-Gòn, đứng nhìn dòng nước. Nước sông không lững lờ cho tôi soi bóng mình mà cuồn cuộn trôi như thời gian, mang theo những tháng ngày xanh, mang theo những mảnh đời vui buồn.

Trần Quang Thiệu
Mùa Hè – 2006
 


[1] Xin đọc “Quê Mẹ Ở Đông Hà’, cùng tác giả.
[2] Gọi Người yêu Dấu – Nhạc Vũ Đức Nghiêm

(www.vinasoft.com)

Nguồn: http://www.bienkhoi.com/so-92/ben-bo-song-cu.htm

Thiết giáp QLVNCH (Kỵ Binh Phù Đổng) Tổ chức 1970-1975 – Trần Lý

                                                       Trần Lý

Năm 1970 :

Lực lượng Thiết giáp tại các Quân Khu được tổ chức thành các Lữ đoàn Kỵ Binh và đánh số theo Quân Khu nơi trực thuộc. Chỉ huy Lữ đoàn được gọi là “Tư lệnh”

  • Lữ đoàn 4 Kỵ binh được thành lập đầu tiên tại Cẩn Thơ; sau đó Lữ đoàn 1 Kỵ binh tại Đà Nẵng, rồi Lữ đoàn 3 tại Biên Hòa và sau cùng Lữ đoàn 2 tại Pleiku (1971)

Năm 1971 :

   Thiết đoàn 19 được thành lập tại Pleiku

   Đến cuối năm 1971 : Lực lượng Thiết giáp có 11 Thiết đoàn

   Một số xe thiết giáp M-42 A-1 Dusters được Hoa Kỳ cung cấp cho Thiết giáp VNCH đề thành lập các Tiểu đoàn thiết giáp phòng không. Thêm vào đó còn có các xe vận tải GMC được trang bị Hệ thống đại liên 4 nòng M-55. Tuy mang danh nghĩa phòng không nhưng các M-42 được VNCH dùng như các xe bảo vệ căn cứ và yểm trợ hành quân

   M-42 Dusters là thiết giáp dùng khung-sườn căn bản , sửa đổi pháo tháp của M-41  thay đại bác 76 ly bằng giàn đại bác đôi 40 ly Bofors) (Xin xem các chi tiết trong phần Chiến cụ Thiết giáp)

                                Hình      M-42 A-1 Dusters (đầu bài)

   Tháng 7-1971 Hoa Kỳ cung cấp cho VNCH loại xe tăng mới M-48 A-3 vả Thiết đoàn 20 được chọn để được huấn luyện và cấp số ban đầu dự trù là 54 xe M-48 A-3. Chương trình huấn luyện được tổ chức tại Căn cứ Ái Tử Quảng Trị.

                (xin đọc về M-48 trong phần Chiến cụ Thiết Giáp)

General Abrams's Thought re: ARVN Units – dòng sông cũ

Hình M-48

Từ 1972  các Thiết đoàn Kỵ binh được tổ chức hơi khác nhau :

– Các Thiết đoàn tại các Vùng 1, 2 và 3 có cấp số cùng tổ chức giống nhau , riêng  tại Vùng 4, các thiết đoàn không có xe tăng..

– Ngoài các Thiết đoàn Chiến Xa 20, 21 và 22 trang bị Xe tăng M-48, mỗi Th/Đ cò 3 Chi đoàn và mỗi Chi đoàn có 17 xe M-48, thêm 3 Xe Chỉ huy (tổng cộng mỗi Thiết đoàn có 54 chiếc M-48)

– Các Thiết đoàn Kỵ binh tại các Vùng 1,2 và 3 (trừ Vùng 4) được trang bị xe tâng M-41 và tổ chức như sau :

    Mỗi Thiết đoàn có 1 Chi đoàn xe tăng  M-41 (17 chiếc) + 2 Chi đoàn Thiết quân vận + Bộ chỉ huy Thiết đoàn.

    Mỗi Chi đoàn Thiết quân vận có 21 xe gồm

  • Chi đội Chỉ huy  : 2 xe M-113
  • 3 Chi đội thiết kỵ, mỗi chi đội có 5 xe M-113
  • 1 Chi đội súng cối 81 : 4 xe M-125

   Tại Bộ Chỉ huy Thiết đoàn còn có thêm :

  • 1 Chi đội Xe phun lửa M-132
  • Một Chi đội Xe thám thính : 6 xe V-100
  • Hai xe Chỉ huy M-557

Hình M-557

Cấp số và Tổ chức Kỵ binh 1973:

  • Thiết đoàn 21 CX được thành lập ngày 28 tháng Giêng 1973 tại Pleiku, trang bị Xe tăng M-48

  Cùng những chiến xa tồn trữ làm lực lượng trừ bị ; Năm 1973 Thiết giáp binh có một lực lượng khoảng 450 xe tăng M-41 và M-48, 200 thiết vận xa M-112 và 450 xe chạy bằng xích các loại khác trong đó có Xe yểm trợ M-88 và M-578, thiết giáp phòng không M-42, và một số xe bọc thép chạy bánh như V-100.

  Riêng Lữ đoàn 3 KB còn được trang bị một số M-113 có gắn Hệ thống chống tăng TOW

Theo Simon Dunstan trong “VietNam Tracks” Thiết Giáp Binh VNCH được phân phối

 như sau (kèm theo năm tổ chức của đơn vị ) ;

  • Vùng 1 Chiến thuật : Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 1 đặt tại Đà Nẵng (1969)

         Th/Đ 4 tại Chu Lai (1956)

         Th/Đ 7 và 11 tại Đông Hà (1965 & 1968)

         Th/Đ 17 tại Hoi An (1969)

         Th/Đ 20 tại Quảng Trị (1969)

  • Vùng 2 CT : Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 2 đặt tại Pleiku (1971)

          Th/Đ 3 tại An Khê (1954)

           Th/Đ 8 tại Ban Mê Thuột (1965)

           Th/Đ 14 tại KonTum (1969)

           Th/Đ 19 tại PleiKu (1871)

           Th/Đ 21 tại Pleiku (1972)

  • Vùng 3 CT : Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 3 đặt tại Biên Hòa(1970)

           Th/Đ 1 tại Đức Hòa (1956)

           Th/Đ 5 tại Xuân Lộc (1963)

           Th/Đ 10 tại Củ Chi (1966)

           Th/Đ 15 và Th/Đ 18 tại Biên Hòa (cà hai năm 1969)

           Th/Đ 22 tại Long Thành (1972)

      Trường Thiết Giáp tại Long Thành

  • Vùng 4CT : Bộ Chỉ huy Lữ đoàn 4 KB tại Cần Thơ (1969)

            Th/Đ 2 tại Vĩnh Long (1956)

             Th/Đ 6 tại Mỹ Tho (1963)

                        Th/Đ 9 tại Sóc Trăng (1966)

             Th/Đ 12 tại Cần Thơ (1968

             Th/Đ 16 tại Long Xuyên (1969)

Kỵ Binh Lưu Đình Vũ – ĐƯỜNG VÀO MẬT KHU TAM GIÁC SẮT – dòng sông cũ

Hình M-41

Thiết giáp binh QLVNCH đầu năm 1975

A-Tổ chức

  Ngoài Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh và Trường Thiết Giáp..

 (Tư lệnh sau cùng : Tướng Nguyễn văn Toàn ; Trường : Đ tá Huỳnh văn Tám)

     Đầu năm 1975, Lực lượng Thiết giáp VNCH được tổ chức thành 4 Lữ Đoàn : 1, 2, 3 và 4 Kỵ binh ; mỗi Lữ đoàn trực thuộc mỗi Quân đoàn/Vùng Chiến Thuật.

   Có tổng cộng 21 Thiết đoàn, đánh số từ 1 đến 22 (không có Thiết đoàn 13).Thiết đoàn là đơn vị căn bản của Kỵ binh VNCH

   Các Thiết đoàn trang bị M-41 và M-113 được gọi là Thiết đoàn Kỵ binh (KB) và các Thiết đoàn trang bị M-48 được gọi là Thiết đoàn Chiến xa (CX).

  (có 3 Th đoàn CX  : 20 thuộc Lữ đoàn 1 KB ;  21 thuộc LĐ 2 KB; và 22 thuộc LĐ 3KB)

Phân phối các Thiết đoàn :

  Theo bảng cấp số tổ chức TG của Bộ TTM,  các Thiết đoàn được phân phối cho Lữ đoàn tùy nhu cầu chiến trường :

  • Lữ đoàn 1 KB, thuộc Quân đoàn 1 có 5 Thiết đoàn , mỗi SĐBB có 1 Th đoàn

Th/Đ 7 KB (SĐ1); Th/Đ 4 KB (SĐ2);  Th/Đ 11 KB (SĐ3)

Th/Đ 17 KB và Th/Đ 20 CX trực thuộc Lữ đoàn và làm trừ bị cho Quân đoàn.

  • Lữ đoàn 2 KB, thuộc Quân đoàn có 5 Thiết đoàn :

Th/ Đ 14 KB (SĐ22) và Th/Đ 8 (SĐ23)

Các Th/Đ KB ; 19 KB và 21 CX thuộc Lữ đoàn 2 và làm trừ bị cho Q đoàn

  • Lữ đoàn 3 KB , thuộc QĐ 3 có 6 Thiết đoàn :

Th/Đ KB (SĐ5) ; Th/Đ KB (SĐ18) ; Th/Đ 10 KB (SĐ25)

Các Th/Đ 15 KB; 18 KB; và 22 CX thuộc Lữ đoàn 3, trừ bị cho QĐ

  • Lữ đoàn 4 KB, thuộc QĐ4 có 5 Thiết đoàn :

Th/Đ KB (SĐ7);Th/Đ (SĐ9) ; Th/Đ (SĐ21)

Các Th/Đ 12 KB và 16 KB thuộc Lữ đoàn 4 và dùng làm trừ bị cho QĐ

Riêng tại Quân đoàn 3, lực lượng thiết giáp có một tổ chức đặc biệt gọi là Lực lượng Xung Kích Quân Đoàn 3 dùng làm trừ bị cho Quân đoàn..(xem phần riêng)

B- Trang bị :

Trang bị của các Thiết đoàn , tuy phần lớn theo bảng cấp số chung nhưng cũng có những trường hợp khác biết, có thể thêm những chiến cụ tùy tình hình chiến trường :

  • Các Thiết đoàn KB được trang bị chung với tiêu chuẩn : Mỗi Thiết đoàn KB cò 1 Chi đoàn xe tăng M-41 và 2 Chi đoàn Thiết vận xa M-113. Các Chi đoàn M-113 được gọi là Chi đoàn Thiết kỵ

Các Thiết đoàn thuộc Vùng 4 : không có M-41 (vì vùng sình lầy) , nên có 3 Chi đoàn M-113

Các Thiết đoàn CX trang bị xe tăng M-48 (Mỗi Th/Đ có 54 xe )

  • Mội Thiết đoàn KB có một Chi đội súng cối 106 ly (hay Chi đội 4.2 inch) (Xe M-548, xem phần Chiếc cụ)
  • Ngoài ra, mỗi Chi đoàn Thiết kỵ (Chi đoàn M-113) còn được trang bị thêm 3 đại bác không giật 106 ly và có một chi đội súng cối 81 ly.

C- Lực lượng Xung kích Quân đoàn 3 :

   Lực lượng ‘đặc nhiệm’ này được tổ chức theo sáng kiến của Tướng Đổ Cao Trí khi làm Tư lệnh Quân đoàn 3, thành lập từ tháng 4 năm 1970; bị Tướng Nguyễn Văn Minh giải tán , sau khi thay Tướng Trí (tử nạn trực thăng, tháng 2/1971) và được tái lập do Tướng Phạm Quốc Thuần..

     Lực lượng do Tướng Trần Quang Khôi chỉ huy.

Theo Ông Khôi, tổ chức của LLXKQĐ3 được tổ chức như sau :

  • Giai đoạn Tướng Trí :

   Tướng Trí dùng lực lượng Thiết giáp của các Thiết đoàn 1 và 18 phối hợp với các Tiểu đoàn BB của SĐ 5 và BĐQ (các TĐ 73, 31, 34 và 36) cùng các đơn vị Pháo binh và Công binh chiến đấu (CBCĐ), tổ chức thành 3 Chiến đoàn dùng trong Cuộc Hành quân Toàn thắng tấn công vào các mật khu CSBV trên đất Miên..

  • Chiến đoàn 1 : Th/Đ 1 KB + các TĐ 1 và 2 / Tr/Đ 7BB và ĐĐ 5 Công binh CĐ
  • Chiến đoàn 9 : (không có Thiết giáp)  : các TĐ 1,2 và 4 Tr/Đ 9 BB ; ĐĐ 9 Trinh sát, TĐ 37 BĐQ; ĐĐ 5/303 CBCĐ: Pháo đội 3A và 3C của TĐ 50 PB-155 ly ; Pháo đội 53/ TĐ 53 PB 105 ly)
  • Chiến đoàn 333 : Th/Đ 18 KB cùng các TĐ 31,34 và 36 BĐQ ; ĐĐ 30 CBCĐ ; Pháo đội C /TĐ 61 PB 105 ly và Pháo đội A  TĐ 46 PB 105 ly
  • Giai đoạn Tướng Thuần

   Sau khi bị giải tán, LLXKQĐ3  được tổ chức lại (khi Tướng Minh mất chức), có thêm Thiết đoàn Chiến xa 22 trang bị xe tăng M-48, Tiểu đoàn 61 PB 105 ly được cơ đông hóa, thêm nhiều xe thiết giáp tiếp liệu

    LL có 3 Th/Đ : 15 KB; 18 KB và 22 CX ; 1 Liên đoàn BĐQ (LĐ 33); 1 Tiểu đoàn Pháo binh (TĐ 46PB) ; 1 Tiểu đoàn Công binh (TĐ 302) cùng các đôn vị yểm trợ và tiếp liệu.

    LL được tổ chức thành 3 Chiến đoàn 315, 318 và 322

   Mỗi Chiến đoàn có 2 Chi đoàn M-113 Thiết Kỵ, 1 Chi đoàn M-48 ( mỗi chi đội CX chỉ có 3 M-48), 1 TĐ BĐQ, 1 Pháo đội 105 và một Trung đội Công binh

    Riêng Pháo đội 105 dùng xe M-548 cải biến để chở theo đại bác 105 cùng di chuyển theo Chiến đoàn)..

     Bộ Chỉ huy LLXK gồm Bộ Chỉ huy Liên đoàn 33 BĐQ, ĐĐ 33 Trinh sát BĐQ và Pháo đội 33 BĐQ, và bổ xung thêm TĐ 46 PB 155 ly ; Bộ chỉ huy TH/Đ 22 CX cùng các đôn vị tiếp vận.. Tất cả đều cơ động..

  • Chiến cụ Thiết giáp bỏ lại khi tan hàng :

Theo ghi nhận của các tài liệu ngoại quốc

Số chiến cụ bỏ lại gồm :

  • 300 xe tăng M-41
  • 250 xe M-48
  • 1635 xe Thiết vận xa M-113
  • Khoảng 1000 xe , chiến xa các loại khác trong đó có
  • 200 xe phun lửa và 100-200 Xe V-100

                              Trần Lý (hiệu đính 2021)

Phụ Lục :  Bảng thống kê số lượng các loại Xe của Thiết Giáp VNCH

                          (1973) theo S. Dunstan

                 (Xin đọc chi tiết của từng loại Chiến Cụ trong phần riêng)

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Đại Hội Toàn Quốc Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Tại Dallas Thành Công Rực Rỡ

  • Nguyễn Văn Lập

03/11/2021

https://vietbao.com/images/file/HEYE6_ee2QgBAHAX/w600/dai-gia-dinh-vausa.jpg

Đại gia đình VAUSA.

Irving – Đại hội toàn quốc Hội Quân Nhân Mỹ Gốc Việt *Vienanese American Uniformed Sercices Association gọi tắt là VAUSA tổ chức vào lúc 7giờ tối tại Khách sạn Marriott, thành phố Irving, Texas đã thành công rực rỡ với khoảng 450 người tham dự.

Trước đó vào lúc 10giờ30 sáng, VAUSA đã tổ chức một lễ đặt vòng hoa tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ Dallas Fort Worth với sự tham dự của Liên Hội Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa DFW và các đơn vị bạn. Truyền thông báo chí có Bút Việt News, báo Người Việt Dallas và Trẻ ĐẹpOnline Daily News. Thiếu Tướng Flora Lập Thể cũng là vị cố vấn và thành viên của hội đồng Quản Trị VAUSA, cùng với đại tá Mimi Phan đã nhắc lại tấm gương hy sinh và phục vụ của người lính quốc gia của hai quân đội Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ sáng ngời về lòng yêu nước và làm tròn nhiệm vụ đối với tổ quốc trong nhiệm vụ bảo vệ tự do và hòa bình trên thế giới, họ sẻ không bao giờ bị quên lãng. Hội trưởng VAUSA, cựu Đại Úy Nguyễn Hữu Hiếu đã ngõ lời cãm tạ mọi người tham dự, và đáp từ, Chủ tịch Liên Hội Chiến Sĩ VNCHDFW, Nguyễn văn Lạc ngõ lời mến phục và chúc đại hội VAUSA thành công tốt đẹp.

https://vietbao.com/images/file/GGFFUPie2QgBAIo1/w600/nu-tai-tu-kieu-chinh-ky-tang-sach-ho-ong-ba-bac-si-dai-ta-vo-ngoc-kha-va-ong-ba-tran-nguyen-hong.jpg

Nữ tài tử Kiều Chinh ký tặng sách ho ông bà Bác sĩ Đại tá Võ Ngọc Khả và ông bà Trần Nguyên Hồng

Buổi chiều trước giờ khai mạc dạ tiệc tại khách sạn, có một buổi ra mắt cuốn hồi ký “Kiều Chinh Nghệ Sĩ Lưu Vong” dầy ngót 500 trang cùng rất nhiều hình ảnh, và chính tài tử Kiều Chinh đã nói về cuốn hồi ký này, trả lời câu hỏi, và ký tên trên sách.

Sau khi quan khách chụp ảnh lưu niệm tại phòng tiếp tân, Lễ khai mạc đại hội vào lúc 7giờ tối với khoảng 450 người tham dự gồm có Thiếu Tướng Lướng Xuân Việt và phu nhân, nhị vị niên trưởng Huỳnh Kim Hiếu, Nguyễn Quang Vinh, hai cộng đồng Dallas và Tarrant County, cùng một số đại diện hội đoàn quân đội và các tất cả cơ quan truyền thông báo chí Việt ngữ tại DFW đều tham dự, còn lại là hội viên và gia đình VAUSA đến từ nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ.

Chương trình do hai MC, Trung Úy Ta Nguyen và CPO Kim Uyen Nguyen điều hành. Sau nghi thức chào quốc ca Hoa Kỳ do đội quốc kỳ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ thủ kỳ và cháu Mandy Nguyễn hát quốc ca Hoa Kỳ. Tiếp theo là nghi thức mặc niệm và tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh theo ghi thức truyền thống của quân đội Hoa Kỳ, đèn tắt hết, một chiếc bàn được trải khăn trắng cùng một chiếc ghế cũng phủ khăn trắng dựa vào bàn tượng trưng cho một đồng đội đã hy sinh tại mặt trận và về đây tham dự buổi tiệc này, rồi đèn được bật sáng lên. Tiếp theo, Đại tá Mimi Phan lên làm lễ cầu nguyện xin ơn trên ban phước lành cho VAUSA và mọi người tham dự. Tiếp tục chương trình với phần tưởng nhớ tù binh chiến tranh và mất tích khi thi hành công vụ POW and MIA, trong đó có lễ truy điệu và tiếng kèn trompet vĩnh biệt 12 sĩ quan và quân nhân Mỹ gốc Việt đã hy sinh trên các chiến trường Saudi Arabia, Iraq, và Afghanistan từ năm 1996 đến cuối năm 2010, với 12 phụ nữ Việt cầm 12 bông hoa cắm chung vào một chiếc bình để tưởng nhớ sư hy sinh này.

https://vietbao.com/images/file/Qc1GjPie2QgBAHYq/w600/nang-ly-cung-toast.jpg

Cùng nâng ly

Sau đó, Hội trưởng Nguyễn Hữu Hiếu lên chào mừng mọi người tham dự, cãm tạ mọi đóng góp tinh thần và vật chất giúp cho đại hội này thành công tốt đẹp và vắn tắt mục đích ngày tổ chức đại đội này với chủ đề “Chinh Phục Biên Giới Mới” nhằm nêu cao tinh thần đoàn kết quân đội, phát triển khoa học, và phục vụ cộng đồng. Tiếp theo là lời phát biểu của hai vị khách mời là bà cựu Phó Đề Đốc, Tiến sĩ Dươc khoa, Pamela Schweitzer, và Thiếu Tá Thomas Vũ Trương thuộc Lực Lương Không Gian Hoa Kỳ lên nói về các đề tài chuyên môn trong ngành mình đã và đang phục vụ.

Chương trình được tiếp tục gọi là Grog Bowl Presentation, rượu được rót đầy vào một cáí tô thật to trong tiếng reo hò của hội viên, rồi đại diện các quân binh chủng lên múc vào ly, và lần lượt hội viên đại diện 8 quân binh chủng Hoa Kỳ lên nâng ly chúc mừng và mời quan khách cùng nâng ly uống cạn qua 12 lần theo thủ tục uống rượu của quân đội gọi là Toast Responses. (Xin mở một dấu ngoặc về nghi thức này rất có trước có sau, bao giờ Toast thứ nhất cũng là chúc mừng đất nước Hoa Kỳ, Toast thứ nhì là chúc mừng Tổng Thống Hoa Kỳ đương nhiệm, và các Toast tiếp theo là lần lượt chúc mừng các đơn vị, và cuối cùng là chúc mừng tất cả cựu quân nhân và quan khách tham dự. Còn nếu Toast để tưởng nhớ về quốc gia bạn và quân đội bạn đã hy sinh thì như Đại tá Paul Devries, Cố vấn Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa trong buổi tiệc sau lễ đặt bia tưởng niệm tử sĩ Nhảy Dù VNCH tại Viện Bảo Tàng Lục Quân Hoa Kỳ tại North Carolina ngày 12/5/2005 đã xướng cho Toast thứ ba rằng “Toast này để tưởng nhớ Việt Nam Cộng Hòa, rồi Toast thứ tư là “Toast này để tưởng nhớ trên 20,000 lính Nhảy Dù VNCH và cố vấn Mỹ đã hy sinh”). Cái thủ tục toast này mang ý nghỉa lớn nhất là khi dự tiệc họ luôn luôn nhớ đến đồng đội vắng mặt không tham dự được hay đã hy sinh.

Phát học bổng cho 13 con em tử sĩ

Phát học bổng cho 13 con em tử sĩ.


Tiếp theo là phần phát học bổng Anh Hùng Tử Sĩ cho 13 học sinh sinh viên xuất sắc, trong đó có 3 cháu mỗi người nhận một học bổng $1,000. Học bổng này mang tên Fallen Heores Scholarship Recipients. Rồi đến phần trình bày về Worldwide Deployment tức là dàn quân khai triển toàn cầu. Kế đến là phần cãm tạ và trao quà lưu niệm cám ơn cho các nhà tài trợ như bà Võ Ngọc Anh, Giám đốc Cindis’s Restaurant. Bà Hồng Lê, Giám đốc Công ty may mặc SND, và các nhà bảo trợ khác. Còn tất cả các vị chủ nhiệm các cơ quan truyền thông báo chí đều được tặng mỗi người một phù điêu hình chim ưng và quốc kỳ Hoa Kỳ bằng đồng rất đẹp.Tiếp theo là phần trao quà tặng cho các vị trong Hội đồng quản trị và chấp hành có công, Tướng Flora Lập Thể được trao tặng một khẩu súng lục rất đẹp, Đại tá Mimi Phan và Hội trưởng VAUSA, Nguyễn Hữu Hiếu được tặng mỗi người một thanh gươm.

Tiếp đến là phần trình bày “Olde Glory” tức là linh hồn lá quốc kỳ Hoa Kỳ mà người quân nhân luôn tôn thờ, lá quốc kỳ này đi theo người lính trên các mặt trận trong công cuộc bảo vệ tự do hòa bình và dân chủ khắp thế giới, lá quốc kỳ này cũng đã từng bị dấy bẫn, bị đốt cháy, bị rách rưới, hay bị xé nhỏ để băng bó vết thương cho chiến sĩ nhưng vẫn cao đầu hiên ngang bay phất phới trong lòng người mẹ tử sĩ, lá quốc kỳ vày cũng đã vượt những ràng buộc của trái đất và cắm hiên ngang trên biên giới không gian (tức là cắm cờ trên các vì sao). Lạy Chúa, xin cho lá cờ này mãi mãi tung bay.

https://vietbao.com/images/file/C_VVO_me2QgBALgh/w600/thieu-tuong-flora-lap-the-va-dai-ta-mimi-phan-tai-le-dat-vong-hoa-truoc-tuong-dai-chien-si-viet-my-dfw.jpg

Thiếu tướng Flora Lập Thể và Đại tá MiMi Phan tại lễ đặt vòng hoa trước Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ DFW

Chương trình tiếp tục với nghi thức giả từ quân ngũ sau 26 phục vụ quân đội của Chief Petty Officer Bằng Đinh là một Hạ sĩ quan cao cấp, đây là chức vụ chuyên môn hoặc là chức Thượng sĩ Thường vụ một đơn vị (trong quân đội các Thượng sĩ Thường vụ rất được coi trong và lính sợ ông này hơn cả đại đội trưởng hay tiểu đoàn trưởng). Tướng Flora đọc bằng tuyên dương công vụ, trao hoa cho phu nhân và mời bà mẹ của Chief Bằng Linh lên để vấn an, rồi cả ba bước xuống sân khấu, tại đây Tướng Lương Xuân Việt đã trao bằng tưởng lục rồi ra hiệu cho Chief Bằng Linh đi giửa hai hàng quân đứng dàn chào thật long trọng. Nhìn quân đội Hoa Kỳ cử hành nghi thức giải ngũ cho một Hạ sĩ quan có nhiều năm quân vụ thật kính trọng như thế, bảo sao quân đội Hoa Kỳ không hùng mạnh nhất thế giới cho được.

Phần cuối của chương trình là bàn giao chức Hội trưởng chấp hành, Tướng Flora trao cờ hiệu VAUSA cho Hội trưởng Nguyễn Hữu Hiếu để trao lại cho tân Hội trưởng VAUSA, cựu Đai tá Tôn Thất Tuấn cũng từng là Tùy viên quân sự cho Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội. Tân hội trưởng VAUSA, Tôn Thất Tuấn đã ngõ lời cãm tạ cựu hội trưởng, tuyên hứa thi hành đúng đắn nhiệm vụ được  giao phó, và kêu gọi mọi người tích cực yễm trợ trong mọi công tác. Chương trình kết thúc sau 10 giờ đêm với lời cầu nguyện của Đại tá Mimi Phan và phần chụp hình lưu niệm.

https://vietbao.com/images/file/AZ8sjPme2QgBAKY6/w600/tuong-luong-xuan-viet-chuc-mung-chief-bang-dinh.jpg

Tướng Lương Xuân Việt chúc mừng Chief Bằng Đinh

Nhắc đến VAUSA không thể không nhắc đến tinh thần gia đình, các cháu gọi nhau bằng anh chị em chứ không gọi bằng cấp bậc dầu cho đang tại ngũ hay đã giãi ngũ. Khi tiếp xúc với chúng tôi là những cựu quân nhân VNCH, Tướng Flora Lập Thể và Tướng Lương Xuân Việt đã gọi chúng tôi bằng chú và xưng là cháu rất lễ độ, Đại Tá Phạm Long thì gọi chúng tôi là chú và xưng là con, còn Đại Úy Phan Ngọc Thạch thì gọi là chú và xưng là cháu. Chẳng những thế, các cháu rất khiêm cung khi chúng tôi ngõ lời ngưỡng mộ sự thành đạt của các cháu làm hãnh diện cho cộng đồng Việt Nam, cũng như cám ơn các cháu đã vào quân đội hoa Kỳ như một sự trả ơn người lính Hoa Kỳ đã hy sinh xương máu để bảo vệ tự do cho đồng bào và miền nam Việt Nam. Nhìn nội dung các tiết mục diễn ra buổi dạ hội toàn quốc này rất bài bản và chính thống, khiến cho thế hệ thứ nhất tham dự rất lấy làm hảnh diện và càng yêu mến thế hệ thứ hai trong quân đội Hoa Kỳ hơn.

(Nguyễn văn Lập)

Nguồn: https://vietbao.com/a310082/dai-hoi-toan-quoc-hoi-quan-nhan-my-goc-viet-tai-dallas-thanh-cong-ruc-ro

SỰ HÌNH THÀNH BỆNH-VIỆN VÌ DÂN – Bác Sĩ Phạm Ngọc Tỏa

Bác Sĩ Phạm Ngọc Tỏa

Bệnh Viện Vì Dân (BVVD) thành lập trên ba mươi năm nay bởi Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội (PNPSXH), Chủ Tịch Hội là Bà Nguyễn Văn Thiệu, với sự trợ giúp của nhiều cơ quan, đoàn thể thiện nguyện, các nhà hảo tâm trong nước và ngoại quốc, các phái bộ quân sự đồng minh, và nhất là phủ Tổng Thống (TT). Một đồng nghiệp sống nhiều năm ở Pháp bảo chúng tôi viết về sự hình thành của bệnh viện này. Vì thời gian đã qua lâu, chúng tôi có thể bỏ sót một vài chi tiết hay bị lầm lẫn, độc giả nào nhận thấy xin cho chúng tôi biết để chúng tôi bổ túc hay đính chánh, chúng tôi xin đa tạ.

Khoảng đầu năm 1969, Đại tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống có mời tôi lên nói là Bà Nguyễn Văn Thiệu muốn thành lập một bệnh viện tư làm việc thiện với danh nghĩa Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội, ông bà Tổng Thống thấy tôi có kinh nghiệm trong việc thành lập Bệnh Viện Trưng Vương cho Hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ năm 1967, nên muốn tôi tham gia vào việc này. Lúc đó tôi đã giải ngũ được hơn một năm, có ý định xin đi tu nghiệp để về gia nhập ban giảng huấn của YKĐH Saigon. Tôi phân vân vì nghĩ là việc này sẽ kéo dài nhiều năm, bắt đầu từ số không, sẽ gặp nhiều khó khăn về đủ mọi phương diện và đòi hỏi rất nhiều thì giờ, nếu làm đàng hoàng thì không còn thì giờ hành nghề tư, và xong việc có khi bị thay thế, đó là thường tình ở các nước chậm tiến! 
Nhưng tôi cũng có một ý nghĩ khác là khi mới bước chân vào trường Đại Học Y Khoa Hà Nội năm 1951, đến tập sự tại Bệnh Viện Yersin (Phủ Gioãn) thấy dụng cụ giải phẫu, máy móc cũ kỹ, thiếu thốn do Pháp để lại từ trước Đệ Nhị Thế Chiến, tôi vẫn tâm niệm làm sao cho có được một bệnh viện trang bị đầy đủ để các thầy thuốc làm việc thoải mái, có cơ hội tiến về kỹ thuật, cứu được bệnh nhân đến mức tối đa. Thêm vào đó khi còn học PCB tại Khoa Học Đại Học Hà Nội tôi đã được nghe một lời phê phán nghiêm khắc của một Giáo Sư Pháp, GS P.L., về khả năng của người Việt như sau: “Người Việt Nam chẳng làm được việc gì nên hồn cả”, câu này đã in sâu vào tâm khảm tôi. Ngoài ra BVVD sẽ giúp đỡ nhiều cho bệnh nhân nghèo, đó là ba động cơ thúc đẩy tôi hy sinh thì giờ để nhận việc này.
Một Ủy Ban xây cất được thành lập gồm có:
Đại Tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn Phòng phủ T T, Chủ TịchÔ. Nguyễn Đình Xướng, Tổng Thư Ký phủ T T, Ủy viênBS. Phạm Ngọc Tỏa, Bộ Y Tế, Ủy viênKiến Trúc Sư Nguyễn văn Chuyên, phủ T T, Ủy viên
Ủy ban này thường họp vào buổi trưa hay sau giờ làm việc công sở, tổ chức các buổi hội họp với các bộ Y Tế, Công Chánh và các ban Giám Đốc các bệnh viện tư Saigon, Chợ Lớn (Triều Châu, Sùng Chính v.v…) để học hỏi các kinh nghiệm của họ vào buổi tối. Riêng phần tôi còn phải lo về lập quy chế của bệnh viện, lo trang bị dụng cụ máy móc y khoa, vật dụng văn phòng, tổ chức tiếp liệu, tuyển dụng nhân viên chuyên môn và hành chánh. Tất cả khởi sự từ số không, trong thâm tâm tôi nghĩ là không thể nào khánh thành đợt đầu kịp vào tháng chín 1971 được, thời hạn này do phủ TT ấn định!


• Đặt tên bệnh viện:
Ông Nguyễn Đình Xướng đề nghị nên đặt tên là Bệnh Viện Vì Dân. Phủ TT chấp thuận tên đó.
• Kiếm địa điểm để xây cất:
Sau mấy tháng tìm kiếm mới chọn được lô đất trống ở đường Lý Thái Tổ cũ Chợ Lớn, gần mấy nhà Ủy Hội Quốc Tế Đình Chiến ở, chủ đất là người Trung Hoa vui lòng cho xử dụng một nửa, còn một nửa họ tính xây khách sạn nếu giải tỏa được, và họ hứa sẽ yểm trợ bệnh viện. Lô đất đó hình như dành để xây cất một trường Đại Học Kinh Doanh và Thương mại thì phải, nhưng vì chưa có ngân khoản nên chưa thực hiện được. Thủ tục chưa làm xong, anh em Thương Phế Binh chiếm đất xây nhà lên lô đất đó, đành phải tìm nơi khác. Cũng may sau tìm được ở góc đường Lê Văn Duyệt nối dài và đường Nguyễn Văn Thoại, gần Ngã Tư Bảy Hiềàn, thuộc Gia Định một khu đất bị trưng dụng từ lâu, hiện dùng làm Kho Đạn cho Sư Đoàn Dù, bom đạn được chứa trong những hầm bê tông tường dầy một thước, nóc cũng vậy. Lô đất thuộc quyền sở hữu của nhà Chung. Sau khi được sự chấp thuận giải tỏa của Bộ Quốc Phòng, phải điều đình với nhà Chung. Nhà Chung bằng lòng bán cho Hội PNPSXH khu đất đó khoảng gần 2 mẫu tây với giá tượng trưng một đồng bạc. Có đất rồi phải lo phá các hầm bê-tông bằng cách nổ mìn rồi san bằng. Công tác này làm gãy chân vợ một quân nhân. Người này được bồi thường thỏa đáng.
• Kiến trúc sư vẽ kiểu:
Hội PNPSXH mướn KTS Trần Đình Quyền, vừa tu nghiệp về xây cất bệnh viện ở Hoa Kỳ về, để vẽ kiểu. Tôi phải góp ý về một số chi tiết với KTS. Sau khi sơ đồ được bà Chủ Tịch Hội chấp thuận thì nhà thầu xây cất khởi công. Việc kiểm soát công trường xây cất là của KTS Nguyễn Văn Chuyên. Sau này Đại Tá Võ Văn Cầm có yêu cầu tôi lưu tâm cả về việc này nữa.
• Việc gây quỹ xây cất và điều hành:
Hội PNPSXH chỉ góp phần nhỏ thôi như thỉnh thoảng có tổ chức chợ phiên chẳng hạn, như chợ phiên Đồng Tâm v.v.. Các buổi tiếp tân tại phủ TT để gây quỹ xây cất BVVD mới quyên được nhiều: như mời các nhà tài phiệt gốc Hoa (các ông Trần Thành, Lý Long Thân v.v…), mời các ngân hàng nhân dịp đầu năm. Riêng ngân hàng Việt Nam Thương Tín đang xây cất trụ sở mới còn cho thêm đá cẩm thạch nữa để trang trí bệnh viện. Ngoài ra mỗi vé xi-nê lấy thêm mấy đồng cho BVVD. Trường đua ngựa Phú Thọ thỉnh thoảng tổ chức một cuộc đua đặc biệt để ủng hộ BVVD. Đông Phương Ngân Hàng ứng trước từng đợt hai chục triệu để xây cất. Đồng bào cư ngụ ở Nouvelle Calédonie về thăm Miền Nam cũng ủng hộ một số tiền lớn (hình như là một triệu đồng thì phải) v.v… Tóm lại việc gây quỹ thành công là nhờ ở thế lực của phủ TT. Vì tiền có dư dả nên lúc đầu chỉ định xây 5 tầng lầu cho Khu Điều Trị, sau xây thành bảy tầng.
• Việc trang bị bệnh viện:
Tôi được ủy quyền đi gặp các cơ quan thiện nguyện, các phái bộ quân sự đồng minh để xin viện trợ y cụ và vật dụng. Đầu tiên tôi đến tiếp xúc với phái bộ quân sự Hoa kỳ, tôi được một vị Thiếu Tướng Quân Y tiếp đãi rất nhã nhặn, sau khi nghe tôi trình bày việc xin yểm trợ cho BVVD, ông ta trả lời vấn đề viện trợ ông không rành và kêu một vị Đại tá Hành Chánh Quân Y ra tiếp tôi. Vị này hỏi tôi là định thiết lập một bệnh viện mấy trăm giường, gồm những khoa nào, tôi trả lời chúng tôi có kế hoạch làm một bệnh viện toàn khoa 500 giường, ông bèn tham khảo cuốn sách về bảng cấp số các quân y viện, rồi đưa cho tôi xem nhu cầu trang bị một bệnh viện như vậy gồm có những thứ gì, trong cuốn sách có ghi đầy đủ hết không thiếu một thứ gì. Xong ông ta cho biết là rất tiếc hiện không có chỉ thị nào cho cơ quan của ông viện trợ một bệnh viện tư, nếu làm sai luật các thanh tra của Quốc Hội Mỹ sẽ khiển trách cơ quan ông. Mới ra quân lần đầu đã thất bại, tôi ra về lòng tràn ngập lo âu, thất vọng, vì đồng minh lớn nhất và giàu có nhất từ chối không giúp thì ít hi vọng nơi khác trợ giúp cho mình được gì! Tôi báo cáo cho ĐT Cầm biết và khuyến cáo TT nên biếu cho BVVD một trang bị có giá trị để cho các Mạnh Thường Quân khác noi gương, như châm ngôn “mình tự giúp mình, rồi Trời sẽ giúp mình” (Aide-toi le Ciel t’aidera). Vài bữa sau ĐT Cầm cho tôi biết là TT hỏi nên cho BVVD cái gì, tôi trả lời quý nhất là đồ trang bị cho Khu Quang Tuyến X, vì trang bị này đắt tiền ít người cho nếu có thì có khi là đồ cũ lỗi thời dễ hư hỏng khó bảo trì không xứng đáng với một bệnh viện tối tân. TT chấp thuận lời đề nghị này.
Với các phái bộ đồng minh khác và các cơ quan thiện nguyện thì cuộc vận động của tôi có kết quả như sau:
– Phái bộ quân sự Úc và Tân Tây Lan: trang bị cho hai phòng chữa răng và phòng thí nghiệm nha khoa với các dụng cụ đều mới và nhập cảng từ Tây Đức.
– Phái bộ quân sự Đại Hàn: bàn ghế mới cho khu Hành Chánh, một xe Hồng Thập Tự kiểu mới, và toàn bộ một nhà máy giặt cũ giao cho BVVD khi Sư đoàn của họ rút khỏi Việt Nam (nhà máy này giặt quần áo cho quân số một Sư Đoàn do ĐT Cầm điều dình xin được)
– Trung Hoa Quốc gia (Đài Loan): một xe HTT mới
– Cơ quan UNICEF: trang bị cho khu Nhi Khoa khoảng 100 giường bệnh trẻ em, 20 lồng ấp (couveuses) cho trẻ sơ sinh thiếu tháng, dụng cụ cho Nhi khoa và Sản Phụ Khoa.
– Hội Việt Hoa Thân Hữu Hương Cảng: trang bị cho phòng cấp cứu tim mạch gồm 4 máy điện tâm ký (electrocardiographe) cho 4 giường bệnh, mỗi máy được nối với một máy điện tâm ký trung ương đặt trong phòng y tá trực ở phòng kế bên để theo dõi 4 bệnh nhân, khi có một bệnh nhân trở bệnh nặng thì y tá trực làm ngay điệân tâm đồ ở máy trung ương và kêu Bác sĩ ngay.
– Hãng Schimadzu (sản xuất máy quang tuyến X) và ngân hàng Sumitomo: trang bị cho một phòng mổ đặc biệt có máy quang tuyến X giúp Bác sĩ nhìn rõ chỗ phải chẩn đoán qua màn truyền hình của máy quang tuyến X rồi mổ. Nếu muốn chụp phim ngay lúc đó để lưu trữ cũng được. Thật là tiện lợi và nhanh chóng cho các trường hợp giải phẫãu chỉnh hình, hay mổ lấy đạn v.v…
– Hãng Roussel Vietnam: trang bị cho phòng thí nghiệm máy chụp quang phổ (spectrophotometre)v.v…
Tất cả các tặng phẩm nhận được chúng tôi đều gắn danh hiệu của quốc gia, cơ quan hay cá nhân đã tặng cho BVVD. Một số vật dụng như dụng cụ vật lý trị liệu thì BVVD bỏ tiền ra mua.
Riêng việc trang bị Khu Quang Tuyến X (do TT tặng) định đặt mua của hãng CGR Pháp rồi hãng Phillips Hòa Lan đều không được, họ trả lời không đủ thời gian để giao hàng trước tháng chín năm 1971 được, vì đơn đặt hàng của hãng họ quá nhiều rồị. Thế là đầu 1971, ĐT Cầm cử tôi đi Nhật với lời dặn phải làm sao mua cho bằng được đồ trang bị cho Khu Quang tuyến X và ráp xong trước tháng chín 1971, đúng là làm việc theo lối nhà binh (système D). Tôi tiếp xúc với hãng Schimadzu là hãng sản xuất lớn nhất máy móc quang tuyến X ở Nhật. Nhà máy tọa lạc ở Osaka, khởi thủy chỉ là một nhà nhỏ lợp mái tranh, thành lập một năm sau khi nhà bác học Đức Rontgen tìm ra được tia X hồi cuối thế kỷ thứ 19. Bây giờ nhà máy choán một diện tích lớn như một thành phố và sản xuất cả nhiều bộ phận điện tử cho hãng Boeing Mỹ, sản xuất máy quang tuyến chỉ chiếm một khu thôi. Sau khi xem nhà máy, họ dẫn tôi gập vị Giám đốc kỹ thuật để cho biết nhu cầu của BVVD, và sơ đồ của khu Quang Tuyến X. Đại cương khu này có 4 phòng vây quanh một trung tâm điều khiển máy móc, đó là nơi làm việc của Bác sĩ và chuyên viên, tường của trung tâm này làm bằng kính cản tia X để có thể nhìn sang các phòng khác, tường của các phòng này bằng bê-tông dầy 25cm, đủ cản tia X. Về máy móc thì dự trù như sau:
– phòng số 1: một máy hoàn toàn tự động, có máy truyền hình, chuyên viên điều khiển máy ngồi tại phòng điều khiển và liên lạc với bệnh nhân qua một hệ thống âm thanh, trong phòng này có máy truyền hình liên hệ với máy quang tuyến X ở phòng số 1.
– phòng số 2: trang bị một máy bán tự động, có máy truyền hình
– phòng số 3: trang bị một máy chụp X-quang cắt lớp (tomographie)
– phòng số 4: trang bị một máy chụp phổi phim nhỏ.
Sau khi biết nhu cầu của BVVD, ông Giám Đốc Kỹ Thuật trả lời ngay là vì có nhiều đơn đặt hàng quá từ trước rồi, không thể giao hàng kịp thời hạn ấn định. Tôi đã thất vọng, nhưng vẫn bình tĩnh cố níu kéo ông ta, cho ông ta biết là BVVD là một bệnh viện làm việc thiện, tối tân nhất Đông Nam Á, khi khánh thành sẽ có mặt toàn thể ngoại giao đoàn, nếu ông cố gắng giúp chúng tôi, đó là một dịp chúng tôi quảng cáo không công cho hãng của ông, nhất là máy phòng số 1 là kiểu mới nhất của loại này như ông nói, chúng tôi lại là người đầu tiên đặt mua. Sau một lúc suy nghĩ ông ta trả lời sẽ ráng thu xếp công việc, để ưu tiên cung cấp cho BVVD kịp ngày khánh thành. Giá cả là 220.000 đô la, phải đặt trước 20.000 đô la sau một tháng, hai tháng sau sẽ nhận được hàng, kỹ sư sẽ tới ráp ngay khi hàng tới. Thế là tôi yên tâm về Saigon.
Hãng Schimadzu gửi ngay một kỹ sư đến BVVD xem vị trí xây cất của khu Quang Tuyến X, lúc đó khu này đã xây cất xong ở tầng 1 Khu Ngoại Chẩn. Mọi chi tiết đều được cả, trừ một điểm là các máy sẽ được đặt lên một tấm thép dầy mấy phân để cản tia X không đi xuống tầng trệt, nên phải phá một khúc tường của tầng 1 để câu các tấm thép này lên.
Khi các máy móc về đủ , hãng Schimadzu cử 3 kỹ sư tới làm việc: một chuyên về máy phát tia X, một chuyên về điện và một chuyên về máy truyền hình. Họ bắt tay ngay vào việc ráp máy. Tôi gửi họ 3 chuyên viên về quang tuyến X để phụ tá cho họ và nhờ họ huấn luyện luôn trong lúc làm việc để những người này biết điều khiển các máy sau khi ráp xong. Ngày 3/9/71 họ hoàn tất công việc sau hai tháng trời làm việc cực nhọc. Ngày hôm sau là ngày khánh thành BVVD đợt đầu (khu Ngoại Chẩn).
Sau này hãng Schimadzu cho tôi biết tính ra còn dư 20.000 đô la, xin tôi quyết định, tôi đề nghị cung cấp cho một máy rửa phim tự động, còn dư tiền thì dùng hết vào việc mua phim và các hóa chất xử dụng cho việc rửa phim.
• Quy chế và tuyển dụng nhân viên:
BVVD là một bệnh viện tư thuộc Hội PNPSXH dành 25% sô’ giường cho bệnh nhân nghèo (gia đình tiểu công chức, gia đình hạ sĩ quan và binh sĩ, gia đình nghèo có giấy chứng nhận của khu phố) được giảm phí hay miễn phí tùy trường hợp do sự cứu xét và quyết định của Ban Xã Hội hàng ngày tới BVVD làm việc. Bệnh nhân nghèo được săn sóc, ăn uống như bệnh nhân hạng trả tiền, chỉ có khác là hưởng thuốc miễn phí do Bộ Y Tế hay các tổ chức thiện nguyện cho và nằm phòng 4 giường.
Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị (HDQT) là Chủ Tịch Hội PNPSXH tức là bà Nguyễn Văn Thiệu, các thành viên của HDQT đều là hội viên của Hội .
Giám Đốc bệnh viện có hai Phụ tá: một Phụ tá Kỹ Thuật (Bác sĩ Lê Phước Thiện) và một Phụ tá Hành Chánh (Trung tá Hành chánh Quân Y Phạm văn Sinh).
Các nhân viên chuyên môn như Bác sĩ , Dược sĩ, Nha sĩ, Nữ Hộ Sinh, Chuyên Viên Gây Mê, Chuyên viên Quang Tuyến X, Chuyên viên Phòng Thí Nghiệm, Y tá và Tá Viên Điều Dưỡng trong giai đoạn đầu xin Bộ Y Tế và Cục Quân Y biệt phái. Ngoài lương bổng do cơ quan gốc đài thọ, họ được hưởng thêm một phụ cấp do Hội PNPSXH đài thọ. Các Giáo Sư, Giảng Sư Đại Học Y khoa có thể gửi bệnh nhân của mình tới nằm BVVD để điều trị dưới sự săn sóc của họ.
Trong thời kỳ đang xây cất, BVVD có nhờ Bộ Y Tế huấn luyện cho một khóa Tá Viên Điều Dưỡng, chương trình một năm, học viên là những cô nhi quả phụ quân nhân có bằng Trung Học Đệ Nhất cấp, do BVVD tuyển dụng. Trong tương lai BVVD sẽ thành lập một trường Cán Sự Điều Dưỡng, chương trình học ba năm và tuyển dụng các cô nhi, quả phụ quân nhân có bằng tú tài cho đi học để làm nhân viên cốt cán cho bệnh viện. Tầng thứ bảy của Khu Điều Trị sẽ xây cất nhiều phòng để làm lớp học, và một thính đường lớn 500 chỗ dùng làm nơi hội nghị. Trên nóc Khu này có bãi đáp trực thăng để nhận bệnh nhân cần cấp cứu từ các nơi khác đưa tới, có thang máy đưa ngay xuống phòng mổ hay khu cấp cứu ở các tầng dưới.
Chúng tôi phải tuyển dụng khoảng 400 nhân viên đủ các loại: chuyên môn, hành chánh, y công, thợ thuyền v.v… (nếu bệnh viện hoạt động với 400 giường thì trung bình mỗi giường bệnh có một nhân viên). Sau khi họ đã được xét là đủ tiêu chuẩn thì được nhận việc tạm thời, đợi kết quả điều tra của An Ninh Quân Đội , nếu không có hoạt động cho Việt Cộng thì được tuyển dụng chính thức.
• Tiếp liệu :
Vì các nguồn cung cấp vật dụng, y cụ, thuốc men rất phức tạp, đa nguyên, nên chúng tôi áp dụng kế toán sổ sách, phiếu xuất nhập theo kiểu Hoa Kỳ như ở các đơn vị Quân Y QLVNCH, để dễ kiểm soát bất thần, bất cứ lúc nào cũng có thể biết rõ số lượng tồn kho, biết rõ các nơi đã được phân phối của mỗi món hàng. Theo hệ thống tiếp liệu này ngay từ đầu, việc quản trị vật dụng không có khó khăn gì cả.
Riêng về dược phòng phải làm 2 phòng riêng biệt:
1/ Phòng thuốc miễn phí: quản trị các thuốc men do Bộ Y Tế, các cơ quan thiện nguyện cung cấp để phát miễn phí cho các bệnh nhân nghèo.
2/ Phòng thuốc trả tiền: cho các bệnh nhân nằm hạng trả tiền , thuốc do các Bác Sĩ Điều Trị kê toa và các Hãng Bào Chế OPV, Trang Hai và Tenamyd cung cấp, nếu các hãng này không đủ món nào thì BVVD có thể mua ở ngoài theo giá thị trường. Đây là quyết định của HĐQT. Đầu tiên chúng tôi có đề nghị cho đấu thầu phòng thuốc thứ hai này, nhưng không được HĐQT chấp thuận.
• Khánh thành BVVD:
Ngày 4/9/1971 TT đến cắt băng khánh thành khu Ngoại Chẩn BVVD do Hội PNPSXH mời. Quan khách có Ngoại Giao Đoàn, các Phái Bộ Quân Sự Đồng Minh, các Tổng Bộ Trưởng, các vị Đại Diện Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp, các cơ quan thiện nguyện, các nhà hảo tâm, các thân hào nhân sĩ v.v… Đại Sứ Mỹ Bunker cũng tới dự.
Bà Chủ Tịch đọc diễn văn trình bày mục tiêu của BVVD, diễn tiến việc thành lập xây cất bệnh viện và cảm ơn các Phái Bộ Quân Sự Đồng Minh, các cơ quan thiện nguyện, các nhà hảo tâm trong nước và ngoại quốc đã giúp nhiều trong việc trang bị và xây cất BVVD, những tặng phẩm như xe cộ vật dụng máy móc gì đều kể ra hết, lẽ dĩ nhiên là không nói tới Phái Bộ Quân Sự Hoa Kỳ vì không có tặng phẩm nào cả.
Khu Ngoại Chẩn có hai tầng, hình chữ L, một phần chạy song song với đường Lê Văn Duyệt nối dài, phần kia song song với đường Nguyễn văn Thoại , Gia Định. Ngoài một số phòng dùng để khám bệnh: Ngoại khoa, Nội khoa, Sản Phụ khoa, Nhi khoa, Tai Mũi Họng, Nhãn khoa, Bệnh Tiêu Hóa, Bệnh Phổi v. v., phòng phát thuốc, phòng băng bó, ở tầng trệt còn phòng Vật Lý Trị Liệu, tiếp giáp vơi Khu Cấp Cứu. Trên tầng 1 là khu Nha Khoa với hai phòng khám và chữa răng, và phòng làm răng giả, kế bên là Phòng Thí nghiệm của Bệnh Viện, tiếp theo là khu Quang Tuyến X, rồi tới tám phòng mổ và phòng Hồi Sinh.
Sau bài diễn văn của Bà Chủ Tịch , quan khách được hướng dẫn đi thăm bệnh viện. Hôm đó quan khách đều chú ý tới khu Quang Tuyến X, các máy móc đều do Kỹ sư Nhật trình bày và cho chạy thử. Buổi tiếp tân kéo dài đến quá trưa mới chấm dứt.
• Sau khi khánh thành:
Khoảng hơn hai giờ chiều, tôi đang ngồi nghỉ ở trong văn phòng thì có hai người Mỹ của phái bộ viện trợ Hoa Kỳ USAID xin gặp tôi. Một người là quan chức hành chánh và một người là Thiếu Tướng Quân Y Hải Quân hồi hưu tên là Iron. Hai người cho biết là nếu BVVD cần gì sẽ viện trợ cho. Tôi bèn hỏi họ sao trước chúng tôi xin viện trợ thì không được giúp. Họ trả lời bây giờ tình thế đã thay đổi: Hiện nay Việt Nam Hóa chiến tranh, Quân Đội Mỹ rút khỏi Việt Nam, nên có thể giúp cho BVVD các dụng cụ của Quân Y Hoa Kỳ.
Chúng tôi xin được vài chiếc xe vận tải để chuyên chở vật dụng cho bệnh viện, mấy trăm giường bệnh đủ trang bị cho mấy tầng lầu đang xây cất, các máy móc dụng cụ trang bị đầy đủ cho một phòng thí nghiệm và nhất là ba máy phát điện 250 KW để làm một nhà máy điện nhỏ đủ cung cấp điện cho những nơi quan trọng như các khu Cấp Cứu, Giải Phẫu, Hồi Sinh, Quang Tuyến X và Thí Nghiệm khi điện thành phố bị cắt.
Chúng tôi cho thực hiện ngay một phòng bảo trì để sơn phết lại các giường bệnh và vật dụng nhận được, sơn luôn cả phù hiệu hai bàn tay nắm chặt cùng với quốc kỳ Mỹ-Việt như trên các hàng viện trợ Mỹ cho dân chúng. Sau mỗi lần nhận hàng và tân trang lại thì sắp đặt vào các nơi sẽ xử dụng, chúng tôi mời B.S. Iron lại xem để ông biết là hàng không bị thất thoát.
Sau này B.S. Iron tín nhiệm BVVD, cho luôn cả những vật dụng dành cho bệnh viện thực tập tương lai của Y Khoa Đại Học, vì chờ mãi không có ngân khoản để xây cất bệnh viện này! Ngoài ra BVVD có xuất tiền ra mua một số giường có máy điện tự động thay đổi tư thế nằm cho bệnh nhân để trang bị cho một số phòng một giường. Bệnh viện chỉ có ba loại phòng: hạng một giường, hạng hai giường và hạng bốn giường.
• Nhận bệnh nằm điều trị :
Khi đã có tạm đủ đồ trang bị và xây cất gần xong, chúng tôi bắt đầu nhận bệnh nhân nằm điều trị. Trước đó chúng tôi xin Cục Quân Y biệt phái cho một số bác sĩ chuyên môn làm nòng cốt. Các vị này thường quá 15 năm quân vụ, nhưng vì chiến tranh triền miên họ chưa được giải ngũ. Danh sách dưới đây có thể thiếu sót vì đã trên ba mươi năm rồi, xin lỗi đồng nghiệp nào mà chúng tôi quên không ghi tên:
Y Sĩ Đại Tá Lưu Thế Tế, chuyên khoa tim mạchY Sĩ Đại Tá Nguyễn Quang Huấn, giải phẫu ung thư, thường trú ở ngay trong BVVDY Sĩ Trung Tá Lê Thế Linh, giải phẫu chỉnh hìnhY Sĩ Trung Tá Trịnh Cao Hải, giải phẫu chỉnh hìnhY Sĩ Trung Tá Phạm Hữu Phước, giải phẫu thần kinhY Sĩ Trung Tá Trần văn Khoan, giải phẫu tổng quátY Sĩ Trung Tá Hồ Hữu Hưng , nhãn khoaY Sĩ Trung Tá Nguyễn Thế Huy, Tai Mũi HọngY Sĩ Trung Tá Vũ Ban, Quang Tuyến X
Các vị trên đây có nhiều kinh nghiệm chuyên môn và từng đã đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ, ngoài ra một số bác sĩ vẫn làm việc trong ngành Quân Y nhưng giúp BVVD ngoài giờ làm việc như các B.S. Cao Xuân An (bệnh lý học), B.S. Đặng Như Tây (Vi Trùng Học), B.S. Bạch Toàn Vinh (Vi Trùng Học), Ngô Tôn Liên (Gây Mê , Hồi Sức)
Bộ Y Tế biệt phái cho BVVD:
B.S. Phạm Ngọc Tỏa, Giám Đốc, Sản Phu. Khoa, năm 1972 có đi tu nghiệp tại Singapore về giải phẫu triệt sản qua âm đạo (sterilisation par voie culdoscopique) do Ford Foundation tổ chức, mang về cho BVVD một bộ đồ giải phẫu theo thủ thuật này, do Ford Foundation tặng.
Nha Sĩ : Bà Nguyễn đình Hiệu, Cô Võ thi Văn (?)
Các đồng nghiệp trong Ban Giảng Huấn của Y Khoa Đại Học Saigon cộng tác với BVVD có:
G.S. Trần Kiêm Thục , Bệnh Tiêu HóaG.S. Trần Hữu Chí, Bệnh PhổiG.S. Bùi Thị Nga, Nhi KhoaG.S. Nguyễn Bích Tuyết, Sản Phụ KhoaG.S. Vũ Thiện Phương, Sản Phụ KhoaG.S. Trương Minh Ký, Tai Mũi Họng
BVVD có tuyển dụng:
B.S. Nguyễn Xuân Xương, Nội Khoa và tim mạchBà Nguyễn Gia Kiểng, B.S chuyên về Huyết học mới ở Pháp vềDược sĩ Nguyễn Thị Dung, coi Dược PhòngDược sĩ Tôn Nữ Duy Thạnh, Phòng Thí Nghiệm (Hóa Học)
Ngoài ra còn một số quân y sĩ chuyên làm việc trực ngoài giờ làm việc của công sở.
Tóm lại có gần ba chục Y Nha Dược sĩ tham gia vào việc điều hành chuyên môn trong giai đoạn đầu.
Các y công được huấn luyện xử dụng máy móc lau chùi nhà cửa luôn luôn sạch sẽ chẳng kém gì các bệnh viện ngoại quốc. Hồi đó Việt Cộng thường kiểm soát các khu rừng ở miền Nam, sách nhiễu các người khai thác nên gỗ rất đắt, do đó tất cả các cửa đều làm bằng alumimium nhập cảng từ bên Nhật, vừa đẹp, vừa bền lại dễ bảo trì.
Vấn đề thực phẩm cho bệnh nhân lúc đầu do chủ nhân nhà hàng Đồng Khánh ở Chợ Lớn và Lê Lai ở Saigon cung cấp. Tôi thấy thức ăn phẩm lượng rất kém, lại không hợp vệ sinh, nên đề nghị HĐQT tìm nhà cung cấp khác vì thực phẩm bổ túc cho việc điều trị và cần cho việc phục hồi sức khỏe của bệnh nhân. HĐQT đồng ý, bèn cử hội viên ra đảm nhiệm việc nấu ăn cho bệnh nhân, nên sau này thức ăn rất tinh khiết ngon lành.
Trong giai doạn đầu khi các giường bệnh hạng trả tiền chưa choán hết, lại cho miễn phí, giảm phí rất nhiều, để giữ cho bệnh viện ở mức độ cao việc bảo trì rất tốn kém, đó là nguyên nhân lỗ vốn của giai đoạn này.
Một vài thân chủ đặc biệt là: vợ một Tham vụ Ngoại giao Mỹ nhờ một Bác Sĩ Quân Y Mỹ đỡ đẻ tại BVVD, trả giá đặc biệt; con Bà Chủ tịch HĐQT mổ cesarienne ở BVVD, khi ra về Bà Chủ Tịch tặng cho Quỹ Xã Hội một số tiền rất lớn; hãng Air America nhờ BVVD săn sóc sức khỏe cho nhân viên của hãng.
• Vài sự kiện đáng ghi nhớ:
1/ Trường Y Khoa Đại Học Minh Đức muốn xin HĐQT cho sinh viên đến tập sự HĐQT hỏi ý kiến chúng tôi, chúng tôi trình bày muốn thu hút nhiều bệnh nhân hạng trả tiền để quân bình ngân sách nên tránh thâu nhận sinh viên y đến tập sự. Sau này nên mở các lớp chuyên khoa cho các Bác sĩ đã ra trường, muốn theo chương trình thường trú (resident) dự trù sẽ được tổ chức tại BVVD với sự cộng tác của các trường Đại Học Âu Mỹ. BVVD đã dự trù xây cất các phòng ở cho các B.S. thường trú tương lai. Như vậy họ vừa được huấn luyện tại chỗ các chuyên khoa, sau rồi ở lại làm việc tại VN, đỡ thất thoát chất xám. Ngược lại các trường Y khoa Đại Học ngoại quốc có dịp cử Giáo Sư đến VN dạy học, có thể nghiên cứu thêm bệnh lý đặc biệt của người Việt. Đề nghị này đươc chấp thuận.
2/ Có một phái đoàn Bác Sĩ Mỹ sang VN để giải phẫu tim (hình như là thuộc trường Đại Học Loma Linda thì phải) cho bệnh nhân VN. Xong việc họ mới biết Saigon có BVVD, họ đến thăm và không ngờ có một cơ sở tốt như vậy. Họ hứa lần sau sẽ đến mổ tại BVVD, rồi để lại cho bệnh viện các dụng cụ giải phẫu tim
3/ Trong đầu thập niên 70 Pháp tái lập bang giao với VN, muốn tân trang lại BV Grall, cử một phái đoàn của bộ Y Tế Pha’p trong đó có một Giáo Sư Đại Học Y Khoa, một ky õsư Bách Khoa. Ông Giám Đốc BV Grall điện thoại cho tôi xin phép cho phái đoàn đến thăm BVVD. Tôi dẫn họ xem các phòng ốc, đồ trang bị và trình bày diễn tiến của việc thành lập BVVD. Khi ra về họ nói không ngờ trong nước còn đang có chiến tranh mà đã làm được một cơ sở quá tốt như thế này.
4/ Khoảng năm 1973 bà Chủ Tịch HDQT có hỏi tôi: BVVD nên có một cái gì khác các bệnh viện khác. Tôi trả lời quý bà là Hội PNPSXH thì nên giúp cho phụ nữ VN, mà phụ nữ thì hay bị ung thư, hiện nay Viện Ung Thư Quốc Gia được Cơ Quan Y Tế Quốc Tế (OMS) viện trợ cho một bom Cobalt để trị liệu, nhưng không có ngân khoản để xây cất chỗ chứa và cơ sở tiếp bệnh nhân. Nếu bây giờ mình có khả năng xây cất nhanh chóng thì nên mở thêm khu điều trị ung thư. Đúng vào thời điểm đó một Bác Sĩ kiêm Kiến Trúc Sư chuyên về xây cất bệnh viện, làm việc cho OMS, lại thăm BVVD thấy còn nhiều đất trống, ông ta hỏi sao không xử dụng bỏ phí quá. Tôi có kể lại với ông là đang dự trù làm cơ sở dùng bom Cobalt trị liệu ung thư. Ông ta sốt sắng xung phong vẽ kiểu cho và hứa sẽ tìm người viện trợ trái bom này. Ít lâu sau tôi rời khỏi BVVD, nghe đâu ông ta đã vận động xin Hoàng Gia Đan Mạch viện trợ cho thì phải.
Khoảng tháng mười 1974 ĐT Cầm nói với tôi Ủy Ban Xây Cất chấm dứt nhiệm vụ vì việc xây cất đã xong. Tôi nghĩ mình làm việc gần năm năm rồi từ trước khi kiếm được địa điểm xây cất, nay đã hoàn thành việc tổ chức, trang bị và điều hành giai đoạn đầu, mỗi ngày làm việc trung bình 9, 10 giờ, nên tôi đệ đơn xin trở về Bộ Y Tế. Tôi phải chờ hơn hai tháng, đến 31/12/1974 HĐQT mới tìm được người thay thế: đó là Giáo Sư Đặng Văn Chiếu, cựu Khoa Trưởng Y Khoa Đại Học Saigon. Có sự thay đổi trong Sơ Đồ Tổ Chức BVVD: Dược Sĩ Nguyễn Thị Hai được Hội PNPSXH cử ra làm Giám Đốc BVVD, G.S. Đặng Văn Chiếu làm Giám Đốc Kỹ Thuật và Dược Sĩ Nguyễn Tiến Đức, có bằng Cao Học Y Tế Công Cộng Mỹ (MPH), làm Giám Đốc Hành Chánh.
Ngày 21/4/1975 TT Nguyễn Văn Thiệu trao quyền cho Phó TT Trần văn Hương. Ngày 22/4/1975 bà Nguyễn Văn Thiệu trao BVVD cho Bộ Y Tế. Ngày 30/4/1975 Cộng Sản cưỡng chiếm Saigon, BVVD được chúng đổi tên là Bệnh Viện Thống Nhất (BVTN). Như vậy danh hiệu BVVD sống được 3 năm 7 tháng 26 ngày tính từ ngày khánh thành đến 30/4/1975, trong thời gian đó tôi phục vụ được 3 năm 3 tháng.
• Vài hàng về BVTN:
Khi tiếp thu, theo lời các nhân viên cấp nhỏ còn được ở lại làm việc, thì CS vào ở bừa bãi trong bệnh viện, thấy phòng Thí Nghiệm luôn luôn cho chạy máy điều hòa không khí, họ chỉ trích tư bản phung phí tiền của nhân dân, họ đâu có biết trong đó có nhiều máy móc điện tử cần lúc nào cũng phải điều hòa không khí. Họ lạm dụng thang máy, những thang máy để chuyên chở một giường bệnh lớn hay hơn 10 người, họ xử dụng bừa bãi. Cuối tháng tiền điện tăng lên quá cao, họ la lối có địch phá hoại, phải điều tra! Thật là “Ngọc để Ngâu vầy”, không biết vật dụng có mất mát gì không hoặc có bảo trì đúng mức không ! Có một đồng nghiệp nghe người nhà cũng ở trong ngành y ở lại làm việc ở miền Bắc kể lại trong thời chiến miền Bắc có được một nước bạn Đông Âu viện trợ cho toàn bộ đồ trang bị một bệnh viện nhỏ, sau vài tháng đến thăm vật dụng bị mất cắp gần hết!
Sau 30/04/1975 trong vài tháng đầu, để mị dân BVTN nhận tất cả mọi người vào nằm điều trị. Được vài tháng, họ tuyên bố BVTN chỉ thâu nhận đảng viên và cán bộ cao cấp, cán bộ trung cấp thì được nằm ở BV Trưng Vương, còn nhân dân thì nằm BV Bình Dân. Thật là phân chia giai cấp rõ ràng, đến nỗi một cán bộ nhỏ không được nằm BVTN phải than rằng: “Thời Thiệu Kỳ ai muốn nằm BVVD cũng được, bây giờ BVTN chỉ dành cho mấy ông lớn!”. Thê’ mới biết: BVVD thì lo điều trị cho Dân, còn BVTN chỉ lo phục vụ cho Đảng!”
Sau mấy tuần họ tưởng là đã học hết công việc điều hành của bệnh viện rồi , nên họ chỉ giữ lại các y công, còn thuyên chuyển đi nơi khác tất cả các nhân viên trung cấp như một số y tá phải đổi lên nhà thương điên Biên Hòa, trong số đó có một nữ chuyên viên Gây Mê Hồi Sức rất giỏi ! Vì họ chú trọng “Hồng hơn chuyên”, nên chính những cán bộ cao cấp nằm điều trị tại BVTN, tuy nằm ở đó, mà không tin tưởng vào B.S. của họ, nên vẫn tìm B.S. “ngụy” để chữa trị!
Kết luận :
Trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa, chiến cuộc gia tăng mạnh mẽ, BVVD ra đời nhờ sự cố gắng của trong nước và sự yểm trợ của các nước đồng minh, các cơ quan thiện nguyện và các vị hảo tâm trong và ngoài nước để bù đắp một phần nào sự thiếu thốn một hệ thống An Sinh Xã Hội (Securité Sociale). Ở thời điểm đó BVVD tương đối đầy đủ nhưng chưa thể so sánh được với các bệnh viện tối tân hiện đại của các nước Âu Mỹ ngày nay. Riêng phần tôi vì muốn làm việc xã hội mà không làm chính trị và muốn thực hiện những gì mình ấp ủ từ lâu nên đã nắm lấy cơ hội để thử sức mình. Kết quả: mang tiếng chạy theo chế độ và mất hết thân chủ phòng mạch tư, nên bị bà xã trách móc cho đến tận bây giờ!!!
Bác Sĩ Phạm Ngọc Tỏa

************

(Đọc thêm)

Người khởi xướng đặc biệt

Với cương vị là phu nhân của Tổng thống chính quyền Sài Gòn – Nguyễn Văn Thiệu, sau nhiều năm hoạt động xã hội, cảm thông với sự thiếu thốn các cơ sở điều trị của dân chúng khi đau ốm. Bà Nguyễn Thị Mai Anh là người lên ỷ tưởng, khởi xướng thành lập một bệnh viện phục vụ người dân ngay tại “thủ đô” của miền Nam lúc bấy giờ.

Phu nhân Tổng thống – Bà Nguyễn Thị Mai Anh

Thời gian xây dựng – khánh thành

Lễ đặt viên đá đầu tiên đã cử hành ngày 17 – 8 – 1970. Nhờ sự tín nhiệm và giúp đỡ của các nhà hảo tâm, các cơ quan từ thiện trong nước và ngoài nước, các cơ quan quốc tế, và các quốc gia bạn nên việc xây cất và trang bị tiến triển nhanh chóng.

Ngày 4 – 9 – 1971, Bệnh viên Vì Dân đã khánh thành và điều hành ngay các khu Ngoại chẩn, Thí nghiệm và Quang tuyến X…

Đích thân Bà Nguyễn Thị Mai Anh phát biểu trong buổi lễ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là người cắt băng khánh thành.

Vị trí Bệnh viện Vì Dân (Thống Nhất)

Trước năm 1954 khu vực bệnh viện Thống Nhất vốn là một đồn phòng thủ, sau đó được dẹp đi để xây bệnh viện Vì Dân. Tọa lạc trên một khu đất rộng 3 mẫu (ở Nam Bộ 1 mẫu bằng 10.000m2)  tại góc đường Phạm Hồng Thái (Cách Mạng Tháng 8) và Nguyễn Văn Thoại (Lý Thường Kiệt) – mà từ xưa người ta thường gọi là khu vực Ngã tư Bảy Hiền.

Một kiến trúc sư của các bệnh viện

Trần Đình Quyền là người phác thảo nên bản vẽ kiến trúc cho Bệnh viện Vì Dân. Báo Tuổi Trẻ từng nhắc đến ông qua bài viết “Những kiến trúc sư tài danh của Sài Gòn trước 1975”.

KTS Trần Đình Quyền sinh năm 1932 tại Huế, tốt nghiệp đại học Kiến trúc Sài Gòn năm 1960, đại học Columbia, Hoa Kỳ năm 1964.

Trở về nước, ông bắt tay vào lập các đồ án thiết kế mới và đồ án nâng cấp cải tạo, mở rộng nhiều công trình bệnh viện như Bệnh viện Vì Dân (nay là Thống Nhất), Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, các Bệnh viện Long An, Nhà Bè, Hóc Môn, Nhi Đồng 1, Bình Dân… và vô hình trung người ta gán cho ông là “cha đẻ của các bệnh viện”.

KTS Trần Đình Quyền

Ý nghĩa từ cái tên

Bệnh viện Vì Dân ngày xưa là bệnh viện tư, nhưng được điều hành như bệnh viện công, nghĩa là không thu viện phí, không thu tiền khám chữa bệnh, không thu tiền các loại thuốc thông dụng có sẵn ở bệnh viện. Những thuốc đặc trị thì bác sĩ ghi toa, gia đình bệnh nhân phải đi mua ở các nhà thuốc Tây.

Bệnh viện là nơi người ta làm từ thiện bằng tiền và bằng tấm lòng. Người có tiền thì tặng tiền cho bệnh viện hằng tháng, hằng năm. Người có tấm lòng thì tùy khả năng của mình mà đóng góp như bác sĩ thì đóng góp tài năng, người lao động thì đóng góp sức lực nấu cơm từ thiện cho bệnh nhân.

Hữu Khánh. 

Nguồn: http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2021/11/su-hinh-thanh-benh-vien-vi-dan-bac-si.html

AIL des OURS – Allium ursinum Tỏi hoang-Tỏi gấu – Trần Minh Quân

 
Trần Minh Quân 

Bà Bạn từ phương trời Âu vừa gửi cho bức ảnh cây Ail des Ours, và cho biết cây này khi còn non, rất giống với cây hoa ‘mang hạnh phúc’ Muguet mà Bà đã gửi tặng vào đầu tháng 5..Bà cũng cho biết mùa này Ail des ours hái về làm rau ăn ngon lắm và còn trị bệnh nữa. Xin thu nhặt tài liệu để viết tặng bà Bạn đã ‘khóc’ khi các con limaces phá các cây rau non trong vườn nhà.. 

Allium ursinum phân bố rất rộng tại Âu châu ôn đớn và rất được ưa chuộng như một món rau và cây thuốc dân gian..Hầu như quốc gia Âu châu nào cũng có những tên thông thường để gọi cây như Ransom, Bear’s garlic, Wild garlic (Anh); Barlauch (Đức); Ail des ours, Ail sauvage (Pháp), Aglio orsino (Ý), Ajo sylvestre, Ajo de oso (Tây ban Nha) .. Đức là quốc gia Âu châu ‘mê’ Tỏi hoang hạng nhất : Thành phố Eberbach đăng ký tên Barlauchhauptstadt hay ‘thủ đô tỏi gấu’ và độc quyền luôn ‘thương hiệu’ : Hội chợ tỏi gấu Eberbacher Barlauchtage kéo dài mỗi năm cả tháng (3-4)..

Tại Bắc Mỹ, Tỏi hoang hay Ramps ( buckrams, broad-leave garlic, wood garlic, bear’s garlic..) không mấy thông dụng tại Hoa Kỳ, loài hoang thường gặp là Allium tricoccum (chỉ gặp tại các Tiểu bang Đông Bắc như Maine, và từ Missouri qua đến Minnesota) Có truyền thuyết cho rằng tên Thành phố Chicago là do một ông Tây nghe thổ dân Algonquin gọi địa danh nơi này là shikaakwa (Chick-Ah-Goo-Ah) có nghĩa là ‘tỏi hoang’ vì ..đầy mùi tỏi..hư thối nơi vùng đầm lầy chung quanh ? Thành phố Richwood của Tiểu bang West Virginia đã tự phong là “Thủ đô Tỏi hoang của Thế giới” và hàng năm đều có ngày Lễ hộl Ramp Feed tổ chức vào tháng 4..với hàng ngàn người tham dự.. Canada cũng có những Tỉnh (Provinces) dùng Tỏi hoang , thu hái thoải mái trong thiên nhiên nhưng riêng tại Quebec lại là nơi giới hạn số lượng tỏi hoang được phép hái. Chính quyền Quebec, năm 1995 đã xếp tỏi hoang vào loài cây đang gặp nguy cơ bị tuyệt chủng..không được phép sở hữu quá 50 củ ! nếu bị bắt gặp có trên số này sẽ bị phạt từ 500 đến 20 ngàn đô la Canada (!).. Các nhà hàng tại Quebec không được phép món ăn có tỏi hoang. Trong khi đó tại Tỉnh bên cạnh Ontario, cây lại được trồng và bán tự do ngoài chợ.. 

Các quốc gia Á châu nhiệt đới tuy không có cây tỏi này nhưng lại có những tên ‘dịch’ rất sát nghĩa như Việt Nam : Tỏi hoang, tỏi gấu ; Tàu : Ỳe -còng = Dã-song (song = hành) ; Nhật : Rausomuzu ; Hàn : Kompa.. 

Tên gọi Tỏi “gấu” có lẽ do dân Bắc Âu tin rằng gấu đã chọn cây tỏi này để ăn thật no.. trước khi đi ngủ một giấc thật dài trong mùa Đông. Một lý thuyết khác lại cho rằng tên phát xuất từ hình ảnh chùm sao Ursa major rất dễ quan sát trên bầu trời Bắc Bán cầu 

● Vài đặc điểm thực vật : Tên khoa học : Allium ursinum , họ thực vật Lilliaceae (Hệ thống phân loại thực vật mới đã xếp Allium vào họ Amaryllidaceae) Tên đồng nghĩa : Allium nemorale; A. latifolium 

Cây loại củ, thuôn mảnh dài, cao chừng 2-6 cm, trên củ có những vảy màu vàng nhạt. Chồi hoa có thể dạng ống tròn hay dạng ống tam giác. Cây thường chỉ có 2 lá phát xuất từ gốc; lá có cuống dài, phiến lá rộng chừng 2-5 cm. Hoa bán nguyệt , phức tạp dạng ngôi sao, màu trắng..Củ có thể lớn dài 4cm và đường kính 1 cm. Cây trổ hoa vào tháng 4 tại những vùng đất thấp và vào tháng 6 nơi vùng đồi và đồng cỏ cao.. 

Các nhà khai thác rừng xem sự có mặt của cây như dấu hiệu cho biết điều kiện thổ nhưỡng nơi đây rất thích hợp để trồng các cây cho gỗ. Tỏi hoang phát triển mạnh nơi đất nhiều mùn thích hợp với acid nhẹ hay kiềm nhẹ.● Tỏi hoang : món ăn
Người Âu châu rất thích ăn tỏi hoang, nấu nướng, ăn sống, pha trộn trong nhiều món ăn khác nhau như súp, pasta..

Lá: Có thể ăn sống hay nấu chín, thường có thể thu hái ngay từ cuối tháng Giêng, lúc này lá rất thơm mùi tỏi, tuy nhiên không nồng bằng tỏi (nhà ) allium sativum. Lá tỏi hoang rất thích hợp khi trộn salad..

Hoa : cũng có thể ăn sống hay nấu chín , mùi vị có phần ‘đậm’ hơn lá, thường dùng lượng nhỏ giúp trang trí cho dĩa rau trộn. Cành hoa cả đầu cũng ăn được, vị sẽ đậm hơn khi hạt chín. Củ : Đây là phần có mùi hăng nhất của tỏi, tuy nhiên củ tương đối nhỏ và hơi khó tách. Có thể đào lấy củ trong khi cây đang ở lúc miên trạng (ngủ) từ đầu mùa Hè qua đầu mùa Đông. Khi thu hái vào đầu Hè, có thể tồn trữ củ đến 6 tháng Quý vị thích nấu ăn (tại những nơi không có tỏi hoang có thể dùng tạm leek (poireau) thay thế..xin vào : http://papillesestomaquees.fr/fiche-plantes-sauvages-de-a-a-z/ail-des-ours/ có những cách nấu món tỏi hoang, các món ăn cùng các cách tồn trữ, rất đầy đủ hình ảnh và chi tiết ( địa chỉ web do thân hữu Bùi Ngọc Lệ cung cấp ) 

Fleurs de l’ail des oursImage en ligne
huile aux fleurs d’ail des ours.
Image en ligne
Boutons floraux d’ail des ours au vinaigre et baies .

● Tỏi hoang : thuốc dân gian Tỏi hoang được dùng trong dân gian trị bệnh như tỏi (nhà), tuy được xem là ‘yếu’ hơn (?). Do đó tỏi hoang được xem như một thực phẩm hổ trợ sức khỏe rất nên dùng. Cây rất tốt giúp giảm huyết áp và làm hạ cholesterol trong máu. Cây giúp 

trị khó tiêu. Toàn cây đều có thể dùng làm thuốc tuy nhiên củ có tác dụng mạnh nhất. Tỏi hoang dùng trị giun sán, trị suyễn, sát trùng, giảm co giật, long đờm, lợi tiểu, bổ tỳ..giúp giãn nở mạch máu… Cây làm giảm đau bao tử, giúp tiêu hóa nên tốt để trị tiêu chảy, đau bụng, ăn không tiêu và ăn không ngon miệng. Toàn cây dùng trị suyễn, khó thở, khò khè.. Nước ép làm thuốc giảm cân, thoa ngoài trị sưng, đau khớp. Quý vị thích tìm hiểu thêm về cách dùng Tỏi hoang trị bệnh dân gian xin mời vào www.doctissimo.fr/html/sante/phytotherapie/plante-medicinale/ails-des-ours.htm (cũng do thân hữu Bùi Ngọc Lệ cung cấp)
Maria Treben trong La santé à la pharmacie du Bon Dieu ghi hai phưong thức dùng Ail des ours rất đơn giản : 

– Rượu Tỏi hoang : Nấu một nắm lá sau khi đã băm vụn trong 1/4 lít rượu trắng, thêm đuờng hay mật tùy ý và uống trong ngày từng lượng nhỏ giúp các bệnh về hô hấp nơi người cao niên.. – Elixir Tỏi hoang : Cắt vụn lá hay củ, bỏ vào hũ đến cổ chai, không nén chặt, đổ vào hũ đầy rượu 38-40 %. Phơi hũ dưới nắng trong 2 tuần. Uống ngày 4 lần mỗi lần 10-15 giọt.. Giúp bảo vệ mạch máu.. ● Nghiên cứu khoa học về Tỏi hoang Các nghiên cứu ghi nhận dưới đây được trích từ các tài liệu Đông Âu và Nga.. Thành phần hoạt chất : Hoạt chất trong Tỏi hoang tương tự như trong các cây của chi Allium , tuy có một số khác biệt về tỷ lệ và một vài thay đổi tương đối nhỏ . – Nhóm hợp chất Sulfur : 
Đây là nhóm hoạt chất quan trọng nhất trong Tỏi hoang. Thành phần và tỷ lệ thay đổi theo các điều kiện thổ nhưỡng và thời gian thu hái. Các cây Allium chứa những hợp chất ban đầu = sơ cấp (primary) loại glytamyl peptide và sulfoxide, thường là S-alk(en)yl-L-cysteine-sulfoxides không mùi và không bay hơi, và sau đó phải qua các phản ứng thủy giải, mới tạo thành các hợp chất dễ bay hơi, kể cả thisulfinate và các (poly)sulfide, tạo mùi và vị đặc trưng của các cây họ allium. 

Tỏi hoang thuộc nhóm chứa hoạt chất loại methiin/alliin nghĩa là chứa hỗn hợp methiin và alliin; tuy cũng có isoalliin (ít hơn nhiều) và ethiin (thấy trong lá tỏi hoang tại Tiệp khắc). 

Các cysteine-sulfoxide cần phải bị thuỷ giải bởi các men chuyên biệt C, S -lyase , phân cắt các nối C beta – gamma trong các phân tử sulfoxide. Khi tế bào tỏi còn nguyên vẹn, các cystein sulfoxide nằm trong tế bào chất (cytoplasm) còn các men nằm trong không bào (vacuole), chỉ khi tế bào bị hư hại, men bị phóng thích và gây phản ứng thủy giải..tế bào tỏi bị hư khi tỏi bị đập, bằm, ép hay cắt..C,S-lyase của tỏi hoang khác với các lyase trong A. sativum (tỏi nhà), A. cepa (hành tây).. ở điểm không thuộc nhóm glycoprotein.. Sau khi thủy giải sẽ có được các chất thiosulfinate, pyruvic acid và ammonia. 

Thiosulfinate (75-90 % cystein-sulfoxide ) là các chất chính tạo mùi và vị cho tỏi hoang khi vừa hái và chế biến : các thiosulfinate chính là allicin và các methyi-allyl- hoặc dimethyl thiosulfinate..Thiosulfinate là hợp chất không bền, dễ phân hủy thành (poly)sulfide, dithiin, ajoene cùng các hợp chất dễ bốc hơi và không bốc hơi.. Allicin rất không bền ngay ở nhiệt độ bình thường.. phân hủy thật nhanh thành các disulfide, trisulfide.. Tinh dầu tỏi hoang (0.007 %) có thành phần cũng thay đổi tùy nơi thu hoạch, mùa thu hoạch và tùy bộ phận của cây..Trong số trên 20 chất ly trích được gồm disulfide (54.7%),trisulfide (37 %), tetrasulfide (4.7%)… – Nhóm Phenolic : 
Phenolic trong Tỏi hoang có thể chia thành 2 nhóm : nhóm tự do ( free phenolic) và nhóm ‘liên kết’ (bound). Tỷ lệ phenolic tự do trong lá được xác định là 3.24 mg/g và trong củ là 2.30 mg/g , còn phenolic liên kết là 1.1 mg (lá) và 1mg (củ) Phenolic tự do trong lá gồm các acid ferulic và vanillic Phenolic kết nối gồm p-coumaric và các dạng nối kết khác của ferulic và vanillic acid. 

(Xin đọc thêm : “Evaluation and comparison of the content of total polyphenols and antioxydant activity of selected species of the genus Allium “ trong Journal of Central European Agriculture Số 4-2016) 

Tỷ lệ flavonoid (tính theo lượng tương đương mg quercetin -QE) trong lá (Bulgaria) là ~7.3 mg QE/kg lá tươi.. Tuy nhiên khi tính theo flavonoid tổng cộng thì có các con số cao hơn : lá xanh (Ba lan) : 1,856 mg.kg , lá vàng : 2,362 mg/100 g. 

Trong số các flavonoid : các chất chuyển hóa Kaempferol ( 21 chất ) chiếm thành phần quan trọng nhất. (Xin đọc thêm :”The Flavonoids of Allium ursinum “ (Phytochemistry Số 41 -1996) – Nhóm Glycoside có nhân sterol : 

Cũng như các hoạt chất organo-sulfur, steroidal saponin hầu như có mặt trong các cây allium : Các chất chuyển hóa nhóm diosgenin quan trọng nhất, nhưng tỷ lệ rất thấp (0.137 %), ngoài ra còn có beta-sitosterol ..- Các chất khác : 
Trong Tỏi hoang còn có một số hoạt chất đáng chú ý : 
– Lectins (trích từ củ) : Allium Ursinum AI (AUA-1) và AUA-2 , cả hai đều thuộc loại chuyên biệt với mannose ; A-1 là một heterodimeric lectin gồm các polypeptides có phân tử lượng 12.5 và 11.5 kDa , còn A-2 là một homodimeric lectin chỉ toàn polypeptides loại 12kDa – Polysaccharides : 30-90% là fructan .. – Acid béo : palmitic, linoleic, oleic, palmitoleic, stearic.. – Gamma-glutamylpeptide – Amino-acid như asparagine, glutamine, alanine.. – Các sắc tố như chlorophyl a và b.. Carotenoid – Các kim loại như magnesium (7,000 mg/kg), manganese (1,600 

mg/kg), sắt (230 mg/kg) (Xin đọc : “Allium ursinum : botanical, phytochemical and pharmacological over 

-view “ trong Phytochemistry Reviews Số 14-2015 ) Nghiên cứu dược học : 

Cũng như các nghiên cứu về thành phần hoạt chất, đa số các nghiên cứu dược học được thực hiện tại các quốc gia Đông Âu và dựa theo các tác dụng trị bệnh theo kinh nghiệm dân gian. 

– Khả năng ngừa và trị các bệnh Tim-mạch : 

Các dịch chiết từ lá tươi đã được thử nghiệm về tác động trên sự kết tụ các tiểu cầu : các dịch chiết bằng ethanol ngăn chặn sự kết tụ tiểu cầu theo phương thức tác dụng của clopidogel, hoạt tính này do các galacto pyranosyl-sn-glycerol và beta-sitosterol-glucopyranoside..; Các flavonoid loại kaempferol glycosides và hesperidoside cũng có các hoạt tính này. Lá khi thử nghiệm trên chuột cho thấy có hoạt tính làm giảm tác động của ACE trong huyết tương, hạ huyết áp tâm trương..Ngoài ra thử nghiệm khi cho chuột ăn thực phẩm có tỏi hoang có khả năng điều trị các chứng loạn nhịp tim do làm giảm vùng tim bị nghẹt.. (Xin đọc “Cardioprotective actions of wild garlic” trong Molecular and Cellular Biochemistry Số 119 -1993) – Khả năng giúp hạ cholesterol : 

Thử nghiệm trong ống nghiệm ghi nhận tỏi hoang có tác dụng ngăn chặn sự tổng hợp cholesterol : các dịch chiết bằng chloroform và chloroform/ acetone đều ức chế sự sinh tổng hợp cholesterol đến 49.3 và 48.9 %. Các chất trong tỏi hoang có hoạt tính này là ajoene, methyl-ajoene, diithiin và allicin.. – Hoạt tính sát trùng : 

Tỏi hoang theo dược học dân gian đã có tác dụng kháng vi khuẩn và kháng nấm. Thử nghiệm dùng dịch chiết bằng methanol ghi nhật khả năng kháng khuẩn trên nhiều vi khuẩn gây bệnh như Staph. aureus, 

B.subtilis, E. coli, S. enteritidis ..và trên nhiều loài nấm như Aspergillus niger, Rhizopus nigricans, Mycoderma.. (Xin đọc các hoạt tính này trong các bài nghiên cứu trên PubMed) – Hoạt tính chống oxy-hóa : 

Các bộ phận của cây Tỏi hoang đều có hoạt tính chống oxy-hóa do có chứa flavonoid hay carotenoid, hoạt tính phần chính do khả năng thu nhặt các gốc tự do. Ngoài các hợp chất phenolic, các men chống oxy-hóa như catalase và peroxidase trong Tỏi cũng có các tác động sinh học.. Một số hợp chất ly trích từ tinh dầu Tỏi còn gia tăng glutathione gian bào và cải thiện hoạt tính chống oxy-hóa của các men và kích hoạt protein Nrf2. 

(Food Chemistry & Toxicology Số 39-2001) – Hoạt tính ngừa và chống ung thư : 

Có nhiều nghiên cứu trong ống nghiệm (in vitro) về khả năng diệt bào của các dịch chiết từ Tỏi hoang (chiết từ nhiều dung môi khác nhau), và dùng các bộ phận khác nhau của cây ( lá, củ, hoa..). Các giòng tế bào ung thư thử nghiệm bao gồm melanoma B16, sarcoma XC, fibroblast HSF.. kết quả khá tốt.. Diallyl disulfide có hoạt tính diệt bào trên nhiều giòng tế bào ung thư kể cả ung thư vú, phổi, ruột.. Các tế bào lymphoma, neuroblas toma..Hoạt tính diệt bào là do tác động vào chu trình sinh trưởng của tế bào và vào tiến trình apoptosis.. (Phytomedicine Số 19-2012) Trần Minh Quân ( 6-2019 )Tài liệu tra cứu :
– Wild Flowers of Field and Woodland (V. Vetvicka & D. Tousova) – Medicinal Herbs : Wild Garlic (Natural Medicinal Herbs) – Phytochemistry Review Số 14-2015 (PMID : 25774103) – Spice Pages : Bear’s Garlic (Allium ursinum, Ramson ) (Gernot Katzer) – Các bài viết trên các tạp chí đã dẫn . 

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Ngành Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa và Chương Trình Dạ Lan – Trúc Giang MN

  • Trúc Giang MN

28/10/2021

1* Mở bài

Ngành Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa ra đời để phục vụ cho cuộc chiến đấu đầy chính nghĩa sáng ngời của người dân miền Nam. Đó là cuộc chiến chống lại chủ nghĩa hắc ám độc tài Cộng Sản, để bảo vệ dân chủ, tự do cho đồng bào miền Nam Việt Nam.

Ngành Chiến Tranh Chính Trị thực hiện các phương thức binh vận, dân vận, đồng minh vận và địch vận, thông qua những hình thức tuyên truyền, nổi bật nhất là chương trình Dạ Lan, những em gái hậu phương và những anh trai tiền tuyến. 

Về địch vận, chiêu hồi được nâng lên tầm cao thuộc chính sách quốc gia. Từ năm 1963 đến tháng tư 1975 đã kêu gọi được 230,000 hồi chánh viên trở về với chính nghĩa quốc gia.

2* Chương trình Dạ Lan: “Em gái hậu phương”, “anh trai tiền tuyến”

2.1. Nội dung chương trình Dạ Lan

https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTHsYmQOB2rw1L9TS7t0bwtYtEmbhMXnLkOYXrZDT7SgbaBxaWn
http://i296.photobucket.com/albums/mm194/tvvn4/dalan65.jpg

Đêm đêm trên làn sóng điện của đài phát thanh Quân Đội, từ 7 giờ đến 9 giờ, giọng nói rất đặc biệt của “người em gái hậu phương”, rất thiết tha, truyền cảm, “nhỏng nhẻo”, tình tứ, có mãnh lực thu hút tình cảm của các binh sĩ trên bốn vùng chiến thuật. “Em gái hậu phương”, “anh trai tiền tuyến” là những từ ngữ rất quen thuộc được nghe thấy trong những bài thơ, bản nhạc thịnh hành thời đó.

Chương trình Dạ Lan là một nét độc đáo của Nha Chiến Tranh Tâm Lý, cộng với nét đặc biệt của giọng nói Dạ Lan, đã được anh em quân nhân hoan nghênh, nhất là những chiến sĩ độc thân, xa nhà.

Không ai ngờ được người xướng ngôn viên mang tên Dạ Lan nói giọng Bắc lại là người con gái Quảng Nam, có một thời sống ở Huế, tên là Hoàng Thị Xuân Lan. 

Ấn tượng nhất, đi sâu vào lòng các chiến sĩ trên khắp bốn vùng chiến thuật, nhất ở các tiền đồn xa xôi, đèo heo hút gió, là giọng nói của người em gái hậu phương Dạ Lan, đêm đêm gởi tâm tình đến những anh trai tiền tuyến.

Với giọng nói rặt Bắt Kỳ rất êm đềm, tha thiết đầy trìu mến. Giọng ngọt xớt đôi khi tình tứ lãng mạn, gởi tâm tình và sự quan tâm từ hậu phương ra tiền tuyến, cảm thông tình trạng gian khổ và chấp nhận hy của người trai thời loạn, trước sự nguy vong của đồng bào miền Nam.

Những binh sĩ từ cấp bậc thấp nhất cũng cảm thấy là họ không bị bỏ quên, vì lúc đó có nhiều thiếu nữ đặt yêu cầu rất cao: “phi sĩ quan bất thành phu phụ”

2.2. Tổ chức thực hiện

Chương trình Dạ Lan bao gồm các mục: tin tức, thời sự, điểm báo, văn nghệ và thư tín.

Phần hấp dẫn nhất là nhạc và thư tín. Dạ Lan giới thiệu từng bản nhạc, trả lời từng bức thơ từ tiền tuyến gởi về KBC 3168. Trả lời riêng biệt tên từng anh, đơn vị, vị trí đóng quân…không ai bị bỏ quên cả.

Thơ từ tiền đồn xa xôi, tới tấp gởi về đến nổi đài Quân Đội phải tuyển dụng thêm nhiều nữ nhân viên, đọc thơ và viết bài trả lời để cho Dạ Lan đọc. 

2.3. Vài nét về Đại tá Trần Ngọc Huyến 

http://nguyentin.tripod.com/dt_tranngochuyen.jpg
http://phaobinhvnch.com/tranngochuyen.jpg
ARVN Political Warfare Corps (General) Insignia.svg

           

        Đại Tá Trần Ngọc Huyến.1952 Khóa 2 Trường Sĩ Quan Thủ Đức* Nha CTTL


Cha đẻ của chương trình Dạ Lan là Đại tá Trần Ngọc Huyến.

Năm 1964, Đại tá Trần Ngọc Huyến được cử giữ chức Giám đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý thuộc Bộ Quốc Phòng, sau đổi lại Cục Tâm Lý Chiến, nằm trong Tổng Cục CTCT, thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.

Đại tá Huyến là người có óc sáng tạo. Nhiều sáng kiến của ông đã làm thay đổi hình thức và nội dung tuyên truyền đã có từ trước.

Ông có cử nhân Văn Khoa trước khi gia nhập quân đội.

Ngoài chương trình Dạ Lan, ông còn làm thay đổi hai tờ báo quân đội là Thông Tin Chiến Sĩ và Văn Nghệ Chiến Sĩ, thành tờ Chiến Sĩ Cộng Hòa và Tiền Phong.

Đại tá Huyến cho biết, người quân nhân VNCH có quá nhiều gian khổ, khô cằn, nên báo chí phải mang sự tươi đẹp của các kiều nữ. Hở hang một chút cũng không sao. Nội dung phải có hí họa, chuyện cười, văng tục một chút cũng OK.

2.4. Đi tìm xướng ngôn viên cho chương trình Dạ Lan

1). Dạ Lan 1

9 Da Lan 4

              Chương trình mang tên Dạ Lan của đài phát thanh Quân Đội được hình thành trước khi có xướng ngôn viên của chương trình.

Dạ Lan được hiểu là hương thơm quyến rũ về đêm của một loài hoa.

Thiếu tá Nguyễn Văn Nam được giao nhiệm vụ đi tìm xướng ngôn viên (XNV) cho chương trình.

Qua thử giọng bằng máy thu âm của một vài ứng viên, một nữ XNV của đài Gươm Thiêng Ái Quốc, được chọn. 

Đài Gươm Thiêng Ái Quốc đặt tại Đông Hà, phát thanh qua bên kia vĩ tuyến 17, trong chương trình địch vận, do Thiếu tá Phạm Huấn, tức nhà thơ Nhất Tuấn làm quản đốc và Hà Huyền Chi làm phó.

Một sự trùng hợp là xướng ngôn viên cũng tên Lan, Hoàng Thi Xuân Lan. Dạ Lan 1.

2). Dạ Lan 2

9 Da Lan 3
9 Da Lan 2

Hơn một năm sau, XNV Hoàng Thị Xuân Lan (Dạ Lan 1) nghỉ việc. Đài phát thanh Quân Đội chọn nữ XNV thay thế.

Lại có những trùng hợp, XNV mới cũng có tên Lan, Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2) tức Mỹ Linh, cũng có giọng nói giống hệt như Dạ Lan 1.

Mỹ Linh là nhân viên của đài Quân Đội, phụ trách chương trình nhạc ngoại quốc yêu cầu.

Dạ Lan 2 phụ trách chương trình Dạ Lan cho đến ngày 29-4-1975. Di tản sang Mỹ, hiện định cư tại bang South Carolina (Mỹ).

Dạ Lan 1 hiện đang sống ở Sài Gòn.

3). Cuộc đời lận đận lao đao của Dạ Lan 1

9 Da Lan 5
hht

       

                                                                                   Hoàng Hải Thủy

Cô rời Sài Gòn với cái bào thai mấy tháng mà tác giả cái thai là ca sĩ Anh Ngọc (Từ Ngọc Tản).

Năm 1968, Hoàng Thị Xuân Lan trở về Sài Gòn, phụ trách việc hành chánh ở đài phát thanh Sài Gòn.

Nhà văn Hoàng Hải Thủy, bút hiệu Công Tử Hà Đông cho biết, có một thời gian cô sống chung rất hạnh phúc với nhà văn Văn Quang nhưng vài năm sau đó thì họ chia tay. Văn Quang là cựu trung tá Nguyễn Quang Tuyến, quản đốc đài phát thanh Quân Đội từ 1969 đến 30-4-1975.

Dạ Lan 1 hiện là một cư sĩ tại ngôi chùa ở ngoại ô Sài Gòn. Cô đam mê làm công tác thiện nguyện, đi đến mọi nơi để giúp đỡ đồng bào nghèo.

2.5. Thành phần của chương trình Dạ Lan

Xướng ngôn viên: Hoàng Thị Xuân Lan (Dạ Lan 1) và Hồng Phương Lan (Dạ Lan 2)

Câu chuyện hàng ngày: Lưu Nghi.

Điểm báo: Nguyễn Triệu Nam

Phần nhạc: Hai nhạc sĩ Đan Thọ và Ngọc Bích.

Chọn bài và dẫn nhạc: Huy Phương.

Phần tin tức: Ban tin tức của đài Quân Đội

Thư tín: Cô Ngọc Xuân và một số cô phụ trách, chọn lựa thơ, viết bài trả lời cho XNV Dạ Lan đọc.

Ngoài ra còn có nhiều văn nghệ sĩ đã từng tham gia, đóng góp cho chương trình Dạ Lan như các nhạc sĩ: Ngọc Bích, Đan Thọ, Anh Ngọc, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Canh Thân, Nguyễn Đức, Văn Đô, Trần Thiện Thanh, Trần Trịnh, Đào Duy, Thục Vũ… Các nhà văn, nhà thơ như Huy Phương, Nguyễn Triệu Nam, Nhất Tuấn, Nguyễn Quốc Hùng (thầy khóa Tư), Dương Phục, Phạm Huấn, Châu Trị, Lâm Tường Dũ, Nguyễn Xuân Thiệp, Tô Kiều Ngân…

Chương trình Dạ Lan là một sáng tạo độc đáo, một bước đột phá thu hút thính giả, với một số lượng lớn mà trước kia không có.

Nhiều anh em binh sĩ viết thơ tỏ tình với Dạ Lan. Nhiều bạn đi phép về Sài Gòn, đến đài phát thanh Quân Đội tìm gặp Dạ Lan, nhưng chưa có ai được diễm phúc gặp Dạ Lan bằng xương bằng thịt cả.

Dạ Lan trở thành một huyền thoại.

Giọng nói của hai cô Dạ Lan đã in sâu vào lòng người chiến sĩ một thời, trong cuộc chiến giữ nước, chống độc tài Cộng Sản. Hai Dạ Lan đã cống hiến tài năng của mình trong cuộc chiến đầy chính nghĩa, là bảo vệ tự do và dân chủ cho miền Nam.

3* Người sĩ quan chiến tranh chánh trị trong QLVNCH

http://www.generalhieu.com/trung.jpg
http://pp2.s3.amazonaws.com/371f5e55c83a49c0/5cdb256e95c24ead914109e6d99d1df0.jpg
https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTs7qJJ_RmbFXY-Iu8u-YaYH7NoVuPYINBo33XGko9cIGdpl_DCnQ

  Trung tướng Trần Văn Trung  *   Phù hiệu trường Đại Học CTCT


Chương trình Dạ Lan do Cục Tâm Lý Chiến thực hiện, nằm trong kế hoạch tuyên truyền của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Ngoài ra, Tổng Cục CTCT cũng đào tạo sĩ quan để phục vụ cho ngành nầy.

Do nhu cầu cấp bách, trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị được thành lập, và bắt đầu hoạt động từ ngày 1-1-1967, do Sắc luật số 48/SL/QP ký ngày 18-3-1966.

Thí sinh có bằng Tú tài toàn phần, qua một kỳ thi tuyển, được huấn luyện 2 năm, tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch. SVSQ/CTCT được huấn luyện về văn hóa, chính trị, quân sự, có thể nói là một sĩ quan đặc biệt so với từ trước, có khả năng căn bản toàn diện, cả văn lẫn võ. Những môn học về kinh tế, chính trị, triết học, lịch sử và nhất là về luật pháp, bao gồm dân luật, hình luật, luật tài chánh, hành chánh, luật quốc gia, luật quốc tế…

Số sĩ quan ra trường từ khoá 1 năm 1969 đến khóa 6, tan hàng ngày 30-5-1975, đã cung ứng khoảng 1,000 CTCT, một con số tương đối nhỏ so với quân số trên dưới một triệu của QLVNCH. Vì thế, SQ/CTCT chưa phát huy rộng rãi được khả năng đã thụ huấn. Hơn nữa, những năm sau cùng, cuộc chiến trở nên khốc liệt rất quy mô, chủ yếu là xử dụng sức mạnh hoả lực của vũ khí và quân số. Nhiều sĩ quan tốt nghiệp Đại Học Chiến Tranh Chính Trị chỉ huy đại đội trực tiếp chiến đấu.

VNCH thất trận vì hết bom, hết đạn, hết xăng dầu cho xe tăng, thiết giáp, máy bay…chớ không phải do hết ý chí và tinh thần bảo vệ đất nước.

Đồng minh bỏ rơi, lực yếu, thế cô, thất trận là tất yếu.

3* Người chính ủy trong quân đội Cộng Sản Việt Nam

Người SQ/CTCT Việt Nam Cộng Hòa không đại diện cho một đảng phái chính trị nào cả, họ chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc với tinh thần “trách nhiệm và danh dự” của người quân nhân. Trái lại, người chính ủy trong quân đội CSVN chỉ bảo vệ Đảng của họ, với một thiểu số 3 triệu người, đè đầu cởi cổ một dân tộc trên 90 triệu.

Chính đảng CSVN đã công khai tuyên bố, quân đội và công an là lực lượng chuyên chính vô sản của đảng, là công cụ bảo vệ đảng, thực hiện cuộc cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa trên đất nước VN. Nhưng mỉa mai thay, công cụ trấn áp toàn dân lại mang tên là “Quân Đội Nhân Dân”, “Công An Nhân Dân”. Và từ đó, đảng tự nhận rằng Đảng là Tổ quốc VN, Đảng là dân tộc VN, CNXH cũng là Tổ Quốc, người nào không yêu CNXH là phản bội Tổ Quốc. Thật là một thứ lý luận ngu dốt, và trơ trẻn hết nước nói. Sách vở và tài liệu còn ghi rõ ràng như thế.

4* Đảng Cộng Sản VN không còn tin tưởng đảng viên

Đảng CSVN lãnh đạo quân đội một cách toàn diện. Các cấp chỉ huy đơn vị phải là đảng viên, như thế còn chưa đủ, Nghị Quyết 51-NQ/TW ngày 20-7-2005 của Bộ Chính Trị, đã lập lại chức “chính ủy” với cấp bậc và quyền lực ngang bằng với người chỉ huy trưởng đơn vị, từ cấp đại đội trở lên. Trước kia, “chính ủy” chính thức giữ vai trò cấp phó của đơn vị. Như thế, một đảng viên nầy nằm sát bên cạnh một đảng viên kia, trong một đơn vị có hai chỉ huy trưởng, mục đích dò xét, canh chừng lẫn nhau, chứng tỏ đảng không còn tin tưởng vào sự trung thành của đảng viên mình như trước kia nữa. Trái lại, đảng viên cũng không còn tuyệt đối trung thành vào đảng, bằng chứng là, những “lão thành cách mạng”, những tướng lãnh nghỉ hưu, và ngay cả những đảng viên trẻ, cũng chống đảng, vì cái thời kỳ bưng bít sự thật không còn nữa. Thời đại thông tin hiện tại đã phơi bày ra ánh sáng những trò lừa bịp, gian trá của Đảng.

Luật sư Lê Thị Công Nhân trước kia cũng đã từng được kết nạp vào đảng, và sau đó, người đảng viên Nguyễn Chí Đức, đi biểu tình chống Trung Cộng ngày chủ nhật 17-7-2011, đã bị đồng chí là Đại úy Công an với biệt danh là “Minh Đạp” tống cho những cú đạp như trời giáng. Nguyễn Chí Đức trả lời phỏng vấn đài BBC như sau, “Tôi bị khống chế như một con lợn, và nhận 4 cú sút, trong đó 2 phát được “ăn bánh giày” vào mồm, một phát qua cổ và một phát vào ngực”.

Hình ảnh Linh Mục Lý bị bịt miệng trước toà, hình ảnh “Minh đạp” cho ăn gót giày, được tuyền đi khắp nơi trên thế giới, cho thấy bộ mặt hung tàn của chế độ Hà Nội.

Đảng CSVN hiện nay chỉ nhờ vào bạo lực trấn áp để tồn tại. Đó là cái bi đát của một chế độ sắp bị diệt vong.

5* Hoạt động của ngành Chiến Tranh Chánh Trị trong Quân Lực VNCH

Ngành CTCT của QLVNCH được tổ chức theo cơ cấu và nội dung của CTCT Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Nội dung của Lục Đại Chiến là đúc kết những kinh nghiệm đấu tranh chống CS của Tưởng Giới Thạch chống lại Mao Trạch Đông. Lục Đại Chiến áp dụng thích hợp vào chiến tranh VN, vì Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp áp dụng chiến tranh nhân dân, du kích và nổi dậy của Trung Cộng.

Tổng Cục CTCT được chia thành 5 cục với một trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị.

  1. Cục Chính Huấn phụ trách huấn luyện.
  2. Cục Tâm Lý Chiến đảm trách tuyên truyền.
  3. Cục Xã Hội chăm sóc gia đình binh sĩ, giáo dục con em quân nhân, quản lý các Nha Tuyên úy.
  4. Cục An Ninh Quân Đội bảo vệ an ninh nội bộ và phản gián.
  5. Cục Quân Tiếp Vụ cung cấp nhu yếu phẩm miễn thuế.
  6. Trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị đào tạo sĩ quan trẻ có đầy đủ năng lực đảm trách công tác CTCT ở các đơn vị.

6* Lục đại chiến

Nội dung hoạt động căn bản của ngành Chiến Tranh Chánh Trị là “Lục đại chiến”, tức là 6 trận chiến lớn chống đối phương, bao gồm: Tư tưởng chiến, Mưu lược chiến, Tổ chức chiến, Tình báo chiến, Tâm lý chiến và Quần chúng chiến.

  1. Tư tưởng chiến.

Tư tưởng là yếu tố quan trọng nhất, vì tư tưởng hướng dẫn hành động, có tư tưởng đúng mới hành động đúng và tích cực.

Nổ lực của ngành CTCT trong QLVNCH là làm cho nhân dân và chiến sĩ hiểu rõ được cuộc chiến đấu của quân dân Miền Nam là chính nghĩa, cụ thể là bảo vệ tự do, dân chủ cho nước Việt Nam Cộng Hòa, trước cuộc xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt. Đảng CSVN là tay sai của Cộng Sản Nga, Tàu trong mưu đồ bành trướng của CNCS, nhuộm đỏ thế giới của CSQT. Điều nầy được kiểm nhận là đúng, đó là ngày 1-5-1975, một ngày sau khi chiếm được miền Nam, Phạm Văn Đồng tuyên bố, “thống nhất đất nước để đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH”.

Quân dân miền Nam chiến đấu tự vệ, chống lại bọn người “Sinh Bắc tử Nam”, đã vượt vĩ tuyến 17, vượt sông Bến Hải, vượt Trường Sơn, vượt đường mòn HCM, vào tận miền Nam, dùng vũ khí của Nga, Tàu, và các nước CS, để giết hại đồng bào miền Nam, đã tập họp lại trong những đơn vị của quân đội. Chiến đấu giữ tự do, dân chủ, giữ nhà, giữ nước. Chính nghĩa sáng ngời của cuộc chiến tranh, là ở những mục đích cao cả đó. Chương trình Dạ Lan của đài phát thanh Quân Đội đã làm việc đó, và góp phần nâng cao tinh thần chiến đấu của người thanh niên thế hệ, trước hiểm họa mất nước.

  1. Mưu lược chiến

Nhận thức đúng, hành động đúng, nhưng phải hành động như thế nào để đạt kết quả to lớn mà tổn thất rất nhỏ, thì mới hữu hiệu. Đó là phải dùng “cái trí”, mưu trí trong việc dụng binh, cũng như ở tất cả hình thức đấu tranh.

Trong phép dụng binh, thì cái nguyên tắc “bất chiến tự nhiên thành”, thắng lợi mà không giao chiến, mới là thượng sách. Mưu lược cổ điển nhắc tới 36 kế, xem ra một số mưu kế vẫn còn giá trị xử dụng, và nhiều tướng lãnh VNCH đã áp dụng thành công những kế sách đó.

Mưu lược chiến, nói chung là những suy nghĩ, sáng tạo trong việc áp dụng chiến thuật, chiến luợc đối với kẻ thù.

Trong lịch sử, để nâng cao tinh thần chiến đấu của quân sĩ trước thế mạnh của quân xâm lược nhà Tống, danh tướng Lý Thường Kiệt đã cho thực hiện một mưu kế rất thần tình, ông sai người giả làm Thần Thánh, núp trong đền Trương Hát, khi trời sấm chớp, thì đọc bài thơ mắng chửi quân giặc như sau:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

Dịch nghĩa:

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Rành rành định phận tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời.

Binh sĩ nghe Thần phán những câu ấy, nức lòng đánh giặc, dứt khoát là phải cho quân giặc tơi bời như Thần linh đã phù trợ.

Cũng tương tự, Nguyễn Trãi vạch ra kế sách dùng mỡ (mật ong) viết trên lá cây câu chữ “Lê Lợi vi quân-Nguyễn Trãi vi thần” (Lê Lợi làm vua-Nguyễn Trãi làm tôi thần), để cho kiến ăn, hiện ra mặt chữ, rồi đem thả cho trôi sông, tạo ra một “điềm” trời, khẳng định yếu tố “thiên mệnh” khiến cho dân chúng nhanh chóng về Lam Sơn, tham gia nghĩa quân.

Ngành CTCT xem Nguyễn Trãi như là Thánh Tổ, dùng hai câu trong bài Bình Ngô Đại cáo: 

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Ngô Tất Tố dịch từ chữ Hán, “Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, Dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo”.

Mục đích nhấn mạnh, cuộc chiến đấu của quân dân miền Nam là đại nghĩa, đầy chính nghĩa, phù hợp với thiên lương đạo lý, là cuộc chiến tranh tự vệ chính đáng, chống lại cường quyền, tàn bạo là chủ nghĩa Cộng Sản. Vũ khí giết đồng bào miền Nam, do các nước Cộng Sản cung cấp, là một chứng minh hùng hồn nhất. Cái tàn bạo của Cộng Sản thể hiện rõ ràng, cụ thể nhất trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968 ở Huế. Hơn nữa, Hồ Chí Minh là “người Nga gốc Việt”, được Nga nuôi dưỡng, giáo dục, làm việc và ăn tiền của Cộng Sản Quốc Tế, là điều không thể chối cãi được.

  1. Tình báo chiến

Tình báo được định nghĩa tổng quát là những hành động thu thập, nghiên cứu, tổng hợp, xử lý những tin tức và tài liệu bí mật về quân sự, chính trị, quốc phòng, an ninh, khoa học kỹ thuật…của đối phương.

Tình báo là thu thập, báo cáo tình hình của địch, một yếu tố rất quan trọng, không những trong chiến tranh mà còn quan trọng trong những cạnh tranh về mọi mặt trong xã hội. Quan điểm căn bản được Tôn Tử ghi như sau: 

Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách đãi

Bất tri bỉ, nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ

Bất tri bỉ, bất tri kỷ mỗi chiến tất bại.

(Biết người biết ta trăm trận không nguy. Không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng, một trận thua. Không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại). Ý nghĩa trên được rút gọn trong câu “Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách thắng”, đó là quan niệm căn bản, chớ không có ý nghĩa tuyệt đối, bởi vì việc thắng bại còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, như trường hợp một trong hai bên tham chiến, không có quyền lựa chọn giữa đánh hay không đánh, như bị vây đánh hội đồng chẳn hạn. Năm bảy thằng Cộng Sản vây đánh một người Việt Nam Cộng Hòa, thì mình không bị chột cũng bị què.

Tổng thống Obama bổ nhiệm ông Leon Panetta, Giám đốc CIA vào chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng là thích hợp nhất, vì khả năng biết người, biết ta của ông cao hơn những người ngoài khu vực an ninh, tình báo.

  1. Tổ chức chiến

Tổ chức (Organize) là sắp xếp các bộ phận cho có hệ thống, hoạt động ăn khớp với nhau trong việc thực hiện một công tác, một chiến dịch. Công việc càng phức tạp, có liên hệ đến nhiều cơ quan, thì cần phải được tổ chức thật chu đáo, mang tính hợp lý và khoa học, như trong một bộ máy, những trụ cột, những bánh xe răng, phải hoạt động ăn khớp chặt chẽ với nhau thì máy mới vận hành được.

Vai trò của việc “tổ chức” trong công tác tiếp vận cho một chiến trường lớn rất quan trọng, trong đó, vũ khí, đạn dược, thuốc men, thực phẩm, nhiên liệu… cần phải có sự phối hợp ăn khớp với nhau của các ngành như quân cụ, quân nhu, quân vận, quân y, phi cơ và tàu bè vận tải của không quân và hải quân, lực lượng quân đội bảo vệ lộ trình, bảo vệ an ninh bãi đáp, bảo vệ bầu trời chống lại phòng không của địch…mà Tổng Cục Tiếp Vận đóng vai trò chính và Cục Truyền Tin là phương tiện chủ yếu.

Tóm lại ngành CTCT, người sĩ quan CTCT phải có óc tổ chức để thực hiện từng công tác về dân vận, binh vận, địch vận, tuyên truyền, phản tuyên truyền cho thích hợp với từng hoàn cảnh cụ thể đang xảy ra.

  1. Tâm lý chiến

Cục Tâm Lý Chiến là cái xương sống của ngành CTCT trong QLVNCH. Chiến tranh tâm lý là chiến tranh về tư tưởng, dùng tư tưởng đánh bại tư tưởng, ý chí, và tinh thần của quân địch, đồng thời nâng cao tinh thần quyết thắng của binh sĩ ta. Phương tiện chính của CTTL là tuyên truyền và phản tuyên truyền.

Có hai loại tuyên truyền: tuyên truyền công khai và tuyên truyền bí mật.

  1. Tuyên truyền trắng

Tuyên truyền công khai còn gọi là tuyên truyền trắng, là dựa vào những tin tức chính thức, có nguồn gốc rõ ràng như những lời tuyên bố của các chức sắc cao cấp như, thủ tướng, bộ trưởng hoặc phát ngôn viên chính phủ…từ đó triển khai, phân tích để chứng minh một điều gì muốn tuyên truyền. Ví dụ như ngày 1-5-1975, một ngày sau khi chiếm miền Nam, thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố “thống nhất đất nước để đưa cả nước, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH. Đảng CSVN là lá cờ đầu, là đội quân tiên phong của Cộng Sản Quốc tế, tiến hành cuộc cách mạng vô sản thế giới”. Đó là lời tự thú có giá trị, chứng minh CSVN là tay sai của Đệ Tam Quốc Tế CS. Xâm chiếm miền Nam để bành trướng CNCS trong mưu đồ nhuộm đỏ thế giới của CS. Hết chối cãi. Lòi bộ mặt giả dối, lừa bịp là chiêu bài “giải phóng dân tộc”. Lộ liễu hơn nữa, đảng Xã Hội lấy lại bản chất thật sự của nó, là chính thức mang tên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Ngày nay, đảng Cộng Sản hết thời, vì chủ nghĩa Cộng Sản đã bị nhân loại ném vào sọt rác.

Tuyên truyền trắng lấy những câu thơ nâng bi của Tố Hữu chứng tỏ thân phận tay sai của Liên Xô, cụ thể như sau:

Vui biết mấy khi con tập nói

tiếng đầu lòng con gọi Stalin…

Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương ông thương mười.

Cái độc đáo của tài nâng bi là, con nít VC biết học nói “tiếng người nước ngoài” trước khi biết nói tiếng Việt, đó là biết phát âm tên ông Stalin. Người không có học “tiếng người nước ngoài” thì chỉ phát âm như  sau, “ông Ăn Tờ rô Bốp Mốc Cu ra Đớp”, ông Ni Cô Lai Nhai Quai Dép, hoặc ông Ê Rích Hôi Nách Cơ…

Tuyên truyền bí mật có hai dạng là tuyên truyền đen và tuyên truyền xám.

  1. Tuyên truyền đen

Tuyên truyền đen là dựa vào những tin tức có nguồn gốc “gần như có thật”, từ đó phân tích, bổ sung, tăng cường, thêm mắm dậm muối, làm cho đối phương hoang mang, bất mãn.

  1. Tuyên truyền xám

Tuyên truyền xám là dựa vào tin tức “không có nguồn gốc rõ ràng”, hoặc căn cứ vào những sự việc đang xảy ra mà bịa thêm câu chuyện, như: bà con đồn rằng, dư luận cho rằng, người giấu tên cho biết…

Tuyên truyền xám mang tính đánh phá nhẹ nhàng, tưởng chừng như vô hại, nhưng tác dụng rất thâm hậu. Cái “không có” mà được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, khiến cho người nghe, từ hoang mang cho đến chỗ tin là “có thật”. Trong Cổ học tinh hoa, có câu chuyện Tăng Sâm giết người. Tăng Sâm là người con lương thiện, thuần hòa hiếu thảo, người có học sách thánh hiền, tôn trọng đạo lý. Một hôm, có người chạy đến báo với bà mẹ, “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ thản nhiên tiếp tục dệt vải. Người thứ hai đến báo, bà mẹ vẫn tin con mình không sát nhân. Người thứ ba đến báo, bà mẹ lo lắng, chạy đi tìm hiểu, vì không còn niềm tin.

Tuyên truyền là một vũ khí đấu tranh rất lợi hại. Một ví dụ về tuyên truyền  của tay sai VC ở hải ngoại, như muốn đánh phá các cựu quân nhân của QLVNCH, thì trước hết đánh phá Tổng Tư Lịnh quân đội là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Và để che dấu thân phận tay sai VC, chứng tỏ khách quan, công bằng, nên chúng một mặt ca ngợi Tổng thống Ngô Đình Diệm, một mặt đánh phá Tổng thống Thiệu. Người đọc tưởng như khách quan, công bằng, nhất là khi người viết tự nhận mình là một “cựu SQ/QLVNCH”…

Hiện nay VC trong nước rất sợ sự thật, cho rằng đó là các loại tuyên truyền xuyên tạc, là “diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch”, và lo ngại, cảnh giác, sợ rằng các đơn vị “tự diễn biến”.

Mikhail Gorbachev (Tổng Bí Thư Xô Viết)
I have devoted half of my life for communism.
Today, I am sad to say that The Communist Party only spreads propaganda and deceives..
Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng: “cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”.

  1. Phản tuyên truyền

Phản tuyên truyền là căn cứ vào những lời tuyên truyền của địch về những chương trình, những chủ trương sẽ đem ra thi hành, từ đó, diễn dịch, phân tích mặt sai trái, tiêu cực, tác hại… mục đích cản trở, phá hỏng kế hoạch của đối phương.

Chiến tranh tâm lý được thực hiện trên mọi lãnh vực của xã hội. Hiện nay, Internet và điện thoại vệ tinh là phương tiện được xử dụng hữu hiệu nhất.

  1.  Quần chúng chiến

Quần chúng chiến là việc tranh thủ, vận động sự ủng hộ, hợp tác, tham gia của quần chúng nhân dân. Vai trò của quần chúng rất quan trọng trong Chiến Tranh VN, vì cuộc chiến khởi đầu bằng chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân, gốc của Mao Trạch Đông được HCM và Võ Nguyên Giáp đem áp dụng vào VN. Trong thời gian đầu, VC sống được là nhờ bám vào dân, ăn chực của dân ở nông thôn, nên lấy lòng dân bằng chủ trương cùng ăn, cùng ở, cùng làm song song với hành động khủng bố tàn nhẩn để trấn áp người dân, nhất là ở những vùng nông thôn hẻo lánh.

Vai trò của quần chúng rất quan trọng nên người thi hành công tác TLC phải hiểu biết rõ về tâm lý quần chúng. Trong chương trình chính huấn có những bài học về tâm lý quần chúng, tâm lý đám đông…

Tóm lại Lục Đại Chiến là những kinh nghiệm xương máu và đắng cay về Cộng Sản mà Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Dân Quốc, đã rút tỉa ra được sau khi thua trận, và sẵn sàng phổ biến lại cho đồng minh VNCH.

7*. Chương trình Chiêu hồi của Việt Nam Cộng Hòa

https://dongsongcu.files.wordpress.com/2021/11/fe432-ngodinhdiem-chieuhoi-danlambao.jpg

        

https://encrypted-tbn1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcT2yyspIlf-7KnjAFdTLjMtfPCXmzBL9D4Oe-41MGFreFIfQqi9aw
https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRTHuTSIoAnRg86OpFliSE-AYV9Obop_E_6m4_glYJvYYXpijPw
http://i40.tinypic.com/5whtv9.jpg

        

                                      Tung cánh chim tiềm về tổ ấm


Một thành tích của ngành CTCT là Chiêu Hồi. Chiêu hồi thuộc diện địch vận, được nâng lên tầm mức quốc gia. Chiêu hồi được thực hiện từ năm 1963, áp dụng kinh nghiệm của Philippines trong việc chiêu dụ Cộng Sản Hukbalahap, và kinh nghiệm của Sir Robert Thompson, thuộc quân đội Anh để bình định Malaysia.

Chương trình Chiêu Hồi kêu gọi những thành phần VC trong Mặt Trận Giải Phóng MN và CSBV trở về với chính nghĩa quốc gia. Từ năm 1963 cho đến ngày tàn cuộc chiến 1975, Chiêu hồi trải qua nhiều cơ cấu tổ chức khác nhau, kêu gọi được hơn 230,000 hồi chánh viên, buông súng trở về với “quốc gia”.

7.1. Tổ chức và thành quả

https://scontent-b-ord.xx.fbcdn.net/hphotos-xpa1/v/t1.0-9/s720x720/1457570_617360998323937_2073565883_n.jpg?oh=aac8b5e0fc52af47eeb327047657ced0&oe=5560ADEE
https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTql8CeqHjw-Bm1F7VvFOeML5cweRf39SDe8m4_DBr0nMJrECzicw

         

http://i40.tinypic.com/5jutjd.jpg


Ngày 17-4-1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Quyết định thành lập Chương trình Chiêu hồi, theo đề nghị của Cơ Quan Nghiên Cứu Việt-Mỹ và Viện Trợ Mỹ (USOM).

Ý kiến ban đầu do Sir Robert Thompson, chuyên viên Tâm Lý Chiến của cơ quan viện trợ Anh Quốc đề xướng.

Năm 1968, chương trình phát triển mạnh, kết quả tốt nên được nâng lên thành một Bộ trong chính phủ, Bộ Chiêu Hồi, mỗi tỉnh có một Ty Chiêu Hồi. Ngân sách Bộ Chiêu Hồi do viện trợ Mỹ đài thọ.

7.2. Hoạt động  

Bộ Chiêu Hồi (BCH) phối hợp với Bộ Quốc Phòng, Bộ Thông Tin, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, các quân binh chủng, cơ quan Thông Tin HK (JUSPAO), cơ quan viện trợ USOM, Cố Vấn Mỹ, Tổng Cục CTCT, Cục Trung Ương Tình Báo, Cục An Ninh QĐ, Tổng nha Cảnh Sát QG, Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật Bộ TTM, Chiến Dịch Phượng Hoàng, các đài phát thanh và truyền hình, đài Gươm Thiêng Ái Quốc, đài Mẹ Việt Nam và báo chí.

Bản nhạc “Ngày Về” của Hoàng Giác được dùng làm nhạc hiệu của các chương trình chiêu hồi.

Nhiều truyền đơn được phi cơ thả xuống các vùng VC, kể cả tờ Giấy Thông Hành có in hình quốc kỳ VNCH và của các quốc gia đồng minh. Quân đội Úc có truyền đơn riêng dùng trong các cuộc hành quân Tâm Lý Chiến, mang tên “Xuân Đoàn Tụ” kêu gọi hồi chánh.

Ngày 18-2-1973, Bưu Điện phối hợp với BCH phát hành con tem 10$ để kỷ niệm người hồi chánh thứ 200,000.

https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTVcHtbO4ajTXkkrxfgCZg45KUlLBTrfXgj_hQA7njjWDHUqRbw
http://i41.tinypic.com/vmua91.jpg

                             

http://i43.tinypic.com/1z6xn3b.jpg


7.3. Chính sách Hồi Chánh

Giúp đở tái định cư, đoàn tụ gia đình, xử dụng tài năng tương xứng với công việc ở bên kia chiến tuyến.

Thiếu Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng Bộ Thông Tin Chiêu Hồi ký tên tờ Cam Kết ghi rõ như sau:

  1. Đối xử đúng đắn
  2. Hưởng quyền công dân
  3. Chăm sóc thuốc men tại Trung tâm Chiêu Hồi
  4. Đoàn tụ gia đình
  5. 30$ tiền ăn cho mỗi hồi chánh viên, vợ và mỗi con lớn. Con nhỏ 15$ mỗi ngày.
  6. Hàng tháng 200$ tiền tiêu vặt. 100$ cho mỗi người trong gia đình cư trú tại TT/CH
  7. Tiền thưởng về vũ khí mang về từ 500$ đến 75,000$
  8. Hai bộ quần áo mới hoặc 1,000$
  9. Tiền hoàn hương cho gia đình 1,000$
  10. Giúp đỡ kiếm công ăn việc làm
  11. Những hồi chánh viên định cư trong các Ấp Chiêu Hồi được cấp xi măng, mái và 1,000$ tiền mặt để xây nhà, 2,000$ sắm vật dụng trong nhà và 6 tháng gạo.

Ghi chú: Một đô la Mỹ năm 1963 bằng 35$ VN. Những năm 1970, giá khoảng 200VNĐ

7.4. Những nhân vật hồi chánh

  1. Thượng tá Tám Hà, Trần Văn Đắc, Chính ủy sư đoàn 5
  2. Thượng tá Huỳnh Cự
  3. Trung tá Phan Văn Xướng
  4. Bác sĩ Đặng Văn Tân
  5. Nhà văn Xuân Vũ, Bùi Quang Triết
  6. Nhạc sĩ Phan Thế
  7. Diễn viên Cao Huynh
  8. Mai Văn Sổ (Em song sinh với Mai Văn Bộ)
  9. Bùi Công Tương, Ủy viên Tuyên huấn tỉnh Bến Tre
  10. Ca sĩ Đoàn Chính (Con của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn) và nhạc sĩ Bùi Thiện.
https://scontent-b-ord.xx.fbcdn.net/hphotos-xpa1/v/t1.0-9/s720x720/1488791_617370084989695_227644755_n.jpg?oh=82d282e745711929f5872e77e940aa9c&oe=5561FFF9
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/142541-VHNT-XuanVu.400.jpg


Thượng tá Tám Hà (Trần Văn Đắc), chính ủy sư đoàn 5, hồi chánh ở Bình Dương năm 1970. Ông làm việc tại TC/CTCT và toà Đại sứ Mỹ. HK bốc sang Mỹ năm 1975.

Thượng tá Phan Văn Xướng và binh đoàn Cửu Long hồi chánh tập thể ở Đồng Ông Cộ, cách toà hành chánh Gia Định 3 km, khu vực Ngã tư Hàng Xanh, trong cuộc tấn công đợt hai hồi năm Mậu Thân 1968. Ngoài trung tá Xướng ra, còn có 2 ca sĩ nổi tiếng là Đoàn Chính và Bùi Thiện.

Ông Phan Văn Xuớng được Bộ Chiêu Hồi bổ nhiệm vào chức tham nghị với lương bổng và phụ cấp của một giám đốc. Đoàn Chính và Bùi Thiện được tiếp tục hát ở các đài phát thanh và truyền hình.

Trung tá Lê Xuân Chuyên thuộc quân đội chính quy Bắc Việt, hồi chánh năm 1967 tại Bình Tuy. Ông giúp Bộ CH khai sinh các Đội Võ Trang Tuyên Truyền, được cử giữ chức vụ ngang hàng với một Tổng giám đốc, kiêm Chỉ huy trưởng Võ Trang Tuyên Truyền Trung Ương.

Trung tá Huỳnh Cự, hồi chánh ở Quảng Ngãi, được cử giữ chức Tham nghị, tương đương với một giám đốc, Trường đoàn Thuyết Trình Trung Ương.

Ông Bùi Công Tương, hồi chánh ở Kiến Hòa năm 1970, ông giúp BCH hoàn thành cuốn Bạch Thư tố cáo tội ác của VC. Ông cung cấp những hình ảnh mà VC Bến Tre đã ngụy tạo ra cảnh cán bộ CS đóng vai linh mục trong thánh lễ, dàn dựng ra cảnh binh sĩ VNCH đánh đập phụ nữ, cầm đuốc đốt nhà trước vẻ mặt căm giận của một cụ già. Những hình ảnh ngụy tạo đó được VC phổ biến và báo chí phản chiến Tây phương chụp lấy để đánh phá VNCH.

7.5.  Câu chuyên chiêu hồi

Vào buổi sáng cuối tuần tháng 5 năm 1967, tiểu khu Phước Tuy nhận được tin VC đào đường, đấp mô trên quốc lộ 15. Theo thông lệ, Trung tá tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Lê Đức Đạt, cử Đ/U Dung, phó tỉnh trưởng nội an và Đ/U Hiệp, chỉ huy BĐQ, đi mở đường tái lập giao thông.

Khoảng 1 giờ trưa, một cán binh VC hớt hải chạy ra hồi chánh và yêu cầu đuợc gặp Trung tá tỉnh trưởng gấp để báo tin 2 sư đoàn VC là công trường 5 và công trường 7 đã tập kết ở núi Thị Vải, với kế hoạch tấn công đơn vị dọn đường trên đường về, và đánh vào tỉnh lỵ.

Một kế hoạch hành quân được nhanh chóng thực hiện, với sự tham gia của cố vấn Mỹ. Lịnh báo động toàn tỉnh Phước Tuy được ban hành.

Mở màn trận đánh. Được các phi cơ quan sát hướng dẫn, những chiếc F-4 và F-105 ném các loại bom một cách chính xác vào đội hình của VC. Trực thăng, pháo binh luân phiên nhau tấn công vào các mục tiêu đã xác định. Chiều tối, B-52 trãi thảm vào đám tàn quân.

Sự xuất hiện đúng lúc của người hồi chánh viên đã tiêu hủy phần lớn sinh lực của 2 sư đoàn 5 và 7 của VC.

Các hồi chánh viên chống cộng một cách tích cực và dũng cảm, vì các anh đã vạch rõ bộ mặt ghê tởm của CS, nên chúng xem các anh là kẻ thù, vì thế, cuộc chiến của các anh không có chỗ lùi. Các anh chỉ biết tiến tới, hoặc chiến thắng, hoặc chết, chết theo quân dân và đất nước VNCH.

8* Kết luận

Chế độ Cộng Sản đã nâng cao các hình thức tuyên truyền lên tầm mức quốc gia, đó là chế độ giáo dục nhồi sọ con người từ lúc mới sanh cho đến chết. Ở nhà trẻ nghe cái điệp khúc “hôm qua em mơ gặp bác Hồ”. Về già, công nhân viên chức cũng phải học tập theo gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Trước tiên bức màn sắt, bức màn tre buông xuống để cô lập nhân dân với thế giới bên ngoài. Bưng bít thông tin để cho bọn văn nô, bồi bút tha hồ bịa chuyện thần thánh hoá lãnh tụ. Những tên đồ tể, tay đẫm máu đồng bào của mình như Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Kim Chánh Nhật, kim chi, Fidel Castro và Hồ Chí Minh đều trở nên thần thánh cả.

Ở Việt Nam, thế hệ thanh niên bị nhồi sọ chỉ biết “cầm gươm ôm súng xông tới” “sanh Bắc Tử Nam”. Đến khi mọi dối trá được phơi bày ra ánh sáng thì tất cả đều bật ngữa, nhưng để bảo vệ miếng cơm manh áo, che dấu những sai làm, mù quáng của bản thân nên ngậm đắng nuốt cay âm thầm chịu đựng.

Tay tổ Cộng Sản là Mikhail Gorbachev thú nhận: “Hôm nay tôi đau buồn mà thú nhận rằng: Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”   

Cộng sản đã làm cho người dân trở thành gian dối. Angela Merkel (Thủ Tướng Đức)
Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa làm nổi bật chính nghĩa sáng ngời của người dân miền Nam là “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” để bảo vệ dân chủ, tự do cho đồng bào và Tổ quốc Việt Nam.

Trúc Giang

Minnesota ngày 28-10-2021

Nguồn: https://vietbao.com/p302901a310025/nganh-chien-tranh-chinh-tri-viet-nam-cong-hoa-va-chuong-trinh-da-lan

Kế hoạch đánh cầu ĐAKTO – Phượng hoàng nâu

Phượng hoàng nâu.

Phi vụ trả đũa Phan Rang – Tạ Thượng Tứ – dòng sông cũ

Tôi xin trình bày rỏ ràng hơn về kế hoạch đánh cầu Đakto và giải thích lý do tại sao đã giao nhiệm vụ này cho phi đoàn 524 mà lại có sự thay đổi vào gìờ chót để cho phi đoàn 548 do thiếu tá T. V. XƯƠNG phi tuần 41 thi hành.
Những anh em trong đơn vị KD92CT, khi có những phi vụ quan trọng đều được tôi trình bày rỏ mục tiêu và đòi hỏi sự góp ý của tất cả anh em để họ hiểu rỏ nhiệm vụ phải thi hành và cùng chịu trách nhiệm chung trong sự thành công của công tác giao phó.
Cầu Dakto trên quốc lộ 14, đường tiếp vận chính yếu của quân chính quy CSBV trong vùng 2 lảnh thổ VNCH cần phải chặc đứt bằng mọi gíá đó là lệnh của quân đoàn 2 cho KD92CT, tôi xin cho tôi một thời gian để đặc kế hoạch thi hành.
Tôi cho chụp hình không ảnh và chỉ thị cho phòng quân báo thu thập tin tức quân báo về quân địch bảo vệ chiếc cầu.
Nhìn vào không ảnh, chiếc cầu khá cao, có hai nhịp cầu bắt qua dòng sông nước chảy về thị trấn kon tum ở vào vị thế rất hiểm trở trong thung lủng, phiá bắc và phiá đông nam có đồi núi thấp.Muốn chặc cầu này phải đốn sập chân cầu ở giửa dòng sông hay hai đầu cầu bên bờ sông và phải xử dung bom 500 lb mới đẩy điểm tựa ra khỏi sàn cầu.
Quân báo cho biết có hai trung đoàn phòng không nặng, trang bị đai bác 37 ly tầm xa, đạn nổ trên không lên đến 18-20 ngàn bộ, có khả năng xử dụng SA-7 nhưng không có rada hướng dẩn.
Vì là mục tiêu cố định, nên đơn vị phòng không đã điều nghiên các trục tấn công chiếc cầu và phối trí súng bắn chéo đang lưới để bảo vệ chiếc cầu.
Để phối kiểm tin tức, đích thân tôi đi bay môt phi tuần nhẹ, hai chiếc với T/tá T.T. TỨ đến mục tiêu trên chiếc cầu để dò xét phản ứng quân địch, vừa thoáng thấy bóng dáng chúng tôi trên vòm trời, quân địch đã cho nổ súng cao xạ lên đến 20 ngàn bộ, lóm đóm những viên đạn nổ chung quanh phi cơ như pháo bông ngày lể hội nhưng chỉ là nhửng cụm khói đen không có màu.
Sau khi có đủ dử kiện, tôi đã tập họp tất cả các anh em phi đoàn Thiên Lôi (524), phi đoàn Kim Ngưu( 534)và phi đoàn Ó Den(548) gần hai trăm người về phòng họp không đoàn 92 chiến thuật để thuyết trình nhiệm vụ phải thi hành.
Sau phần thuyết trình đến phần thão luận, Tôi hỏi xem coi có anh em nào tình nguyện, thật là cãm động và hào hùng, tất cả mọi người trong phòng họp đều đồng loạt giơ tay đứng dậy, một hành động mà tới ngày hôm nay gần 32 năm sau tôi vẫn còn nhớ mãi và không hiểu tại sao với một tinh thần hy sinh như vậy mà chúng tôi bị bắt buộc phải buông súng ?
Tôi cãm động quá , nói không ra lời, tôi đã được sống với những chiến sỉ yêu nước sẳn sàng hy sinh tính mạng mệnh để bảo vệ non sông xứ sở của ông cha để lại.Tôi mời ba vị chỉ huy trưởng đến văn phòng tôi họp riêng và cho các anh em về phi đoàn.
Tôi cùng ba vị phi đoàn trưởng, Chúng tôi hội ý đưa ra những tiêu chuẩn Chọn lựa như sau:
Chọn những Anh em nào chưa có gia đình, nếu họ có hy sinh nào thì nhẹ trách nhiệm cuả họ đối với gia đình.
Chọn những Anh em nào có tay nghề cao, huấn luyện thực tập thả bom 500lb trên mục tiêu giả định cho thuần thục chính xác.
Đối với mục tiêu quan trọng là chiếc cầu, địch quân cố gắng bảo vệ cây cầu và cột xạ thũ vào chân súng để chống trả mãnh liệt (dual au soleil), chiến đấu hay là chết, không có chọn lựa. Chúng tôi suy luận rằng phải có lúc các chiến sĩ này phải được dưởng sức, ăn ngũ về ban đêm. Vì thế chúng tôi dự trù sẽ tấn kích vào lúc sáu (06:00 AM)gìơ sáng khi mặt trời vừa ló dạng để thấy rỏ chiếc cầu.

Thiên Lôi 524 – Chuyến Bay Cuối Cùng Phi Đoàn A-37 – dòng sông cũ


Phân công và thi hành:
Phi đoàn 524 Thiên Lôi, Tr/Tá CẢ trách nhiệm đề cử một phi tuần thả bom thấp, với loại bom rơi chậm trên mục tiêu đủ thời giờ cho phi cơ bay qua khỏi mục tiêu mới nổ, loại thả này rất nguy hiễm, “ôm bom tự sát” chỉ xử dụng vào giờ thứ hai mươi lăm (25) khi không còn phương tiện nào khác nhưng rất chính xác và rất dễ bị bắn rơi.Loại bom này có cánh đuôi xoè ra làm chậm tốc độ rơi. PĐ524 đã được huấn luyện kỹ thuật thả bom loại này.
Phi đoàn 548 Ó Den, Tr/Tá KHôI được chỉ định tuyển chọn cung cấp một phi tuần bốn phi cơ trang bị bom 500lbs, huấn luyện thực tập mục tiêu giã định cho hoa tiêu nâng phần thả bom chính xác trên 90%, sẽ xử dụng đánh đúng vào điểm tựa của chiếc cầu trong ngaỳ dự trù tấn công.Cho phép bốn hoa tiêu tuyển chọn được đi phép một tuần lễ để tưởng thưởng.
Phi đoàn 534 Kim Ngưu, Tr/Tá Thi đãm nhiệm việc chiến tranh tâm lý, mổi ngày gởi một phi tuần nhẹ hai phi cơ đến mục tiêu thả bom cao trên mục tiêu chọc cho quân địch bắn chống trã, không xuống thấp, địch quân sẽ bắn tốn đạn (chỉ khổ cho binh sĩ khuân vác tiếp liệu trên đường mòn HCM)và phải lau chùi súng nên dần dần sẽ lơ là và khinh địch thủ, bọn giặc lái sợ chết không giám xuống thấp tấn công.Quả thật bọn lính CSBV, không còn bắn hung hăng nữa khi gần đến ngày giờ quyết định (TOT)
Không đoàn 92 chiến thuật, phối họp với các phi đoàn hướng dẩn một không đoàn gồm bốn mươi phi cơ trang bị CBU (cluster bom units)đánh trên trang trại, kéo dài thời gian áp lực đễ các xạ thũ địch quân không ngóc đầu lên được, đễ cho phi hành đoàn Ó đen 41 bay vào dức điểm cây cầu.
Sau ba tuần lể chuẩn bị chúng tôi sẵn sàng thi hành nhiệm vụ.
Định ngày tấn công:
Để hoàn toàn bão mật (*) Chúng tôi liên lạc với quân đoàn 2 và đài kiểm báo Pleiku xin phi vụ đánh BOBS ở phiá bắc Dakto, không đá động gì đến đánh cầu, dự trù vào ngày (X) và TOT vào lúc 05:00 AM.
Chúng tôi cất cánh từ phi trường Phan Rang vào lúc 04:45 AM gồm bốn mươi phi cơ, theo sau phi tuần Ó Đen 41 do
1/ T/Tá XƯƠNG,Ó DEN 41
2/Tr/uy Minh, Ó ĐEN 42
3/ Tr/uy Tống, Ó ĐEN 43 và
4/Tr/uý Hoá , Ó ĐEN 44
Phi cơ của Thiên lôi ( T/Tá CƯỦ ) trang bị bom rơi chậm cất cánh vào đêm hôm trước đáp tại Phù Cát đễ dự phòng nếu phi tuần Ó Đen 41 không đánh sập cây cầu thì sẽ điều đông thi hành.(giờ thứ 25).
Trên đường đến mục tiêu theo sự hhướng dẩn của đài BOBS Pleiku, khi đến gần mục tiêu Tôi gọi đài BOBS xin chấm dức phi vụ BOBS và đổi hướng tiến thẳng đến mục tiêu chiếc cầu, chúng tôi tách ra từng phi tuần bốn phi cơ, từng chiếc nhào xuống tấn công vào doanh trại ở hai bên đầu cầu. Tôi gọi máy báo cho Ó ĐEN 41 tiến vào mục tiêu, đống thời báo cho biết phòng không không đáng ngại, chỉ có súng cá nhân và vài vệt sáng có lẻ SA-7 tuy nhiên chúng tôi quẹo gắt tránh né rất dễ dàng. Quân địch bị quá bất ngờ vào lúc quá sáng sớm còn nằm ngũ, không kịp cột những xạ thũ vào chân súng đại bác 37 ly tầm xa nên không có phãn ứng gì với loại súng này vã lại bị áp lực bom của 40 chiếc phi cơ tiếp tục tấn công không ngừng nghĩ, nên không di chuyển được cũng như phãn ứng chống trã rất yếu.
Ó ĐEN 41 tiến vào đánh bom, 41 in and out.
Ó ĐEN 42, 42 in and out
Ó DEN 43, in and sập cầu
Ó ĐEN 44 salvo and out, lên cao độ tập họp lấy hướng 150 độ bay về Phan Rang.
Nhiệm vụ hoàn tất, tôi gọi đài kiểm báo Pleiku báo cáo cầu đã bị chặc đứt, và nhờ chuyễn lệnh cho Thiên Lôi đang chờ lệnh tại sân bay Phù Cát, tháo gở bom rơi chậm xuống, chở phó nhòm lên vùng mục tiêu để chụp ẳnh chiếc cầu sập và bay cẫn thận không được xuống qúa thấp.
Tất cả các phi cơ về đáp tại Phan Rang an toàn không bị một thiệt hai nào
Phi vụ hoàn tất mỹ mãn, do sự đóng góp của mọi người đã biết rỏ phần nhiệm của minh thi hành trách vụ chu đáo và kỹ luật an phi chặc chẽ.
Chúng tôi cùng nhau kéo lên hội quán sĩ quan, thưởng thức tô cháo gà do đầu bếp LÝ TỐNG đã cho nhà bếp nấu từ tối hôm qua, tô cháo thơm ngon, tôi vẫn còn thèm cho tới ngày hôm nay.

Phượng hoàng nâu.
(*)Năm 1965, lúc ở Biên Hòa khi tôi CHT LĐ23TC, Cố vấn của tôi ngoại giao với phái đoàn huấn luyện hải quân hoa kỳ tại BH, gởi tôi đi thực tập OJT( on the job trainning)trên hàng không mẫu hạm KITY HAWK đang hoạt động thả bom HÀNỘI, mổi ngày tôi theo vị operation officer lên bong tàu đứng đàng sau tấm chắn bằng sắt, tay cầm ống nhòm để theo dỏi phi cơ lên xuống đáp.và phất cờ làm hiệu cho đáp hay wave off.
Hàng Không mẫu hạm chạy vòng tròn rất lớn liên tục ngày đêm, hai bên có tàu bảo vệ và đàng trước, đàng sau đều có tàu phóng hỏa tiễn. đặc biệt phía ngoài vòng tròn lớn này còn có hai tàu đánh cá treo cờ nước NGA(USSR) cứ chạy theo vòng vòng, đưa ống nhóm nhìn về phiá chiếc tàu này không thấy lưới đánh cá mà chỉ thấy toàn là antenna loài đăc biệt. tôi thắc mắc hỏi vị operation officer, ông ta bảo đó là tàu gián điệp cho HÀNỘI, mổi khi phi cơ cất cánh đi thả bom Hànội, thì nó thông báo cho Hànội biết để chống trả ?Vì ở hãỉ phận quốc tế nên rất hợp pháp.

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1191218951&first=1680&last=1739

Chuyện Mũ Xanh… Quanh Bàn Tròn – Tô Văn Cấp

Tô Văn Cấp/TĐ2/TQLC

Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến QLVNCH – dòng sông cũ
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến QLVNCH – dòng sông cũ

Quanh bàn tròn bên bình trà và ly café, những người bạn cùng khóa nhưng khác đơn vị, đủ mọi binh chủng ngồi ôn lại chuyện đơn vị cũ chiến trường xưa, chuyện trên trời dưới đất, kể về đơn vị mình, nói về đơn vị bạn, vì cùng khóa nên họ mạnh miệng chửi thề và khen chê. Những chuyện họ đề cập tới TQLC có điều tôi không biết, có chỗ đúng và không đúng. Dù đúng hay không, hãnh diện hay vui buồn thì họ đã nói ra rồi và nhiều đơn vị bạn nghe, nhưng TQLC chỉ có mình tôi! Để chia xẻ cùng quý huynh đệ, nay tôi xin ghi lại gần như trung thực câu chuyện lộn xộn đầu đuôi, kể cả phần đối thoại ngôn ngữ đường phố với mục đích “vo tròn” mà không hề bóp méo hay phê bình quá khứ của bất cứ quý huynh đệ nào.

Anh em con cháu gia đình tôi có 7 người mặc quân phục TQLC thì 4 đã hy sinh tại mặt trận (2 mất xác), thêm 2 chết vì vết thương cũ, còn lại một tên tuy được phân loại giải ngũ nhưng xin ở lại với Mũ Xanh thì máu của tôi là máu TQLC, luôn tôn trọng quý huynh đệ mặc dù đôi khi bất đồng quan điểm nhưng cùng bảo vệ danh dự áo rằn, không vì cá nhân. Phải xác định như thế để huynh đệ nào không hài lòng khi đọc bài viết này thì tôi thật sự xin lỗi. Xin mời:

Chàng khai súng đầu tiên là Nguyễn M.., vì bị dính bom napal trên chiến trường nên có tục danh là M-Cháy, làm phòng Thanh Tra/TTM, chàng nói về những lần đến thăm các đơn vị thì được tiếp đãi thế nào, có những điều mà đơn vị bị thanh tra đã vi phạm thì được giảm nhẹ hay bỏ qua, nếu nhân viên phát giác làm biên bản thì trưởng phái đoàn bảo “bỏ đi”. Bánh ích đi thì bánh quy lại. Bất chợt tên M-Cháy chỉ mặt tôi nói:
– “Mẹ, nhưng mỗi lần đi thanh tra tụi TQLC của mày thì chán bỏ mẹ, xếp của tụi mày mặc áo thung xanh mang hình con ó trước ngực, đón phái đoàn xong, không café cafao gì cả, lão chỉ sơ qua những vị trí và cơ sở nào mà phái đoàn cần thanh tra xong rồi lão bỏ đi ngay. Chán!”
Sau tiếng “chán”, hắn hớp một miếng café xong thì kêu “đắng quá”,  tôi bảo đắng thì thêm đường vào, nó lườm tôi chửi:
– “Mẹ, đắng là TQLC mày cho tụi thanh tra tao ăn quả đắng, moi móc tới trưa mà không thấy cái lỗ nào để ghi biên bản, mà cũng chả ma nào đến mời tụi tao đi ăn cơm. Cứ tưởng như những nơi khác nên tụi tao đâu có mang .., đi thanh tra mà mang bánh mì theo thì Tây đen nó cười cho. Vì thế, sau này mỗi lần được lệnh đi thanh tra TQLC thì chẳng thằng nào muốn đi, nếu bị bắt phải đi thì không quên trong cặc-táp có chai nước và ổ bánh mì! Chán”.
Chàng Bộ Binh (BB) sửa lưng và dạy đời thằng thanh tra (TT):
– “Tại tụi TT mày làm biếng, phải bói ra ma quyét nhà ra rác chứ”.
– TT: “Mày đ. biết gì hết, rác ở đâu ra? Những gì TTM cung cấp cho họ thì còn đầy đủ, vì mọi thứ cần thiết đã có USMC của Mỹ lo cho đầy đủ rồi. Cái kho của họ ở TTHL Rừng Cấm không thua gì kho Long Bình đâu, tháng 3/75, tụi BB mày hết đạn PB chứ kho đạn của TQLC ở Thuận An còn đầy”
– “Nhưng tụi nó đói dài dài”.
Thằng BĐQ Trần S.., tục danh S-Sẹo..xen vào, cười hề hề rồi tiếp:
-“ Tụi nó có bằng TQLC nhưng không được xu-teng nào, còn BĐQ tụi tao được 3 trăm, cho đến khi tụi nó được 3 trăm thì tụi tao lên 6 trăm, còn Dù của thằng Tri-Cháy thì cao hơn nữa, khà khà, đáng đời thằng Vanto”.
Sự thật có thể là như thế, tuy không biết lý đo tại sao, không thẩm quyền nào giải thích, nhưng bị chọoc quê, Vanto tôi phang lại, nổ tối đa:
– “TQLC tụi ông sống hùng sống mạnh, không thích đi xe, chỉ thích đi bộ, chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm, đếch cần tiền ..”.
Tôi chưa nổ hết kho đạn thì cả bọn vỗ bàn cười văng nước bọt, thằng ND Nguyễn Tri.., tục danh Tri-Cháy vốn hiền lành ma mãnh chế thêm dầu:
– “Tao ND, thằng Vanto TQLC, hai thằng Tổng Trừ Bị đánh đấm như nhau, lương căn bản như nhau, nhưng phụ cấp khác nhau, tiền bằng Dù của tao đủ bao tụi bay một chầu từ A tới Y, còn thằng cu C.. này thì cho tụi  mày ly café không đường. Thằng này nghèo là đương nhiên, ngay cả đến thằng Hợp làm tiểu đoàn trưởng cũng mang họ Mùng tên Tơi. Thỉnh thoảng gặp nhau ngoài Huế, mấy tên TĐT đơn vị khác tiêu tiền như nước, còn thằng Hợp thì chỉ “cười trừ”.
TQLC bị chê là con nhà nghèo, tôi toan tố lại rằng giầu vì tham nhũng nhưng có thể “bức mây động rừng”, gây cãi lộn nên tôi đá nhẹ:
– Có lính ma đâu mà giàu!
Thực tế là vậy, tiếp xúc nhiều với với các cấp trưởng đơn vị bạn, nhất là quận trưởng tôi mới thấy họ khá, không dám nói là giầu, khá do đâu mà có ắt không cần giải thích, do đó khi TQLC bị chê là nghèo tôi lại cảm thấy hãnh diện. Dù chỉ là ĐĐT, nhưng nhìn tổng quát, cách sống của các TĐT/TQLC trở lên thì quả thật đại đa số các anh sống thanh bạch, là sạch, là thanh liêm, vì sống chết với thuộc cấp, cùng nằm gai nếm mật đắng đã tạo cho họ đức tính đó. TĐT nghèo thì nghèo theo dây chuyền, lấy đâu ra mà “triều cống” như  “ở những nơi dễ tìm thấy vàng” (mượn tựa đề truyện của HVP). Với các TĐT khác sạch tới đâu thì tôi không biết, nhưng có hai người tôi rõ là anh Nguyễn Xuân Phúc và Trần Văn Hợp.

Lữ Đoàn 468 Thủy Quân Lục Chiến Cọp Biển: Trận Cuối Cùng 1975 – biển xưa

Anh Phúc từng làm TĐT/TĐYT, TĐT/TĐ.2 rồi LĐT vậy mà chỉ có hàm răng và đôi dép, dù ghét hay thương thì ai cũng phải công nhận điều đó. Còn học trò của anh là Trần Văn Hợp, cũng cũng theo gương ông thầy.
Hợp ở cùng trại gia binh Cửu Long Thị Nghè với tôi, đi tù chung với tôi, ngày tôi ra tù thì Hợp nằm lại xó rừng nào đó ở Hoàng Liên Sơn! Chị Hợp bán chè bán xôi nuôi 3 con nhỏ, khi vào Chợ Lớn mua đậu đường thì chị thường gửi con trai út là “cu Méng” ở nhà tôi, vậy mà có người nói chị giả đò. Trong bài viết “Vui Buồn Với Trâu Điên Trưởng” tôi đã ghi lại về Hợp như thế này:
– “Thời gian 1973, tôi làm việc tại Phòng Ba (Hương Điền), mỗi lần các tiểu đoàn trưởng về họp tại BTL/SĐ thì Hợp đều ghé Phòng Ba tìm tôi, nhưng im lặng đưa tay cho tôi bắt, và tôi đã bắt trong lòng bàn tay nó một ít tiền lẻ đủ vài chầu cơm hàng cháo chợ của quán mụ Luyến bên bờ Phá Tam Giang. Có lúc tôi giả bộ chê “sao mày rách thế” thì hắn chỉ mỉm cười”.
Năm 1973, khi Bác Sĩ Vương Gia Nhơn* về TĐ.2, Trần Văn Hợp mời Nhơn và TĐP Trần Quang Duật cùng dùng bữa chung cho vui thì chỉ vài ngày sau, Nhơn chịu hết nổi nên nói với TQD:
– “Ông TĐT này ăn chay quá, moa chịu hết nổi rồi, toa nói với ổng xin cho moa chuồn”.(*VGN đã tử nạn trên đường vượt biển)

Cũng có tiếng xì xầm ông A, ông B “tham nhũng”, nhưng chỉ là tin đồn, một người vẽ ra rồi có người vốn không vui với đối tượng A, B thì thổi phồng không căn cứ. Hoặc giả nếu có thì cũng chút đỉnh trong một giới hạn nào đó mà thôi, tham nhũng khó có đất sống ở TQLC.
Tôi xin đưa ra một thí dụ cụ thể, khi tôi là “sĩ quan phòng thủ*” căn cứ ST (*CHP là do anh em gọi, chứ văn thư bổ nhiệm chỉ là SQPT), tại cổng CC có 2 hệ thống kiểm soát là QC và AN, xe ra vào đều được 2 hệ thống này kiểm soát, vài cuộn kẽm gai, ít cọc sắt của bất cứ đơn vị nào nằm trong căn cứ vừa ra cổng, BCH/CC chưa hay thì ông cụ Lê Thánh Tôn đã biết rồi, những vị CHT như Trần Ngọc Toàn, Lê Bá Bình, Nguyễn Năng Bảo, Nguyễn Đức Ân biết rõ điều đó. Trong thời gian tôi xử lý thay CHT Trần Ngọc Toàn đi học Mỹ, ông bàn giao cho tôi bồn dầu ngoài sổ sách, có nghĩa là free để “ngoại giao”, nhưng tôi lại bàn giao cho anh Lê Bá Bình, và cuối cùng thỉ bồn dầu bị pháo kích, cả trăm ngàn lít chảy xuống giao thông hào. Hơi tiếc, cũng xong, không ai bị khiển trách vì tham nhũng.
Chị L.. một bạn học thời tiểu học Kiến An, cùng chị T.. đều là hai “phu nhân” vào BCH gặp tôi và đề nghị tặng một “tê” để cho hai chị “quét rác”, tức moi những xúc gỗ và tôn cong mà Mỹ làm hầm trú ẩn quanh sân bay, lậu ngày đang bị mục. Ối giời ôi! Quá đã, vốn là dân gốc “rau đay” nên khi nghe một “tê’ là tay tôi tê đi, tai ù, mắt hoa, nhưng tôi quyết định thưa: “Em lạy hai chị, tha cho em”.

Hồi tết Mậu Thân 1968, đại đội 1/TĐ.2 của tôi vừa đến thay thế cho đại đội đơn vị bạn tại ciment Hà Tiên để giữ an ninh trục xa lộ Biên Hòa thì có mấy tên tài xế chở hàng Mỹ đến điều đình cùng cộng tác “đổ hàng**”, một chuyến “đổ hàng” bằng ba năm lương lính, nghe ngon ăn quá nhưng tôi nhát và nhác nên lắc đầu, người làm chứng cho tôi vụ này là các trung đội trưởng còn đây. Đơn vị đến thay tôi thì .. của “trời ơi” tội gì không kiếm tiền nhậu, nhưng rượu chưa vào tới dạ dày thì dính ngạnh và vài chàng đi tu huyền. Tham nhũng khó sống và không có đất sống ở Binh Chủng TQLC là như thế.
Đang mơ màng nhớ lại thời “vàng son” thì tên Tri-Cháy tố thêm:
– Chưa hết đâu, hồi cùng trấn ải biên cương, tụi tao cứ 3 tháng là đi phép 7 ngày, đây là quyền lợi của lính mà, tao nhắc tụi bay biết, phép là quyền lợi chứ không phải đặc ân của trên ban xuống, còn TQLC mày đi phép thế nào?”
– Mỗi tháng được 4 ngày, gom 3 tháng lại đi một lần là 12 ngày.
– Lịch sự thì tao hỏi vậy thôi chứ tao biết, đừng nói phét. Hồi tao và mày cùng ở QT, tao gặp mày ở phi trường Phú Bài, tao đi 7 ngày, còn mày có 4, lần sau tao đi 7 ngày nữa thì gặp mày chèo ghe trên sông Hương, tức là mày vẫn “nhớ nhà châm điếu thuốc, xuống đò tìm mưa mây”. Nổ vừa thôi.
Biết nói sao bây giờ, thôi thì đành nổ cho xướng miệng, tìm cái ảo thay cho cái thật, mà cũng chẳng hiểu tại sao nó lại như thế, chuyện phép tắc này MX nào cũng biết, cũng thắc mắc với nhau mà vô phương giải đáp. Thôi thì thi hành trước và khiếu nại chẳng bao giờ xảy ra. Không hiều quyền hạn của tiểu đoàn, lữ đoàn tới đâu mà chỉ có 4 ngày phép cho thuộc cấp thôi mà cũng phải làm phiếu trình về BTL? Chỉ 4 ngày phép thì đã mất 2 ngày đi đường còn lại 2 ngày thì làm gì nhỉ? Hèn gì ông nhạc sĩ nói “đêm về, nghe con khóc vui triền miên”! Thực ra thâm ý ông ấy muốn nói là chỉ có 2 ngày phép thôi nên vợ chồng vui triền miên, mặc cho con khóc.(?) Đang nghĩ về niềm vui triền miên thì Tri-Cháy móc thêm:
– Phép tắc là quyền lợi, không phải đặc ân, nhưng chuyện đặc ân, ND tao cũng hơn. Tụi mày thử đếm xem có bao nhiêu quận trưởng, tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng*, tư lệnh sư đoàn*, tư lệnh quân đoàn* xuất thân từ ND? Còn bên TQLC thì sao? (* trgđt, tlsđ, tlqđ là những danh từ chung không cần viết hoa).
Tôi không trả lời được vì không biết đã có bao nhiêu MX đi làm quận trưởng, tỉnh trưởng và đơn vị trưởng bên BB. Tên ND Đặng Kim Thu, có tục danh là Thu-Đen, tùy viên của Đại Tướng Cao Văn Viên xen vào:
– Chuyện này tao biết, vì lúc nào cũng phải ở gần ông Thầy nên tao nghe và tao thấy nhiều chuyện “vui” lắm, nhưng từ xưa đến nay tao chưa hề hé môi.
– Tại sao? Tại Sao? Cả bọn nhao nhao hỏi, vì Thu-Đen là kho tài liệu.
– Thu-Đen: Tụi mày muốn nghe thì từ từ. Thứ nhất những tên nào làm tùy viên thì phải chấp nhận “đui, câm, điếc”. Thứ hai, tao định cung cấp hồ sơ vụ buôn lậu còi hụ Long An* cho thằng Vanto để nó viết bài nên tao hỏi ý kiến ông Thầy tao (tức Tướng CVV) thì ổng bảo quên nó đi hoặc muốn kể lại thì chờ khi nào ổng “đi” đã. Nay ổng đi rồi, tao đã kể cho thằng Vanto nghe vụ Long An*, còn vụ ND và TQLC xuất Binh Chủng là ý kiến của ông thầy tao. Nhân dịp kỷ niệm 19/6/1970, Đại Tướng cho mở tiếp tân trong bộ TTM để họp mặt một số tướng lãnh, tiệc chỉ có bánh và “xâm-banh”, mỗi người tự lấy và đi tới lui nói chuyện vãn nên các tùy viên cũng được thoải mái kế bên các ông thầy. Đại Tướng đứng nói chuyện với Tướng Dư Quốc Đống ND và Tướng Lê Nguyên Khang TQLC, tao cùng tùy viên của Tướng Khang là Lương Xuân Đương đứng sát đó thì nghe Tướng Viên nói thế này:
–  “ND và TQLC nên cho những anh em sĩ quan đã chiến đấu lâu trong binh chủng ra ngoài để họ rộng đường tiến thân và phổ biến kinh nghiệm chiến đấu đến các đơn vị địa phương”.
Nghe xong, Tướng Đống gật đầu, nhưng Tướng Khang trả lời:
–  “Binh Chủng tôi còn mới, nếu đưa sĩ quan nồng cốt đi, mấy đứa nhỏ chưa đủ bản lãnh thì TQLC sẽ yếu, làm sao là tổng trừ bị được”.
Thu-Đen kể tiếp:
– “Khi Đại Tá Nguyễn Khoa Nam từ ND được về làm TL/SĐ.7/BB thì ông Nam gặp Tướng Viên xin đích danh 3 người, đó là anh ND Trần Văn Mạnh về làm phòng 3/SĐ, anh BĐQ Nguyễn Văn Huy (K16) và anh TQLC Nguyễn Xuân Phúc (K16) về làm trung đoàn trưởng. Sau đó thì chỉ có anh Mạnh và anh Huy về SĐ.7, và về sau nữa thì anh Huy làm tỉnh trưởng Kiến Tường. Riêng anh Phúc, tao không biết anh ấy không muốn đi hay TQLC giữ lại.”.

Chuyện ông Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam đã chọn “tài tử” từ 3 binh chủng về với ông thì còn gì bẳng nữa? ND Trần Văn Mạnh tôi không biết, nhưng BĐQ Nguyễn Văn Huy thì tôi có dịp tiếp xúc nhiều trong dịp tết Mậu Thân 1968. Khi đại đội (-) đóng tại đài phát thanh Phan Đình Phùng, anh Huy thấy tôi nằm võng dưới gốc cây nên Th/Tá BĐQ mời Đ/Úy TQLC vào nhà, có phòng riêng đầy đủ tiện nghi, nhưng tôi cám ơn, chỉ xin ngủ nhờ ngoài hàng hiên cùng anh em. Còn anh Phúc thì tôi là học trò của anh nên suy từ bản thân*, tôi nghĩ anh Phúc sẽ không đi đâu cả mà sẽ sống chết với TQLC, và đã đúng như thế.
(* “suy từ bản thân”, xin cho tôi khoe hay nổ một chút chỗ này. Bị thương gẫy chân tay, trào máu họng, sau gần 2 năm nằm BV, tôi được phân loại giải ngũ, nhưng tôi đã gặp anh Phúc trình với Lạng Sơn cho tôi ở lại Binh Chủng. Tôi nhớ mãi lời của Lạng Sơn với anh Phúc và tôi tại BCH/TĐYT: “Thì cứ nghỉ bệnh đi, sau này muốn làm ở đâu thì nói”. Và tôi đã ở lại, vì thế tôi đã thất hứa với anh Mạnh, anh trai của Huỳnh Văn Phú khi anh ấy đã xin cho tôi được vào làm hãng săng Shell ở Nhà Bè SG với lương cao gấp 3 lương đại úy lúc đó. Nhân tiện đây xin nhờ HVP cám ơn và xin lỗi anh Mạnh dùm tôi).

Tâm sự riêng của tôi về việc “xuất Binh Chủng” như thế này:
Không đơn vị trưởng nào muốn đơn vị mình yếu vì thiếu cấp chỉ huy có khả năng, nhất là binh chủng tổng trừ bị thì lại cần “phẩm”, cần sĩ quan có cấp bậc và khả năng tương xứng với quân số và thích hợp với mọi chiến trường. Không ngạc nhiên khi các “đơn vị bạn” (vì tế nhị nên tôi không nói rõ tên) một đại đội trưởng chỉ là thiếu úy, trong khi TQLC phải là đại úy hoặc trung úy thâm niên. Vì thế sự lựa chọn của các vị Tư Lệnh TQLC và SĐ.7/BB cũng là lẽ thường tình. Vả lại hầu như tất cả những ai đã tình nguyện về TQLC đều biết rõ, chấp nhận và hãnh diện điều đó. Tôi vẫn hãnh diện là một ĐĐT với cấp bậc Đ/U trong Binh Chủng TQLC.
Nhưng một khi số sĩ quan đã thặng dư, nhất là đối với các đương sự không có “chỗ đứng” thì tôi thiết nghĩ BTL cũng nên xét lại ý kiến của Tướng Cao Văn Viên, nhất cử lưỡng tiện, cho các đương sự rộng đường tiến thân, có chỗ trống cho lớp sau tiến lên. Tôi không biết chủ trương của BTL đã giải quyết ra sao, nhưng thực tế ai cũng thấy là có lúc các sĩ quan trong Binh Chủng dư khả năng với chức vụ cao hơn nếu “ra ngoài” thì lại ngồi chơi, xơi café đắng hơi nhiều!
Tiếp lời Thu-Đen là bạn H.. thuộc SĐ.2/BB xen vào:
– Nhưng mấy chàng TQLC ra khỏi binh chủng rồi mà lúc nào cũng mặc quân phục rằn ri và mặt thì vênh lên, chẳng hạn như thằng Trần Văn Thuật khóa mình đó, nó là đại úy, ở TQLC thì còn lâu nó mới với tới TĐ Phó. Vậy mà khi ra SĐ.2/BB làm tiểu đoàn trưởng, nó coi thường thiên hạ khiến nhiều người không thích, nó bị “xếp” cho cày ruộng sỏi đá “thông tầm”.
Thằng bạn SĐ.2 này dùng chữ “thông tầm” có nghĩa là đi không nghỉ, ruộng “sỏi đá” là mục tiêu khó nuốt. Nó rít một hơi thuốc 555 rồi nói tiếp:
– Ra khỏi binh chủng rồi mà thằng Thuật nó còn ngước mặt lên như thế hèn gì mấy cha chỉ huy TQLC hay át giọng cấp chỉ huy địa phương khi được tăng phái nên bộ chỉ huy địa phương không vui và thường thì “đì” và “vắt” tối đa(*).
Nhận xét của H.. SĐ.2BB quả là không sai, mỗi cấp chỉ huy từ trung đội trưởng trở lên đều thấy điều đó, nhưng không ngờ chuyện “không ưa TQLC” leo lên tới cấp quân đoàn, có khi tới phủ đầu rồng khiến TQLC bị “đì”. Nhưng “đì” ra sao hạ hồi phân giải, mời quý huynh đệ nghe tùy viên của Tướng Viên nói:
– Thu-Đen: Khi Tướng Đỗ Cao Trí về làm TL/QĐ III thay Tướng Khang, ông ấy gửi công điện xin TTM hai tiểu đoàn tổng trừ bị, TTM cho hai TĐ/TQLC. Tao nhớ rõ khi Đại Tướng và vài vị TM đang đứng ở sân cờ thì Tướng Trí đến:
– Tướng Trí: Xin Đại Tướng cho tôi hai tiểu đoàn Nhảy Dù.
– Đại Tướng: Ông xin hai thằng TTB thì tôi cho TQLC cỏn đòi gì nữa?
– Tướng Trí: Nhưng tôi cần hai thằng Dù.
– Đại Tướng: Dù hết rồi, chỉ còn một thằng ở vườn Tao Đàn bảo vệ dinh, ông muốn thì vào dinh mà xin Tổng Thống.
Nghe thằng bạn là tùy viên của quan cao cấp bật mí những chuyện khôi hài đen ở cấp cao thấy cũng vui, chuyện thực hư chưa biết, nhưng thực tế chứng minh rằng sau tết Mậu Thân, vào thời điểm Tướng Trí về làm TL/QĐ III thì TĐ.2/TQLC bị vắt chanh hơi kỹ. Dẫu chỉ là cấp đại đội trưởng thôi mà mặt tôi cứ như miếng giẻ rách. Thử nhớ lại xem nào, tại trận Cầu Khởi, “ông” cố vấn (CV) rét quá leo trực thăng theo thương binh trốn mất! Hai ba ngày sau, tại trận Bời Lời, phải thay 2 lần CV, đến ông thứ 3 mới trụ lại được. Việc này tôi đã kể trong TT.2 “Từ Cầu Khởi đến Bời Lời”, và Saigon, Đồ Sơn, Lâm Đồng đã biết. Chưa hết, tại trận Bời Lời, TĐ.2 thu dọn chiến trường, phòng thủ đóng quân đêm vừa xong thì được lệnh cấp tốc di chuyển gấp để nhường vị trí khu vực đóng quân cho B52.
Thật khốn khổ, lệnh ra thì phải thi hành, nhưng vừa qua khỏi tuyến phòng thủ thì đụng địch tứ bề, thì ra VC đã bao sẵn để chuẩn bị tấn công đêm. Nếu VC tấn công đêm thì Trâu Điên chấp, nhưng ban đêm trong rừng, chúng đang chờ sẵn mà Trâu lao đầu vào theo lệnh thì điên lên thật. Nhưng không theo lệnh “chạy” thì B52 đang trên đường tới! Nát thây.
Đây mới là lúc chứng tỏ sự sáng sốt, can đảm và tài lãnh đạo của cấp chỉ huy tại mặt trận. Nếu thi hành đúng lệnh trên, chạy cho nhanh ra khỏi vị trí đóng quân thì đơn vị chắc chắn bù, nếu ở lại thì bị bù hoặc 9 nút nhưng cá nhân cấp chỉ huy sẽ có thể bị kỷ luật, bị khiển trách vì bất tuân thượng lệnh. Nhờ một yếu tố khá quan trọng là tiểu đoàn có 2 cố vấn Mỹ đi theo, tiểu đoàn trưởng của tôi hiểu được giá trị 2 lá bài Tây này nên ông báo cho cố vấn biết:
– “Không thể phá vòng vây di chuyển được, phòng thủ lại, kệ B52”,
Hai cố vấn nghe lệnh Đồ Sơn ban ra mà xanh mặt, nhưng các đại dội trưởng là Trần Kim Đệ, Tô Văn Cấp, Trần Văn Thương, Vũ Đoàn Doan thì thở phào, rút là chết chắc, nằm lại thì nhất chín nhì bù, chết chung với VC nếu B52 nhất định đúng hẹn. Nói thế thôi chứ một mạng người cố vấn Mỹ quý hơn vàng, hai cố vấn làm việc trối chết với cố vấn cấp cao hơn, giữa đêm khuya trời lạnh giá mà 2 CV lau mồ hôi trán liên tục. Hồi lâu, CV báo cho Đồ Sơn biết cấp trên đã ra lệnh B52 chuyển mục tiêu. Thế là yên một bề, còn VC toan tính bất ngờ tấn công đêm ư? Chúng cũng bị lật tẩy, bị phát hiện sớm nên đành “quay bài” rút êm, bỏ tấn công đêm, Trâu Điên nghỉ khỏe.

Hơn 3 năm dưới quyền chỉ huy của Đồ Sơn, trận lớn trận nhỏ đều có, tôi nể tài cầm quân của ông nhưng cũng không ít lần tôi càm-ràm với ông, nhưng đây là lần tôi phục, phục tài chỉ huy, và tài phán đoán, suy tính nước cờ cao thấp, nhờ không theo lệnh trên một cách máy móc mà đã cứu được nhiều sinh mạng thuộc cấp, bảo toàn đơn vị. Cám ơn Đồ Sơn.
Tôi muốn nhắc lại chi tiết này để thấy rằng cấp chỉ huy TQLC đứng ngay tại chiến trường nên khi thấy “lệnh” trên “lạc” hướng thì thường có quyết định sáng suốt để bảo toàn sinh mạng thuộc cấp, dù cho có bị phiền hà vì “bất tuân thượng lệnh”. Giả dụ Đồ Sơn cứ theo lệnh trên mà ủi bãi thì TĐ.2 chắc chắn bị thiệt hại khó lường. Tôi sẽ trở lại chuyện “lệnh-lạc” của thượng cấp một lần nữa, còn bây giờ mời huynh đệ nghe tiếp người bạn H.. SĐ.2BB nói về chuyện TQLC bị vắt chanh đến nát vỏ, rách quần, lòi cả hột..chanh ra.
Dù người bạn SĐ.2/BB không nói rõ, mà chỉ nói mí-mí cấp chỉ huy địa phương không vui nên đì và vắt tối đa làm tôi nghĩ tới chuyện cái “Mộ” ở Mộ-Đức đã chôn TĐ.5/TQLC quả là không sai nhưng chưa biết kẻ đào mộ ấy là “cha” nào?
Xin nhắc lại TĐ.5/TQLC biệt phái cho SĐ.2/BB đã hơn một tháng, hết hạn, TĐ được nghỉ ngơi tại núi Thiên Ấn để ngày hôm sau lên máy bay về hậu cứ ở suối Lồ Ồ, Dĩ An, Thủ Đức. Anh em đi mua nón lá, kẹo gương, mè xửng Quảng Ngãi để làm quà tặng vợ cho con. Nhưng BTL/SĐ.2/BB lại “vắt” TĐ.5 thêm MỘT NGÀY để hành quân LỤC SOÁT mục tiêu mà theo tin tức P2/SĐ.2 cho biết có khoảng một trung đội du kích!
Nhưng “một trung đội du kích” của P2/SĐ.2 này đã bao vây và gây cho TĐ.5 một tổn thất quá nặng nề, ngày mà đáng lẽ tiểu đoàn lên máy bay bay về Saigon thì Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Dương Hạnh Phước, cố vấn Mỹ, bác sĩ Lê Hữu Sanh cùng bao nhiều đồng đội khác đã bay lên Thiên Quốc!
Mục tiêu chỉ có du kích và nhiệm vụ là LỤC SOÁT mà phải dùng đơn vị Tổng Trừ Bị ư? Nhất là đơn vị này đã hết hạn biệt phái. Lực lượng địa phương không đủ khả năng làm nhiệm vụ này hay sao? Đã sử dụng Tổng Trừ Bị sai lại còn vắt cho họ nát vỏ rách quần lòi cả hột ..ra mới xướng miệng hay sao? Nếu không thì đây là một cuộc buôn bán chính trị trên xác anh em TQLC chúng tôi. Thủ phạm là ai? Là đám thày trò nào?
Không chỉ ở Mộ-Đức, mà còn nhiều “mộ” khác nữa, hầu như trên khắp các chiến trường, từ cấp lãnh đạo, đến tư lệnh vùng, TLSĐ v.v.. đã sử dụng lực lượng Tổng Trừ Bị một cách ng .., xin lỗi, tôi không biết phải dùng tiếng gì cho đúng bây giờ? Họ dùng lực lượng TTB của quân đội như một đám đầy tớ không công vì lợi ích riêng tư của họ. Nếu cần thì dùng TTB để “đảo chánh”, khi an vị ngôi báu thì lại sợ họ đảo chánh ngược lại nên tống TTB ra địa đầu giới tuyến để làm nhiệm vụ của người lính địa phương quân. Bài học chiến thuật căn bản của một trung đội trưởng là phải nghĩ đến thành phần trừ bị, dù phòng thủ hay tấn công, thân làm tướng mà đem TTB đi giữ đất ư? Vì lỗi đó nên khi Ban Mê Thuột bị tấn công thì lấy TTB đâu ra? Có lẽ lại điều động Hải Quân lên tiếp cứu chăng! Phục thay tài dùng quân của các quan to đầu mà dại, tụi tôi bé.. mà khôn nhưng phải chịu.
Trách người thì cũng nên xét đến ta, sau khi TĐ.5 bị sử dụng một cách quá đáng, quá tàn nhẫn để dẫn ra hậu quả quá thương tâm và nhiều nghi vấn thì tôi không biết BTL/TQLC có phản ứng gì với bộ TL/SĐ.2/BB hay bộ TTM không? Nếu tôi là nhân viên P2 hoặc P3 thì tôi sẽ làm phiếu trình, ít nhất BTL phải yêu cầu TTM cho điều tra, và yêu cầu TTM khuyến cáo các đơn vị việc dùng LL/TTB khi được tăng phái đến. Còn đối với nội bộ TQLC, chúng ta phải rút ra những ưu khuyết điểm cho các đơn vị học tập. Nhưng rất tiếc sau những “tai nạn” Bình Giả (TĐ.4), Một Đức (TĐ.5), Phong Điền (TĐ.2) tôi không thấy có một văn thư hay tài liệu nào của BTL/TQLC phổ biến đến các đơn vị cấp đại đội và tiểu đoàn để rút ưu khuyết điểm và học tập về những trận đánh này. Nói theo cố ĐĐT/ĐĐ.4/TĐ.5 Dương Bửu Long thì trong trận Mộ Đức, quân ta phạm nhiều khuyết điểm, mà khuyết điểm nặng nhất là khinh địch và nóng vội.

Lữ Đoàn 468 Thủy Quân Lục Chiến Cọp Biển: Trận Cuối Cùng 1975 – dòng sông cũ

Khi học lớp BBCC ở trường Thủ Đức, vào giờ thuyết trình kinh nghiệm chiến trường, tôi đã đem trận TĐ.2 bị phục kích tại Phong Điền ra trình bày tất cả những ưu khuyết điểm và không quên nêu ra những nghi vấn khiến nhà trường đã phải xin tôi bài thuyết trình này để làm tài liệu học tập cho các lớp BBCC sau.
Trở lại câu chuyện bàn tròn, sau khi thằng H.. SĐ.2 “than thân” hộ TQLC rằng họ bị đì và vắt lòi hột, thì tên Đ..Đực thuộc BTL/QĐI chen vào:
– Thằng H.. nói đúng đấy, mấy ông nội chỉ huy TQLC ngang ngang ..
Như bị chạm tự ái, không để hắn nói hết câu, tôi cắt ngang:
– Ngang ngang là sao? Ngang tàng hay ngang như cua?
– Tao chưa nói hết mày đã chặn họng, ngang gì tùy mày hiểu, nhưng theo tao nhiều khi cái “ngang” của cấp chỉ huy cũng có lý lắm chứ, nhiều cái ngang tuy làm thượng cấp bực mình nhưng ngược lại thì có thể tránh cho đơn vị mình khỏi bị hy sinh một cách vô ích. Tao đưa ra một thí dụ cụ thể mà tao biết như trong trận Hạ Lào, Tướng Quân Đoàn Hoàng Xuân Lãm bắt TQLC đổ thêm một lữ đoàn nữa vào, nhưng tao không thấy TQLC yêu cầu trực thăng để đổ thêm quân. Không thấy TQLC nhẩy vào khiến ông Tướng Quân Đoàn nổi đóa la hét oan tụi tao không chịu làm việc. Tao không biết lý do nhưng khi thấy TQLC không yêu cầu trực thăng thì tụi tao mừng thầm cho họ, vì tình hình bạn lúc đó đang lui hết, kể cả TQLC, địch thì làm chủ chiến trường, đổ quân vào bao nhiêu cho đủ.
– Mày có thể cho bao biết chi tiết hơn nữa được không? Chẳng hạn như tướng Lãm có “hành hạ” TQLC tiếp nữa không?
– Tao chỉ là nhân viên trung tâm hành quân nên biết có thế thôi, nhưng nghe đâu ông Hậu bên ND lên tướng còn ông Lân bên TQLC thì không.
Nghe thằng bạn cùng khóa làm việc tại TTHQ/QĐI xì ra một tin đáng chú ý về trận Hạ Lào thì cả đám bàn tròn xoáy vào trận chiến kỳ quái này, mỗi thằng đưa ra một nhận xét riêng, có tên còn quả quyết đây là lệnh của ông Thiệu muốn tạo ra trận này để làm eo sách với Mỹ. Có tên còn táo bạo cho rằng có sự sắp xếp của Mỹ và Trung Cộng để tiêu diệt hai hai lực lượng Tổng Trừ Bị của QLVNCH.
Cá nhân tôi không dám nghĩ xa như thế, nhưng rõ ràng trận Hạ Lào là một trận chiến kỳ quái, tôi gọi “kỳ quái” là vì mất hẳn yếu tố mang tính quyết định chiến thắng là “BÍ MẬT và BẤT NGỜ”.
Do đâu mà tôi nói như vậy? Bởi vì trước khi trận chiến Hạ Lào bắt đầu thì BCH/CCST nhận được văn thư từ BTL/TQLC yêu cầu BCH căn cứ chuẩn bị một vị trí và phương tiện để lập một “Bộ Chỉ Huy Hành Quân” thực tập. Hình như thời gian này Th/tá Chỉ Huy Trưởng Trần Ngọc Toàn đi học, nhưng tôi nhớ rõ khi nhận được văn thư này tôi đã nói với Trưởng Ban 3 Nguyễn Kim Tiền rằng:
– Hành quân mà lại còn lập BCH để thực tập thì lộ mẹ nó rồi còn gì nữa.
Sau đó thì không thấy BTL nói gì thêm, không có thực tập nhưng mà trận Hạ Lào đã xẩy ra và hậu quả là địch đã chọn và chuẩn bị chiến trường cho quân ta nhẩy vào. Xin trở lại câu chuyện người bạn ở BTL/QĐI vừa tiết lộ việc TQLC không đổ thêm quân vào Hạ Lào.
Tôi hoàn toàn không biết tin này cho đến khi thực hiện đặc san ST/2010 thì tôi nhận được bài viết của cựu Trung Úy Tạ Hạnh với tựa đề “Ông Mắt Kiếng”. Thấy tựa bài viết là tôi mừng, vì tôi chưa một lần được hoặc bị trình diện ông, ông có dặn là sau khi hết bịnh, muốn làm việc ở đâu thì nói, nhưng tôi đã chẳng bao giờ mở lời, cứ để mặc đời lính, đẩy đâu thì làm đó, từ trưởng khối thặng số TPB sang CC Sóng Thần, TTHL, P3/SĐ Hương Điền, TTHL, TTHQ Non Nước cuối cùng lại CCST! Khi làm việc tại phòng 3 BTL/Hương Điền, mỗi khi thấy bóng ông “Mắt Kiếng” là chúng tôi né, nghe trực thăng “phành phạch” đáp xuống là từ anh Phạm Văn Sắt, Lê hằng Nghi, Thành-Say và tôi vội vàng ngồi ngay ngắn vào vị trí làm việc, vì thế đối với tôi ông “Mắt Kiếng” vẫn là một cấp chỉ huy “kính nhi viên chi”. Nay có đề tài hấp dẫn, nhất là từ một sĩ quan tùy viên viết thì còn gì bằng. Bài viết dài 4 trang có nhiều chi tiết khá hay nhưng có một câu lảm tôi sững sờ:
– “Ông Mắt Kiếng đã thách thức Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, không theo lệnh đổ tiếp LĐ.369/TQLC vào Hạ Lào nữa …”.
Nhận thấy đây là một vấn đề hết sức quan trọng có liên quan tới an nguy của các đơn vị bạn và nhất là hai chữ “Thách Thức” của vị chỉ huy TQLC đối với vị TL/QĐI, vì vậy tôi đã đề nghị với anh Tạ Hạnh bỏ hai chữ “thách thức” và cần thêm vào những chi tiết để làm sáng tỏ vấn đề kẻo người ngoải binh chủng họ đọc được thì sẽ trách TQLC. Các chi tiết quan trọng tôi yêu cầu cần bổ sung là:
1. Tình hình địch tại mục tiêu lúc đó thế nào? Mạnh hay yếu?
2. Tình hình quân ta và lưc lượng đơn vị bạn trong vùng mục tiêu thế nào? Nếu quân ta hay đơn vị bạn đang lâm nguy tại mục tiêu mà “Ông Mắt Kiếng” từ chối tăng viện thì là điều không được, nói trắng ra là rất nguy hiểm.
Anh Tạ Hạnh hiểu ra vấn đề và đã đến tận nhà tôi nhận lại bài viết và anh có dặn tôi là giữ kín chuyện này. Sau đó thì không thấy anh Tạ Hạnh gửi lại bài viết và tôi cũng đã giữ đúng lới hứa với anh là giử kín chuyện này.
Nhưng cho đến nay, một người bạn ở BTL/QĐ.I đã lộ tin này ra rồi nên tôi xin lỗi anh Tạ Hạnh là đã đến lúc phải nhắc lại chuyện cũ, cần nói rõ sự thật, nhưng sự thật đến đâu thì vẫn còn nằm trong tay “Ông Mắt Kiếng”.
Ngoài Tạ Hạnh, trên chuyến đi tham dự lễ khánh thành tượng đài Việt Mỹ tại Utath do MX Phan Công Tôn thực hiện, tôi ngồi cùng xe với anh chị Huy Lễ và chị cũng đã kể cho tôi nghe về chuyện Lạng Sơn không đổ thêm quân vào Hạ Lào. Nhưng chị cũng không cho biết thêm gì về thực tế tại mục tiêu vào thời điểm ấy. Đó mới là điều quan trọng để tìm hiểu thêm nên tôi cũng lại tạm quên đi để chờ một dịp thuận tiện nào đó sẽ xin Lạng Sơn xác nhận.

Dịp may là đại hội TQLC tại San Jose 7/2010. Đồ Sơn cho biết là Lạng Sơn sẽ về tham dự và sẽ tâm sự với anh em. Nhưng bất ngờ tôi bị bệnh tim, phải đi “emergency” nên mất dịp may “ngàn năm một thuở”. Cái số tôi không bao giờ được lại gần các vị chỉ huy cao cấp, hình như mỗi lần mon men đến là ông Hai Thiên lại kiếm chuyện cản đường!
Nhưng chuyện “trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã hay”, anh em Mũ Xanh chưa rõ thì người bạn BB lại bật mí bí mật cho tôi nghe, nghe như tôi đã từng nghe anh Tạ Hạnh và chị Huy Lễ kể. Nhưng lần này bạn BB đưa ra một chi tiết rất quan trọng mà tôi muốn biết, đó là tình hình tại mục tiêu mà TQLC được lệnh đổ vào.
 “Quân ta đã rút, địch làm chủ chiến trường”, vậy thì TL/QĐ I bắt TQLC đổ thêm quân vào để làm gì? Chuyện thực hư chính xác như thế nào thì chỉ có Lạng Sơn biết và tôi tin rằng có ngày Lạng Sơn sẽ đề cập tới vấn đề này và những biến cố quan trọng khác nữa có liên quan đến Binh Chủng TQLC, lịch sử đã sang trang, tiếng súng trên chiến trường đã chấm dứt, nhưng niềm đau nhức nhối vẫn còn, biết được sự thật cũng là điều an ủi cho cả kẻ còn người mất.
Giả dụ như người bạn BB này nói đúng là trên MT địch làm chủ tình hình và quân bạn đã rút thì bất cứ cấp chỉ huy nào, dù thấp hay cao, khi nhận được lệnh tiếp tục vào trong trường hợp này thì thật là khó xử trí. Không chấp hành lệnh trên thì dễ dàng bị kỷ luật, có thể bị truy tố theo quân luật, nhưng nếu cứ nhắm mắt thi hành một cái lệnh “lạc” thì coi mạng sống của thuộc cấp như cỏ rác sao!
Xin bàn thêm ở điểm này một chút.
1. Nếu như tiểu đoàn trưởng được lệnh dẫn TĐ nhẩy vào lửa mà TĐT không tuân lệnh thì có thể kết luận ông TĐT này nhát, sợ chết, khó mà biện hộ.
2. Nhưng nếu TĐT được lệnh chỉ cho một đại đội vào lửa thôi, còn bản thân TĐT vẫn bình an ở ngoài vòng chiến nhưng vì không chịu hy sinh tính mạng thuộc cấp một cách vô ích nên TĐT tìm mọi cách để “trì hoãn chiến” để bảo toàn đơn vị dù cho có bị cấp trên kỷ luật truy tố thì đây là một hành động dũng cảm, dám đương đầu với “bão tố”, một hành động đáng kính trọng.
Việc Lạng Sơn “câu giờ” không thi hành lệnh trên khi họ bắt ông thẩy thêm LĐ 369/TQLC vào mục tiêu một cách vô ích, theo tôi là nằm ở trường hợp thứ 2. Tuy nhiên sự thật như thế nào thì chỉ có Lạng Sơn biết, nhưng ông vẫn kín tiếng. Tôi thiết nghĩ đã tới lúc Lạng Sơn nên chia xẻ những vui buồn trong cuộc chiến cùng các Mũ Xanh trong tình huynh đệ, đã tới lúc Tư Lệnh chia xẻ với thuộc cấp những khó khăn mà Tư Lệnh phải đối phó, không phải đề giải tỏa những tin đồn, điều đó không cần thiết, mà để cho tất cả anh em MX hãnh diện vì đã được phục vụ trong binh chủng TQLC.

Không chỉ trong trận chiến Hạ Lào mà còn cả một giai đoạn cuộc chiến khốc liệt khác tiếp diễn từ Quảng Trị, Huế, Thuận An, Đà Nẵng, Cam Ranh, Vũng Tàu và điểm cuối cùng là căn cứ Sóng Thần cũng cần có tiếng nói của Lạng Sơn để rũ bớt bụi, vết bùn trên bộ “rằn ri” mà do vô tình hay cố ý đã có người vấy lên đó. Chúng tôi mãi mãi vẫn hãnh diện với bộ quân phục rằn ri, dẫu áo có bạc màu rách vai vì sương gió thì vẫn phải giữ sao cho sạch, cho thẳng nếp.
Đã có nhiều bài viết về các giai đoạn này rồi nhưng mỗi bài tùy theo vị trí đứng của tác giả mà có cái nhìn khác nhau. Một trung đội trưởng viết chính xác những gì xẩy ra của trung đội của mình nhưng khi phê bình trung đội bên cạnh thì chắc gì đã đúng. Cái nhìn chính xác của đại đội trưởng chưa phải là của tiểu đoàn trưởng. Ở tiểu đoàn này mà phê phán tiểu đoàn kia sẽ không công bằng. Và một người ngồi ở Saigon mà viết về cuộc chiến tại Quảng Trị thì thật buồn mà phải cười, họ là những người đi trên mây. Đây là lúc cần tiếng nói của Tư Lệnh.
Mỗi cấp chỉ huy tại mặt trận hẳn sẽ có những ý kiến cần đưa ra, tôi không trực tiếp cầm súng nên những điều tôi gợi ý có thể không hợp tình hợp lý, nhưng cũng xin mạo muôi nêu ra để xin Tư Lệnh cùng quý huynh đệ giải thích.
1. Hạ Lào: Những điều chưa ai biết, chưa được nói tới.
2. Quảng Trị: Cổ Thành là mục tiêu rỡ ràng, địch đã nằm trong rọ, tại sao TQLC lại phải tấn công chiếm cho bằng được vào thời điểm ấn định để rồi anh em chịu sự hy sinh quá lớn lao thay vì tiếp tục bao vây cắt tiếp tế và dùng hỏa lực để địch phải đầu hàng. Phải chăng do mưu đồ chính trị cá nhân đảng phái?
3. Thuận An: Một cuộc lui binh quy mô mà tại sao thiếu hẳn hỏa lực KQ và HQ để yểm trợ TQLC để ngăn chặn địch quân? Ai chịu trách nhiệm?
4. LĐ.147/TQLC bị kẹt trên bãi cát Thuận An, trách nhiệm của BTL tới mức độ nào? Trong bài viết của MX Phạm Vũ Bằng có đề cập tới chi tiết Th/tá Nguyễn Quang Đan, chánh văn phòng của Tư Lệnh, bay đến gặp LĐT/LĐ.147 trao tay một bao thư lệnh HQ và nói LĐT tìm đường ra QL1 mà đi. Xin Lạng Sơn bạch hóa lệnh này. Nguyên nhân chính gây ra thảm họa “Pháp Trường Cát Thuận An*” là gì và tại sao? Giới chức nào trực tiếp chịu trách nhiệm? .

(*Đọc bài “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi” của Bằng Phong, có MX  than phiền rằng sao tác giả lại gọi Thuận An là Pháp Trường Cát? Tôi xin giải thích thế này: Bằng Phong Phạm Vũ Bằng rất cẩn thận khi viết từng chữ, từng câu, vì theo sự suy nghĩ của tôi thì LĐ.147/TQLC đã bị đẩy ra bãi biển khi không bắc cầu và tầu quay lui thì có khác chi TT Nguyễn Cao Kỳ đã trói Tạ Vinh và bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành ).
Đà Nẵng: TQLC đã bị cuốn vào cơn lốc xoáy chung của cả một quân đoàn, nhưng ít ra TQLC cũng còn trật tự. Chiều 28 tháng 3/1975, Lạng Sơn đi họp với Tường Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn và các tướng lãnh khác, buổi họp phải ngưng vì bị pháo kích nên một số trực thăng của các tư lệnh bị hư vì trúng hỏa tiễn, trong đó có trực thăng của Lạng Sơn nên TTHQ/SĐ tại sân bay Non Nước mất liên lạc với Lạng Sơn từ đó, tới khuya mới liên lạc được với Th/Tá Đan. Trung Tướng Trưởng thì đến với TQLC trong căn cứ Non Nước và 7 giờ sáng ngày 29/3/75, ông cùng Đại Tá Tư Lệnh Phó Nguyễn Thành Trí lội ra tàu HQ.
Theo Tiểu Cần, âm thoại viên của Lạng Sơn ghi lại trong  “Tháng Ba Buồn Hiu” thì Lạng Sơn và Phó Đề Đốc Thoại đi bộ xuống bãi biển Sơn Chà và được hai giang tốc đỉnh vào đón. Ba thầy trò, thiếu tướng Tư Lệnh, tùy viên Tạ Hạnh và Tiểu Cần bụng đói cật rét, ngồi bó gối trên boong giang tốc đỉnh. Lạng Sơn luôn nhắc Tiểu Cần liên lạc với HQ để họ vào đón anh em. Theo lời yêu cẩu của Lạng Sơn, giang tốc đỉnh chạy ngược xuôi ngoài cửa biển, đến 8 giờ sáng khi biết chắc đã có 2 tàu LSM vào bãi biển Non Nước đón TQLC thì Lạng Sơn mới rời giang tốc đỉnh để lên tàu HQ 802 để di chuyển về Cam Ranh.
Giai đoạn này Đại Tá Tư Lệnh Phó đã viết rõ trong bài “Ngày Tháng Không Quên”. Nhưng với cái nhìn của Tư Lệnh, quyền hạn của Tư Lệnh thì xin Lạng Sơn có thể bạch hóa những “lệnh-lạc” từ thượng cấp trung ương đến quân đoàn như thế nào khiến TQLC bị vạ lây. Những diễn tiến từ lúc họp với TL/QĐ ở Sơn Chà cho tới lúc đổ quân lên Cam Ranh rồi lại lên tàu từ Cam Ranh để về Vũng Tàu
Xin xác nhận thời điểm từ 21/3 đến 29/3/1975 là tôi có mặt tại TTHQ Non Nước, biết diễn tiến tổng quát nên sau này thấy có vài bài viết, cả trong lẫn ngoài Bình Chủng, quá cường điệu và tôi đã trả lời chung cho họ trong bài viết “Những Người Đi Trên Mây”. Nếu Lạng Sơn lên tiếng, không phải để trả lời những ai cố ý phao tin, mà là trả lại sự thật cho lịch sử chiến đấu của binh Chủng TQLC, tâm sự của anh Cả sẽ cho gia đình TQLC được êm ấm, được tự hào.

Vũng Tầu: Vào thời điểm cuối tháng 4/1975, khi mà những tầng lớp lãnh đạo và giầu sang đang chen chúc, chui rúc qua hàng rào vào tòa đại sứ  Mỹ để xin ra đi thì TQLC chúng ta đóng quân ngay tại bãi biển Vũng Tàu, một chân trên bờ, một chân dưới nước, mọi phương tiện tàu thuyền nằm trong tay, không có đơn vị quân đội nào có điều kiện “thiên thời, địa lợi” như chúng ta. Nếu muốn ra đi thì không sót một ai, nhưng chúng ta những người cầm súng thì tiếp tục lên đường chiến đấu cùng với các đơn vị bạn từ Long Khánh, Long Bình rồi tập trung cứ điểm cuối cùng, tử thủ tại căn cứ Sóng Thần và rồi bị bắt phải buông súng, vào tù từ Tư Lệnh Phó, đến các Lữ Đoàn Trưởng, Tiểu đoàn Trưởng v.v..

Còn thành phần không trực tiếp chiến đấu, không có quân trong tay, hậu cần, chuyên môn và tham mưu, trực chiến trên bờ, thì bị bao vây và phải lui ra biển là lẽ thường tình. “Gặp thời thế thế thời phải thế”, ra đi hay ở lại vào những ngày cuối tháng 4/1975 chưa hẳn là đáng trách hay đáng khen, đứng ở vị trí này mà phê bình vị trí khác thì dễ vướng vào thiên vị hoặc bất công. Hành động vào thời điểm nhất chín nhì bù có mang lại niềm hãnh diện hay ân hận là do lòng tự trọng của riêng mỗi người.

Kính thưa quý niên trưởng cùng đồng đội Mũ Xanh.
Tùy vào vị trí trong đơn vị mà có cái nhìn khác nhau, tôi không có dịp trực tiếp tham dự các cuộc hành quân tại địa đầu giới tuyến kể tử trận Hạ Lào nên không có những khó khăn, khó hiểu, không nêu ra được những uẩn khúc quan trong mà chỉ là toàn những chuyện linh tinh. Rất mong sau khi dọc xong bài này quý huynh đệ bổ sung những điều cần biết để trả lại phần nào, phần nào công bằng cho quân nhân các cấp thuộc Binh Chủng TQLC Việt Nam.
Tạm kết thúc câu chuyện vào ngày phủ cờ cho MX Cao Xuân Huy CA ngày 16 tháng 11 năm 2010.
Tô Văn Cấp

Nguồn: http://tqlcvn.org/binhluan/bl-chuyenmx-quanhbantron.htm

Cuốn Tự Điển Sống…! – Lê Thị Kim Oanh

Lê Thị Kim Oanh

(Lê Văn Sang – Sóc Trăng tháng 12/1972)Ngày xưa có một con bé 4,5 tuổi đầu, thường lẽo đẽo theo ba vừa nhìn những công việc ba làm, vừa hỏi đủ thứ. Ba của bé cũng rất kiên nhẫn luôn trả lời và giải thích cặn kẽ. Bé có đủ hiểu biết hết tất cả không? Ba ơi, sao ba giỏi quá vậy, bé hỏi gì ba cũng biết hết vậy ba?! Những lúc ba vừa làm công việc, vừa dạy cho bé Cửu Chương, Cửu chương phải đọc xuôi, đọc ngược, Hỏi đâu nói đó. Học về đòn bẩy, quy tắc tam xuất …. ôi thôi là khó…


Toán đố, ba dạy tính diện tích, chu vi. Trên một miếng đất hình chữ nhật, ba cất căn nhà hình vuông, hồ cá hình tròn, khu vườn hình bình hành, chuồng gà hình tam giác , chuồng heo hình thang …v.v… trừ ra cộng vào, rồi đất còn lại bao nhiêu. Má nói: “anh có một miếng đất mà xây hết vậy anh?” Ba vuốt đầu con bé cười cười…. Con bé méo mặt luôn…. Nào là đổi lít… mililít . Kg…gram…, mét….milimét…

Mỗi sáng ba đi làm trên bảng đã có bài toán đố, khi chiều về phải có kết quả cho ba, Một hôm toán khó quá, con bé lấy nước rải rải cho phấn phai màu để khỏi làm hihihi… Chiều ba về con bé thưa như thế. Ba chỉ cười bảo” Vậy hả con”.
Hôm sau khi con bé thức dậy, ba nhỏ nhẹ nói”Hôm qua mưa con không làm toán được, hôm nay con ráng làm 2 bài bù lại hôm qua nhen con”. Ai bảo nói dối, làm sao qua mặt người lớn cho được đây huhuhu….Từ đó con bé chừa tật xấu luôn.
Ba má bận việc làm ăn, nên con cái được dạy tại nhà, đến lớp Ba mới được vào trường học. Cũng chính vì lý do này ba má dạy các con trình độ cỡ lớp Nhì, lớp Nhất. Để xin học nhảy lớp không thua bạn bè.

Ngoài ra ba má còn dạy thêm tiếng Pháp, má dạy các con đến lớp Đệ Thất, từ Đệ Thất trở lên ba lo. Ôi thích làm sao khi mọi điều hỏi, ba đều biết tường tận, ba dạy đồng âm, đồng nghĩa, đồng gia đình, phản nghĩa, phân tích mệnh đề….v.v….
Khi con bé lớn khôn, năm lớp Đệ Tứ, cứ mỗi 4 giờ sáng ba đánh thức dậy để nghe chương trình Pháp dạy đàm thoại. Rất khổ vì giờ đó ngủ ngon nhất, nhưng ba tâm lý lắm, ba pha con một ly sửa nóng, khi xe bánh mì rao ” Bánh mì nóng hổi nón dòn đây” là con có 1 ổ bánh mì, ăn ngon lành. Thế là con bé hết biết khổ là gì …
Đến năm Đệ Tam, Đệ Nhị, mỗi hè ba má cho lên Sài Gòn ghi danh đi học Sinh Ngữ, vì ở tỉnh dạy Sinh Ngữ ít đàm thoại, thầy cô giảng chen tiếng Việt vào. Các trường ở Sài Gòn rất đông học sinh ghi danh, nên con chỉ ghi được trường Khôi Nguyên, Hoàng Nguyên ở Đường Hồng Thập Tự. Nhờ Ba mà ngày nay bạn con còn nhắc” Oanh còn nhớ hồi xưa Oanh nói tiếng Pháp với thầy Hoàng, làm tụi Mai trong lớp nể luôn”. Như Mai ơi, cám ơn Mai còn nhớ ngày xưa thân ái và Oanh được dịp nhớ đến công ơn của ba má Oanh đó Mai.
B

a ơi, hôm nay 30/10 là ngày giỗ lần thứ 24 của ba, con lại được nhắc nhớ những kỷ niệm êm đềm, những ngày quấn quýt bên ba, tình yêu thương cao hơn núi của ba đã cho con trưởng thành và nên người hữu dụng hôm nay. Đời con và đến đời cháu. Tất cả từ công sức ba Má của con.
Ba còn nhớ, con hay vui cười nói cùng ba: ” Ba là cuốn tự điển sống” của đời con.
Thương yêu về Ba.Con gái thứ 9 của ba

Lê Thị Kim Oanh

Melbourne 30.10.2021

Nguồn: http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2021/10/cuon-tu-ien-song-le-thi-kim-oanh.html

‘Giờ Này Anh Ở Đâu?’ nhạc tình mùa chinh chiến của Khánh Băng

Vann Phan

SANTA ANA, California (NV) – Những mối tình thơ mộng giữa người trai lính chiến và người em gái hậu phương tại miền Nam Việt Nam trong thời tao loạn đã được thể hiện qua rất nhiều bản nhạc tình mùa chinh chiến mà giá trị vượt thời gian của các nhạc phẩm này là điều không thể chối cãi được.

Một nữ sinh Sài Gòn với chiếc xe đạp nhìn vào một cửa hàng trưng bày ở Sài Gòn. (Hình minh họa: Three Lions/Getty Images)

Nhạc phẩm “Giờ Này Anh Ở Đâu” của Khánh Băng chuyên chở tâm trạng của những người em gái hậu phương – trong đó có không ít người đã trót mang trong lòng mối tình sâu đậm với những chàng trai thế hệ đang dấn chân vào cuộc chiến – thương gởi đến các anh chiến sĩ những tâm tình tha thiết của mình. Đó là các anh tân binh và khóa sinh tại các quân trường đẫm mồ hôi và lắm gian lao như Quang Trung của Vùng III Chiến Thuật, hoặc Dục Mỹ, Lam Sơn và Đồng Đế của Vùng II Chiến Thuật.

Đã bao lần đến thăm các anh nơi những “vườn tao ngộ” tại các quân trường, chúng em đã quen rồi với cảnh nắng cháy da người tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ở Hóc Môn (Gia Định), hoặc Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ ở Ninh Hòa (Khánh Hòa), nơi các anh phải vất vả lội sình dưới trời mưa như trút nước, và Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn, cũng ở Ninh Hòa, nơi các anh phải ra sức trườn người bò hỏa lực dưới ánh nắng Hè thiêu đốt.

Rồi còn Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế ở Nha Trang nữa, nơi có bức tượng danh tiếng “Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ, em nằm xõa tóc đợi chờ anh” trên đỉnh núi Hòn Khô quay mặt vào quân trường. Và đây cũng chính là nơi, dù mưa hay nắng, các anh phải gian khổ thụ huấn để trở thành những hạ sĩ quan và sĩ quan ưu tú của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: “Giờ này anh ở đâu? Quang Trung nắng cháy da người/ Giờ này anh ở đâu? Dục Mỹ hay Lam Sơn? Giờ này anh ở đâu? Đồng Đế nắng mưa thao trường/ Anh ở đâu? ú u ù… Anh ở đâu?”

Rồi khi rời mái trường mẹ, các anh chiến sĩ Cộng Hòa như chim trời tung cánh bay đi khắp nơi trên bốn vùng chiến thuật trong sứ mệnh “bảo quốc, an dân” mà quân trường đã giáo huấn và rèn luyện các anh, thử hỏi địa danh nào thiếu dấu chân anh, khiến những người yêu của lính cứ mãi phân vân: “Giờ này anh ở đâu? Pleiku gió núi biên thùy/ Giờ này anh ở đâu? Miền Trung hỏa tuyến địa đầu/ Giờ này anh ở đâu? Cà Mau tiếng sét U Minh rừng/ Anh ở đấu? ú u ù… Anh ở đâu?”

Nhạc sĩ Khánh Băng và danh ca Bạch Yến trên bìa nhạc bài “Sầu Đông.” (Hình: Tài liệu)

Gì chớ địa danh Pleiku thì ai mà chẳng biết, dù ít người dân thị thành dám phiêu lưu lên chốn đèo heo hút gió đó ngoại trừ các anh, những kẻ từng đầu non, cuối ghềnh ôm cây súng canh rừng sâu. Còn Miền Hỏa Tuyến ngoài Trung nơi Vùng I Chiến Thuật thì lại quá xa vời, đến “mút mùa Lệ Thủy” chứ chẳng chơi, trong khi các anh chiến sĩ từng tham dự các cuộc hành quân bình định vào vùng U Minh Hạ tại Cà Mau đều thấm thía với những gian lao của miền sông nước âm u, vừa bao la vừa đầy muỗi mòng.

Thế nhưng, “dù rằng anh ở đâu, anh ở đâu, vẫn yêu anh hoài/ Vẫn yêu anh hoài, yêu suốt đời/ Vì lời thề xưa nở trên môi, và một tình yêu đã lên ngôi/ Kỷ niệm đầu tiên sống trong tôi, trên đường ta bước chung đôi.” Em vẫn mãi yêu anh, người lính chung tình của em, cho dù đời lính có khiến anh phải nay đây, mai đó. Kỷ niệm về những ngày đầu bên nhau luôn khắc sâu vào trái tim em, nhất là những lúc đôi ta sánh bước bên nhau trong ánh chiều buông hay vào những đêm trăng tà soi bóng.

Có thể các anh là những chàng trai tung mây, lướt gió trên quê hương dấu yêu, hay đang cùng đoàn người vượt qua biên giới quyết chiến đấu trên các mặt trận ngoại biên; cũng có thể, các anh là những Cọp Biển oai hùng, các “Lục Thần Thủy Mũ Xanh” của bao người em gái hậu phương áo trinh thơm mùi giấy; và cũng có thể, các anh chính là những chàng kỵ mã hào hoa trên ngựa sắt, con cháu của Phù Đổng Thiên Vương mãi tung hoành trên các chiến trường gai lửa: “Giờ này anh ở đâu? Không Quân vỗ cánh đại bàng/ Giờ này anh ở đâu? Thủy Quân Lục Chiến kiêu hùng/ Giờ này anh ở đâu? Vượt đường xa Thiết Giáp anh tung hoành/ Anh ở đâu? ú u ù… Anh ở đâu?”

Và tình yêu của em vẫn không hề thay đổi, cho dù anh còn mãi bận rộn với các cuộc hành quân “Toàn Thắng” đánh sang Căm Bốt, hoặc miệt mài, gian nan với cuộc “Hành Quân Lam Sơn 719” qua Hạ Lào, nơi có các mật khu và kho tiếp tiệu của quân Cộng Sản, hoặc đang về dưỡng quân sau những ngày chinh chiến chiến gian lao tại Trại Hoàng Hoa Thám của Sư Đoàn Nhảy Dù cạnh Căn Cứ Không Quân Tân Sơn Nhứt: “Giờ này anh ở đâu? Tây Ninh tiếp ứng biên thành/ Giặc tan trên đất Hạ Lào/ Giờ này anh ở đâu? Trại Hoàng Hoa tung gió cánh hoa dù/ Anh ở đâu? ú u ù… Anh ở đâu? Anh ở đâu? ú u ù… Anh ở đâu? Anh ở đâu? ú u ù… Anh ở đâu?”

***

Nhạc phẩm “Giờ Này Anh Ở Đâu?” ra đời vào khoảng đầu thập niên 1970. Nhạc sĩ Khánh Băng (tên thật là Phạm Văn Minh) quê ở Vũng Tàu và xuất thân là một nhạc công trước khi trở thành một nhạc sĩ tại thủ đô Sài Gòn.

Khánh Băng có khả năng sáng tác vừa nhạc tình cảm vừa nhạc kích động. Những ca khúc của ông thường được trình diễn tại các sân khấu ca nhạc và vũ trường ở thủ đô.

Nhạc sĩ Khánh Băng và Ban Thời Đại. (Hình: Tài liệu)

Trước và sau năm 1975, bài “Giờ Này Anh Ở Đâu” đều rất phổ thông và đã được các ca sĩ của Sài Gòn và ở hải ngoại trình bày, trong đó có các danh ca trước năm 1975, như Thanh Tuyền, Phương Hồng Quế, Thanh Thúy… và các ca sĩ trẻ sau năm 1975, như Lâm Thúy Vân, Tâm Đoan, Như Quỳnh, Nguyễn Hồng Nhung, Cát Lynh, Ngọc Anh Vi, Kimberly Trương, Angela Gia Hân…

Khánh Băng qua đời năm 2005 tại Sài Gòn, để lại một gia tài âm nhạc khá đồ sộ với hàng trăm nhạc phẩm nổi tiếng, trong đó phải kể đến các ca khúc như “Vọng Ngày Xanh,” “Có Nhớ Hôm Nào,” “Vườn Tao Ngộ” (dưới bút danh Nhật Hà), “Đôi Ngả Chia Ly,” “Trăng Thề,” “Người Lính Chung Tình,” “Sầu Đông,” “Tiếng Mưa Rơi”… (Vann Phan) [qd]


Nhạc phẩm “Giờ Này Anh Ở Đâu?” của Khánh Băng

Giờ này anh ở đâu?
Quang Trung nắng cháy da người
Giờ này anh ở đâu?
Dục Mỹ hay Lam Sơn?
Giờ này anh ở đâu?
Đồng Đế nắng mưa thao trường
Anh ở đâu? ú u ù… Anh ở đâu?

Giờ này anh ở đâu?
Pleiku gió núi biên thùy
Giờ này anh ở đâu?
Miền Trung hỏa tuyến địa đầu
Giờ này anh ở đâu?
Cà Mau tiếng sét U Minh rừng
Anh ở đâu? ú u ù… Anh ở đâu?

Đ. K.:
Dù rằng anh ở đâu, Anh ở đâu, vẫn yêu anh hoài
Vẫn yêu anh hoài, yêu suốt đời…
Vì lời thề xưa nở trên môi
Và một tình yêu đã lên ngôi
Kỷ niệm đầu tiên sống trong tôi
Trên đường ta bước chung đôi.

Giờ này anh ở đâu?
Không Quân vỗ cánh đại bàng
Giờ này anh ở đâu?
Thủy Quân Lục Chiến kiêu hùng
Giờ này anh ở đâu?
Vượt đường xa thiết giáp anh tung hoành
Anh ở đâu? ú u ù… Anh ở đâu?

Giờ này anh ở đâu?
Tây Ninh tiếp ứng biên thành
Giặc tan trên đất Hạ Lào
Giờ này anh ở đâu?
Trại Hoàng Hoa tung gió cánh hoa dù.
Anh ở đâu? ú u ù … Anh ở đâu?
Anh ở đâu? ú u ù … Anh ở đâu?
Anh ở đâu? ú u ù … Anh ở đâu?

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/gio-nay-anh-o-dau-nhac-tinh-mua-chinh-chien-cua-khanh-bang/

Chính Sách Của Mỹ Đối Với Miền Nam Việt Nam Sau Năm 1954

  • Đỗ Kim Thêm

Bối cảnh mới

Ngay từ buổi đầu, với tư cách Quan sát viên Hội nghị Genève 1954, Hoa Kỳ đã tỏ ra dè dặt khi tham gia. Khi chính phủ Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký kết Hiệp định ngày 20 tháng 7 năm 1954 về việc ngưng chiến và phân chia tạm thời lãnh thổ Việt Nam, Hoa Kỳ cũng minh xác chỉ tiếp tục quan tâm theo dõi tình hình trong khi Chính phủ Quốc gia Việt Nam cũng không trực tiếp kết ước và chịu một trách nhiệm nào.

Trước tình thế đổi thay nghiêm trọng là Cộng sản Trung Hoa và Việt Nam đã lập ra được một căn cứ địa tại miền Bắc Việt Nam để mở rộng âm mưu bành trướng khắp vùng Đông Nam Á, Hội đồng An ninh Quốc gia tại Washsington xem kết quả Hội nghị là một thảm hoạ chung cho chiến lược an ninh khu vực.
 

Để đối phó, Hội đồng có đề ra một chính sách mới với hy vọng là miền Nam Việt Nam ít ra cũng còn có cơ hội để thoát khỏi ảnh hưởng của Cộng sản. Hai mục tiêu chính cho bối cảnh mới được bắt đầu thảo luận.

Một là, để kịp thời thay thế cho lý tưởng Cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo, miền Nam Việt Nam phải đẩy mạnh việc xây dựng một lực lượng chống Cộng theo một tinh thần quốc gia dân tộc, công việc đầu tiên là phải loại bỏ nhanh chóng ảnh hưởng chính trị của chế độ thực dân Pháp để lại.

Hai là, để ngăn chặn ảnh hưởng của trào lưu Cộng Sản trong toàn khu vực, Mỹ phải tạo ra một cấu trúc mới về an ninh và cần hành động kết hợp với các đồng minh.

Theo đề xuất của Ngoại trưởng John Foster Dulles, ngày 8 tháng 9 năm 1954, Mỹ hợp tác với Anh, Úc, Tân Tây Lan, Pháp, Philippine, Thái và Pakistan để thành lập một tổ chức mang tên Liên phòng Đông Nam Á (Southeast Asian Treaty Organisation, SEATO).

Dieses Bild hat ein leeres alt-Attribut; sein Dateiname ist 220px-CongressBuilding_SEATO.jpg.


Hội nghị thượng đỉnh các quốc gia thuộc khối SEATO tại Manila năm 1966, nguồn ảnh Wikipedia

Các quốc gia kết ước trong khối SEATO cùng theo đuổi một nhiệm vụ chung là tham khảo ý kiến trong trường hợp bị Cộng Sản đe doạ. Trong một văn kiện riêng biệt có quy định thêm là các thành viên sẽ mở rộng việc áp dụng Hiệp ước đối với các nước Lào, Kampuchia và Quốc gia Việt Nam.

Nhìn chung, có sự khác biệt cơ bản của khối SEATO và Tổ chức Liên minh Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organisation, NATO). Các thành viên của khối NATO tự nguyện tham gia để bảo đảm nền an ninh chung cho khối trong khi khối SEATO chỉ đề ra nhu cầu tham vấn hỗ tương và không tạo thêm một trách nhiệm quân sự nào khác. 

Dù mở rộng phạm vi áp dụng cho các quốc gia Đông Dương, nhưng khối SEATO lại cấm đoán việc xây dựng liên minh quân sự, vì như vậy sẽ là vi phạm Hiệp định Genève.

Ngoài ra, Tổng thống Dwight D. Eisenhower và Ngoại trưởng Dulles nhận ra một trở ngại chính trong việc phát huy ảnh hưởng của khối SEATO. Ấn Độ, Miến Điện và Indonesie là những quốc gia đông dân nhất trong khu vực lại không tham gia, vì cho SEATO là một phương tiện cho Mỹ và phần lớn các nước da trắng tìm cách hợp pháp hoá việc can thiệp nội bộ các nước Đông Nam Á.

Mỹ có một quan tâm đặc biệt khác là muốn đưa miền Nam Việt Nam vào trong lĩnh vực ảnh hưởng chính trị của Mỹ mà hợp tác tình báo là phương tiện sử dụng.

Tổng thống Eisenhower, Ngoại trưởng Dulles và người em là Allen W. Dulles, Giám đốc Cơ quan Trung ương Tình báo (Central Intelligence Agency, CIA) cho rằng, trong trường hợp nền ngoại giao Mỹ không thể tiến hành, thí dụ như gặp trở ngại trong phạm vi hiệp ước, va chạm quyền lợi quốc gia, hay diễn biến bất lợi trong tình hình quốc nội, thì cơ quan CIA sẽ âm thầm tham gia để giải quyết và tránh được sự kiểm soát của Quốc hội. 

Do đó, các hoạt động tình báo là một phương tiện hữu ích làm cho Mỹ dễ dàng hơn trong việc phát huy thanh thế ngoại giao.

Edward Geary Lansdale và CIA

Trong bối cảnh này, tháng Sáu năm 1954, Edward Lansdale, Đại tá Không quân Mỹ, cùng 12 nhân viên khác của CIA đến Sài Gòn nhận việc. 

Lansdale là một chuyên gia đã trực tiếp chỉ huy việc đánh bại lực lượng Cộng sản Hukbalahap Philippines. Kinh nghiệm thành công này giúp cho Lansdale tin rằng, khi Mỹ  viện trợ hào phóng trong tinh thần thực dụng và các nước thuộc thế giới thứ ba hợp tác tích cực, thì mô hình theo nền kinh tế thị trường sẽ dần dà hình thành, xã hội dân chủ tự do phát triển, và cuối cùng Cộng Sản không thể bành trướng.

Dieses Bild hat ein leeres alt-Attribut; sein Dateiname ist 1024px-Colonel_Edward_Lansdale_at_The_Pentagon_in_1955.jpg.

John Dulles, Edward Lansdale, Nathan F. Twining và Charles P. Cabell tại Ngũ Giác Đài năm 1955, nguồn ảnh: Wikipedia


Theo Lansdale, nhiệm vụ cấp thời là các nước phải  có chính sách huỷ diệt Cộng Sản và các cá nhân phải nêu gương trong hành động cụ thể. 

Trước các tướng lãnh Mỹ, Lansdale giải thích: “Chúng ta không nên quên rằng các cán binh Cộng Sản ẩn núp trong quần chúng. Khi dân chúng đứng về phía chúng ta, họ không còn che đấu được nửa, chúng ta sẽ nhận ra và bắt họ, thế là xong.”

Trong thập niên 1950, Lansdale là một biểu tượng cao đẹp cho tinh thần dám muốn dám làm của người Mỹ. Hình ảnh của Lansdale đã được Graham Greene tiểu thuyết hoá qua nhân vật Alden Pyle trong tác phẩm Người Mỹ thầm lặng, The Quite American (1954) và William J. Lederer và Eugene Burdick qua nhân vật Đại tá Hillendate trong tác phẩm Người Mỹ xấu xí, The Ugly American (1958). Đó là những chính khách Mỹ am tường nội tình các nước và biết sử dụng khéo léo các phương thức tình báo. 

William Colby, Giám đốc CIA, về sau, có nhận định Lansdale là mẩu người đến miền Nam đúng lúc để cứu vãn những gì có thể còn cứu vãn được.

Mục tiêu chính của Lansdale loại bỏ mọi ảnh hưởng của Pháp trong Quân đội và đào tạo các chuyên gia chống du kích chiến. Trước mắt, Lansdale huy động các thủ thuật của CIA về chiến tranh tâm lý, không chỉ nhắm làm cho các cán bộ xa lánh Cộng Sản, mà còn cho dân chúng hoang mang. 

Cụ thể là CIA tổ chức gởi các toán biệt kích ra miền Bắc để hoạt động phá hoại lẻ tẻ, tung tin giả mạo là nhiều sư đoàn Trung Cộng đang tràn qua biên giới, cướp bóc,  hãm hiếp dân chúng và trên đường tiến về thủ đô, bỏ đường vào trong bình xăng xe buýt để làm trở ngại giao thông, bỏ tiền mua chuộc các thầy bói toán để tiên tri tương lai đen tối cho miền Bắc và tổ chức rải truyền đơn trong các khu vực có đông tín đồ Thiên chúa giáo. 

Gây ảnh hưởng sôi động nhất trong các hoạt động này là tung tin Đức Mẹ Maria đã vào miền Nam để tránh xa Cộng Sản vô thần làm cho gần một triệu người, đa số là Công giáo, tin theo. Hải quân Mỹ cũng tham gia chiến dịch khi gởi chiến hạm đến cảng Hải Phòng giúp cho dân trong việc di cư.

Không những chỉ có nhân viên của CIA mà còn của Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu hoạt động ở Việt Nam. Mục tiêu của cả hai là cố tìm ra một giải pháp lý tưởng cho vấn đề xây dựng miền Nam. Điều kiện cần có cho một đất nước như vậy là dân chúng và chính quyền phải có tinh thần quốc gia dân tộc, có nghĩa là, có các ý thức chống Cộng sản và chống thực dân Pháp; vấn đề ưu tiên là tìm ra những nhân vật lãnh đạo cho phù hợp trong giai đoạn mới.

Phác thảo một mô hình đất nước trong buổi giao thời đã khó, tìm kiếm giới lãnh đạo có đủ các yếu tố lý tưởng này lại càng khó hơn. Trở ngại chính là vì thành phần trí thức người Việt chân chính hay thân Mỹ quá ít; trong quá khứ, họ luôn có ít nhiều hợp tác với Pháp và hưởng được các quyền lợi kinh tế và chính trị. Ngoại trưởng Dulles cho rằng khi tìm ra được ông Ngô Đình Diệm, một người quốc gia không có liên hệ với Việt Minh và Pháp để hợp tác, đó là một trường hợp may mắn đặc biệt.

Ngô Đình Diệm và miền Nam

Vài nét tiểu sử

Ông Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại làng Đại Phong Lộc (nay thuộc xã Phong Thuỷ), huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình và xuất thân từ một gia đình Công giáo thuần thành và quan lại.

Sau khi tốt nghiệp Trường Hậu bổ năm 1921, ông Diệm lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ hành chánh cấp địa phương: Tri huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên, Tri phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, Quản đạo phủ Ninh Thuận và Tuần vũ tỉnh Bình Thuận.

Ngo Dinh Diem - Wikipedia

Ngô Đình Diệm, nguồn ảnh Wikipedia


Năm 1933, ông nhận chức vụ Lại Bộ Thượng Thư trong nội các của Bảo Đại, tương đương với Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày nay. 

Là một vị thượng thư trẻ tuổi nhất và đầy nhiệt huyết, ngay khi nhậm chức, ông đề xuất hai biện pháp cải cách, một là Trung và Bắc Kỳ phải trở thành một cơ cấu hành chánh duy nhất, hai là dành nhiều quyền tự do chính trị cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung kỳ. Vì hai đề nghị không được chấp thuận, nên ông từ chức sau ba tháng nhậm chức.

Về Huế, ông chuyển sang dạy học tại trưòng Thiên Hựu (Providence) và lần lượt tham gia nhiều tổ chức chính trị khác nhau như Đại Việt Phục Hưng Hội, Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội và Uỷ Ban Cứu Quốc. Mục tiêu chung là hỗ trợ cho Hoàng thân Cường Để, dựa vào Nhật để chống Pháp. Các giải pháp này không thành công vì Nhật không ủng hộ Cường Để mà là Bảo Đại.

Đầu năm 1945, Bảo Đại lập chính quyền thân Nhật với quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam và có yêu cầu ông Diệm tham chính, nhưng ông từ chối, người thay thế là Trần Trọng Kim. 

Năm 1948, Bảo Đại ký kết Hiệp định với Pháp ở Hạ Long với nội dung là Việt Nam được hưởng một nền độc lập hạn chế. Là người kiên định tranh đấu cho một nước Việt Nam độc lập toàn diện, ông Diệm phản đối giải pháp này và cũng từ chối chức vụ Thủ tướng mà Bảo Đại đề nghị.

Khi chính quyền Việt Minh thành lập, ông Hồ Chí Minh cũng tìm cách vận động cho ông tham gia trong chức vụ Thủ tướng, nhưng không có kết quả. Lý do từ chối xuất phát từ việc một người anh của ông là Ngô Đình Khôi bị Việt Minh bắt và sát hại. Ông Hồ có biện minh là không có trách nhiệm trong vụ thảm sát này, vì đó là hành động nhất thời của cán bộ áp tải đại phương trong lúc hỗn loạn.

Để thể hiện lập trường chống cả Pháp lẫn Việt Minh, ông vận động thành lập Đảng Xã hội Thiên chúa Giáo và lý tưởng theo đuổi là: “một cuộc chiến đấu cho độc lập tổ quốc về phương diện chính trị và là một cách mạng xã hội để đem lại độc lập cho nông dân và thợ thuyền Việt Nam.“

Các nỗ lực này của ông ảnh hưởng chỉ hạn chế trong một thiểu số trí thức, không tạo ra tiếng vang  trong xã hội.

Khi nhận định là không có cơ hội trực tiếp tham chính, ông dành nhiều thời giờ để tiếp xúc với chính giới ngoại quốc theo Ky Tô giáo. Đáp các lời mời, ông xuất ngoại để vận động chính trị tại Vatican, Nhật và Mỹ. 

Sau đó, ông sống ẩn tại Pháp, Bỉ và lâu nhất là ở các tu viện Lakewood, New Jersey và Ossinng, New York, Hoa Kỳ. Tại đây, cơ hội đến cho ông.

Dù là một người Việt chưa tạo tên tuổi và uy tín trên đất Mỹ, ông Diệm bắt đầu mở rộng tiếp xúc với chính giới Mỹ thông qua Đức Hồng Y Spellman.

Từ năm 1955, một nhóm thân hữu Mỹ cho Việt Nam “American Friends of Vietnam” được thành hình, trong đó một số chính khách nổi danh tham gia gồm có Đức Hồng Y New York Francis Spellman, Chánh án tối cao Wlliam O. Douglas, Đại sứ Joseph Kennedy và con trai là Nghị sĩ John F. Kennedy, Nghị sĩ Mike Mansfield, Tướng Wililam “Wild Bill” Donovan, Chỉ huy trưởng Cơ quan Tình báo Mỹ (OSS) trong thời Đệ nhị Thế chiến.

Nhờ tham gia sinh hoạt trong nhóm này mà Ngoại trưởng Dulles phát hiện ra ông Diệm và tin rằng đã tìm ra được một mẩu người thích hợp cho thời cuộc sắp đến của miền Nam. Sau nhiều lần hội thảo, Mỹ đề xuất cho ông về nước làm Thủ tướng.

Trong thực tế, Mỹ không thể độc quyền và âm thầm đưa ông Diệm về nước như các cáo buộc trong các sách vở. Ông Diệm không phải là một mẩu người háo danh, dể cho Mỹ sai bảo và nhẹ dạ. 

Qua nhiều lần từ chức trong chính trường đã thể hiện cá tính khó khăn của ông, chính Bảo Đại cũng đã có nhiều kinh nghiệm với ông. Về sau, kể cả Tổng thống John F. Kennedy cũng không thuyết phục ông Diệm dễ dàng. 

Việc ông Diệm về nước chấp chính là một quá trình dài và khó khăn, kết qủa là nỗ lực của nhiều phía mà Vua Bảo Đại và ông Diệm là chủ động.

Tình thế đất nước nguy ngập, nhân tâm ly tán, tương lai mờ mịt, Bảo Đại hoang mang, bất lực và nhiều lần yêu cầu ông Diệm chấp chính, nhưng ông từ chối với lý do là không tin tưởng người Pháp. 

Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ, Pháp đàm phán và ngỏ ý là trao trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam. 

Ngày 16 tháng 6 năm 1954, ông Diệm gặp Bảo Đại tại Pháp và đồng ý làm Thủ tướng với điều kiện là ông được toàn quyền quyết định về chính trị, quân sự và kinh tế. Bảo Đại đồng ý với yêu cầu này.

Về sau, khi nhìn lại quá trình này, Bảo Đại cho biết: “tôi biết rằng ông Diệm là một người khó tính, … Mỹ có thể trông cậy được ông trong việc chống lại chủ nghĩa cộng sản. Đúng, ông chính là người cần thiết cho hoàn cảnh như vậy.”

Do đó, ông Diệm về Sài Gòn ngày 25 tháng Sáu năm 1954 để chấp chính và chính thức được bổ nhiệm làm Thủ tướng. Ngày 7 tháng 7 năm 1954, ông Diệm thành lập nội các gồm 18 người.

Các chống đối

Nhưng thực tế không như Dulles và Bảo Đại kỳ vọng; sau khi nhận việc, ông Diệm gặp chống đối trong giới ngoại giao Mỹ và nhiều tầng lớp người Việt.

Điển hình là Douglas Dillon, Đại sứ Mỹ tại Paris, cho ông Diệm là một con người thần bí hơn là chính khách; Tướng J. Lawton Collins, Đặc sứ Mỹ tại Sài Gòn, xem ông Diệm như là một Thiên sứ không có tin mừng mà chỉ biết một công việc duy nhất là xin viện trợ Mỹ.

Ngay trong vấn đề nội chính, ông Diệm không có thực quyền, vì hầu hết các viên chức quan trọng trong chính quyền của ông đều lệ thuộc Pháp, nhưng chống đối mãnh liệt nhất là Quân đội và Giáo phái.

Pháp chống ông Diệm vì chủ trương là Tổng tuyển cử vào tháng Sáu năm 1956 phải được xúc tiến. Tài liệu về sau cho thấy là Pháp phải vận động ủng hộ cho giải pháp này vì quyền lợi kinh tế của Pháp tại Đông Dương quá lớn, nên Pháp không thể ra đi và muốn tiếp tục đầu tư và hưởng lợi.

Do đó, cùng trong chiều hướng này, phía Quân đội Việt Nam cũng không nhiệt tình ủng hộ cho ông Diệm vì các tướng lãnh còn bị ảnh hưởng nặng nề của Pháp và nhìn ông Diệm là người có khuynh hướng thân Mỹ.

Điển hình là Tướng Nguyễn văn Hinh, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Việt Nam, xuất thân trong binh chủng Không quân của Pháp, có vợ Pháp và quốc tịch Pháp. Các ràng buộc này khó có thể làm cho ông Hinh có tinh thần quốc gia để hợp tác với ông Diệm. Bất hoà với ông Diệm đến độ ông Hinh âm mưu đảo chính, nhưng không thành, vì các cộng sự viên bị Landsale mua chuộc, hậu quả là ông Hinh phải đào thoát sang Pháp.  

Quan trọng nhất trong giai đoạn này là Việt Nam chưa có một nền tài chính độc lập, mọi chính sách tiền tệ đều do Ngân hàng Đông Dương thuộc Pháp điều khiển.

Tình hình phân hoá địa phương là một đặc điểm khác. Hai giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo là những tổ chức có vũ trang độc lập và sinh hoạt tự trị tại miền Tây và Đông Nam Bộ.

Tại Sài Gòn, tình hình về an ninh cũng không khá hơn và Tổ chức Bình Xuyên là một mối đe doạ trầm trọng. Trong quá khứ, Pháp đã dung dưỡng cho Bình Xuyên tự do hoạt động trong các lĩnh vực trục lợi bất chính như tổ chức mãi dâm, cờ bạc, buôn bạch phiến và bảo vệ an ninh. Tướng Lê văn Viễn, Chỉ huy Bình Xuyên trước đây, khó là người chịu thuần phục ông Diệm và thu mình trong khuôn khổ luật pháp mới. 

Cuối cùng, để tránh tranh chấp không cần thiết, Bảo Đại bổ nhiệm Lại văn Sang, chỉ huy Lực lượng Cảnh Sát thay thế. Ông Diệm không đồng ý sự bổ nhiệm này, nhưng không có kết quả. Tranh chấp giữa ông Diệm, Bảo Đại, Bảy Viễn và ông Sang về nguồn tài trợ do nhóm Bình Xuyên bùng nổ mạnh hơn.

Trong bước đầu xây dựng, ông Diệm kêu gọi hai lực lượng Hoà Hảo và Cao Đài hợp tác để thành lập quốc gia, nhưng các thương thuyết với Tướng Trình Minh Thế của Cao Đài và Tướng Nguyễn Giác Ngộ của Hoà Hảo về việc sát nhập các đơn vị vũ trang thuộc về quân đội của chính phủ chưa ngã ngũ.

Đối với Bình Xuyên, ông Diệm chủ trương quyết liệt là phải loại trừ bằng biện pháp quân sự. Do đó, nhiều giao tranh xảy ra. Đến tháng Ba năm 1955, xung đột đẩm máu trầm trọng hơn.

Vì nhiều lý do bất hoà chính kiến, hai giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo công khai hợp tác với Bình Xuyên làm cho nỗ lực xây dựng của ông Diệm càng khó khăn. 

Ngay cả Bảo Đại, dù ở Côte d´Azur, Pháp, cũng thấy là không còn tín nhiệm ông Diệm trong vai trò lãnh đạo vì các biện pháp độc tài. Ngày 18 tháng 10 năm 1955 Bảo Đại tuyên bố cách chức ông Diệm, nhưng lệnh lại không được ông Diệm phổ biến trong công luận. Trong một công điện khác thứ hai, Bảo Đại còn thúc dục ông nên rời khỏi Việt Nam.

Tài liệu về sau cho biết là ông Diệm từ chối sang Pháp để báo cáo tình hình; do đó, dự định của Bảo Đại cách chức ông Diệm và đưa Lê Văn Viễn lên thay bất thành.

Khi định mệnh chính trị của ông trở nên mong manh, thì may mắn lại đến cho ông. Một thế lực duy nhất âm thầm ủng hộ để cho ông duy trì và củng cố quyền lực là cơ quan CIA và người đắc lực cận kề là Tướng Lansdale.

Chống đối ông Diệm công khai nhất là Tướng J. Lawton Collins, Đặc sứ Mỹ tại Sài Gòn, một nhân vật tín cẩn của Tổng thống Eisenhower. Ngay từ buồi đầu nhậm chức tháng 11 năm 1954, Collins nghi ngờ khả năng lãnh đạo của ông Diệm, mà hai cáo giác chính là tham nhũng và thiếu hiệu năng. Tướng Paul Ely của Pháp cũng ủng hộ quan điểm của Collins.

Đến cuối tháng Tư năm 1955, Collins nhận định là nguy cơ cho Việt Nam đã đến và quyết định trở lại Washington để khẩn báo cho Tổng thống Eisenhower về việc ông Diệm không còn thích hợp trong việc lãnh đạo đất nước. 

Hai luận điểm của Collins là: Chính quyền không ổn định và quân đội không đủ mạnh. Với hai trở ngại này, ông Diệm không thể xây dựng đất nước thành công. 

Collins đã thuyết phục được Tổng thống Eisenhower tìm giải pháp thay thế, trong khi ba người ủng hộ cho ông Diệm tiếp tục nắm quyền là Lansdale và Nghị sĩ Mansfield và Ngoại trưởng Dulles.

Để giải quyết, Eisenhower uỷ nhiệm cho Dulles tìm giải pháp tạm thời, tốt nhất là nên thu xếp để cho ông Diệm đảm nhiệm một chức vụ tương trưng và quân đội phải nắm giử thực quyền cai trị, trong khi Collins hợp tác với Pháp tìm một nhân vật khác. 

Tài liệu về sau phổ biến là người được Mỹ dự định chọn là Bác sĩ Phan Huy Quát trong khi Bảo Đại đang phân vân chọn lựa giữa Trần Văn Hữu và Lê Văn Viễn.

Collins đang trên đường trở lại Sài Gòn để thực thi giải pháp của Eisenhower, thì tình thế đổi thay đột ngột. Quân đội của ông Diệm chống trả nhóm Bình Xuyên thành công, đẩy được lui ra khỏi Sài Gòn và tàn quân phải trú ẩn tại Rừng Sát thuộc Cần Giờ.

Tận dụng thời cơ thuận lợi này, ông Diệm tìm cách thu phục hai giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo về quy thuận quốc gia; uỷ nhiệm cho Lansdale trực tiếp tiếp xúc. Kết quả là hai giáo phái không còn chống đối cá nhân ông Diệm, chấp nhận giải giới và huỷ bỏ các yêu sách về quyền địa phương tự trị. 

Theo các tài liệu về sau hé lộ, tổng số tiền CIA sử dụng cho việc quy thuận này lên đến 12 triệu đô la vào thời giá trong năm 1955. Trong suốt một năm sau, lực lượng vũ trang của hai giáo phái không còn gây một khó khăn nào vì lần luợt về quy thuận và được sát nhập và phân tán trong quân đội của chính phủ. Tàn quân của Bảy Viển bị truy sát và Bảy Viển đào thoát sang Lào rồi sang Pháp. Tình hình nội an được vãn hồi.

Thành công ngoạn mục này giúp cho ông Diệm củng cố quyền lực và có thể bắt đầu phô trương thanh thế ra ngoài nước, nhất là tại Washington. Tình thế đổi thay nên Eisenhower đổi ý và ủng hộ cho ông Diệm được tiếp tục lãnh đạo đất nước.

Trưng cầu dân ý 

Nhưng trở ngại cuối cùng cho việc củng cố quyền lực của ông Diệm là Bảo Đại còn tại vị trong chức danh Quốc trưởng. 

Ngày 23 tháng 10 năm 1955, ông Diệm tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để cho dân chúng chọn lựa vị nguyên thủ quốc gia. 

Trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955 – Wikipedia tiếng Việt

Nguồn ảnh Wikipedia


Thực tế ngoài sự mong đợi. Với 63.017 phiếu, kết quả là Bảo Đại thua, ông Diệm được 5.721.735 phiếu, trong tổng số cử tri toàn quốc là 5.828.907, ông Diệm nhận được 98,5% phiếu bầu. 

Ngày 26 tháng 10 năm 1955, ông Diệm trở thành tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ là nước đầu tiên công nhận thể chế mới của miền Nam.

Theo ước lượng của Lansdale, chỉ cần có 60% dân ủng hộ là ông Diệm sẽ có đủ chính danh để xây dựng đất nước, nhưng lại có nhiều bằng chứng cho thấy có gian lận, mà thí dụ điển hình là tại Sài Gòn, nơi chỉ có 405.000 cử tri ghi danh đi bầu, nhưng tổng số phiếu bầu đã lên đến 605.000.

Kết quả gian lận này không làm chính giới Washington quan tâm để phản đối, vì các đặc điểm cá nhân của vị tổng thống tân cử được xem là chọn lựa ưu tiên: tinh thần chống Cộng, chống Pháp, tín hữu Ky tô giáo thuần thành và thân Mỹ. 

Thắng lợi này cũng có nghĩa là mọi ảnh hưởng của thời kỳ thuộc địa của Pháp và sự lãnh đạo của vua Bảo Đại tại miền Nam chấm dứt.

Tổng tuyển cử

Nhưng có một điểm quan trọng nhất mà cả ông Diệm và chính giới Mỹ cùng gặp nhau, đó là ngăn trở cuộc Tổng Tuyển cử cho Việt Nam, theo như Bảng Tuyên bố chung sau Hiệp định Geneve đề ra.

Nguyên văn Điều 7 của Bảng Tuyên bố là: “Hội nghị tuyên bố, giải pháp cho những vấn đề chính trị ở Việt Nam dựa trên cơ sở tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ sẽ cho phép người dân Việt Nam được hưởng nền tự do cơ bản thông qua kết quả tổng tuyển cử tự do sẽ được tổ chức tháng 7-1956”.

Biện minh cho quan điểm này là chính phủ Bảo Đại hay Việt Nam Cộng Hoà không trực tiếp ký kết Hiệp định, nên không có ràng buộc về mặt pháp lý. Hoa Kỳ cũng không có một tuyên bố nào ủng hộ cho giải pháp này.

Thực tế phức tạp hơn. Sau khi ký kết Hiệp định, có khoảng 130.000 cán binh của Việt Minh từ miền Nam tập kết ra Bắc và khoảng 10.000 ở lại để lo xây dựng cơ sở đấu tranh cho thời kỳ mới. Tất cả đều có một niềm tin sắt đá là Tổng tuyển cử vào năm 1956 sẽ xảy ra và Việt Minh sẽ thắng cử.

Dĩ nhiên, niềm tin này có nhiều cơ sở vững chắc: dân số miền Bắc là 16 triệu, nhiều hơn dân miền Nam là 14 triệu và uy tín của ông Hồ lan toả nhiều hơn, được cả nước xem là cha già dân tộc, có công giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, trong khi ông Diệm chỉ là một quan lại của triều đình Huế và tu sĩ Công giáo ở Mỹ, về sau được một thiểu số nông dân, quân đội mới thành lập và người dân Bắc di cư ủng hộ.

Ông Diệm cũng có ý thức về hậu quả của việc tổ chức tổng tuyển cử, ông sẽ thất bại khi Cộng sản có thể tận dụng mọi thủ thuật để chiếm quyền, vì không thể có bầu cử tự do tại miền Bắc mà cuộc bầu cử Quốc hội năm 1946 là thí dụ. 

Nhận định của ông Diệm là muốn tổ chức bầu cử tự do phải có quốc tế giám sát và Liên Hiệp quốc đứng ra bảo đảm. Vấn đề là khó khả thi. 

Ông tuyên bố: “Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ. 

Tuy nhiên nếu những cuộc bầu cử tạo thành một trong những nền tảng cơ bản của nền dân chủ thật sự thì chúng chỉ có ý nghĩa với điều kiện chúng hoàn toàn tự do. 

Hiện nay, thực tế phải đối mặt với chế độ áp bức của Việt Minh, chúng tôi nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc.”

Lập luận này cũng được Uỷ ban Kiểm soát Đình chiến, Nga, Trung Quốc và Mỹ ủng hộ. 

Cộng đồng thế giới tự do có một nhận định chung là sẽ không có việc tái triệu tập Hội nghị để tổ chức Tổng tuyển cử, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải chấp nhận không có Tổng tuyển cử và hai phía của Việt Nam phải tự chuẩn bị phương án cho chính mình và như vậy có nghĩa là mặc nhiên ủng hộ quan điểm của ông Diệm. 

Chia đôi lãnh thổ tạm thời chỉ là kết ước riêng của miền Bắc với Pháp và Tổng tuyển cử là một triển vọng chung được ghi nhận trong Bảng Tuyên bố của Quốc tế về tương lai của đất nước. 

Tất cả hình thức này cũng xem như là hợp thức hoá tình trạng của Hiệp định Geneve. 

Cuối cùng, ông Diệm sử dụng biện minh pháp lý như là một phương tiện để chống lại Tổng tuyển cử. Lập luận chính của Tổng thống Diệm là: 

Miền Nam không ký kết Hiệp định Genève. Nội dung Hiệp định không đề cập Tổng tuyển cử mà là Điều 7 của Bảng Tuyên bố cuối cùng. 

Về hình thức, đây là một văn kiện không có chữ ký của bất cừ quốc gia nào.

Về nội dung, điều 7 không có qui định chi tiết thực hiện, tùy hai bên thương lượng trong tinh thần nhiệm ý. 

Về mặt thực tế, miền Bắc sẽ không có tự do bầu cử mà dưới sự chỉ đạo độc quyền của Việt Minh. Ủy Hội Quốc Tế không muốn đứng ra tổ chức Tổng tuyển cử và cho rằng không thể có bầu cử tự do.

Với lý do không có căn bản pháp lý do Hiệp định và Bảng Tuyên Bố ràng buộc, chính quyền miền Nam tin tưởng là trong tình hình mới, miền Nam được hoàn toàn độc lập để khởi đầu xây dựng một chính quyền tự do.

Bài liên quan:

Hoa Kỳ và Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Phần I): Thành Quả Xây Dựng Ban Đầu Của Việt Nam Cộng Hoà (1954-1960)

Hoa Kỳ và Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Phần II ): Cơ cấu viện trợ Mỹ và chính quyền Việt

Hoa Kỳ và Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Phần III): Những biểu hiện suy thoái của chế độ Ngô triều

CIA và Ngô Đình Diệm

Nguồn: https://vietbao.com/p302901a310058/chinh-sach-cua-my-doi-voi-mien-nam-viet-nam-sau-nam-1954

Quãng đời tôi từ Chiến tranh đến Hòa bình – Lương Phạm

Lương Phạm

Nhân dịp ngày Quốc hận 30/4 tôi xin kể về cuộc đời tôi từ cuộc chiến VN đến một thứ “Hòa bình” không mong đợi. Có lẽ vì tính tôi hay nghi ngờ những định kiến về CS nên Thượng đế đã cho tôi nhiều cơ hội hơn để tìm hiểu về họ. Sau lệnh Tổng Động Viên năm 1968 và sau khi mãn khóa Trường SQTB Thủ Đức, tôi được biệt phái về Tiểu khu Long An. Là một người lính mới ra trường còn mang giày Bốt-đờ-sô bóng lộn tôi chưa kinh nghiệm là đi hành quân nơi đất bùn lầy trơn trợt phải mang giày bố, nên trong trận ra quân đầu tiên, khi phải chạy hay nhảy qua mương hẹp, tôi luôn bị trượt té ạch đụi hoài.

Mấy người lính cười cười : “Chuẩn úy phải mang giày bố mới đi hành quân được”. Nghe vậy tôi cũng hơi quê quê. Trong trận này lần đầu tiên nghe trực tiếp súng AK địch bắn thẳng, đạn ghim líu chíu xung quanh, tôi cũng hơi rợn. Sau lần hồi quen rồi cũng dạn dày như ai.

Vì là Đại đội trừ bị Tiểu khu, nên Đại đội của tôi hầu như phải ứng chiến hành quân suốt tháng và một nửa trong số các cuộc hành quân đó là trực thăng vận. Dù là tỉnh ven đô, nhưng vì địa thế là sông rạch trên tất cả 7 Quận từ Cần Giuộc, Cần Đước đến Thủ thừa, Bến Cát, Tân Trụ, Rạch Kiến, Bình Phước, đều bao phủ bởi những đám dừa nước rậm rạp rất lý tưởng cho VC ẩn trú và phá hoại khủng bố. Ngoài những cuộc hành quân truy lùng và diệt địch, chúng tôi còn phải hành quân đốn lá khai quang những vùng cây cối rậm rạp. Đôi khi máy bay Hoa Kỳ cũng rải thuốc khai quang vào những vùng này. Do đó cùng với nỗ lực hành quân ngày đêm, năm 1970 tình hình an ninh ngày càng ổn định hơn so với những năm 1968. Khi đi hành quân tôi tuyệt đối ra lệnh cho binh sĩ khi dừng quân cơm nước, nếu mua gà vịt thực phẩm trong dân chúng, phải trả tiền sòng phẳng để tránh mọi tuyên truyền của VC bất lợi cho QĐVNCH. Thực tâm mà nói, người dân không mấy người thực lòng theo VC. Lý do họ phải làm theo VC chỉ vì QĐVNCH quá mỏng để bảo đảm an ninh cho họ khi đêm về. Những vùng xôi đậu là những nơi mà ban ngày là Quốc gia, ban đêm là CS. Khi màn đêm phủ xuống là lúc du kích lẻn về vào từng nhà, thâu thuế, lúa gạo, thực phẩm nói là “Ủng hộ quân giải phóng”. Chúng tuyên truyền bịp bợm và khủng bố, hăm dọa những ai không nghe chúng. Chúng sẵn sàng ban đêm vào nhà bịt mắt dẫn đi giết, bêu xác đầu xóm để làm gương cho những ai cứng đầu. Sau những trận oanh tạc hoặc pháo binh, chúng tôi gặp những xác kinh tài VC bên những bao tải lớn đựng tiền VNCH, chứng tỏ họ vừa thu thuế xong chưa giao nộp kịp. Nguời dân vì một cổ hai tròng nên phải cúi đầu dưới sự áp bức của VC. Có một nghịch lý chợt hiện ra trong đầu tôi : Trong khi xã hội miền Nam tự do no ấm, mọi người đều được tự do làm ăn, dành dụm mua sắm, thì CS lại tuyên truyền nhân dân miền Nam bị “o ép, kềm kẹp bởi Mỹ ngụy” nên họ phải vào “giải phóng” để đem chiến tranh vào miền Nam yên bình. Để bảo vệ cuộc sống ấm no của người dân, Chính phủ VNCH phải động viên thanh niên nhập ngũ ngoại trừ những người có hoàn cảnh cha mẹ già yếu, hoặc còn đang đi học. Trong khi đó VC tuyên truyền là Chính phủ bắt lính để chống lại Nhân dân. Đáng lẽ người dân phải đóng thuế cho Chính phủ là người tạo ra cuộc sống ấm no đó, họ lại phải đóng thuế cho bọn ăn cướp trên xương máu đồng loại. Có ai cần bọn chúng vào đây nếu không phải là do sự tham tàn của lũ CS. Tôi không trách những người lính CS Bắc Việt vì họ cũng chỉ có một con đường nhập ngũ đi B (vào Nam) mà thôi. Nếu anh không tự vào lính thì không còn chỗ nào để dung thân cả. Thân nhân vợ con bị bắt buộc vào Đoàn, vào Đảng họp hành đấu tố thường xuyên. Nếu anh không đi thì vợ con sẵn sàng tố khổ, phê bình và cuộc đời anh sẽ đi vào một trại cải tạo nào đó. Do đó có khi vào lính anh còn có cái ăn, không bị đói. Đó chính là tâm sự của một vệ binh trong trại tù binh khi có dịp nói chuyện riêng. Từ đó tôi bắt đầu hiểu một chân lý : “CS nói không là có và có là không”. Họ tuyên truyền, chửi bới “Mỹ Ngụy” về những cái xấu, cái ác thì thực ra họ đang nói xấu về chính họ. Chân lý này luôn luôn đúng với tôi về sau này.

Cuối năm 1969 trong một cuộc hành quân ở Quận Bình Phước, tôi bị thương ở đầu gối do một người lính vướng phải mìn nội hóa của địch. Người lính đi gần đó bị một miểng ghim vào tim và chết ngay tại chỗ. Một vài người lính khác bị thương. Chúng tôi được trực thăng tản thương liền sau đó. Buổi chiều, có một toán biệt kích tỉnh đến nhập vào Đại đội của tôi. Đến khi chúng tôi rút đi thì toán đó nằm ém lại. Màn đêm vừa buông xuống, VC bắt đầu kéo về bắt loa huyênh hoang về thành tích đã tiêu diệt và làm bị thương một số lớn (số phóng đại) binh sĩ ngụy, trong số đó có giết được một Sĩ quan. Chúng tôi ở Bệnh viện nghe báo cáo lại mà tức cười. Không chờ cho đám VC này vào nhà dân, biệt kích đã nổ súng tiêu diệt toàn bộ.

Vào những năm 68-69, VC móc nối nhiều gia đình làm tay sai cho chúng. Khi mới về Long An, chân ướt chân ráo, tôi không quen ai nên cũng buồn. Một anh bạn làm ở tiểu khu giới thiệu cho tôi làm quen hai chị em : Cô chị tên Trinh quen với bạn tôi, còn tôi làm quen với cô em là Duyên. Sau vài lần đến nhà chơi, tôi và Duyên có đi chơi Mỹ Tho và chụp ảnh chung. Qua một vài sự kiện hơi lạ trong nhà khi chị em này có vẻ dấu diếm một điều gì đó, anh bạn tôi nghi ngờ nên có dò hỏi Phòng 2 Tiểu khu. Họ cho biết 2 chị em này có một người chị khác bị bắt khi dấu truyền đơn và chất nổ trong người và họ đang theo dõi gia đình này. Tôi dò hỏi Duyên là tấm ảnh chụp chung với tôi đâu rồi. Cô ta nói là đã làm mất nhưng tôi biết là cô ta đã giao nộp cho thượng cấp của cô ta rồi. Cha mẹ của Duyên ở trong vùng xôi đậu (vùng bị VC kiểm soát vào ban đêm). Trong một cuộc hành quân vào vùng này, một người lính có chỉ cho tôi căn nhà cha mẹ cô ấy và cho biết tên Trinh và Duyên chỉ là tên giả. Từ đó tôi xa lần không đến nhà chị em đó nữa.

Năm 1972 sau khi đi học một khóa tu nghiệp tại Mỹ trở về, Bộ Tổng Tham Mưu thuyên chuyển tôi về Sư đoàn 5 Bộ Binh. Trong một cuộc hành quân lớn, 2 Tiểu đoàn chúng tôi bị Công Trường 7 bao vây bằng Bộ binh và Thiết giáp trong hơn 1 tháng. Lúc này Hoa Kỳ đã Việt Nam hóa chiến tranh nên không còn yểm trợ mạnh như trước. Chúng tôi phải hứng chịu hàng chục trận mưa pháo mỗi ngày. Thiếu thực phẩm và nước uống nên chúng tôi phải liều mở đường máu trở ra. Dưới hỏa lực hung hãn của địch, quân số chúng tôi đa số đã bỏ mình, một số bị bắt, và một số trốn thoát. Chúng tôi bị trói bằng dây giày dính chùm người này qua người khác. Họ giải chúng tôi trong rừng gần 2 tuần lễ bằng chân trần không giày dép, đạp lên gai góc, gốc cây nhỏ bị chặt lú lên, nên hai bàn chân người nào cũng rách toác chảy máu. Cực hình này quá sức chịu đựng nên chúng tôi chỉ muốn một được một viên đạn vào mình để giải thoát sự đau đớn. Trong khi đó thì vệ binh VC luôn thúc mũi súng vào mình và quát : “Khẩn trương lên”. Có tên chính trị viên an ủi là ráng đến trại sẽ được “giải nao” và “bồi dưỡng”. Chúng rêu rao là ở trại cái gì cũng có nên chúng tôi cứ tưởng là giải lao và bồi dưỡng là có “căn tin” bán đồ ăn thức uống. Nào ngờ sau đoạn đường địa ngục hết 15 ngày mới đến trại, trước mắt chúng tôi là bóng tối của rừng già, cây rừng chằng chịt. Các tên vệ binh ra lệnh: “Các anh nghỉ giải nao đi”. Chúng tôi té ngửa ra giải lao với họ là nghỉ mệt thôi, chứ chẳng có ăn uống gì cả. Mệt rũ ra, chúng tôi chỉ múc nước uống rồi lăn ra trên lá rừng đầy đỉa vắt mà ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, họ bắt chúng tôi tập họp để “Học tập chính sách” rồi phải tự chặt cây làm chỗ ở. Đúng là làm nhà tù cho mình ở.

Chúng tôi bị bắt làm tù binh không lâu thì ký kết hiệp định Paris. Chúng tổ chức học tập 3 ngày gọi là để chuẩn bị trao trả. Chúng bắt anh em mỗi người làm bản cảm tưởng khi được trao trả như thật. Nhưng sau đó việc trao trả không bao giờ xảy ra và họ giải thích là tại chính quyền Sàigòn vi phạm hiệp định. Sáu tháng sau, hai bên phái đoàn lại ký Thông Cáo Chung để thi hành lại hiệp định về trao trả. Với bản chất tráo trở, lại một lần nữa VC không trao trả tù binh với lý lẽ là Sài Gòn vi phạm. Hết ý kiến !

Ngày lại tháng qua, chúng tôi đã ở tù CS được 3 năm thì chúng chuyển chúng tôi ra Bắc để chuẩn bị chiến dịch HCM tiến chiếm miền Nam. Chúng tôi di chuyển ra bắc bằng đường mòn HCM. Những buổi chiều thật buồn trên chuyến đi này, nhìn cảnh núi đồi tây Trường Sơn hiu hắt trong ánh nắng chiều, những người phụ nữ dân công lầm lũi đi dọc theo đường mòn khiến chúng tôi nhớ nhà tê tái. Nhìn những người bộ đội “sinh Bắc tử Nam” lũ lượt trên con đường HCM vào Nam, tôi không biết ngày mai họ có còn cơ hội để trở về với gia đình không. Chúng tôi thì biết đâu có thể “sinh Nam tử Bắc” không chừng. Bước qua cầu Bến Hải phân chia Nam Bắc chúng tôi đến địa phận Quảng Bình. Trước mắt chúng tôi thiên đường XHCN miền Bắc là những mái nhà tranh lụp xụp, dân chúng từ già đến trẻ đều đi chân đất, quần áo thì rách rưới tệ hại. Một anh bạn cảm thán : “Ôi miền Bắc chưa đến 20 năm mà đã như thế này ư ?” (Năm 1973). Xui cho anh này là một tên vệ binh đi gần đó nghe được bèn quát : “Anh đã học tập Cách mạng mà ăn nói như thế hử ?” Thế là anh ta hầm hầm tiến lại xích thật chặt sợi xích vào hai ống chân. Báo hại anh chàng này khi đến được trại ở Yên Bái thì hai chân đã sưng to. Từ Quảng Bình chúng tôi lên tàu hỏa đi Hà Nội, Yên Bái. Nhân dịp này chúng xách động dân chúng căm thù ném đá lên tàu và chúng tôi phải đóng cửa sổ lại. Một lát yên trở lại chúng tôi hé cửa ra thì có một cô gái sấn sổ lại vừa mắng : “Làm tay sai Mỹ Ngụy thế có đẹp mặt chưa”. Khi đến sát cửa sổ, cô ấy nói nhỏ : “Em mời các anh hút thuốc” và ném vào trong toa 2 gói thuốc và một ít kẹo. Chúng tôi mới biết là họ phải giả vờ căm thù để qua mặt lũ Công an cú vọ. Ra đến ga Hàng Cỏ thì cảnh tượng lụp xụp, bệ rạc chưa từng thấy. Một anh bạn chỉ cái bảng quảng cáo thuốc lá Bastos từ thời Pháp vẫn còn và nói nhà anh ở sát ngay đó. Có một điều tất cả nhà gạch hay gỗ đều có nóc lợp tranh thay vì ngói hay tôn. Xung quanh những chỗ bị hư hỏng vì chiến tranh được che chắn tạm bằng bìa carton trông rất thảm hại.

Chúng tôi được xuống tàu để đi tiểu tiện. Ga này vô cùng nhếch nhác với rác rưởi và mùi nước tiểu nồng nặc. Một bà già quấn khăn mỏ quạ nhìn chúng tôi vừa gạt nước mắt nói nhỏ : “Nhìn những gương mặt các cháu tôi đẹp đẽ thế kia mà chúng nó lại tuyên truyền là ăn thịt người. Lạ thật !” Chắc là bà có con cháu đã di cư vào Nam ! Chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình đến Yên Bái. Tàu đến Yên Bái vào chiều tối dưới mưa dầm miền Bắc. Những người vệ binh CS đến nhận chúng tôi mặc áo mưa đen, đội mũ lưỡi trai, đi ủng cao su đen tới đầu gối trông như những tên Phát xít Đức Quốc Xã trong phim làm chúng tôi lo sợ, không biết tương lai rồi sẽ ra sao. Ra đến Yên Bái ngày 27 tháng Tư 75. Ba ngày sau bọn vệ binh reo hò là đã giải phóng Sài Gòn rồi. Chúng tôi biết đây là sự thật vì trong khi di chuyển ra Bắc, chúng tôi đã chứng kiến từng đoàn Molotova chở súng đạn, tên lửa, lính bộ đội vào xâm lăng miền Nam. Trong khi đó Sàigòn còn đang ngủ quên trong Hòa bình giả tạo. Như vậy bảo sao mà miền Nam không mất. Bản chất tráo trở, lật lọng của họ là một mặt ký hiệp định Paris để Mỹ rút quân; một mặt chuyển quân và vũ khí vào Nam để cướp chánh quyền. Ôi thời thế khi người bạn Đồng Minh đã rút lui trong khi qua tay sai CSVN, 2 đế quốc Liên Xô và Trung Quốc quyết tâm chiếm miền Nam bằng được. Như vậy “Cả ba đánh một, không chột cũng què” là phải chịu thôi. Chúng tôi xác định tương lai ngày về sẽ còn mờ mịt.

Những ngày dài “Lao động cải tạo” lại tiếp tục. Lúc còn chiến tranh để lấy tiếng với thế giới khi những người tù binh được trao trả về sẽ nói tốt về họ, cai tù còn nhân nhượng. Sau ngày 30/04/75, họ tuyên bố chánh quyền miền Nam không còn nữa nên họ bất cần. Họ bắt tù nhân làm việc nặng như đốn gỗ cây to hai người ôm không hết từ trên núi chuyển về trại để xẻ gỗ cho Cán bộ. Công việc này rất nguy hiểm vì sơ ý một chút là cây đè chết tươi ngay. Một vài anh yếu sức làm không nổi bị một tên vệ binh hung dữ chĩa súng bắt quỳ. Ngày hôm sau chúng tôi họp trình báo lên trại trưởng về việc làm nhục tù binh. Sau đó tình trạng này mới đỡ vì họ đối xử với tù hình sự như nô lệ quen rồi. Ở riết rồi dân chúng xung quanh rất thương chúng tôi. Họ nói có đồ ăn gì chẳng thà cho chúng tôi ăn chứ không bán cho bọn khốn kiếp cai tù đó. Biết tin có vài linh mục trong số tù binh, một vài gia đình khẩn khoản nói chúng tôi mời các cha ra ngoài cho họ gặp mặt. Thấy chúng tôi lưỡng lự và biết chúng tôi chưa tin tưởng họ nên họ bảo mấy đứa con kéo cổ áo xuống cho chúng tôi thấy thánh giá và bảo chúng đọc kinh cho chúng tôi nghe.

Đối với dân miền Bắc, khi biết chúng tôi là những người có học, họ rất ngạc nhiên và khâm phục. Có lần một cô giáo hỏi chúng tôi có biết đọc chữ không. Chúng tôi cười cầm ngược tờ báo Nhân Dân lên đọc. Họ trầm trồ : “Cầm ngược thế mà các anh đọc được à ?” Rồi họ thử chúng tôi bằng những bài toán cộng, trừ, nhân, chia và các phương trình đơn giản. Thấy những bài toán đó là trò trẻ con đối với chúng tôi, họ càng phục hơn. Có lần chúng tôi đẩy xe cải tiến ra Hợp Tác Xã chở rau và sắn về. Trên đường đi tên Bộ đội dẫn giải cho ghé vào nhà dân nghỉ, uống nước. Căn nhà này chúng tôi thường ghé và có một cô gái rất đẹp và trắng trẻo. Vào nhà bà mẹ hối cô gái đi nấu nước pha trà đãi chúng tôi. Tên bộ đội đuổi chúng tôi xuống nhà bếp để anh ta tán tỉnh cô gái. Vì cô này là Giáo viên nên cũng có kiến thức thì làm sao cô có thể nói chuyện với một tên vô học được. Do đó khi pha trà xong, cô gái cũng bỏ xuống dưới bếp ngồi nói chuyện với chúng tôi. Tên Bộ đội rất quê và tức giận nên hầm hầm hối ra về. Có khi chúng tôi phải đi phà sang bên kia sông Hồng để chở thực phẩm. Ngồi trên phà, một hai cô gái dạn dĩ đến hỏi chúng tôi bao giờ được về. Khi tôi trả lời là không biết thì cô gái bèn nắm lấy tay tôi đùa : “Hay anh ở lại đây cưới vợ luôn cho xong”. Những điều này chứng tỏ cảm tình của người dân đối với chúng tôi thế nào.

Cuối cùng, năm 1980 tôi đưọc trở về nhà với vài người bạn. Lên tàu hỏa khi biết chúng tôi là “tù cải tạo” các anh kiểm soát vé trên tàu đều không lấy tiền và những bạn hàng đi buôn mua cơm mời chúng tôi. Đến ga Bình Triệu, trời đã tối, tôi đón xe Lam về nhà người chị gần đó để từ từ báo cho ba má tôi biết tin sau. Đây là lý do tại sao tôi không về thẳng nhà tôi. Số là có người bạn trong tù được cho về. Bước chân vào nhà, bà mẹ già vì bất ngờ và cảm động, bà đã đứng tim và chết sau đó. Tôi không muốn mẹ tôi ở vào hoàn cảnh đó vì bà đã già rồi và đã chịu quá nhiều đau thương và mất mát. Những ngày sau đó, Sàigòn thân yêu của tôi hiện ra với chiếc áo choàng đen đúa, bẩn thỉu. Tôi hiểu ra vì không còn lò điện, ga nên mọi người tận dụng mọi thứ để đốt lên nấu nướng : từ cây củi, giấy, bao nylon, cùi bắp, vỏ dừa… Do đó tường và cửa sổ nhà nào cũng đen nhẻm vì chưa bao giờ được quét vôi lại. Sàigòn một thời là “Hòn ngọc Viễn Đông” đã trở về thời kỳ hoang dã !

Ôi cảnh thanh bình nước tôi như thế này ư. Trên gương mặt mọi người ai cũng có mối ưu tư nào đó : Làm sao kiếm ăn, làm sao sống nổi với sự thúc ép đi kinh tế mới, làm sao tránh cặp mắt soi bói của CA địa phương, làm sao vượt biên… Cũng để tránh soi mói của CA khu vực, tôi tìm việc tại một tổ hợp đóng xà lan. Mỗi sáng tôi khoác chiếc áo công nhân và chiếc mũ tai bèo dắt xe đạp ra khỏi nhà. Công việc chỉ là suốt ngày cầm chiếc búa 7 ký, theo đường que chỉ của người cai mà nện liên hồi vào tấm thép dày 10 ly để gò làm sườn xà lan. Một ngày họ trả 6 hào. Đến trưa nghỉ giải lao, những người có vợ con thì xúm xít nấu lon cơm ăn. Còn tôi độc thân nên ra ăn cơm dĩa của một bà gánh cơm trước cổng. Dĩa cơm với miếng thịt mỡ nho nhỏ hết 6 hào và ly nước trà 1 hào nữa là 7. Làm việc nặng 1 ngày mà tiền lương không đủ ăn tiền ăn một buổi trưa! Trời ơi có chế độ nào không có người bóc lột người mà lại như thế không! Sức trai không làm nổi để nuôi mẹ già mà còn phải ăn bám thêm bữa sáng, bữa chiều. Nghĩ đến đó và nhìn bà mẹ còng lưng gánh chè đi bán, tôi không thể nào cầm được nước mắt dù đã từng là một người lính can trường. Tôi phải tìm một việc khác là đi thồ gạo. Tăng cường thêm cho chiếc xe đạp để đủ cứng cáp thồ 1-2 tạ gạo, ra đi với một người bạn, chúng tôi ăn miếng cơm nguội rồi đạp xe lên đường đi Long An nơi mà trước đây tôi phục vụ. Đạp xe gần 50 km tốn rất nhiều năng lượng mà chúng tôi không có tiền để tái nạp nên rất mệt. Dọc đường chúng tôi chỉ dám ngừng xe để uống ly nước mía đỡ khát. Chúng tôi vào tận thôn xóm xa xôi đến chỗ nhà máy xay gạo mua gạo về bỏ mối. Chuyến đầu thồ 1 tạ gạo trót lọt. Sau khi về Chợ Lớn bỏ mối xong, tôi lời được khoảng 20 đồng. Chắc chuyến này về đưa tiền cho mẹ, chắc bà mừng lắm. Hôm sau, được nước chúng tôi lại tiếp tục. Đến nơi nghe những người đi buôn nói là trạm thuế vụ hôm nay nghỉ nên tha hồ xả cảng. Tôi và người bạn tấp luôn mỗi người 2 tạ. Đi một đoạn gặp một tay du kích chặn xe lại và lôi về trụ sở Ủy ban ND. Tại đây sau khi thuyết pháp cho chúng tôi, tên Chủ tịch bắt viết tờ kiểm điểm rồi tha. Mừng rỡ chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Đi một đoạn nữa, một bóng áo vàng từ bên lề xộc ra đẩy xe tôi ngã chổng kềnh. Nó kéo tôi vào trụ sở hăm dọa và tịch thu cả 2 tạ gạo. Hắn bảo tôi đi về và mai xuống giải quyết. Trời đất như sụp đổ dưới chân. Bao nhiêu vốn liếng đã tan thành mây khói.

Hôm sau tôi ráng trở lại trụ sở CA xã hy vọng nó sẽ trả lại cho tôi phần nào. Vừa thấy mặt tôi, tên CA sừng sộ hăm dọa : “Anh còn dám trở lại đây xin xỏ à. Anh làm xáo trộn thị trường, tôi chưa bắt anh là may rồi đấy. Về đi !” Liếc nhìn trong góc phòng, mấy bao gạo đã được tính sổ chỉ còn lại 2 cái bao không, tôi biết rằng không còn hy vọng nào nữa mà ở lại. Chỉ ức rằng tôi đã không tự tay thanh toán được tên quỷ đội lốt người này. Sau này tôi tìm được một nghề khác là bán đồ điện và sửa điện. Vốn có học về điện nên tôi thích ứng cũng nhanh. Thuê một chỗ ngồi ngoài đường với một chiếc xe đẩy nhỏ, tôi vừa bán đồ lặt vặt và sửa chữa. Khách hàng ngày một đông và tôi đã có vợ con và cuộc sống khấm khá hơn. Bây giờ thì những tay CA khu vực khác chỗ tôi bán bắt đầu tìm cách vòi tiền. Bọn thuế vụ và Uỷ ban cũng không kém. Biết tôi không có hộ khẩu tại khu vực, nửa đêm chúng đập cửa đòi xét hộ khẩu. Tôi không có, chúng tịch thu giấy tờ cá nhân rồi bảo mai ra phường đóng phạt. Buổi sáng ra phường, đóng phạt xong tên CA bảo tôi dắt xe Honda của nó đi đổ xăng cho nó mà không đưa tiền. Thế rồi khi đi ăn nhậu, khi nhờ tôi mua cái này cái khác cho nó mới yên thân. Lúc này tôi đã ở riêng thuê nhà trong khu lao động. Ở đây côn đồ không ớn bằng công an vì CA chúng quấy nhiễu tối ngày. Thật là một xã hội nhiễu nhương chưa từng thấy.

Năm một chín tám mấy tôi không nhớ rõ có vụ đổi tiền 500$ (?) ăn 1$ mới. Cách đó độ 1 tuần, một anh bạn thân cho biết em gái của anh làm ở ngân hàng được lệnh khăn gói quần áo, thực phẩm đến cơ quan họp và ở lại trong vài ngày và cho biết sẽ có đổi tiền. Tôi liền đem tất cả tiền bạc bán trong ngày vào Chợ Lớn mua hàng cả.
Mỗi ngày tôi đều làm như thế và chỉ để lại một ít tiền tiêu xài mà thôi. Trước ngày đổi tiền một ngày, trên đài ra rả tin nhà nước đính chính sẽ không có đổi tiền, yêu cầu đừng nghe tin đồn nhảm làm mất trật tự. Nghe thế tôi biết chắc chắn rằng ngày mai sẽ đổi tiền vì kinh nghiệm mà tôi đã nói ở trên là “chân lý” : “CS nói không là có, nói có là không” mà. Đến sáng hôm sau tôi dọn hàng như thường lệ. Được một lát tôi thấy thiên hạ ùn ùn chạy quàng chạy xiên khắp mọi nơi mua bất cứ hàng gì có thể mua. Từ bịch xà bông kem nhão nhẹt, đến bóng đèn, con gà, mớ rau bất cứ giá nào. Nhiều nhà có chiếc xe đạp cũ đem ra ngoài đường bán, thiên hạ cũng giành mua. Chẳng thà đổi tiền lấy bất cứ thứ gì còn hơn lát nữa đây tiền sẽ thành giấy lộn vì nhà nước chỉ cho đổi giới hạn có mấy ngàn tiền cũ mà thôi. Tôi biết cái “chân lý” của tôi đã bắt đầu phát huy hiệu quả. Khắp mọi ngã đường thiên hạ chen lấn giành giật từng món hàng mà bình thường nó chẳng có nghĩa gì. Đến gần trưa nhà nước phát lệnh đổi tiền. Tôi dẹp hàng đi xem thiên hạ vì tiền mặt tôi còn chẳng đáng là bao. Tôi chứng kiến một người đàn ông đi xe Vespa ngừng xe trước một sạp bán hàng hỏi chủ hàng muốn bán trọn gian hàng bao nhiêu ông ta cũng mua. Nghe thế, chủ hàng hoảng sợ bèn dẹp tiệm luôn. Sau khi đổi tiền tôi chỉ còn vài tờ tiền chẵn mà thôi. Sau đó vài ngày thì vật giá tăng vù vù và chẳng bao lâu mệnh giá tiền mới trở lại bằng như khi chưa đổỉ. Nghĩa là lúc trước anh có 500$ bây giờ chỉ còn 1$. Thật là một trò bài ba lá gian manh, xảo quyệt vô cùng. Nhiều người vì tiếc của đã tìm đến cái chết một cách đau đớn. Riêng nhà nước và cán bộ thì cuỗm được một vố thật to. Một số lớn tiền bạc đã trôi vào túi họ mà chẳng phải bỏ công sức chi nhiều. Đúng là một bọn cướp có môn bài mang vũ khí ! Trong dịp này nhiều Cán bộ nhận đổi giùm một số người để ăn lời. Tuy nhiên khi đổi xong họ lại tuyên bố là đổi không được và bỏ túi nguyên số tiền đó.

Báo chí thời đó chỉ có một số ít. Tôi thỉnh thoảng hay đọc báo Công An Thành Phố để xem một số tin “xe cán chó” còn hơn là đọc “Quân Đội Nhân Dân” hay “Nhân Dân” chỉ toàn là khẩu hiệu. Có một loạt bài báo năm 85-86 gì đó rêu rao về sự tài giỏi của “Bác sĩ Cách mạng”. Họ kể ra vài chiến sĩ trong chiến tranh bị đạn thương ngay bộ phận sinh dục và hủy hoại phần quan trọng của đàn ông. Quan tâm sâu sắc đến nỗi khổ tâm của người lính khi đã mất “cái ấy”, các bác sĩ viện 108 (nếu tôi nhớ không lầm ?) đã quyết tâm tái tạo lại bộ phận đó. Họ kể lại là đã lột da đùi cuốn lại bên trong sụn lấy ra từ sống mũi như cuốn chả giò. Sau đó họ may nối lại và đã “thành công” vì sau đó anh X, anh Y với cái bộ phận mới, đã có vợ có con hạnh phúc. Bài báo nói khơi khơi mà không cần biết đến luận chứng Khoa học. Ngay như hiện tại Y khoa tân tiến của Mỹ vẫn còn phải đầu hàng với một cấu trúc tinh vi như vậy của thượng đế. Tác giả bài báo đã không cần biết đến thần kinh cảm giác và các mạch máu dẫn đến bộ phận này ra sao. Họ chĩ nghĩ con người như cục đất sét, muốn nhào nặn ra sao cũng được. Bài báo còn hứa hẹn đăng tiếp trong số tới. Không nén nổi sự căm phẫn về sự ngu dốt này, tôi đã viết một bức thư gửi đến tòa báo phân tích và yêu cầu ngưng ngay loạt bài nhảm nhí này để câu độc giả. Sau đó loạt bài đó đã chấm dứt trong im lặng.

Những câu chuyện “hoang đường” như thế tôi đã gặp rất nhiều từ thời còn ở trại Yên Bái đến gần đây nhất. Từ câu chuyện trong sách Cách mạng tôi đã xem kể về một cô gái truyền tin dũng cảm trong chiến tranh. Khi đường giây điện thoại bị bom đánh đứt, không kịp để nối lại, cô đã 2 tay cầm 2 đầu giây bị đứt đứng dưới hố bom ĐẦY NƯỚC, ra lệnh cho đồng đội quay điện thoại liên lạc với đơn vị cho kịp. Coi như thân mình cô ta có cùng một điện trở nhỏ như dây đồng vậy ! Đến gần đây trên Internet đăng bài phỏng vấn “anh hùng đánh Mỹ” 40 kg dùng tay không níu càng trực thăng xuống để đồng đội bắn hạ. Đúng là Hercule tái thế. Kế đó là chàng trai Phạm Gia Vinh đã dùng tay không chế tạo thành công phi thuyền không gian và hứa hẹn sẽ đưa người ra quỹ đạo vào năm tới. VN đến thời điểm này chưa chế tạo nổi một con vít đủ tiêu chuẩn mà nói chuyện trên mây. Hết biết !!

Chuyện nhảm đại loại như vậy nói mãi không hết khi còn những đầu óc ngu muội hợm hĩnh. Nói chung trong chiến tranh CS đã thành công vì gian trá, lừa lọc, tàn ác, với sự trợ giúp đắc lực của 2 đế quốc CS to lớn là Tàu và Nga. Người dân miền Nam đã ngây thơ nghe lời phỉnh gạt đi kèm sự khủng bố giết chóc để tiếp tay làm tay sai cho chúng. CS đã coi sinh mạng người dân là bàn đạp cho tham vọng ngông cuồng của chúng. Hàng triệu xác người đã ngã xuống để xây lâu đài cho các ngài lãnh đạo chễm chệ trên ngai vàng điện ngọc như vua chúa thuở xưa khi thiết triều trong ngày đầu năm. Trong khi đó người dân cùng khổ bị chúng cướp nhà cướp đất kêu oan dậy trời không thấu. Đây là thứ hòa bình mà toàn dân không được an hưởng. Nó chỉ phục vụ cho bọn đầu sỏ ăn trên ngồi trốc mà thôi. Các bạn thử nghĩ mà xem, chân lý : CS nói gì thì làm ngược lại mới là đúng sự thực. Họ nói xấu mọi thứ về miền Nam thì đúng ra họ đang chửi lại chính họ đó. VC đã có tất cả những xấu xa mà họ đã từng rêu rao về “Mỹ Ngụy”.
Lương Phạm

Nguồn: http://hoiquanphidung.com/content.php?3504-Qu%C3%A3ng-%C4%91%E1%BB%9Di-t%C3%B4i-t%E1%BB%AB-Chi%E1%BA%BFn-tranh-%C4%91%E1%BA%BFn-H%C3%B2a-b%C3%ACnh

Chút Ký Ức Về Cao Nguyên – Trần Châu Giang, K22/Đa Hiệu 115


Trần Châu Giang, K22/Đa Hiệu 115

Không gian tôi, niềm hồi tưởng…. – dòng sông cũ

Tôi bước xuống phi trường Cù Hanh, Pleiku vào một buổi trưa đầu năm 1968. Trời nắng nhẹ, cùng vài cơn gió thoảng qua làm lay động các bụi cỏ lau bên rìa phi đạo và tạo thành âm thanh lao xao liên tục khiến tôi có cảm giác dễ chịu. Tôi được chỉ định về Trung Đoàn 3 Thiết Giáp, mà bộ chỉ huy đóng tại đây, để phục vụ. Những tháng ngày kế tiếp, tôi quay cuồng cùng đơn vị. Từ mờ sáng tới khi trời chập choạng tối, tôi chỉ thấy con đường 14, với rừng và núi. Thời gian sau tôi thường cùng đơn vị di chuyển theo đường 19 từ Qui Nhơn lên. Sau khi vượt qua đèo Măng Jang cao ngất, trước mắt tôi là không gian bao la. Tôi mới cảm thấy được thiên nhiên hùng vĩ của vùng cao nguyên này, đối nghịch với kích thước nhỏ nhoi của con người.

Với độ cao từ 500 tới 1500 mét trên mặt nước biển, cao nguyên trải dài từ Bắc Kontum cho tới Lâm Đồng. Dân cư ở đây thưa thớt với nhiều sắc dân. Nổi bật nhất là người Ra Đê, Gia Rai, Bahna, và Sedang. Trình độ phát triển của các sắc dân này không đồng đều.

Khi Chúa Nguyễn Hoàng trốn chạy chúa Trịnh Kiểm tìm về phương Nam lập đế nghiệp, với lời căn dặn “Hoành Sơn Nhất Đái, Vạn Đại Dung Thân”, nhưng các chúa sau chỉ tạo dựng đế nghiệp quanh những đồng bằng miền duyên hải. Mãi cho tới thời Tây Sơn, vùng cao nguyên này mới có dấu viết lịch sử. Xuất thân từ một nhà buôn, có dịp đi nhiều nơi, một trong những người vợ của ông Nguyễn Nhạc là người Bahna, và đội Tượng Binh nổi tiếng của vua Quang Trung xuất phát từ vùng đất này. Con đường 14 hiện nay có thể mang ít nhiều dấu vết con đường thượng đạo ngày xưa. Khi thống nhất đất nước, nhà Nguyễn chỉ đặt các đạo để cai quản vùng này, mà không có kế hoạch phát triển.

Lúc xâm chiếm nước ta, người Pháp nhận thấy đây là vùng đất nhiều tài nguyên, nên đưa ra chính sách hạn chế người Kinh lên vùng cao nguyên này. Khi người Pháp bị buộc phải trao trả độc lập cho VN thì nhà Nguyễn cũng muốn giữ làm của riêng cho hoàng tộc, với tên gọi Hoàng Triều Cương Thổ.

Cao nguyên này thay đổi một cách toàn diện vào thời Đệ Nhất Cộng Hoà, với tên gọi CAO NGUYÊN TRUNG PHẦN, được phân chia theo các điạ giới hành chánh. Chính quyền đương thời tập trung vào một việc rất quan trọng, là phân bổ lại dân chúng. Với gần một triệu người di cư từ Bắc vào Nam, chính phủ của Tổng Thống Diệm khuyến khích và kêu gọi di dân lên cao nguyên lập nghiệp.

Khởi thuỷ gần 60 ngàn người đã lên vùng này, tập trung sinh sống tại các khu dinh điền rải rác, nhiều nhất ở vùng Ban Mê Thuột và Kontum. Riêng tại Kontum, di dân lập làng quanh thị xã, và trải dài lên phía Bắc. Họ đã lập các làng Ngô Trang, Trung Đạo gần Võ Định, và Diên Bình gần Tân Cảnh. Một vài đơn vị võ trang của giáo phái Hòa Hảo cũng được di chuyển lên đây khi giáo phái này về hợp tác với chính phủ. Ngoài việc an dân, việc làm này còn mang ý nghiã về quốc phòng.

Thiết đoàn 20, LĐ1KB tại mặt trận Đông Hà; Lữ đoàn 2 Kỵ binh tại chiến  trường Kontum; Thiết đoàn 1 trên chiến trường Bình Long – dòng sông cũ

Tôi không biết nhiều về phía Nam cao nguyên, vì tôi chỉ ở cùng một đơn vị Thiết Giáp, luôn hoạt động ở phía Bắc, không kể trận Ban Mê Thuột, diễn ra vào giai đoạn chót của cuộc chiến. Tuy nhiên, vùng Pleiku và Kontum mới là điạ bàn chính trong chiến tranh của vùng cao nguyên. Các cuộc đụng độ lớn giữa ta và VC luôn xảy ra ở đây. Cả Vùng 2 Chiến Thuật có 5 thiết đoàn Kỵ Binh. Trừ hai chi đoàn Thiết Kỵ hoạt đông dưới miền duyên hải, toàn bộ năm thiết đoàn đều nằm trên vùng cao nguyên. Trong đó bốn thiết đoàn bố trí tại Pleiku và Kontum.

Gần như trở thành qui luật, ngoài các trận đánh lẻ tẻ diễn ra suốt năm, vào đầu mùa mưa đều có những trận đánh lớn với sự tham dự của nhiều trung đoàn quân chính qui của CS miền Bắc. Những năm 1965 và 1966, các trận đánh lớn diễn ra ở Đức Cơ, Pleime; năm 1967 ở Dakto; năm 68 Mậu Thân; năm 69 ở Ben Hét; năm 70 ở Dak Seang; năm 71 ở căn cứ 5, căn cứ 6; năm 72 ở Tân Cảnh. Sau những trận đánh này, thương vong của ta thật lớn lao, nhưng tổn thất của lực lượng CS Bắc Việt tăng gấp nhiều lần. Sau trận Ben Het, nhiều cán binh cuả quân CS miền Bắc bị chết nằm rải rác trong rừng, tan rữa chỉ còn bộ xương. Sau trận tại căn cứ 5, các đợt tiếp tế được yêu cầu mang thêm cả những bó nhang, không phải để cúng cô hồn, mà đốt lên để át mùi tử khí!

Nói tới vùng cao nguyên, không thể không nói đến con đường 14. Ngày nay, con đường này chạy từ Chơn Thành, chỗ giáp với Quốc Lộ 13, ra tới Quảng Trị. Nhưng đoạn đường từ Pleiku tới Dakto trong chiến tranh là con đường của xương, máu, và nước mắt. Các Trung Đoàn CS Bắc Việt 95, 28, và 66 thường đóng chốt ngăn chặn giao thông trên đoạn đường này, trước khi mở các trận đánh lớn. Còn thường ngày, từ Pleiku tới Kontum là vùng hoạt động thường xuyên của một đơn vị cấp tiểu đoàn D405? Từ Kontum tới Tân Cảnh là đơn vị C1. Các đơn vị CS này mở các cuộc phục kích nhỏ, bắn sẻ, và nhất là đặt mìn.

Vào năm 1968, đoạn đường này vẫn không có nhiều thay đổi khi so với thời gian trước khi quân Mỹ chính thức tham chiến ở Việt Nam. Chỉ có 1/3 mặt đường được tráng nhựa, 2/3 mặt đường còn lại vẫn là đất đá, vì vậy mìn bẫy luôn là nỗi ám ảnh cho các đơn vị. Quân đội Mỹ luôn xử dụng con đường này để chuyển tiếp liệu từ Pleiku lên các căn cứ phía Bắc. Để tránh bớt thiệt hại khi bị phục kích, Công Binh Mỹ đã cày sới, chặt cây, khai hoang vào hai bên đường, mỗi bên khoảng hơn 100 mét để đoàn “convoi” (đoàn xe hộ tống, tiếng Pháp) có thể di chuyển. Sau khi Thiết Giáp đã mở đường xong, là toán dò mìn đi so le hai bên đường. Phiá sau một đoạn xa là hai chiếc GMC chở đầy đá cục di chuyển dật lùi. Nếu có mìn còn sót lại thì nó sẽ nổ. Công việc thận trọng như vậy mà đôi khi vẫn bị tổn thất vì mìn, do kỹ thuật chôn dấu của VC ngày một tinh vi.

Tôi được nghỉ một ngày khi về trình diện trung đoàn, để chờ chi đoàn đến nhận. Khi về tới chi đoàn, một hai ngày đầu tôi còn bỡ ngỡ, nhưng vài ngày sau, tôi đã bắt kịp mọi việc. Vào thời gian này Trung Đoàn 3 Thiết Giáp được cải danh thành Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh. Thiết đoàn chịu trách nhiệm an ninh Quốc Lộ 14 từ Pleiku đến Kontum. Đoạn đường dài khoảng gần 60 cây số. Từ Pleiku tới Dak Doa, đồi dốc thoai thoải, địa thế lý tưởng cho các hoạt động của Thiết Giáp. Từ Dak Doa tới Kontum con đường 14 bị kẹp giữa hai dãy núi, phía Đông là dãy Chu Thoi và phía Tây là dãy Chư Pao, đoạn này dài khoảng 7 cây số. Khi mở đường đến đoạn này, Thiết Giáp chỉ có một khoảng trống rất hẹp để điều động.

Dak Doa cũng là một địa danh đáng được ghi nhớ, vì chính tại địa điểm này, vào năm 1955, Công Binh Việt Nam Cộng Hòa đã mở con đường đi về Quảng Ngãi. Vì chiến tranh, con đường hầu như không bao giờ được xử dụng. Những ngày tháng giữ an ninh trên đoạn đường này, đơn vị của tôi ít gặp mìn bẫy, nhưng vì các đoàn “convoi” của quân đội Mỹ vẫn đi đi về về hàng ngày, do vậy thường xuyên bị phục kích. Các đoàn xe bị tổn thất không nhiều, nhưng lực lượng của CSBV bị tổn thất rất nặng, một phần do sự phản công của Thiết Giáp, một phần do các khẩu đại liên sáu nòng bố trí xen kẽ trong đoàn xe hộ tống.

Đường 14 được nhắc đến nhiều sau này, là do trận chiến đẫm máu diễn ra ở Chư Pao năm 1972… Sau khi đã chiếm được Tân Cảnh, Mặt Trận B3 CSBV dự tính sẽ đánh chiếm Kontum. Muốn vậy phải chặn được viện binh từ Pleiku lên. Chúng đã chọn Chư Pao là điểm chiến lược, vì ngăn chặn được Chư Pao không cho quân đội chính phủ VNCH vượt qua là ngăn chận được lực lượng tiếp viện cho Kontum.

Chư Pao là ngọn đồi cao 1059 mét, nằm trong dãy núi phía Tây. Tại đây, Trung Đoàn 95A CSBV đưa một tiểu đoàn lên tổ chức trận địa. Từ cao điểm này, chúng dễ dàng ngăn chặn đoạn đường 14, nằm kẹp giữa hai dãy núi. Tất cả mọi di chuyển trên đoạn đường đều nằm trong tầm tác xạ của các loại vũ khí bắn thẳng. Lực lượng tăng cường cho Kontum đã phải trả giá rất đắt nơi đây. Về sau, Quân Đoàn II phải mở con đường 14B, lui về phiá Tây, song song với con đường 14, và sau dãy Chư Pao. Từ đây, một chi đoàn của Thiết Đoàn 3 đã xâm nhập vào mật khu cuả Trung Đoàn 95 CSBV. Cán binh CS thì đã chạy hết, nhưng mấy con heo đã làm sẵn thì vẫn còn để lại. Cũng từ đây, Thiết Giáp và Biệt Động Quân đã chiếm được đỉnh Benhet và giải tỏa cho Kontum.

Đầu năm 1969, quân đội Mỹ đã không còn giữ an ninh trên đoạn đường 14 từ Kontum đi Dakto. Vì thế, Thiết Đoàn 14 vừa được thành lập đã lãnh nhiệm vụ an ninh trên đoạn đường này. Ở phía Bắc Kontum, rừng rậm, đồi dốc nhiều, nhiều đường thông thủy cắt ngang quốc lộ. Đặc biệt, trên đường có rất nhiều mìn bẫy. Chỉ qua một đêm trên cùng một đoạn đường có khi khám phá cả chục mìn đủ loại. Đường tuy dài, nhưng có hai đoạn mà nguy hiểm luôn luôn rình rập: từ Kontum đến Ngô Trang, từ Võ Định tới Kon H’ring. Các đơn vị hành quân trong khu vực này luôn chịu tổn thất do bắn sẻ, phục kích, nhưng nhiều nhất do mìn bẫy. Đôi khi đường đã được mở, toán dò mìn đã xong, xe đã di chuyển, nhưng một chiếc trong đoàn xe cán mìn. Kết quả là không một ai sống sót.

Từ Kontum đi Ngô Trang, con đường đi lên một dốc cao của một ngọn đồi. Đó chính là Eo Gió một địa danh quen thuộc của những người lính chiến Kontum. Tại đây, Chi Đoàn 2/14 mất một hạ sĩ quan rất giỏi, bắn súng cối 81 ly không cần ống nhắm, yểm trợ chính xác, và hiệu quả. Sau khi dẹp tan một cuộc phục kích, người hạ sĩ quan này xuống xe lục xoát. Ông tìm được một cán binh CSBV nằm trong bụi rậm. Tay vẫn cầm khẩu súng colt, ông kêu người này đầu hàng. Thay vì làm như vậy, người cán binh này, đã bắn vào ông nguyên một băng AK. Với lòng cuồng tín và thái độ hận thù, tên CS này biến thành kẻ mê muội nên không nhìn thấy đâu là lòng nhân đạo.

Đoạn từ Võ Định tới Kon H’ring, phục kích và bắn sẻ diễn ra thường xuyên. Tại đây, Thiết Đoàn 14 mất một chi đoàn trưởng. Phía Bắc Võ Định không xa có một con suối nhỏ. Qua điểm này, chi đoàn không thể dàn đội hình, mà phải qua từng chiếc một. Thay vì phải để một chi đội giữ bên hông cho chi đoàn đi qua, Nguyễn Văn Âu đã khinh suất, không bố trí an ninh, và di chuyển ngay sau chi đội đầu vừa qua được mấy xe. Chi Đoàn bị lọt ổ phục kích. Truyền thống của chi đoàn này từ xưa đến nay và như thành thói quen, là khi bị phục kích, tất cả đều dàn hàng ngang tiến vào mục tiêu. Âu đã tử thương. Vài ngày sau, tôi được đưa về thay nhiệm vụ của Âu.

Qua đầu năm 1969, Công Binh Hoa Kỳ bắt đầu xây dựng lại đường 14, từ Kontum ngược về hướng Bắc, nhưng chỉ trải nhựa cho tới Tân Cảnh. Công việc vất vả, kéo theo sự mệt nhọc cho cả những đơn vị giữ an ninh. Công việc làm nền móng mất nhiều thời gian, nhưng khi trải nhựa thì nhanh chóng hơn. Trong một ngày có thể trải nhựa tới sáu, bảy cây số. Những người lính Công Binh này làm cho xong việc chứ không làm tới giờ là nghỉ. Một lần trời đã xẫm tối mà Công Binh vẫn làm, tôi nói với người cố vấn Mỹ,

– “Anh nói với Công Binh, nghỉ đi mai làm, lính của tôi mệt mỏi quá rồi.”

Người cố vấn này không nhìn tôi mà nhìn vào khoảng không rồi nói,

– “Đường này của anh, hay của tôi?”

Tôi không thể có câu trả lời.

Người lính Thiết Giáp giữ an ninh trên các trục đường, thoạt nhìn có vẻ thảnh thơi. Nhưng không phải vậy, vì họ ra đi từ mờ sáng, trở về khi mặt trời sắp lặn. Suốt ngày phơi mình dưới nắng, mưa, ăn uống kham khổ. Ngày nào thức ăn cũng toàn thịt ba lát, hoặc cá hộp măng le. Khi về họ còn phải lo xăng nhớt, đạn dược, tu bổ máy móc, còn canh gác, vv…

Thiet van xa hanh quan an ninh truc lo tai Pleiku-Kontum .jpg

Vùng phía Bắc cao nguyên này có hai thành phố chính Pleiku và Kontum. Pleiku ở trên độ cao 900 mét. Xế về phía Bắc không xa là Biển Hồ. Đây là miệng núi lửa đã ngưng hoạt động từ rất lâu. Vì vậy, vùng Pleiku đất đỏ, mùa nắng thì bụi mù, mùa mưa thì bẩn. Nơi đây được chọn đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II. Không xa thành phố về phía Nam là núi Hàm Rồng, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Hoa Kỳ. Pleiku có đủ mọi sắc lính, cả Việt và Mỹ. Thỉnh thoảng, người ta còn bắt gặp những đoàn người thượng đeo gùi đi thành hàng dọc trong phố. Hình ảnh hoà trộn này khiến Pleiku có một chút gì hoang dã, hối hả, và tạm bợ.

Tuy vậy những con người qui tụ về đây vẫn khát khao một chút lãng mạng ở café Dinh Điền, một chút cầu kỳ khi cố lặn lội vào một hẻm sâu để tìm một tô bún bò Huế. Thành phố này còn có Câu Lạc Bộ Phượng Hoàng, nhưng nơi đây không phải nơi đến của những người lính suốt ngày lặn lội trong rừng.

Có một câu nói của giới giang hồ nơi đây, “Cái gì của Pleiku thì phải để lại Pleiku. Mang đi nơi khác, sớm muộn cũng mất.” Đúng sai tới đâu thì chỉ những ai đã lập nghiệp nơi này mới có câu trả lời.

Khác với Pleiku, thành phố Kontum, với dòng sông Dakbla chảy ngược, ở độ cao 500 mét.* Nơi đây có một chút gì như trầm lắng, phảng phất chút khuê các. Giờ tan học, những tà áo trắng trinh nguyên toả ra từ cổng trường, nhưng sau đó không thấy ai lang thang ngoài phố. Thói quen này, có thể ảnh hưởng từ tôn giáo, đã định hình nếp sinh hoạt của dân cư.

Ngược dòng lịch sử vào năm 1851, các linh mục truyền giáo đã có mặt ở thành phố này. Kontum có nhà thờ bằng gỗ nổi tiếng, được xây dựng trong khoảng thời gian đó. Cũng nhờ sự có mặt của các linh mục đạo Thiên Chúa Giáo người ngoại quốc mà vào năm 1861 người BAHNA đã có chữ viết được La Tinh hoá. Không chỉ riêng tại thị xã Kontum, các linh mục còn đi đến cả những vùng xa xôi. Tại một buôn làng gần Dakmot, vào năm 1970 vẫn còn một linh mục già người Pháp sống trong ngôi nhà thờ nhỏ giữa buôn làng người Bahna.

Cao nguyên Trung Phần rộng mênh mông, đất đai mầu mỡ, dân cư thưa thớt, trong khi người thượng sống rải rác trong rừng sâu. Khi tới đây, người Pháp đã hạn chế người kinh sinh sống, độc quyền thành lập các đồn điền với đủ kích cỡ. Riêng tại Pleiku có đồn điền trà KTK dọc theo con đường vào Thanh An. Khi hành quân về phía Nam Đức Cơ, chúng tôi thấy cả một vườn soài rộng lớn, trái trĩu cành mà chẳng ai hái. Sâu hơn nữa về phía Nam là một khu đất bằng phẳng mà sâm mọc như cỏ. Lính tráng rủ nhau đi đào nên xe nào cũng cả bao cát.

Đệ Nhất Cộng Hoà được thành lập, bắt tay vào xây dựng cao nguyên. Người Pháp đã ra đi, nhưng đã để lại nơi đây những cánh hoa biết nói. Những cô gái này có một điểm chung là sống mũi cao, và đôi mắt sáng. Ở vùng Pleiku, các cô được học hành nên nói tiếng Pháp trôi chảy, nhưng ở Kontum, phần nhiều họ làm việc và sống lam lũ. Dù vất vả, họ vẫn giữ được vóc dáng cân đối. Gần làng Ngô Trang có hai cô gái đẹp hàng ngày vẫn đi chăn bò. Khi hành quân qua đây, chúng tôi thường ngồi chờ các cô về, tìm một chút rung động trong lòng để bù vào suốt ngày mưa nắng. Đối diện với làng Trung Đạo gần Võ Định, đi sâu vào con đường mòn, không như một buôn thượng thường có nhà rông, nơi đây chỉ có mấy nóc nhà. Ở đây cũng có hai cô gái, tuy vẫn đeo gùi đi rẫy, nhưng làn da vẫn phơn phớt hồng, và đôi mắt thì đầy mê hoặc.

Cao nguyên núi rừng trùng điệp. Những ai đã từng lạc bước trong rừng sâu, thì hiểu thế nào là sức mạnh của rừng. Tôi có vài lần tăng cường hành quân trong Polei Kleng, đồn trú dài ngày tại Benhet. Buổi chiều lắng xuống, ai nhìn ra chung quanh, thì cũng chỉ thấy một mầu xanh cuả lá, sương mù giăng giăng một màu xa khơi. Nếu ai nhìn chăm chú thì sẽ có cảm giác rừng đang toát ra không khí trầm tĩnh, nhưng đầy bí hiểm.

Mùa Xuân năm 1972, đơn vị đồn trú tại Benhet. Tôi không có bạn bè, cũng chẳng ai viếng thăm. Lúc này, đơn vị bố trí thành một vòng đai rộng. Mấy người lính ở từng xe góp nhau nấu chút đồ ăn mà họ mới gởi mua hôm trước.

Một mình, ngồi cạnh xe chỉ huy, tôi nhìn vệt nắng hắt ngang trước mặt. Mầu nắng vàng buổi chiều dễ làm tôi chạnh lòng. Tôi nghĩ về gia đình, về những ngày tuổi nhỏ, và không thể không nghĩ về những gì đã từng gặp những tháng năm qua. Đã có biết bao cảnh đời bị chìm lấp giữa mịt mù khói lửa chiến tranh.

Trong đơn vị, tôi đã từng gặp người cha của một binh sĩ đã mất. Ông đã lặn lội từ một tỉnh miền Tây ra tới vùng cao nguyên, chỉ mong được nhìn nơi con mình đã sống, gom chút kỷ vật, buồn bã, rồi lầm lũi quay về.

Tôi đôi lúc nghĩ về một đám tang, vào năm 1969. Một sĩ quan của Trung Đoàn 42 tử trận. Chỉ có một quả phụ đội chiếc khăn tang trắng bước sau quan tài. Quang cảnh càng ảm đạm hơn khi trời còn lắc rắc mưa. Chỉ vài tháng sau, tôi tình cờ gặp người thiếu phụ này trong chốn ăn chơi. Chị không biết tôi, nhưng như có linh tính, có một chút khựng lại. Chỉ một thoáng, mọi chuyện lại coi như không. Sự tuyệt vọng đến đâu, để người thiếu phụ này không còn tha thiết đến cuộc đời mình?

Một chút hồi tưởng về vùng đất tuy nhỏ giữa một cao nguyên rộng lớn, nhưng đã có biết bao người đã đi qua và bao người vĩnh viễn nằm lại.

Cao nguyên, bây giờ có thể đã khác, nhưng lẫn trong đất là xương máu của không biết bao người.



* Các sông ở miền Trung VN, xuất phát từ dãy núi Trường Sơn, đa số chảy về hướng Đông, đổ ra biển. Riêng sông Dakbla chảy ngược lại về phía Tây.

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E1%BB%87/chuy%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh/16071-ch%C3%BAt-k%C3%BD-%E1%BB%A9c-v%E1%BB%81-cao-nguy%C3%AAn?28003-Ch%C3%BAt-K%C3%BD-%E1%BB%A8c-V%E1%BB%81-Cao-Nguy%C3%AAn=

Thả dù tiếp tế tiền đồn – Phượng Hoàng Nâu

Phượng Hoàng Nâu

Áo anh sức chỉ đường tạ
vợ anh chết sớm mẹ gìa chưa khậu

My ride to Saigon on the trip home – a VNAF C-47!


Khi ấy vào năm 1960, tôi được đổi về phi đoàn 2 vận tải/LPDVT, trong một phi vụ biệt phái tại Đà Nẵng để thả dù tiếp tế cho các tiền đồn tại thung lũng A- SHAW và A_LƯỚi.Trưởng phi cơ là “thầy giáo QUANG”, vì nhầm lúc gần TẾT nên công việc thả dù rất bận rộn, cần tiếp tế thực phẫm tươi cho anh em đóng đồn cheo leo và hiễm trở.Như thường lệ sau khi chất hàng lên phi cơ do anh áp tải viên thuộc sư đoàn dù đãm trách, đăc biệt lần chuyến hàng này có chở theo “heo sống” để thà. Tôi cất cánh, anh Quang ngồi ghế co-pilot, rời phi trường đà nẵng thẳng tiến dến vùng làm việc, liên lạc vô tuyến với tiền đồn báo cho họ biết để nhận hàng, bay vòng trên tiền đồn nhận định trục bay, hướng gíó để hàng thả được chính xác rơi vào đồn.

Trên đường tiếp cận tôi cố giử hướng, tốc dộ và thăng bằng phi cơ khi tiến đến cao độ thả anh Quang bấm chuông ra lệnh thả, anh áp tải viên sô hàng ra khỏi cửa phi cơ.Bổng nhiên một tiếng kêu ” Ét ” và máu loan trên sàn tàu, thì ra chú heo bị trúng đạn ground fire, phi vụ vẩn tiếp tục và hoàn tất. Sau khi đáp tại đà nẵng, anh cơ phi phải rưả sàn tàu và kiểm soát lại dây cáp điều khiển xem coi có hư hài gì không.


Hôm sau phi vụ tiếp tế vẩn thi hành như thường lệ, tôi ra phi cơ để kiểm soát tiền phi, nhìn thấy anh áp tải đang lo chất hàng lên phi cơ, nhưng anh mặc quần áo rách thiếu tác phong của người quân nhân, tôi có hỏi tại sao anh ăn mặc như vậy ?Anh trả lời, em đi biệt phái chỉ có một bộ đồ ” vía”để đi phố, nếu em mặc bô đồ Vía đó thì lở bị bắn rách rất uổng và anh đọc câu:
Áo anh sức chỉ đường tà.
Vợ anh chết sớm, mẹ gìa chưa khâu.

Tôi thật ngẩn ngơ, nghỉ thương cho người lính VNCH, ước gì chúng tôi có được chiếc áo giáp chắn đạn để che thân ?
Thời điểm này (1960), chiếc áo giáp rất hiếm chỉ dành riêng cho các đơn vị đặc biệt mà thôi.
phượng hoàng nâu.

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1190055041&first=1680&last=1739

Giang Pháo Hạm Tầm Sét HQ-331 Hải Quân VNCH, trận đường sông đến Nam Vang

Vương Hồng Anh.

Ngụy Văn Thà – Wikipedia tiếng Việt

* Câu chuyện về cố hạm trưởng Ngụy Văn Thà và cố hạm phó Nguyễn Thành Trí
Trong loạt bài viết về trận hải chiến tại quần đảo Hoàng Sa ngày 19 tháng 1/1974 giữa 4 chiến hạm của Hải quân VNCH và đoàn chiến hạm của Hải quân Trung Cộng, chúng tôi có lược trình về tinh thần chiến đấu đầy dũng liệt của thủy thủ đoàn và sĩ quan Hải quân VNCH trên các chiến hạm.

Như đã trình bày, trong trận hải chiến này, Hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ 10) bị trúng đạn tại phóng máy chánh, tàu bị nghiêng sang hữu ngạn, hạm trưởng là Hải quân thiếu tá Ngụy Văn Thà đã bị thương, hạm phó là Hải quân đại uý Nguyễn Thành Trí bị thương nặng. Trước tình hình nguy kịch đó, hạm trưởng Ngụy Văn Thà ra lệnh cho toàn thủy thủ đoàn và sĩ quan đào thoát, hạm phó Nguyễn Thành Trí xin ở lại nhưng không được chấp thuận.

Sau khi hạm phó được di chuyển xuống bè, một số anh em chiến binh lên đài chỉ huy xin chuyển hạm trưởng xuống theo, nhưng Hải quân thiếu tá Ngụy Văn Thà đã vẫy tay từ biệt mọi người. Bên cạnh ông, hạ sĩ Đinh Hoàng Mai thều thào xin được noi gương hạm trưỡng sống chết theo chiến hạm. Và trong vùng lửa đạn mịt mù, thủy thủ đoàn tách bè khỏi chiến hạm trong sự xúc động tột cùng, tất cả đều rưng rưng nước mắt. Hạm trưởng Ngụy Văn Thà đã tuẫn tiết để được chìm theo chiến hạm, còn Hạm phó Nguyễn Thành Trí, dù bị thương nặng vẫn đem hết sức lực điều động anh em, bốn chiếc bè được cột chung làm một để chống chỏi với sức biển động hải hùng và quân Trung Cộng còn lảng vảng gần đó. Cuối cùng, dưới cái nóng thiêu đốt ban ngày, vết thương đau xé ruột tiếp tục chảy máu, hạm phó Nguyễn Thành Trí đã vĩnh biệt đồng đội, hơn hai mươi chiến hữu đã ngậm ngùi làm lễ thủy táng giữa đại dương bao la đúng theo truyền thống của Hải quân.

Sau trận hải chiến, cố hạm trưởng Ngụy Văn Thà được truy thăng trung tá, cố hạm phó Nguyễn Thành Trí được truy thăng thiếu tá. Cố hạm trưởng Ngụy Văn Thà sinh ngày 16-1-1943 tại Trảng Bàng, Tây Ninh, xuất thân khóa 12 SVSQ Hải quân Nha Trang, trước khi giữ chức hạm trưởng Hộ tống Hạm Nhật Tảo vào ngày 16-9-1973, ông là lần lượt giữ chức hạm trưởng các chiến hạm: HQ 604, Pháo hạm HQ 331. Cố hạm phó Nguyễn Thành Trí sinh ngày 20 tháng 1/1941 tại Sa Đéc, xuất thân khóa 17 SVSQ Hải quân Nha Trang.

Nhân kỷ niệm 26 năm trận hải chiến Hoàng Sa (19/1/1974-19/1/2000), chúng tôi xin giới thiệu bài ký sự của phóng viên chiến trường Nguyễn Thành Đông viết về cố hạm trưởng Nguyễn Thành Trí khi vị sĩ quan dũng lược này chỉ huy pháo hạm 331 hộ tống đoàn tàu tiếp tế Nam Vang. Bài ký sự này đã được đăng trên báo Lướt Sóng trong năm 1973. Sau đây là một số trích đoạn.

* Pháo hạm 331 trên dòng sông Cửu Long:
Tôi (phóng viên Nguyễn Thành Đông) bước lên đài chỉ huy, thiếu tá hạm trưởng có khuôn mặt trẻ măng, đầu đội nón sắt, ngực đeo chiếc phao hơi màu xám đậm, tay cầm ống nhòm đang chăm chú quan sát những bụi rậm khả nghi tại hai bên bờ sông. Phía trước chiến hạm chếch về bên trái, ba thương thuyền chở đầy đồ tiếp liệu đang chạy theo hai khinh tốc đỉnh dẫn đường.
Vị sĩ quan chỉ huy đó là Hải quân thiếu tá Ngụy Văn Thà, hạm trưởng pháo hạm HQ 331 đang chỉ huy đoàn tàu tiếp tế Nam Vang. Thấy tôi bước lên đài chỉ huy với đầu trần, thiếu tá Thà bỏ ống nhòm xuống hỏi: Nhà báo không sợ súng ” Tôi chưa kịp trả lời thì vị hạm trưởng đã chỉ thị một nhân viên lấy nón sắt và áo phao cho tôi. Ông tiếp: Khi nhiệm sở tác chiến, nón sắt và áo phao bắt buộc phải có, nếu không muốn sớm về “chầu Phật”.

Ông vừa nói vừa mỉm cười, dáng điệu thật vui tươi trong khi đưa tay gỡ chiếc nón sắt đang đội trên đầu, chìa ra trước mặt tôi. Tôi nhìn thấy nơi kẻ cấp hiệu ở phía trước nón sắt, một vệt đạn trượt qua làm thành một đường rãnh dài, khiến cấp hiệu thiếu tá kẻ trên nón bị khuyết đi một góc.
– Anh thấy không” Nếu không có chiếc nón sắt này thì tôi về chầu Phật hơi sớm.

Thiếu tá Thà tiếp: Đây là một kỷ niệm đẹp trong đời tôi, vì thế tôi không muốn thay nón sắt mới. Viên đạn này viếng thăm tôi trong một chuyến hộ tống convoi cách đây hơn 1 tháng.
– Như vậy hạm trưởng đã từng hộ tống nhiều đoàn convoi trên dòng Cửu Long này.
– Chuyến này là chuyến thứ ba, hai chuyến trước ít nhiều đều có đụng độ.
– Trong các trận đụng độ, hỏa lực của địch có đáng quan ngại.
– Tất nhiên là đáng quan ngại. Tuyến phục kích của chúng thường chạy dài gần 1 cây số. Hỏa lực trung bình của địch là súng cối, đại bác không giật 57 ly. Tuy nhiên còn một loại vũ khí đáng quan ngại hơn cả là loại tầm nhiệt.

Thiếu tá Thà hỏi tôi: Anh đã từng theo tiếp tế Nam Vang chưa”
– Chưa, đây là lần đầu.

Ông mỉm cười: Vậy thì phải bình tĩnh. Chắc chắn chuyến này phải có lửa khói để anh khỏi thất vọng.
– Bình tĩnh là nghề của phóng viên chiến trường, thưa hạm trưởng.
– Tốt.

Thiếu tá rời khỏi ghế ngồi và kéo tôi lại bản hải đồ. Vị trung úy sĩ quan đương phiên đứng né sang bên cho hạm trưởng đứng. Thiếu tá Thà lấy thước chỉ trên hải đồ: Chúng ta đang ở vị trí này. Những khúc cua phía trên đây là những điểm nghi ngờ địch tổ chức tuyến phục kích. Tin tình báo cho biết có 1 trung đoàn địch tập trung tại vùng này.

Ông trở lại ghế ngồi và nhìn tôi:
– Mọi chuyện đã chuẩn bị xong, vấn đề đặt ra là mình phải đánh hơi đúng tuyến phục kích của địch để dành thế chủ động. Tôi để ý quan sát các hoạt động trên boong chiến hạm. Vị đại úy hạm phó đứng trên boong mũi, trực tiếp chỉ huy khẩu hải pháo 40 ly, khẩu hải pháo 76 ly 2 do sĩ quan đệ tam làm trưởng khẩu. Các khẩu bích kích pháo 81 ly và đại bác 20 ly đều ở tư thế sẵn sàng tác xạ.

Truyện những con tàu Giang pháo hạm – Trần Lý – Bến cũ

Tại boong chính, sĩ quan cơ khí chỉ huy các toán phòng tai và cứu thương. Tất cả đều sẵn sàng đáp ứng mọi tình thế hiểm nguy trong khi tác chiến. Thiếu tá Thà tiếp: Anh thấy đó, có ngưng bắn hòa bình gì đâu. Hiệp định ngưng bắn đã bó chân tay mình, trong lúc Cộng sản vẫn tự tung tự tác. Chúng tôi lúc nào cũng triệt để tôn trọng hiệp định, nhưng CQ đã xé rào tấn công và chúng tôi buộc lòng phải phản ứng tự vệ.

Thiếu tá Thà dứt câu nói và hướng mắt nhìn đôi cánh cò trắng bay dọc theo dòng sông phía trước mũi chiến hạm. Đôi cánh cò thong dong bay tới khoảng cách chiến hạm chừng hơn một cây số thì sà xuống bụi cây um tùm phía bên hữu ngạn. Nhưng chúng vừa sà xuống thì vụt bay lên có điều hoảng hốt.
– Rồi, máy 2 tiến full. Tuyến phục kích của chúng đó.

Thiếu tá Thà nhảy phóc khỏi ghế ngồi và tiếp tục ra lệnh cho nhân viên truyền tin truyền lệnh cho các thương thuyền ép về tả ngạn, gia tăng tốc độ giang hành. Riêng hai khinh tốc đỉnh giảm tốc độ, chờ cho pháo hạm vượt lên rồi triển khai hỏa lực và ủi bãi nếu cần, để áp đảo tinh thần địch.

Con tàu rú lên và vượt nhanh về phía mục tiêu, tất cả các họng súng đều hướng về phía hữu ngạn.
– Mục tiêu hướng hai giờ, chuẩn bị tác xạ.
Thiếu tá Thà vừa dứt lệnh. Một tiếng nổ ầm bùng lên trước mũi chiến hạm chừng 10 mét, và tiếp theo là một loạt “lance bombe” từ trong bờ tới tấp phóng ra…
– Bắn!

Lệnh từ đài chỉ huy loan đi, tất cả các ổ súng đều đồng loạt khai hỏa, cát bụi, khói tung lên mù mịt bên bờ hữu ngạn. Địch cố gắng dồn hỏa lực tấn công nhưng tuyến phục kích của chúng đã rối loạn và hiệu năng tác xạ mất chính xác. Một vài Cộng quân quá hoảng hốt đã bung khỏi công sự thoát thân, nhưng cũng bị bắn hạ trên đường tẩu thoát.

Khi chiến hạm lướt khỏi tuyến phục kích, địch vẫn còn bắn lẻ tẻ đuổi theo chiến hạm. Thiếu tá Thà lại vận chuyển chiến hạm quay lại mục tiêu làm cỏ những địch quân còn sống sót, các ổ súng của địch hoàn toàn câm họng. Kiểm điểm lại, phía Hải quân có 2 chiến sĩ bị thương nhẹ, một số vết đạn xuyên lủng vách tàu và đài chỉ huy. Khinh tốc đỉnh và thương thuyền hoàn toàn vô sự.

Thiếu tá hạm trưởng trở lại ghế ngồi thở phào nhẹ nhỏm và gỡ chiếc nón sắt ra khỏi đầu: Rồi, gọi phương tiện tản thương và tiếp tục giang hành. Các ổ súng duy trì tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Thiếu tá Thà ngồi tỉnh bơ như chẳng có chuyện gì vừa xảy ra. Lát sau, ông chép miệng: Thật tiếc, mình không có lệnh đổ bộ để kiểm “chút cháo”. Ông hướng về phía tôi: Anh thấy không, hỏa lực của chúng mạnh ghê gớm nhưng mất yếu tố bất ngờ nên đành rã đám.

Nguồn: https://vietbao.com/a31333/phao-ham-331-vnch-tran-duong-song-den-nam-vang

Bia Tàu – Trần Minh Quân

Trần Minh Quân

    Người Tàu với ‘mặc cảm tự tôn’ ‘Con Trời’ không chịu thua ai, cho rằng.. Tàu phát minh ra rất nhiều thứ kể cả. bia (?) và điều đặc biệt nhất của người Tàu là  uống bia ’ấm’, không uống lạnh hay uống có đá!

Beers of China

  • Vài con số về Bia Tàu
  • Trong thời gian từ 2006 đến 2011, thương vụ bia trong nước Tàu tăng lên đến 50 tỷ lít, gấp đôi mức tiêu thụ bia tại Mỹ, và trị giá bia lên đến 454 tỷ ‘nhân dân tệ’ kèm theo lời giải thích là giới trung lưu Tàu đã biết uống bia sau hơn 2000 năm?

Tàu qua mặt Mỹ về uống bia (theo lượng) từ 2002, và vượt “Đế quốc Bia” Đức, Bỉ, Pháp  từ những năm 1990s.

  • Số tiêu thụ tính theo đầu người về Bia năm 2008 là 18 lít/năm/người;  Bia trở thành ‘thức uống có alcohol’ phổ biến nhất tại Hoa lục, giá khá rẻ, nhất là các loại bia nội địa (lô can).Chai bia lớn giá chỉ 25 cents USD (lon bia 330ml giá 0.5 đô Mỹ; bia hơi 1 lít giá 1 đô)  Bia nhãn hiệu ngoại quốc như Pabst Blue Label, Carlsberg, San Miguel chế tạo tại Tàu cũng rất rẻ..
  • Người Tàu khoảng 30% , có hội chứng di truyền “Asian flush syndrome” : đỏ mặt khi uống rượu, nhưng vẫn thích uống.. bia.
  • Bia Tàu không theo định nghĩa và tiêu chuẩn Âu châu nên có thể pha trộn nhiều nguyên liệu kể cả thuốc Bắc. Wikipedia ghi là bia Tàu có thể chứa gạo, lúa miến (sorghum), có khi lúa mạch đen (rye).. thêm vào lúa mạch (barley). Có loại bia còn dùng cả vị đắng của khổ qua .. thay cho houblon? Báo chí Hoa lục loan tin : năm 2021, 95% bia Tàu có chứa formaldehyde, để ngừa đóng cặn trong chai và lon khi tồn trữ ! (nay đã cấm).
  • Điểm kỳ lạ nhất của khách uống bia tại Hoa lục là sẽ được hỏi “uống bia.. ấm hay bia lạnh?” Người Tàu ngại uống nước.. đá lạnh.. (Thuyết Âm-Dương mà).. Bia tại Nhà hàng Tàu xếp trong tủ lạnh nhưng tủ lạnh..lại không cắm điện?
  • Lịch sử Bia tại Trung Hoa.

  Nếu tin được Sử Tàu thì : Cư dân trên đất Tàu đã biết làm bia từ thời.. thượng cổ’ ?, làm thức uống lên men ‘kiểu như bia’ từ khoảng 7000 năm trước Tây Lịch :  “Cái mà Sử Tàu gọi là ‘bia’ được cất từ gạo, mật ong, nho, quả sơn trà.. rất giống ‘bia Ai Cập và Mesopotamia”..Bia Tàu, thời kỳ này được dùng trong các nghi lễ cúng bái Tổ tiên, đám tang (thời Nhà Hạ (Xia), Shang (Thương) và Zhou (Châu): bia được gọi là “Lao-li’ (?) (lao = rượu đục và li = lễ là rượu ngọt) .. Qua đến đời Hán, loại bia này bị nhường bước cho ‘huangjiu’ (hoàng tửu) trong suốt 2 thế kỷ, và ‘bia’ thật sự thì chỉ tái (!) xuất hiện tại Tàu từ Thế kỷ 19… khi người Ba Lan lập xưởng bia đầu tiên tại Harbin (Cáp Nhĩ Tân), theo sau là.. người Đức,Tiệp..

  • Bia gốc Đức

  Khác với  các quốc gia láng giềng Châu Âu, chăm chú vào công việc đi chiếm thuộc địa tại Á và Phi châu,Đức không mặn mà đi chiếm đất lạ nên không có ..thuộc địa. Chỉ một trường hợp đặc biệt là Hải quân Đức chiếm đóng Thành phố Qingdao (Thanh đảo) vào những năm từ 1898 đến 1914. Xa nhà, thèm bia pilsner và bia hefeweizen nên những người Đức sống tại Qingdao đã lập một xưởng làm bia vào năm 1903, họ gọi là  Xưởng Germania-Brauerei. Chuyên viên ‘nấu bia’ R. Schuster đã làm bia theo kiểu ‘thủ công nghiệp’ tạo ra một loại bia pilsner- kiểu Đức , dùng kỹ thuật Đức và chọn nước khoáng lấy từ suối Laoshan (Lao Sơn).. Bia ra đời năm 1904. Khi Nhật xâm chiếm vùng Đông-Bắc Trung Hoa vào năm 1916, Germania-Brauerei giải tán và bán cơ sở cho Công ty Bia Nhật Dai-Nippon Brewery (lúc đó đang làm bia Asahi, và Asahi sau này thành Công ty bia Sapporo).. Quyền điều hành và khai thác chuyển lại cho Quân đội Thiên Hoàng từ 1921. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Tsingtao Beer được giao cho Trung Hoa Dân Quốc, Họ Tsui quản lý theo lệnh của Chính phủ Nam Kinh;  kéo dài đến 1949.. khi quân Tưởng thua chạy, toàn bộ tài sản Tsingtao Brewery bị quốc hữu hóa. Chính phủ Mao tịch thu toàn bộ .Trang sử mới lại bắt đầu .

  • Bia gốc Nhật

Nhật thành lập Công ty Bia Mãn châu (Manchuria Beer) từ 1934. Hai công ty Nhật đầu tư vào Xưởng Bia này là Dai Nippon Beer và Kirin Beer.. Các cơ xưởng đặt tại Shenyang = Thẩm Dương, Tỉnh Liaoning (Liêu Ninh). Năm 1945, Công ty Bia đổi tên thành Shenyang Beer Company và sau 1949 bị quốc hữu hóa..

  • Bia Tàu thời Cộng Hòa Nhân dân :

   Giai đoạn Cộng Hòa Nhân dân của Mao Chủ Tịch (1949-1976), Tàu vẫn giữ Hãng Bia Qingdao, như một công ty xuất cảng, bán bia cho người Tảu uống tại Hồng Kông và Đông Nam Á (?), dùng hàng hóa như một nguồn ngoại tệ trong thời “Chiến tranh Lạnh’..   Đến cuối thời “Cách mạng Văn Hóa”, Tàu có .. 90 xưởng làm bia theo chính sách ‘hàng chỉ cần lượng.. không cần phẩm’.. Cách thức người Tàu uống bia lúc này.. là bí mật quốc gia ?).. ngon hay không, ..không ai biết và chẳng ai bàn.

  Bị cấm vận trong giai đoạn Chiến tranh Triều Tiên : Tàu tự tìm cách sản xuất các nguyên liệu làm bia : nông dân tại Sơn Đông được lệnh trồng barley và hop..

  Cách mạng Kinh Tế do Đặng Tiểu Bình đề xướng năm 1978. Việc sản xuất bia tăng nhanh (bước tiến nhảy vọt). Hàng trăm ‘xưởng bia’ (đúng hơn là bia-gạo) mọc lên tại các vùng có ruộng lúa, tất cả đều quốc doanh và là niềm ..kiêu hãnh của địa phương.. Uống bia bắt đầu là biểu tượng của giàu sang hay quyền thế.. Mua bán bia trao tay ngay tại Bắc Kinh, ngay tại xe phân phối bia và.. bia bị ‘nổ’ văng miểng thủy tinh là.. thường xảy ra và khi không có bình, chai đựng, người mua bia ‘chui’ (bia hơi) mang bao nhựa đi đựng.    Giống trường hợp Ấn độ, giới uống bia Tàu không chú ý mấy đến phẩm chất của bia, không quan tâm đến vị. Các Xưởng làm bia tìm mua.. nguyên liệu như mạch nha (malt), chỉ cần loại rẻ nhất, barley pha trộn ngũ cốc khác cũng ‘hảo = tốt mà’. Các chuyên gia ‘nếm bia’ Âu-Mỹ không thể phân biệt nổi hương vị.. của từng loại bia Tàu (undifferentiated).

  • Bia Tàu.. phe Quốc gia (Taiwan)

Nếu xem Taiwan, tên gọi là Trung Hoa Dân Quốc, cũng là Tàu thì có vài điều thú vị :

   Trong thời gian từ 1922 đến 1946, dưới sự cai trị của Nhật, bia do Công ty Takasago Beer độc quyền sản xuất và phân phối, gồm các loại bia lager màu nhạt Sau 1946, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc (nội địa) lập Công ty kế thừa Taiwan Beer, tiếp tục mua bán bia độc quyền trên đảo và  vẫn tiếp tục khi Chính quyền Tưởng chạy ra Taiwan..

 Từ 1960s, công thức Taiwan Beer thay đổi, pha chế thêm giống gạo Đài loan khi lên men và tạo thành vị’ bia đặc trưng hiện nay..

   Đến khoảng 1990s Taiwan mới có các Cơ sở làm bia ‘tiểu thủ công loại craft beers.’

  Năm 2008, Taiwan sản xuất được 400 triệu lít bia dùng cho tiêu thụ trong nước (80%) và xuất cảng..Năm 2013, người Taiwan uống 510 triệu lít bia..nhập cảng 150 triệu lít.

(Ngoài bia Taiwan là bia Tàu thì còn có thêm bia HongKong? : Cũng có xưởng làm bia từ giữa thế kỷ 19.. Hiện nay bia bán chạy nhất tại HongKong là San Miguel do xưởng Sham Tseng .. sản xuất từ 1948, sau nhiều thay đổi nay dời về Yuen Long (2009), Tổ hợp đa quốc gia Carlsberg cũng sản xuất bia tại HongKong từ 1980s.)

  • Bia Tàu (Đại lục).. nội hóa sau cởi trói :

   Từ 1990s, Tàu thay đổi Chính sách kinh tế.. cho Tư nhân buôn bán (privatization).. Công ty ‘quốc doanh ‘ Tsingtao’ mở rộng, kết hợp cùng 3 xưởng bia khác thành ‘Công ty Hữu hạn Tsingtao Brewery Company Limited. Công ty Anheuser-Busch có một giai đoạn mua 27%,cổ phần nhưng rồi đến 1/2009 số cổ phần của Anheuser được chuyển hết sang cho Công ty Asahi Breweries.

1- Bia Tsingtao : (Thanh đảo)

  Tsingtao là công ty làm bia lâu đời nhất Tàu, có nhiều loại bia mang tên Tsingtao. Theo ‘quảng cáo căn bản” thì bia Tsingtao thuộc loại pale lager có hương houblon truyền thống  và có độ alcohol 4.7%. Tsingtao có bán tại Tàu loại bia hơi (draft beer), không diệt trùng (unpasteurized). Tuy luôn luôn quảng bá là bia làm từ nước suối Lão sơn (Laoshan) để có vị riêng, nhưng hiện nay, nước suối này chỉ dùng làm bia tại các nhà máy tại Thanh đảo (Qingdao), các nơi khác dĩ nhiên là nước giếng địa phương.

Hiện nay, barley trong Tsingtao được nhập từ Canada.

   Khởi đầu, Bia Tsingtao sản xuất theo ‘quy luật Đức (Reinheitsgebot = Purity Law), áp dụng tại Âu châu từ 1516 : các nguyên liệu làm bia chỉ là nước, barley và houblon. Tuy nhiên, các nhà sản xuất Tàu biến đổi mọi nguyên tắc, và bia Tàu dùng thêm nhiều gạo (có thể thêm các ngũ cốc khác) trong giai đoạn tạo ‘mash’ (ngâm và nghiền).

Các bia ‘biến dạng’ của Tsingtao gồm :

  • Tsingtao Dark Beer (độ alcohol 5.2 %) , bia màu nâu.
  • Tsingtao Green Beer hay rõ hơnTsingtao Spirula Green Beer, một loại pilsner, màu xanh lục, 4.5% alcohol có chứa.. tảo spirulina!

   Bia Tsingtao đến Mỹ khoảng 1972, gần như chỉ dành cho người Tàu sống tại Mỹ, họ rất ủng hộ bia này. Bia xuất cảng qua Hệ thống ‘Good Harvest of Five Grains” tại HongKong, bán tại 62 quốc gia và chiếm trên 50% tổng lượng bia xuất cảng của Tàu..                                Image en ligne
                                           Bia Tsingtao : (Thanh đảo)

2- Bia Snow = Beer Tuyết hoa (xue’hua’pi jiu)

Bia Snow là loại ‘lager’ do Công ty Bia CR Snow sản xuất (Công ty này do SAB Miller và Công ty Quốc doanh Tàu China Resources Enterprises cộng tác).Bia Snow được đưa ra thị trường năm 1993 và nhanh chóng trở thành Công ty làm bia lớn nhất nước Tàu với 90 cơ xưởng, sản xuất 100 triệu hecto lít bia/ năm..Qua nhiều thay đổi trong luật pháp đầu tư của Tàu.. đến 2018 Heineken là công ty ngoại quốc duy nhất có 40% cổ phần của Snow.

   Nếu tính theo lượng sản xuất thì Snow đứng đầu thế giới và bia Snow hầu như chỉ tiêu thụ .. trong nước

Bia snow được xem là Bia’ chính thức ‘của vùng Đông-Bắc Tàu, tuy vẫn do Bắc Kinh quản lý nhưng bia thật sự rất phổ biến tại Thẩm Dương, Liêu Ninh và trên toàn lục địa.

  Snow bia có độ alcohol thay đổi theo nhãn : từ 2.5 đến 4.5 % alcohol và có cả dạng Bia hơi. Nhãn nổi tiếng nhất là “Brave the World” và Brave the World Super X.   Các nhà ‘nếm bia’ thế giới ‘chê’ Snow Beer.. đánh giá bia nhạt như nước lạnh.. thêm chút alcohol, không hương và không vị.. (comparable to cooled.. water?) nhưng ‘có điểm tốt’ là 1 lon chỉ cung cấp 120 calories.

                   Bia Snow

3- Bia Zhujiang (Guangzhou Zhujiang Brewery Group) (Quảng Châu, Chu Giang )

Tổ hợp Bia này được thành lập năm 1985 và là một Công ty quốc doanh của Tàu, xếp vào hạng các Công Ty Bia quốc tế quan trọng.   Bia Zhujiang thuộc loại pale lager, chế tạo theo kỹ thuật “Lager-Japanese Rice”và là một trong 4 nhãn bia ‘quốc gia’ của Tàu.. Mỗi giờ có đến 48 ngàn chai được tiêu thụ và là nhãn bia thông dụng nhất tại vùng Nam nước Tàu. Bia được sản xuất tại Quảng Châu.. Nước để chế tạo bia được dẫn bằng ống riêng từ một dòng suối thiên nhiên đến thẳng cơ xưởng bảo đảm độ tinh khiết..Nguyên liệu như houblon từ Tiệp, men từ Đức và mạch nha lúa mạch (barley malt) từ Canada và .. gạo nội địa.. Độ alcohol 4.3%.. Số bán tuy nhiều nhưng với giới tiêu thụ phương Tây thì phẩm chất kém.. như rượu đế có bọt. thêm thoảng mùi houblon “bland, tasteless, annoying dextrose notes”? (beeradvocate.com).

                                                    Zhujiang Beer 12°

4- Bia Yanjing (Beijing Yanjing Brewery) = Bia Yên kinh. (Yên là tên một một tiểu quốc tại Trung Hoa thời Chiến quốc). Công ty quốc doanh được thành lập từ 1980 tại Bắc Kinh. Bia Yanjing được chính thức công nhận là .. bia quốc gia; dùng trong các bữa tiệc khoản đãi khách tại Đại Sảnh đường Nhân Dân (tháng 2-1995). Bia được phục vụ hành khách trên các chuyến bay của Air China và  là Bia Tàu trong Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008..

   Công ty này, theo số lượng sản xuất thì đứng hạng thứ 3 tại Tàu và hạng 8 trên thế giới..Các nhãn bia chính là Yanjing (loại bia lager màu nhạt), độ alcohol 4.5%, có vị thơm houblon (tuy có thêm gạo khi lên men); Nước làm bia được lấy từ Núi YanShan (Yên Sơn) tại Bắc Kinh)   Hãng  còn có các nhãn khác như Liquan (Lệ Tuyền), Huiquan (Hoa Tuyền) và Xuelu..                 Image en ligneImage en ligne
         Yanjing Beer – The Beerly Yanjing 11º Premium 4.5%     

5- Bia Harbin (Cáp Nhĩ Tân).  Bia Harbin được xem là bia đầu tiên do người ngoại quốc chế tạo tại Tàu..Hãng sản xuất Harbin Brewery có một lịch sử đặc biệt. Thành lập từ năm 1900 tại Harbin do một người Ba lan sinh sống tại Tarczyn (khu vực lúc đó người Nga tách khỏi Balan). Nhà máy được thiết lập tại Mãn Châu, đặt theo tên người chủ là Wróblewsky. Lúc đầu nhà máy chỉ nhằm cung cấp bia cho những công nhân Nga đang xây dựng đường Xe lửa Xuyên Mãn châu (1898). Đến 1908 , nhà máy đổi tên thành Gloria và 1932 lại đổi thành Harbin Brewery Factory khi điều hành bởi nhóm hỗn hợp Tàu và Tiệp khắc. Sau đó 1946 Hồng quân Nga chiếm Mãn Châu, chủ nhân mới là người.. Nga; cho đến 1950 Stalin mới giao lại cho Chính quyền Mao tại Hoa Lục, và nhà máy dĩ nhiên trở thành quốc doanh.. Do thiếu ngũ cốc và nhất là gạo, Nhà máy Harbin đã chế bia từ bắp. Mãi đến những năm 1960s Nhà máy Harbin mới có các thiết bị mới và đến 1973 mới lắp đặt hệ thống thanh trùng trong Tỉnh Hắc Long Giang..

  Tháng 6-2003, SABMiller mua 29.6 % cổ phần Công ty Harbin Brewery và sau đó chuyển sang cho Anheuser-Busch (2004).

  Harbin loại ‘lager’ màu nhạt, có 4.8 % alcohol. dùng houblon Tàu (Qingdao Dahua), malt và men gốc Đức. Có các nhãn như Hapi, Golden Hapi..  Tại Bắc Mỹ, bia bán tại các cửa hàng bách hóa gốc Hoa và gốc Hàn. Giới tiêu thụ Âu-Mỹ xếp vào loại bia… xoàng ?

                          Bia Harbin Brewery

6- Bia Taiwan   Việc độc quyền của Nhà nước trong việc sản xuất, nhập cảng và phân phối bia tại Đảo quốc Taiwan được bãi bỏ vào năm 2002. Công ty cổ phần tư nhân Taiwan Tobacco and Liquor Company TTL được thành lập và TTL đưa ra thị trường Taiwan các loại bia mới như Taiwan Beer Gold Medal.. rồi sản xuất  bia hơi Taiwan Beer Draft, loại lager bán tại Nhà hàng ăn..đồng thời trở lại ‘bia truyền thống dùng malt lấy nhãn là Mine và ‘sáng chế’ thêm 4 loại bia.. trái cây .

  • Taiwan beer là loại lager, màu xậm, có pha chế thêm bằng gạo thơm địa phương khi lên men. Bia được lọc và khử trùng, độ alcohol 4.7%. Taiwan Beer có 3 loại : Loại nguyên thủy (4.5%) đựng trong chai màu cánh gián (amber), nhãn màu kem ; Loại Gold Medal (2003), chai màu lục, nhãn hai màu đỏ-xanh, độ alcohol 5% ; Loại Taiwan 18 chỉ ở dạng bia hơi..

Image en ligneImage en ligne

                                         Taiwan beer         Gold Medal Taiwan Beer (Can 33cl) 

  • Mine  là bia ‘truyền thống’ từ malt, độ alcohol 5%, ra đời năm 2008, bán khá chạy nên có thêm     nhãn  Mine Dark..

                                                           MINE Beer Taiwan

  • Từ 2012, Taiwan bia chế thêm bia trái cây vị xoài, dứa (2.8% alcohol), rồi tiếp tục với vị cam, nho!
  • Bia tàu nhập cảng

Thống kê năm 2007,ghi Công ty BudLight bán được 5.18 tỷ lít bia,và Snow bán 5.12 tỷ lít.. sau đó BudLight giảm và Snow tăng.. vượt qua mặt Bud..

  Nhiều Công ty Bia thế giới ‘nhào vào’ thị trường Bia Tàu trong những năm 1990s đề rồi thua chạy vì .. không nghĩ đến thu nhập của dân Tàu, lúc này thu nhập dưới 1 đô/ ngày; làm sao uống bia ‘ngoại’ (vượt quá túi tiền).   Năm 1994, chỉ có 4 công ty bia ngoại quốc đầu tư vào Tàu, nhưng qua 1999 con số tăng đến 60 công ty. Quan niệm rõ ràng “Chỉ cần mỗi người Tàu sống một.. lon bia’ là.. đủ có lời?. Bia ngoại tại Tàu khó phát triển, chỉ chiếm được 7% thị trường : Các nhãn bia ngoại nhập bán mạnh nhất tại Tàu là Asahi và Kirin (Nhật); Foster’s (Úc); Beck’s (Đức), Pabst và Budweiser (Mỹ). Một số công ty ngoại quốc cũng thử cộng tác với các công ty Tàu nội địa để đem thương hiệu vào Tàu, nhưng chưa thành công.

  • San Miguel là một trong những Công ty buôn bán bia ngoại hàng đầu tại Tàu. San Miguel có Nhà máy làm bia tại HongKong, thương vụ chỉ chiếm 5% thị trường.

San Miguel beer

  • Budweiser nổi tiếng trong Nhóm Anheuser-Busch’s, nhưng cũng không thành công về mặt tài chính, và đành đầu tư thêm vào Công ty Tsingtao (27%).

Image en ligneImage en ligne
 Budweiser

  • SAB Miller (Tổ hợp lớn hạng 2 thế giới) sở hữu 47 nhà máy tại 13 tỉnh .. Năm 2007, SAB Miller mua ‘thương hiệu Sichuan Blue Sword” để mở đường vào thị trường bia nội địa Tàu..

 SAB Miller’s Footprint in China 

  • InBev, Công ty Bỉ , đầu tư 750 triệu đô (2005) mua Fujian Sedtin Brewery..Công ty Interbrew cũng gia nhập vào thị trường khi mua 24% của Zhujiang Breweries.

                                                           Bia Belge tại Tàu

  • Carlberg làm bia tại Tàu từ 1991 và sau đó mua Dali Beer (hãng bia lớn của Vân Nam) năm 2003 và sau đó kiểm soát luôn Kunming Hiashi Brewery.

 Carlberg

  • Công ty Nhật Suntory tập trung thương vụ của họ tại Thượng Hải, thu tóm Shanghai Foster’s (Úc) và chiếm trên 60% thị trường.

Suntory Beer 

Chuyện bia ‘giả” và bia. ‘Nhái” tại Tàu ;Làm hàng giả ‘hình như’ là truyền thống tại.. Hoa Lục ?

  • Pasb Ribbon từng là nạn nhân một vụ : Báo Tàu loan tin có người uống Bia của Hãng này.. bị chết ?.. nhưng khi điều tra thì.. chết vì uống bia ‘tự chế’ đổ vào lon.. Pastb Ribbon !
  • Bia Tsingtao, được các tay chế bia làm nhái  nhiều nhất tại Taiwan và Nam Hán : Công ty Taiwan Gold Mountain Wine and Spirit chế loại bia Tsingitao (thêm chữ i) và Công Ty Nam Hàn Chosun làm bia Ching Shan tao, chỉ đổi một nét chữ Hán thôi , còn màu sắc, nhãn chai vẫn y chang !

(Chợt nhớ đến bia 333 .. chỉ thêm một số 3 thôi ?).

Chuyện Bia.. chỉ có tại Tàu ?

Tạp chí The New Yorker(July 19-21, 2010) kể một mẩu chuyện về Bia Tàu :

    “Chỉ tại Tàu, một lon bia Pabst Blue Ribbon (PBR) rẻ rề tại Mỹ, lại có thể bán giá 40 đô.. một lon!”

    Tại Hoa lục, bia PBR được đặt tên mới Blue Ribbon 1844, dùng kỹ thuật quảng cáo ‘thổi phồng trên báo chí là một ‘món uống có alcohol tuyệt vời ‘, phải uống trong cốc thủy tinh (dạ quang bôi) như uống rượu champagne (!)

Các ‘tay tổ’ quảng cáo : PBR 1844.. công bố họ dùng công thức ale từ 1844, chế bằng malt nguyên chất, không pha trộn.. loại malt ‘caramel’ hóa cũng từ Đức.. Chế bia xong, lại còn ủ thêm trong thùng làm bằng gỗ Sồi Mỹ (riêng tiền mua thùng gỗ lên đến 100 ngàn đô cho 750 thùng) và do bia làm từ các vật liệu quý, hiếm nên giá thành lên đến 40 đô cho 1 chai 720ml..”

Và các Ngài Đại gia Tàu, mới giàu, cần phải ‘sang’ nên.. dành nhau mua siêu bia : Bia uống .. như champagne!

                                                                           Trần Minh Quân   10/2021

Xin mời đọc các các bài Bia của TMQ trên Biển Xưa:

  • Bia Úc

https://bienxua.wordpress.com/2021/09/11bia-miet-duoi-tran-minh-quan/

  • Bia Canada
  • Bia Việt

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Dân Ngã ba Ông Tạ nhớ về Bà Thiệu – Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú


Ông bà Nguyễn Văn Thiệu và các con.
Ông bà Nguyễn Văn Thiệu và các con.


Phu nhân của cố Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu, bà Christine Nguyễn Thị Mai Anh, mới qua đời ngày 15/10/2021 tại miền Nam California, hưởng thọ 91 tuổi. Bà mất đúng 20 năm sau khi ông Thiệu qua đời tại Boston, Hoa Kỳ năm 2001.

Hai mươi năm của chính thể Việt Nam Cộng hoà có bốn tổng thống: Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương và Dương Văn Minh.

Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm có bà Ngô Đình Nhu được cho là “Đệ Nhất Phu nhân” không chính thức, vì bà là vợ của cố vấn Ngô Đình Nhu, bào đệ của Tổng thống độc thân Ngô Đình Diệm. Thực sự bà Nhu là con người với tham vọng chính trị vì bà là dân biểu quốc hội và đã khuấy động chính trường trong những năm dưới thời Ngô tổng thống.

Sau đảo chánh 1/11/1963, trước khi khai sinh Đệ Nhị Cộng hoà, những năm 1965-67 có bà Đặng Tuyết Mai cũng sôi nổi vì là tình nhân, rồi trở thành phu nhân của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, khi đó là Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương, là chức vụ như thủ tướng, cùng với Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, như một quốc trưởng.

Ngoài ông Kỳ, ông Thiệu thì những ngày tháng cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà còn có Tổng Thống Trần Văn Hương, lãnh đạo một tuần, và Tổng thống Dương Văn Minh lãnh đạo đất nước hai ngày nên người dân không nghe biết đến các vị phu nhân. Ngay cả Tướng Minh, sau đảo chánh 1/11/1963 đã làm Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng và quốc trưởng nhưng người dân cũng ít nghe nói đến phu nhân.

Bà Nguyễn Văn Thiệu là phu nhân của Tổng thống Việt Nam Cộng hoà từ 1967 đến 1975, nhưng bà không phô trương ồn ào, không can dự vào công việc của chồng mà chỉ làm công tác xã hội, uỷ lạo chiến sĩ, giúp người nghèo.

Trong quá khứ, giới truyền thông chống chính phủ Việt Nam Cộng hoà thường đưa ra cáo buộc những phu nhân của lãnh đạo miền Nam, như bà Nguyễn Văn Thiệu, bà Trần Thiện Khiêm, bà Đặng Văn Quang với những vụ mua quan bán chức hay buôn lậu mà không đưa bằng chứng, chỉ là những lời đồn, như vụ buôn lậu ở Long An với còi hụ xe nhà binh với đồn đãi là bà Thiệu tổ chức. Khi đó vụ việc đổ bể và nhiều thùng rượu mạnh được vội vã đổ hàng ngay trong khu vực Ngã ba Ông Tạ.

Khu vực Ngã ba Ông Tạ từ năm 1974 cũng là bản doanh của Phong trào Nhân dân Chống tham nhũng, do linh mục Trần Hữu Thanh đứng đầu, đặt tại giáo xứ Tân Chí Linh. Phong trào đã đưa ra những bản cáo trạng nhắm vào Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và phu nhân.

Khi hay tin Bà Thiệu qua đời, nhiều cư dân vùng Ông Tạ đã nhắc lại những ký ức về bà.

Theo phóng viên báo Tuổi Trẻ Cù Mai Công, một người được sinh ra và sống ở Ngã ba Ông Tạ, viết trên Facebook thì trước 1963 ông bà Thiệu sống trong cư xá sĩ quan Trần Hưng Đạo, trên đường Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai), gần Bộ Tổng tham mưu và bà Thiệu cùng với bà Trần Thiện Khiêm thường đi chợ Ông Tạ bằng xích lô đạp, ngang qua nhà ông.

Khi ông Thiệu làm tổng thống, bà Thiệu muốn xây một bệnh viện cho người nghèo thì địa điểm cho Bệnh viện Vì Dân được chọn nằm tại một góc của Ngã tư Bảy Hiền, trên phần đất mà địa dư nằm trong quần thể Ngã ba Ông Tạ.

Bệnh viện Vì Dân được khánh thành năm 1971. Nhiều cư dân trong khu vực đã được chữa trị miễn phí nên dân quanh vùng gọi đó là “Bệnh viện Bà Thiệu” hay “Nhà thương Bà Thiệu”. Đó là một cơ sở y tế rộng lớn, hiện đại với 400 giường bệnh. Tôi đã đi qua nơi này mỗi ngày trong những năm học cấp ba ở trường Nguyễn Bá Tòng Gia Định.

Vùng Sài Gòn – Gia Định khi đó đã có các bệnh viện Bình Dân, Chợ Rẫy, Nguyễn Văn Học, Nhi Đồng nằm ở nhiều vị trí. Khi bệnh viện Vì Dân hoạt động thì phục vụ dân chúng trong một vùng rộng lớn, có thể nói là từ Hoà Hưng, Ngã ba Ông Tạ ra đến Hóc Môn, Trung Chánh theo đường Lê Văn Duyệt nối dài (nay là CMT8). Còn theo đường Nguyễn Văn Thoại (nay là Lý Thường Kiệt) nối dài Võ Tánh là từ cư xá Lữ Gia qua Ngã tư Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, tới Ngã tư Phú Nhuận.

Một người dân đã hồi tưởng về nơi này:

“Tôi cũng dân gốc Ông Tạ, hồi nhỏ sống và đi học ở Ông Tạ, lớn lên lấy vợ cũng đem về Ông Tạ và có con cũng ở Ông Tạ. Khi Bệnh viện Vì Dân đang xây, tôi 13 tuổi, chỉ nghe người ta nói nên biết đó là ‘bệnh viện của bà Thiệu’, nhưng nhiều lần đi học trường Nghĩa Hòa về ngang, ngó lên mấy chữ VÌ DÂN to đùng trên nóc bệnh viện, tôi không hiểu, cứ tự nghĩ trong đầu: ‘Tên nghe kỳ!’

Sáng Mùng 2 Tết năm 1973 bố tôi xuất hành lấy hên đầu năm, khi về đến nhà thì than nhức đầu và ngả mình lên chiếc ghế bố, miệng tự dưng á khẩu. Đến chiều chúng tôi nhờ xe Lam đưa bố tôi vào Bệnh viện Vì Dân. Hóa ra bố tôi bị đứt mạch máu não. May mà các bác sĩ tận tình chạy chữa, nên bố tôi vẫn giữ được tánh mạng, nhưng cũng bị liệt nửa người, chỉ chống gậy đi đi lại lại trong nhà, chín năm sau thì mất.

Những ngày vào thăm bố trong bệnh viện, vào cổng phụ trên đường Lê Văn Duyệt, bây giờ là Cách Mạng Tháng 8, có cảnh sát áo trắng mũ lưỡi trai đứng gác, tôi mới hiểu ý nghĩa của hai chữ ‘vì dân’, nghĩa là ‘vì người nghèo’. Nhưng cũng chỉ là hiểu nghĩa đen vậy thôi, rồi quên mất. Hôm nay, nghe tin bà Mai Anh mất, tôi nhớ lại chuyện xưa, rồi nghĩ đến chuyện nay, tự dưng thấu suốt được cái nhân ái to lớn ẩn trong hai chữ ‘Vì Dân’ đơn giản và cụt lủn mà ngày xưa tôi đã chỉ thấy kỳ!

Xin cúi đầu tạ ơn người Phụ nữ có gương mặt phúc hậu và một trái tim nhân ái. Cầu mong Bà được an nghỉ đời đời nơi nước Chúa.”

Trên trang Facebook của Hội Đồng Hương Ông Tạ nhiều người nhắc đến bà Thiệu và công trình của bà.

Hà Trần nhớ lại: “Tôi sanh con đầu lòng tại Bệnh Viện Vì Dân. Tôi là giáo viên nên cũng được không tốn lệ phí, cũng được cho tiền sữa, được chăm sóc chu đáo, 3 bữa ăn một ngày. Mong Bà ra đi thanh thản và nguyện xin Chúa đón nhận trên đường Bà về Quê Trời.”

Khánh Vũ không quên một kỷ niệm: “Em gái út của tôi được hạ sinh hồi đầu năm 1974 tại bệnh viện Vì Dân, lúc đó tôi chỉ là chú nhóc 7 tuổi, được ba đưa vào bệnh viện thăm má, thăm em bé mấy ngày liền. Tôi đã phóng cẳng thả giàn chạy chơi trong bệnh viện. Lần đầu tiên trong đời tôi được đi thang máy là ở bệnh viện Vì Dân này đây. Viết ra đây một thoáng kỷ niệm về một nơi bà Mai Anh đặt dấu ấn, đã và sẽ được người đời trân trọng nhắc nhở mãi về sau…”

Chung Nguyen: “Bệnh viện Vì Dân tôi biết khi còn rất trẻ vì gia đình tôi ở khu Ông Tạ. Tôi có bà chị họ sinh đẻ ở đó, chị là vợ một quân nhân thường thôi chứ không phải cấp uý hay tướng tá gì hết. Sau một tuần lễ ở bệnh viện quay trở về nhà, chị không phải đóng một đồng tiền lệ phí nào cho bệnh viện, chị còn được cho tiền và 10 mét vải may tã cho em bé, 10 hộp sữa bò và thuốc men cho cả hai mẹ con…”

Còn Thien Nguyen, một học sinh nghèo, nhớ lại ngày nhận học bổng: “Bà đã trao tiền học bổng học sinh nghèo, học giỏi cho tôi cả năm lớp 9. Mẹ đã dắt tôi đi nhận tại hội trường Viện Quốc gia Âm nhạc…”

Nhà thơ Bùi Chí Vinh là cư dân quận 3 Sài Gòn thời trước 1975, khi hay tin bà Thiệu qua đời đã làm bài thơ, với những câu:

Cô Bảy Mỹ Tho cùng tuổi với má tôi
Má tôi chết trước cô 3 năm ở một xứ sở buồn như địa ngục
Cô chết lưu vong nhưng cũng có những tháng ngày hạnh phúc
Thượng thọ 90 còn gì nữa để ngậm ngùi
“Đâu có tình yêu thương, ở đó có Đức Chúa Trời”
Cô đã thuộc lòng lời ca thánh yêu thương khi ngồi trong lớp học
Khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân cô càng biết rơi nước mắt
Xây bệnh viện Vì Dân miễn phí giúp người nghèo
Là phụ nữ miền Tây cô không thích nói nhiều
Công, dung, ngôn, hạnh như Kiều Nguyệt Nga trong thơ Đồ Chiểu
Cô đi không hậu ủng tiền hô, cô đến không slogan khẩu hiệu
Thăm viện dưỡng lão, trại cô nhi như thăm viếng người nhà
Cô Bảy Mỹ Tho ơi, làm sao không nén nổi xót xa
Bệnh viện Vì Dân của cô ngày xưa bây giờ “Vì Quan” mà phục vụ
Dân còn không có ăn thì lấy gì mà thuốc men, mà giường nằm, mà lót tay đủ thứ…

Cách bệnh viện Vì Dân vài trăm mét là trường trung học Quốc Gia Nghĩa Tử, nơi dành cho học sinh là con em của tử sĩ và thương phế binh Việt Nam Cộng hoà. Tuy bà Thiệu không phải là người khai sinh ngôi trường, nhưng bà luôn quan tâm giúp đỡ cho trường và các em học sinh.

Bà Tranh Nguyễn, người cùng xóm với tôi ở Ngã ba Ông Tạ và là cựu học sinh nội trú của trường Quốc Gia Nghĩa Tử, hiện ở tiểu bang Texas, chia sẻ: “Bà Thiệu là người đã dành rất nhiều tâm huyết cho trường. Khi xây xong bệnh viện Vì Dân bà đã đưa mấy chục học sinh Quốc Gia Nghĩa Tử đi học điều dưỡng để về làm cho bệnh viện. Bà còn có nhiều gắn bó dành cho thương binh, cô nhi, quả phụ. Học sinh của trường luôn coi bà là nghĩa mẫu.”

Khi hay tin bà Thiệu từ giã cõi đời, bà Tranh viết mấy vần thơ tưởng nhớ:

Chúng con là đám trẻ sớm mồ côi
Từ bốn phương lòng đang hướng về Cội
Cùng chung tay thắp một nén nhang trầm
Quyện theo gió bay về bên Nghĩa Mẫu
Muốn nói nhiều nhưng bây giờ không thể
Vì chúng con lòng thổn thức bi thương…
Quốc Gia Nghĩa Tử một ngôi trường
Không sáng lập nhưng Mẹ đã dày công vun đắp
Cho chúng con những đứa trẻ mồ côi
Những đứa trẻ còn cha không lành lặn
Một tương lai, một cuộc sống no đầy…
Bệnh viện Vì Dân một điều còn hiện hữu
Dù hôm nay đã đổi chủ thay tên
Nhưng trái tim của nhiều người đất Việt
Vẫn ghi lòng công của Mẹ… Mẹ ơi
Mẹ ra đi để lại luống ngậm ngùi
Lòng thương nhớ bao giờ nguôi hả Mẹ.!!?
(19/10/21)

Bà Thiệu quê quán ở Mỹ Tho, sinh năm 1931 trong một gia đình công giáo có mười chị em và bà là người con thứ 7 nên có tên “Cô Bảy Mỹ Tho”. Cô Bảy kết hôn với trung uý Nguyễn Văn Thiệu năm 1951 và có ba người con là Nguyễn Thị Tuấn Anh, Nguyễn Quang Lộc và Nguyễn Thiệu Long.

Cuối tháng 4/1975, trong lúc tình hình quân sự và chính trị tại Việt Nam trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và vài ngày sau ông rời Việt Nam qua Đài Loan, rồi sang Anh quốc sống ở London gần 20 năm trước khi qua Mỹ định cư ở vùng Boston. Sau khi ông Thiệu mất, bà dọn về nam California sống với con trai cho đến khi lìa trần.

Xin chia buồn cùng tang quyến. Nguyện xin cho linh hồn Christine được an nghỉ bên Chúa Kitô trên Thiên Đàng.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/dan-nga-ba-ong-ta-nho-ba-thieu/6289344.html

Halloween, Nhớ Miếu Ba Cô – Trương Kim Hoàng Thư

  • Trương Kim Hoàng Thư
Jack-o'-Lantern 2003-10-31.jpg

Với “Hồi Ức Tháng Tư Của Long Mỹ,” cùng viết với người cháu là Hải Quân Trung Tá Paul LongMy Choate, Trương Kim Hoàng Thư đã nhận giải Vinh Danh Viết Về Nước Mỹ 2012. Bài mới của cô là một chuyện ma trong kỷ niệm từ thời mới 9 tuổi. Tác giả rời Việt Nam sang Mỹ từ tháng 10 năm 1974, khi còn là một cô bé 10 tuổi. Bốn mươi năm sau, hiện đã là một kỹ sư điện tại DPW-LACO, Nam California, nhưng cơn sợ ma từ vùng đất quê hương thơ ấu vẫn như còn nguyên vẹn khi được kể lại bằng tiếng Việt.

* * *

Mỗi lần đến lễ Halloween, tôi tạm gọi là lễ cô hồn, làm nhớ những năm mới qua Mỹ, còn nhỏ, năm nào mấy chị em cũng trùm tấm vải trắng khoét hai lỗ để thấy đường, hóa trang làm ma làm quỷ đi từng nhà xin kẹo. Thời đó xin kẹo được nhiều lắm, ăn cả tháng vẫn còn. Ăn kẹo nhiều quá cả tuần sau bị nhức răng khóc đã đời!

Người Mỹ họ cũng tin có linh hồn, có ma có quỷ. Chạy dọc đường lộ trong thành phố thỉnh thoảng tôi thấy người ta để vài bó hoa, bong bóng và đèn cầy, loại đèn cầy để trong bình, một bình có thể cháy suốt ba ngày. Đó là những nơi đã có người chết vì tai nạn giao thông hay vì nguyên nhân nào khác khiến họ bị chết bất đắc kỳ tử. Họ không lập miếu thờ những người chết oan, chết ngoài đường ngoài sá như bên mình mà đặt hoa và đốt đèn cầy, nếu là trẻ con chết thì có thêm vài món đồ chơi. Họ tưởng niệm người quá cố như thế vài ngày hay tuần lễ thì thấy dẹp đi.

Nhắc tới miếu thờ, tôi nhớ miếu ba cô ở Cam Ranh và một đêm mùa hè 1973.

Thời ở quê nhà, có lẽ còn nhỏ nên ít có dịp đi chơi xa. Xa đây đối với tôi có nghĩa là ra khỏi Sài Gòn, đi đâu cũng được. Mỗi lần nghe mấy đứa bạn hàng xóm kể chuyện đi về quê ra ruộng rau muống câu cá rô, thấy mà ham. Có đứa còn kể được theo mấy ông anh họ đặt trúm bắt lươn, chỉ mường tượng thôi đã thấy ghê, nhưng khi nhớ tới món lươn xào xả ớt ăn với cơm trắng mà Má tôi thường nấu trong mấy ngày mưa, thèm chảy nước miếng. Có đứa bạn lên Đà Lạt nghỉ mát đem về cho vài trái dâu và vài hạt lựu ăn cho biết mùi, mừng húm, ước gì mình được đi.

Năm đó, chồng chị Ba được bổ nhiệm ra tận Cam Ranh làm việc, nên chị và hai tí con theo anh ra ngoài đó. Lúc đầu chỉ ở gần chợ Đá Bạc ngoài Ba Ngòi, sau vài tháng được cấp nhà trong khu quân sự. Là con bầy, có lẽ sống chung với mấy đứa em đã quen, nên chị cứ dụ khị đám nhỏ chuyển trường ra Cam Ranh học, nhưng không đứa nào chịu đi. Đối với tôi, miền Trung xa vời, cứ xoáy sâu trong đầu với câu … “mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu ăn … ”. Mỗi năm trong trường tổ chức gây quỹ cứu giúp đồng bào bị lũ lụt, hình ảnh nhà cửa bị lũ cuốn trôi, tiếng than, tiếng khóc, những cảnh tang thương cứ ám ảnh tâm trí tôi, nên nghe nói lên miền Trung sợ lắm. Ở luôn thì không nhưng đi chơi thì được.

Chị Ba canh đám tụi tôi vừa nghỉ hè là chị về nhà thỉnh liền đám em năm đứa ra Cam Ranh chơi, ngoại trừ chị Tư lúc đó đang học thi tú tài đôi không được theo. Đó là mùa hè tôi không bao giờ quên, bởi vì năm đó tôi vừa thi xong tiểu học, lớp Nhứt, để lên Trung học, được mặc áo dài, tôi nhớ bài thi rất khó. Đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi được đi nghĩ hè, ra tận miền Trung!

Nếu tôi nhớ không lầm thì trong căn cứ Hải quân này có ba chỗ, tại trung tâm gọi là Market Time, rồi Đài thu và Đài phát. Trong khu Đài thu có một trại lính. Từ cổng chánh đi vào trại, ngoài khu cho lính độc thân ở tập thể, rải rác có những căn nhà dành cho vợ chồng lính ở tuốt phía trong.

Nhà chị ba tôi sơn màu trắng, nằm bên phải. Cổng tường sân trước cao khỏi đầu, cổng lại không có cửa. Chung quanh trại không có đến một cái cây, chỗ nào không tráng xi-măng thì chỉ thấy toàn là cát trắng. Bãi cát trắng tương phản trời xanh, rất đẹp. Trại ở sát biển, bên kia đường, nên nhìn biển xanh, cũng làm dịu cơn nắng nóng gay gắt.

Thời khoá biểu của mấy chị em tôi hôm nào cũng y chang, là thức thiệt sớm, ăn sáng xong, chạy ra biển để coi mấy anh lính quăng lưới bắt cá, đợi lúc nước rút, đi bộ ra ngoài đảo cạy hàu về để tối chị Ba nấu cháo đêm cho ăn. Hằng hà sa số con hàu bám bên vách cái đảo san hô nên cạy rất dễ. Cháo hàu ngon hết biết. Dưới đôi mắt con nít của tôi thì thấy đảo san hô lớn lắm chứ thật ra chị Ba nói đây chỉ là một gộp đá có san hô bám mà thôi. Đảo nằm khơi khơi ngoài biển xa bãi cát, khi thủy triều lên thì lấp cái đảo mất tiêu nên chúng tôi chỉ ra đảo khi nước xuống.

Tụi tôi phải canh chừng để chạy trở vô bờ trước khi thủy triều dâng. Cả đám không biết bơi, ngoại trừ anh tôi và anh Thành bạn anh tôi, cũng đi theo dịp này, nhớ lại không đứa nào bị chết đuối cũng may. Tối đến, mấy chị em dạo biển, coi con vích bò lên bãi cát đẻ trứng hay là đi theo mấy anh lính bắt còng. Lần đầu tiên tôi biết con còng. Con còng giống như cua con, màu hơi trắng, con lớn có vân tím, bắt cả thùng để rang muối, ăn hàng đêm.

Đêm đó, cũng như mọi đêm, cả đám dạo biển bắt còng, trong nhóm có anh Đảo, hình như anh làm bên khu vực Đầu Cáp Ngầm cách đó một khoảng xa, một người lính mà tụi tôi gọi là đầu đàn vì anh vui tánh và hát rất hay. Nghe anh kể hồi nhỏ anh đi hướng đạo nên anh biết và bày đủ trò chơi cho tụi tôi vui lắm. Có lần anh rủ cả đám lên miếu Ba Cô coi có chuối mang về ăn. Nghe nói đến miếu, tôi và chị Bảy sợ quá nói không dám đi. Chị Năm lúc đó ở tuổi bẻ gãy sừng trâu nên chị tỉnh bơ đòi đi coi, chị nói:

– Hai đứa không đi thì ngồi đây đợi!

Chị Bảy và tôi phải rút rích chạy theo chớ hổng lẽ ngồi đó đợi còn ghê hơn! Hai đứa run quá nắm tay nhau dành đi giữa chị Năm và anh Đảo. Vừa đi anh vừa kể cho tụi tôi nghe về miếu này. Dân ở đó kể là mấy năm trước, người ta phát giác ra xác ba cô gái chôn dưới bãi cát, kế bên đường. Đây là con đường chánh chạy vòng sát biển, là khu quân sự nên ít xe qua lại. Sau đó nhiều người chạy ngang khoảng đường này hay thấy dáng ba cô gái đứng đón xe vào giữa đêm nên họ xây miếu thờ, thỉnh thoảng dân trong trại đem chuối lên miếu cúng.

Từ đằng xa, vừa qua khỏi khúc đường cua về hướng trái, thấy cái miếu chơ vơ trên bãi cát, cách vệ đường khoảng vài mét, phía tay phải. Miếu rất đơn sơ, được dựng lên bằng mấy khúc gổ đã mục nát. Hôm đó miếu không nhang đèn, lạnh tanh. Anh Đảo châm lửa đốt ba cây nhang vái ba cô cho tụi em lấy nãi chuối về ăn. Tụi tôi cũng bắt chước xá ba cái rồi nắm tay nhau đứng xa xa. Lúc vòng trở về, trời đã tối mịt. Ăn xong nãi chuối, vô nhà cả bọn bị chị Ba la cho một trận, còn bị phạt cấm cung, không cho ra khỏi trại và đi xuống biển ban đêm.

Mấy anh lính cũng bị phạt vì bỏ căn cứ dắt đám nhóc tụi tôi đi chơi. Mấy anh bị hít đất, sơn cột điện. Bị cấm không cho ra khỏi trại, nên tụi tôi ra phụ sơn, làm mấy anh bị phạt thêm tội gì đó không biết. Chị Năm nói sao mấy anh bị phạt mà ai cũng cười tươi ra vẻ khoái chí. Còn Chị Ba lúc đó chắc nhức đầu vì cứ phải nghe chú Trung úy trưởng đài phàn nàn đám lính trốn việc để dắt đám em chị đi chơi. Tôi nghĩ chắc tại ở đó buồn quá, mấy anh nhớ gia đình, thấy lũ con nít tụi tôi thì mừng.

Vài ngày sau đó còi hú báo động liên miên. Đó là vào thời điểm gây cấn ở những vùng lân cận. Dĩ nhiên là không ai được ra ngoài, ban đêm còn phải tắt hết đèn.

Trở lại chuyện tối hôm đi thăm miếu ba cô, chị Ba và hai tí con thường đi ngủ sớm. Nếu không giới nghiêm thì giờ đó tụi tôi đang gậm còng rang muối và ăn cháo hàu.

Tối đó, khuya lắm rồi mà cả đám còn thức, đốt đèn dầu leo lét tụm trong bếp nói dóc, thì nghe có tiếng cửa ngoài phòng khách loay hoay như có ai muốn mở. Anh Sáu lại gần thì cánh cửa hết động đậy. Anh vén hé màn nhìn ra ngoài, nhún vai ra dấu không có ai, anh trở vô bếp thì cái tay nắm khóa cửa lại xoay qua xoay lại, có ai đang cố gắng mở. Anh vén màn lần nữa, lại không có ai bên ngoài. Anh nói:

– Chắc bên ngoài có bảo hay gió mạnh thôi.

Thấy tụi tôi bắt đầu sợ, anh nói thêm:

– Hay là mấy anh lính ghẹo mình thôi, không sao đâu, đừng làm ồn, một hồi mà mình không ra thì họ sẽ đi thôi.

Nhưng cái tay nắm cửa lại xoay nữa, lần này mạnh hơn và cả cánh cửa cũng lắc rung theo, như ai đó muốn vô nhà trong vẻ giận dữ. Anh Thành cầm cây chổi bước theo sau anh Sáu, đứng bên kia cửa, anh cũng hé màn nhìn ra ngoài, nhìn anh tôi rồi lắc đầu. Tôi thấy anh Sáu gan dạ nắm ngay cái nắm cửa trong lúc nó vẫn còn xoay mạnh. Anh bật cửa mở thật nhanh… anh chạy ra khỏi sân, chị Năm la:

– Thành ơi, em chạy theo kêu nó vô, nguy hiểm quá!

Đám tôi thì đứng tụm ngay cửa không dám bước ra ngoài. Lúc đó sợ hết chỗ nói!

Anh Sáu quay trở lại, chỉ nói:

– Vô nhà khoá cửa lại!

Chị Năm hỏi:

– Có thấy ai hông? Chắc anh Đảo nhát mình thôi.

Anh Thành run lập cập trả lời:

– Không thấy ai hết! Có ai cũng không cách nào chạy kịp!

Trời đêm đó tối đen, vẫn còn giới nghiêm, không một bóng người, cũng không có gió, thật yên tịnh. Tôi thấy nét mặt anh Sáu bắt đầu hơi sợ. Vô nhà ngồi đợi, cả đám yên lặng, dồn hết mắt vô cánh cửa, chừng vài phút, cái nắm cửa lại xoay nữa, vẻ giận dữ hơn lúc nãy. Anh Sáu lúc đó đứng ngay cửa. Thấy cả đám sợ quá, chị Bảy đã chảy nước mắt khóc, cặp giò như cây sậy của anh Thành run lập cập. Tôi ôm lấy chị Năm, sợ điếng hồn. Anh Sáu bật mở cửa thật nhanh, rồi la lên:

– Ai đó? Đi chỗ khác chơi! Không có phá nữa!

Rồi anh đóng cửa lại, nói với cả nhà:

– Đừng để ý nữa, không có ai đâu!

Cha mẹ ơi! Không có ai hết sao!

Cái nắm cửa vẫn giật mạnh và xoay thêm vài lần nữa, rồi từ từ độ mạnh nhẹ dần và tất cả trở về yên tịnh. Tiếng còi hú hết giờ giới nghiêm. Mặt trời đã bắt đầu lên và không ngờ ánh sáng truyền ngay sức mạnh cho chúng tôi.

Lần đó mới nhận ra anh bạn của anh tôi là người sợ ma nhất trên thế giới mà tôi biết. Anh vẫn lập cập nói run run:

– Là ba cô đó. Tại tụi bây ăn cắp chuối của ba cô.

Lo la tụi tôi mà hình như ảnh quên ảnh cũng có xơi hai trái.

Từ đêm đó cả đám không bao giờ dám đi ngang miếu ba cô, ngay cả ban ngày cũng quẹo qua ngả khác mà đi.

Hết hè tụi tôi trở về nhà, sửa soạn cho niên khóa mới. Chị Ba còn ở ngôi nhà trắng thêm vài tháng thì anh rể được lịnh rút về Sài Gòn.

Hè năm ấy tôi có chuyện để kể cho mấy đứa bạn nghe. Dĩ nhiên chuyện của tôi hay hơn chuyện nghỉ hè của tụi nó nhiều lắm vì tụi nó sợ ma!

Cát trắng và biển xanh, Cam Ranh và tôi năm mới lên 9, vui vẻ với anh chị em và mấy anh lính rất dễ thương. Chị H. vợ mới cưới của chú Trung Úy B. trưởng Đài thu, anh Báu, anh Hiệp, anh Đảo, anh Tâm, anh Hòa, anh Sỹ và còn nhiều anh nữa nhưng tôi quên tên rồi, chị và mấy anh còn nhớ tụi em hông?

Cam Ranh vẫn là một nơi tôi ước muốn sẽ trở về. Và tôi cũng muốn biết sau bao nhiêu năm dài, miếu ba cô có còn đó không?

Đêm nay là Halloween, các con đường sẽ lẫn lộn những oan hồn thật hay giả đi khắp phố để xin kẹo.

“TRICK or TREAT”

Trương Kim Hoàng Thư

31/10/2013

Nguồn: https://vvnm.vietbao.com/a212433/halloween-nho-mieu-ba-co

Một thời ngang dọc trên trời Nam – Thiên Lôi 524

Thiên Lôi 524

Trung và tôi trong nhóm Thiên Lôi đầu tiên 12 hoa tiêu xuyên huấn A-37 cuối năm 1967, một trong những pilot khu trục già kinh nghiệm trên Ngựa trời A1 Skyraider. 15 tháng mười hai năm 1970 trong cơn mưa tầm tả tôi và Trung nhận được phi lệnh khẩn cấp lên vùng tam biên yểm trợ giải tỏa tiền đồn Banhet, trên mục tiêu được quân báo cho hay thời tiết tốt trong khi toàn tỉnh Khánh Hoà mây mưa vần vũ độ nhìn zero ! Tôi đề nghị với Trung nhập chung một phi vụ bốn phi cơ cất cánh hợp đoàn, như vậy sẽ không lạc mất wingmen. Trung đồng ý. Chúng tôi lên mục tiêu đúng hẹn TOT (time on target) với Mustang OV2 điều không tiền tuyến. Sau khi theo lịnh FAC chúng tôi bỏ bom hoàn hảo, trên đường về lại Nha Thành tôi dự trù đáp xuống căn cứ Mỹ Tuy Hoà lấy thêm nhiên liệu.Trên không phận Cheo Reo tôi liên lạc vô tuyến được thông báo thời tiết xấu, phi trường gần như án binh bất động! Tôi gọi số 3 , Trung cho hay phi cơ đủ xăng để đáp GCA nếu cần về Nha Trang đi! Từ phía Bắc núi mẹ bồng con tôi báo GCA xin đáp khẩn cấp low on fuel theo hướng dẫn của đài cận tiến tôi đưa hợp đoàn vào line up phi đạo30 với gear down flaps down đồng thời báo số hai và bốn sẵn sàng đáp và báo với Trung theo sát tôi sẻ vào GCA trở lại. Tôi và Trung vào vòng hai, lúc touch down Trung la lên: phi cơ tắt cả hai máy , vài giây sau phi cơ tôi êm ru lướt nhẹ chạy gần cuối runway ghẹo mặt vào taxi way và tự ngừng lại . Tôi báo cáo đài không lưu tình trạng hết nhiên liệu và xin hai xe tô ra kéo phi cơ vào! Trên xe follow me đưa chúng tôi vào phi đoàn ,áo bay tôi mồ hôi ướt đẩm như tắm mặc dù mưa Đông lạnh! Hú hồn vì mình vừa thoát lưới tử thần gang tấc; trong khi Trung mỉm cười phê phán :số hai Thế và số bốn Tòng, mình có các wingmen cứng cựa quá chừng cũng mừng! Trung là vậy lúc nào cũng điềm tỉnh ! Nay phải về bên kia thế giới bởi một anh em khác !

Thiên Lôi 524 – Chuyến Bay Cuối Cùng Phi Đoàn A-37 – dòng sông cũ

Lê Ngọc Yên và tôi cũng lắm kỷ niệm thời A1. Năm 1966 phòng tiếp liệu thay khẩu colt45 nặng nề bằng khẩu Rulo P 38, chúng tôi hăm hở cầm khẩu súng vừa mới lảnh lấy hết đạn ra quay tròn trên tay như mấy anh cao bồi trong phim Mỹ! Lúc Yên vừa xong phi vụ hành quân về bước vào cửa cư xá khu trục, tôi cầm P 38 chỉ thẳng người Yên bấm cò! Tiếng nổ chát chúa, Yên đứng sửng bất động, tôi rụng rời chân tay và thả khẩu rulo rớt lăn lóc trên sàn nhà cement! Yên rờ tay lên ngực xong tay trái, tay phải, rồi định thần chưởi thề, bảo tôi phải đi thợ may vá lại nách trái áo bay vì viên đại chui qua khoét một lổ tròn! May mà tôi bắn dở vì bị súng giật lại, mà làm sao lại có viên đạn đó trong nòng? Sau trò chơi ngu xuẩn vô ý thức đó , đến tai Chỉ huy Trưởng, văn thư đưa xuống phi đoàn tuyệt đối cấm tập súng trừ phi ngoài bãi tập có huấn luyện viên!

Có một tháng tới phiên biệt phái Pleiku, tôi cùng Yên dẫn Minh, Bạch, Long1 và Sơn đi cover chiến trường Cao nguyên, dạo đó A1 Thái Dương chưa thành lập. Sáng hôm sau, năm giờ, thức dậy sớm Yên và tôi ghé Câu lạc bộ căn cứ lấy hai ly cà phê sữa thì V C pháo kích, chúng tôi vội vàng nhảy lên xe chạy thẳng về Biệt đội; nhấc phone gọi Hành Quân Chiến Cuộc hỏi có cần phi vụ không? và được trả lời chưa có tọa độ. Tôi đề nghị hảy tìm chi tiết, chúng tôi lấy phi cơ trang bị sẵn lên cover phi trường rồi liên lạc, được đồng ý. Tôi và Yên ghé qua phòng dù lấy trang bị cá nhân và nón bay. Ra tới ramp bãi đậu A1 không kịp check tàu, Đông phụ trách kỷ thuật đưa ngón tay trỏ báo OK, tôi phóng lên cánh máy bay bắt chân sửa soạn ngồi vào ghế, nhanh như tên bắn tôi nhảy xéo 45 độ qua canopy thân mình đầy dù lưng, áo lưới, súng Rulo bay xuống mặt xi măng vùng chạy và là lên: rắn, rắn… Tư rocket đang lên bom tàu bên cạnh chạy theo hỏi tôi chuyện gì đã xảy ra. Rồi anh ta vội vàng trở lại leo lên tàu kẹp con rắn hổ vàng thước hai xuống, còn nhắn lại chiều ghé qua ăn cháo hổ hành . Từ đó võ sư Tư rocket khẳng định tôi phải có tay nghề vỏ trên mươi năm chân truyền. Tôi nghỉ ai trong hoàn cảnh đó cũng phi thân như tôi mà thôi. Tại sao trong cockpit có rắn? Mùa nóng Pleiku nực vô cùng, bay đáp xuống taxi về bãi đậu chúng tôi hay mở canopy ra cho mát, lúc tắt máy ít khi đóng lại. Nếu có mưa hay dông tố chuyên viên phi đạo sẽ phụ trách đóng lại. Ban đêm rắn bò lên chui vào nằm ngủ?

Phi vụ trả đũa Phan Rang – Tạ Thượng Tứ – dòng sông cũ

Chiều, Phi vụ chót trở về, tất cả anh em chồng chất nhau trên chiếc Jeep lùn chạy thẳng ra phố ăn tối. Minh con ( trong phi đoàn 524 có Phạm Quang Minh Trưởng phòng Huấn Luyện là Mình già ) đề nghị vô chợ nhậu thịt chó (!). Mọi người nhao nhao ok trừ tôi và Yên im lặng. Vài phút sau Yên phán: các bạn tới đâu tôi tới đó! Tôi nghĩ đa số đã đồng điệu, không lẽ Biệt đội Trưởng thả các chiến hữu xuống rạp hát Diệp Kính cuối giốc đường vào chợ , hẹn vài tiếng sau trở lại đón về hội quán Phượng Hoàng? Sau khi tắt máy đậu xe vào lề, tôi vổ vai Minh : bữa nay anh bỏ CoCa ( vì đi nhậu với anh em tôi chỉ dùng coca, nay phá lệ), tu vài ly beer 33 cho đã với dỉa dựa mận lá mơ, dồi cầy thơm phức! Minh cười nắc nẽ đưa ngón tay cái lên : tuyệt chiêu, tuyệt chiêu! Chúng tôi kéo các ghế đẩu ngồi vây quanh bếp than đỏ hỏn bên cạnh mấy cái bàn bỏ túi vừa đủ chổ cho mấy ly beer và vài đôi đủa mun, chổ trống còn lại cho mấy dĩa thịt. Sơn gọi dĩa dồi mở hàng, bà cụ Bắc kỳ bỏ khoanh xúc xích lên chảo chiên sơ rồi lăn trên vỉ than, hương dồi bốc khỏi thơm ngào ngạc, cụ nói: Dồi vện mới ngã hồi chiều tươi rói đó các cậu ơi, ngon hết chổ nói! Hớp một ngụm beer, khứu giác bắt tôi cảm thèm! Biết được con mắt say món nhậu của tôi, bà cụ cầm chiếc que tre nhỏ xiên vô khúc dồi xèo xèo trên lửa tay phải chiếc dao bén xẻo đứt một mảng tròn ba phân trao cho tôi : ăn đi cho biết mùi đời, đừng quên nhai vài cọng lá mơ chua dịu đã lắm! Cho miếng dồi vào miệng, ngậm, óc tôi count down đến 10 giây, tôi hấc chiếc ghế lách mình ù chạy đến gốc cây cuối chợ, khạc nhổ nôn mật xanh mật vàng beer rượu .Minh chạy theo vổ vai tôi: sư phụ ok? Tôi vẩy tay ra hiệu không sao, rồi chống chế tại beer làm chóng mặt. Lúc trở lại chổ ngồi, trước mặt đã có ly coke óng ánh, tôi cầm lên nốc hết nữa như để súc miệng Sơn nhìn tôi mỉm cười ! Hoàng hồn lại tôi vẫn cảm nhận ngạc ngào mùi thơm thịt cầy nướng trong không khí , có lẻ cảm ứng tôi bị lý trí đè nên không chấp nhận món ngon ngàn đời đê Yên Phụ ?! Long1 quay qua xe bánh mì bên cạnh gọi cho tôi ổ jambon đặc biệt trám bao tử ! Hết phiên tôi, Yên cầm đôi đủa gỏ nhịp mặt bàn, trước mặt sáu vỏ beer ngỗn ngang, khóc ròng, nước mắt ràng rụa, miệng la lên thêm chai nữa! Bạch hiểu lầm, sau khi đưa chai 33 nói :sư phụ đừng buồn vì người con gái Nha thành tuần trước cho Yên leo cây! : Tháng tới nghỉ phép về Saigon em giới thiệu người đẹp Bình Dương sư phụ sẽ mê hết ý. Yên khoác tay Bạch sang một bên phân trần: Tao mà để con gái làm khổ à? Còn lâu! Tao khóc vì tiếc, hai mươi sáu tuổi đời mới được thưởng thức miếng dồi Vện cặp lá mơ, ngon quá, ngon quá! Hu hu, hu hu,!Rồi: Dô, dô, Yên nốc chai beer lạnh tay gắp miếng thịt cầy luột cho vào mồm, tấm tắt khen ngon quá, ngon quá! Nhăn răng cười như trẻ thơ đầu năm khoe áo mới.

Thiên Lôi 524 – Chuyến Bay Cuối Cùng Phi Đoàn A-37 – biển xưa

Năm 72, đổi ra Phù Cát , Yên nhậm chức Trưởng phòng huấn luyện Căn Cứ đào tạo các phi công trẻ từ Hoa Kỳ về phương cách hành quân trên chiến trường. Giai đoạn đó Yên đã lập một thành tích kỳ diệu trong phi vụ bay huấn luyện nóng thật sự, Yên đã đánh trúng mục tiêu nặng Trung đoàn Cọng quân từ An Lão kéo về định tổng tấn công phi trường Phù Cát. Lê Tuấn Đạt, Lê Ngọc Yên từ lò Thiên Lôi 524 đã đem hết sở trường vun đắp rạng danh Gấu Đen 532 A-37 nơi Căn Cứ 90 chiến thuật.

Năm 1975, Yên không may mắn kẹt VN, vào tù ngoài Bắc trại Hoàng Liên Sơn, bóc trên mười ba cuốn lịch. Cuối cùng thập niên 90 được vào diện HO để sang Hoa Kỳ. Vì nghỉ rằng chuyến đi xa này không biết bao giờ trở lại, bèn ra Nha Trang thăm bà con, bè bạn,rồi trên chuyến Air Việt Nam cổ lổ sĩ dùng phi cơ Nga phế thải để về Saigon đã crash đầu phi đạo 12 lúc cất cánh, tất cả hành khách và phi hành đoàn đều tử nạn trong đó có Yên!

Thiên Lôi 524

November 17, 2020

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/vnaf/item/619-m-t-th-i-ngang-d-c-tren-tr-i-nam-thien-loi-524

LIÊN ĐOÀN 81 BIỆT CÁCH NHẢY DÙ TẤN CÔNG MẬT KHU MÂY TÀO – GIẢI TỎA QUỐC LỘ 1 RỪNG LÁ BÌNH TUY – LONG KHÁNH.

onnguonsuviet.com

CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU QUÂN SỬ – QUÂN LỰC VNCH :

08 Tháng Mười 2021

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù và những ngày tháng tư – GĐ81/BCND – dòng  sông cũ

Rừng Lá, Long Khánh (cách Sài Gòn 125 Km, còn gọi là căn cứ 4, điểm chiến thuật quân sự pháo binh), sát với ranh giới Tỉnh Bình Tuy, Hàm Tân. Nơi đây không phải là vùng đất hứa hẹn khẩn hoang lập ấp màu mở, có khi còn mất an ninh, vì địa điểm này nằm chặn ngang đường giao liên của mật khu Bà Long (Bà Rịa – Long Khánh) nên CS không để yên .
Vào khoảng tháng 5-1974, cộng sản pháo kích mạnh vào khu định cư; quân CS tấn công không lọt được vào khu vực phóng thủ do 7 trung đội Nghĩa Quân của CKAL(Chi Khu An Lộc) cũ trấn giữ, nên cộng quân đóng chốt QL số 1, giữa căn cứ 3 và 4 (khoảng cây số 120 tính từ Sài Gòn) .
Hai TRĐ 33 và 275 chủ lực miền CS quần thảo với các đơn vị QLVNCH trong suốt một tuần lễ phá chốt … BC81ND (Biệt Cách 81 Nhảy Dù) tăng phái gở hết chốt trên QL1 .
Rừng Lá tiếp tục hành quân Mật Khu Mây Tào “Cuối dãy Trường Sơn” .
Rặng Trường Sơn chạy dài từ Bắc xuống Nam , như cột xương sống của nước Việt Nam . Núi Mây Tào 716M và các ngọn núi xung quanh ở vùng Đông Nam Phần , là những ngọn núi cuối cùng của dãy Trường Sơn . Núi Bà Rá ở Phước Long , núi Bà Đen ở Tây Ninh , núi Chứa Chan ở Biên Hòa và núi Mây Tào ở vùng phân giới Bình Tuy – Long Khánh – Phước Tuy . Từ đây về phía Nam , không còn ngọn núi nào quá cao . Về mùa Thu Đông , đỉnh Mây Tào thường có mây bao phủ .
Khu vực Mây Tào có một vị trí chiến lược quan trọng , ngày nay là Bình Thuận , Đồng Nai , Bà Rịa -Vũng Tàu .
Cộng sản cố sống cố chết để thành lập và xây dựng mật khu Mây Tào để hoạt động quân sự ở miền Đông Nam Phần . Khu vực Mây Tào nối liền với khu Rừng Lá trên Quốc Lộ 1 , vùng thung lũng Võ Đắt- Võ Xu về hướng Bắc , vùng Định Quán, Trị An, chiến khu D hướng Tây bắc và nối dài lên tận Đồng Xoài, Bình Long , Phước Long qua tới biên giới KamPuChia . Các địa danh như Xuyên Mộc , Bình Giã cũng nằm trong khu vực kế cận của núi Mây Tào .

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù và những ngày tháng tư – GĐ81/BCND – dòng  sông cũ

Trên Quốc Lộ 1 ở đoạn Rừng Lá , phía quân đội Đồng Minh và QLVNCH thành lập hai vị trí Quân sự quan trọng : ” Căn cứ 4 và Căn cứ 5 “. Hai căn cứ có bố trí súng đại bác , để yểm trợ hỏa lực cho các đơn vị VNCH , hoạt động ở các khu vực chung quanh .
Rừng Lá , nơi Quốc Lộ 1 chạy ngang qua , là vùng cộng sản dễ xâm nhập và phá hoại . Khúc đường có chỗ cong gần như 90 độ , hai bên đường về phía núi Mây Tào có nhiều che phủ um tùm , toàn loại cây cọ, có tàng lá lớn , che kín mọc đầy dẫy , cộng quân thường ẩn núp , di chuyển bên dưới rất an toàn và khó bị phát hiện . Mặt đất tương đối bằng phẳng , chỉ có tre và các cây chồi hoang mọc xen lẫn , nên một số đồng bào đã cố gắng khai phá để trồng lúa . Gần tới núi Mây Tào , rừng rậm , cây cao , nhiều đồi dốc , vách đá , khe nước , nên di chuyển khó khăn hơn .
Vào đầu tháng 5 năm 1974 , cộng sản tung quân chiếm cứ đồn điền cao su nằm gần ngã ba Dầu Dây , đắp mô trên đèo theo QL 20 cắt đường lên Bảo Lộc ( Di Linh ) . Trên khu vực Bình Tuy đến Long Khánh , cộng quân chiếm đóng trên đỉnh đèo Mẹ Bồng Con , tấn công vào Căn cứ Hỏa lực 4 và 5 , đắp mô , giựt mìn phá hoại ngay trên trục lộ giao thông ở khu vực Rừng Lá , cắt đứt thông thương trên QL 1 . Tất cả các xe cộ , nguồn cung cấp từ trên Đà Lạt , Lâm Viên đi xuống và từ Bình Thuận , Phan Thiết đi vô Sài Gòn đều bị tắc nghẽn , ứ đọng , nằm trải dài hơn mấy cây số trên QL 1 trong suốt 20 ngày liền . Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Long Khánh đã điều động các lực lượng tăng phái của Sư Đoàn 18 Bộ Binh với 1 Tiểu Đoàn và 1 Tiểu Đoàn Biệt Động Quân đến tấn công giải tỏa cộng quân chiếm lại toàn bộ khu vực Rừng Lá và tiểu đoàn Địa Phương Quân TK Long Khánh đã thông đường cho xe cộ vận tải qua lại . Nhưng đến chiều tối , thì cộng quân từ mật khu Mây Tào tràn ra đánh chiếm và đắp mô trở lại . Tiểu Đoàn Địa Phương Quân phải rút về phòng thủ , án ngữ tại mặt Bắc Căn cứ Hỏa lực 4 .
Trước tình hình , con đường huyết mạch QL 1 bị bế tắc kéo dài , Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III , đã giao phó cho Liên Đoàn 81 Biết Cách Nhảy Dù nhận lãnh trách vụ giải tỏa , truy lùng , triệt hạ hỏa lực cộng sản đang khoá cứng QL 1 tại khu Rừng Lá và mật khu Mây Tào .
Lực lượng giải tỏa gồm Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật và hai Biệt Đội 811 , 814 Biệt Cách Nhảy Dù . Đại Úy Lê Đắc Lực Biệt Đội Trưởng 814 và Trung Úy Trương Việt Lâm Biệt Đội Trưởng 811 . Toàn bộ đơn vị từ Biên Hòa , di chuyển bằng xe GMC , đến đóng phía ngoài Phi Trường Quân Sự dã chiến Long Khánh , sát bên hông Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Long Khánh để chuẩn bị hành quân .
Trung Tá Vũ Xuân Thông , Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật và hai Biệt Đội Trưởng đến họp tại Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu Long Khánh với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu .
Biết chắc rằng mật khu Mây Tao là căn cứ địa của cộng sản , nhưng không nắm rõ quân số của cộng quân .
Sau cuộc họp , Biệt Đội 814 được lệnh xuất phát . Trực Thăng thả Biệt Đội 814 xuống một vùng đất trống ở Sông Ray , xã Xuân Tâm , cách QL 1 chừng 500 mét về hướng Đông bắc . Từ đó , Biệt Đội 814 men theo địa thế , vượt qua các đồng ruộng , ẩn mình dưới những rừng cọ , tiến lên phía trước , dọc hai bên Quốc Lộ 1 , với một khoảng cách khá xa . Giữa trưa , gần đến vị trí cộng sản đắp mô , thì bất ngờ , Biệt Đội 814 bị địch quân pháo kích bằng súng cối , một Tiểu Đội phó tử trận và hai binh sĩ của 814 bị thương nặng .
Đơn vị súng cối của cộng quân không đặt trên Quốc Lộ 1 , mà nằm sâu bên trong núi Mây Tào. Cộng sản có thể đã chuẩn bị vị trí đặt súng , canh sẵn tọa độ , mục tiêu , tầm bắn dọc hai bên QL 1 , những nơi mà địch quân dự đoán lực lượng giải tỏa VNCH sẽ đi qua , và nhất là các đài Quan sát trên những ngọn cây cao . Với những lợi thế địa hình sẵn có cộng quân tác xạ tương đối chính xác . Biệt Đội 814 tạm thời rút lui khoảng hơn nửa cây số , ra khỏi vị trí ” trận địa pháo ” có định vị sẵn sàng của địch . 814 dừng quân , đào hầm phòng thủ , nghỉ qua đêm .


Sáng hôm sau , Trung Tá Vũ Xuân Thông cùng với hai Biệt Đội Trưởng 811 , 814 bay Trực Thăng quan sát địa thế và mục tiêu . Công quân dùng súng phòng không 12.7 ly bắn lên từ núi Mây Tào , phi công phải bay cao né đạn – hướng ra Phan Thiết rồi vòng trở lại quan sát . Mục tiêu có thể oanh kích dễ dàng , nhưng sẽ làm hư hại Quốc Lộ 1.
Hai bên đường là Rừng Lá , nhưng đoạn giữa Căn Cứ 4 và 5 có nhà dân chúng và vườn tược ở phía bên phải từ hướng Phan Thiết chạy vô . Phía bên trái cũng như vậy nhưng thưa thớt rừng chồi và cây cọ dày đặc hơn …
Với địa thế đó , rất tốt cho tiến quân đêm , tao sự bất ngờ , do thiếu cảnh giác của cộng quân .
Màn đêm buông xuống , Biệt Đội 814 tiến lên . Đi đầu là toán Khinh binh tiền sát , kế tiếp đó như chiến thuật từng áp dụng là lực lượng cấp trung đội , yểm trợ cho các toán Tiền sát .
Tới gần sáng , toán tiền sát tiến đến gần các mô đất do địch đắp mô trên Quốc Lộ 1 , báo cáo không thấy chốt , mà cũng chẳng thấy cộng quân đâu cả ? Biết chắc ban đêm CS rút về hầm trú ẩn gần đâu đây ? Nên Biệt Đội 814 lợi dụng cơ hội , phục kích đón ngược cộng quân . Nếu ban ngày chúng quay lại đóng chốt , thế nào cũng lọt ổ mai phục .
Trong khi đó Biệt Đội 811 do Trung Úy Trương Việt Lâm chỉ huy đã hành quân hướng vào núi Mây Tào , các toán thám sát của 811 khám phá một căn cứ của công sản nằm sâu khuất bên trong rặng núi Mây Tào . Các phi tuần F-5E được gọi đến để ném bom phá hủy . Đồng thời Biệt Đội 811 truy lùng các cán binh CS dọc theo mặt Bắc chân núi Mây Tào và tấn công tiêu diệt hai tổ súng cối yểm trợ hỏa lực của cộng quân , phát hiện tịch thu một hầm vũ khí , lương thực và các dụng cụ trồng trọt lúa ngô trong khu vực này .
Kế hoạch sử dụng phục kích chống phục kích đạt kết quả hoàn toàn . Cộng quân bị rơi vào bẫy phục kích của Biệt Đội 814 đã hoảng loạn bỏ chạy , không kịp mang theo những đồng chí bị bắn hạ . Tiếp tục đà chiến thắng Biệt Đội 814 tiến lên áp sát tấn công chốt chặn kế tiếp . Đã phòng bị trước , CS nổ súng phản công . Nhưng cuối cùng phải buông súng đầu hàng . Lần này , các đơn vị súng cối 61 và 82 ly của cộng quân trên núi Mây Tào đã bị F-5E của Không Lực VNCH oanh tạc tan tành , nên không thể bắn yểm trợ cho đồng bọn đang đóng chốt trên Quốc Lộ 1 được . Đó là lý do tại sao Biệt Đội 814 đã đánh bật các chốt chặn của cộng quân cố thủ trên Quốc Lộ 1 khu vực Rừng Lá .
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đã gây nhiều bất ngờ cho CS và chưa bao giờ bị cộng quân tấn công đêm hay phục kích ngược trở lại . Biệt Cách Nhảy Dù 81 đã mở nhiều cuộc thâm nhập vào sâu các mật khu an toàn của CS , để khám phá kho tàng , địa đạo hay mở các cuộc hành quân truy lùng và tấn công vào các đơn vị yểm trợ hỏa lực của cộng quân đóng ẩn dấu , che khuất dưới những tàng cây , hốc đá , sát tận chân núi .
Mật khu Mây Tào không còn là nơi ” : Bất khả Xâm phạm .” đối với Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù .
(Lê Đắc Lực BCD 81)

Nguồn: https://onnguonsuviet.com/p104a544/chuong-trinh-nghien-cuu-quan-su-quan-luc-vnch-lien-doan-81-biet-cach-nhay-du-tan-cong-mat-khu-may-tao-giai-toa-quoc-lo-1-rung-la

Phi đoàn 219 được ân thưởng huy chương Tổng Thống Hoa Kỳ/Presidential Unit Citation – Nguyễn Văn Quân

Nguyễn Văn Quân

Huy hiệu Phi đoàn 219 Không quân VNCH.

Ngày 17 tháng 9 năm 2012, Phi đoàn 219 trực thăng Không quân VNCH được trao tặng huy chương Tổng thống Hoa Kỳ/Presidential Unit Citation do công trang phục vụ trong Đoàn nghiên cứu và quan sát Hoa Kỳ (Studies and Observations Group) thi hành nhiều phi vụ yểm trợ hiểm nghèo hoạt động cùng với các quan sát viên Không quân Hoa Kỳ từ ngày 24 tháng 1 năm 1964 đến ngày 30 thãng năm 1972.

Phi đoàn 219 là một trong ba đơn vị Không quân VNCH được Tổng thống Hoa Kỳ ân thưởng huy chương cao quý Presidential Unit Citation. Hai đơn vị khác là Phi đoàn 514 vào năm 1965, và Không đoàn 74 vào năm 1968.

Army PUC

Huy chương Tổng thống Hoa Kỳ (Lục quân)/Presidential Unit Citation (Army).

Bản tu chính của Bộ lục quân Hoa Kỳ ngày 17 tháng 9 năm 2012, Phi đoàn 219 trực thăng Không quân VNCH được ân thưởng Huy chương Tổng thống Hoa Kỳ/Presidential Unit Citation.

Presidential Unit Citation (Army) là huy chương cấp đơn vị Lục quân cao quý nhất, do Tổng thống Hoa Kỳ ký quyết định tuyên dương trao tặng cho các đơn vị Lục quân, kể cả các đơn vị Không quân, Hải quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và các đơn vị quân đội đồng minh cùng hoạt động chung với các đơn vị Lục quân Hoa Kỳ trong các cuộc hành quân. Các đơn vị đó phải can đảm, chiến đấu anh dũng, phi thường và xuất sắc, hoàn thành nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh khó khăn và nguy hiểm đánh bại địch quân đạt được chiến thắng.
Huy chương Presidential Unit Citation (Army) đồng hạng với Huy chương Presidential Unit Citation (Air Force) và huy chương Presidential Unit Citation (Navy/Marine Corp).

Nguyễn Văn Quân

Nguồn: PERMANENT ORDER 261-18, Presidential Unit Citation (United States); Army Presidential Unit Citation.

HỒI KÝ TRẬN AN LỘC 1972: CHIA NỬA VẦNG TRĂNG – Hoài-Ziang-Duy

Hồi ký: Hoài-Ziang-Duy
(Trích đoạn hồi ký về cuộc tăng viện của Sư-Đoàn 9 Bộ Binh trong cuộc chiến giải tỏa An-Lộc, 1972)

…Pháo địch, hỏa tiển 122 ly. Pháo binh ta 105, 155 ly bắn suốt ngày đêm. Oanh tạc cơ từ đệ thất hạm đội bay vào yểm trợ. Pháo đài B-52 thả bom quanh điểm ngủ. Trời đất chung quanh vang vọng tiếng ầm ì.Tôi còn nhớ cảm giác đầu tiên khi tăng T-54 xuất hiện. Đơn vị thiết giáp theo chúng tôi là Thiết Ðoàn 9 thuộc Sư Ðoàn 21 Bộ Binh (BB), thay vì Thiết Ðoàn 2 của Sư Ðoàn 9 (ở lại mặt trận miền Tây). Khi chạm trán với loại chiến xa này, cả thiết đoàn M-113 (loại thiết vận xa, vỏ thép mỏng, không có đại bác, chỉ được trang bị đại liên hoặc súng cối biến cải). biết mình không phải là đối thủ, tự động rút lui bỏ rơi trung đoàn bộ binh ngay. Chỉ còn một chiếc xe duy nhất, trên đo có trung đoàn trưởng Hồ Ngọc Cẩn. Ông xuống xe lội bộ vào tuyến phòng thủ của đơn vị, đi theo chỉ huy hành quân cho đến ngày cuối.


Bắt đầu, địch pháo dập vào điểm đóng quân. Xe tăng tràn vào, bộ đội chính qui Bắc Việt đi sau tăng. Có thể họ không có khả năng điều chỉnh phối hợp giữa pháo và lực lượng xe tăng bộ đội. Nên lúc xe tăng địch tràn lên là lúc pháo ngưng. Cơ hội là đó. Khi xe tăng Bắc Việt tràn lên cán qua một mặt tuyến phòng thủ của đại đội Trinh Sát 15, thảm cảnh thật sự hỗn loạn. Phản ứng sinh tồn của mỗi con người bừng dậy. Xe tăng địch bừa qua phòng tuyến lọt vào giữa. Tiếng hô bắn dây xích, bắn bên hông tăng vang dội.

Lúc bấy giờ, nhờ vào địa thế rừng cây. Anh em bám theo từng gốc cây cao su xử dụng súng M-72 và hỏa tiễn bốn nòng. Loại hỏa tiễn tiển này, người lính có thể bắn từng phát một hay cùng một lúc bốn phát. Một khối lửa bung thẳng ra. Xe tăng địch trúng đạn. Một chiếc rồi hai chiếc bốc cháy. Tiếng mừng, tiếng la phấn khởi. Địch co xuống tứ tán rối loạn. Máy bay cùng lúc bay vào oanh kích yểm trợ. Mở màn cho ngày đầu tiên chạm lớn từ đây. Và cứ như thế trong một ngày, như mỗi ngày, thời gian ngưng tiếng bom lâu nhất là năm phút. Cứ tưởng từ vị trí này chạy sang vị trí khác, lúc phi cơ vừa chúi xuống, tiếng nổ, tiếng cây cao su xô ngã rào rào rồi ầm ầm. Những cụm khói bốc lên. Chạy qua điểm quay đầu nhìn lại như một bức tranh toàn cảnh. Cái cảm giác hào hùng đẹp biết bao.


Trong những ngày chịu đựng như thế. Cơ may, tôi gặp người phóng viên của đài tiếng nói quân đội, đúng là cái duyên văn nghệ, không hẹn mà gặp. Anh nói anh chỉ có một buổi xuống chiến trường và cùng dịp quay về Sàigòn ngay, nếu không là không biết ngày nào. Cánh thư tôi viết vội, viết trần trụi không phong bì, gởi về Sàigòn cho người vợ mới cưới. Anh nói, “Có địa chỉ là tôi chuyển được.” Anh chụp cho tôi hai tấm ảnh. đứng ở bìa rừng. Chuyện qua tưởng như quên. Nhưng không, anh đã làm tròn chức năng cho người trong cuộc. Anh chuyển đến nhà cánh thư tay và hình ảnh. Tôi nghĩ, trong thâm tâm anh, người ở thành phố, chuyện giúp người ở tuyến đầu như một chia sẻ và nếu như phải, hình ảnh này đây cho lần cuối của người đi không trở lại.

Nghe những lời ông nói tôi cảm động. Hồi đó còn trẻ, có những điều không nghĩ tới. Hơn mấy chục năm sau ngẫm lại. Tôi mới ngộ một điều. Đã mấy lần ông nói lời tiễn biệt cho người đi không về. Từ những hiểm nguy cầm chắc trước mặt, hay chính lòng từ tâm nói với người đi thay mình. Đơn vị lúc này với tôi, Châu, Kình, Quyên, Phán, (Phán chết trận này). Chúng tôi hứa hẹn chắc lòng. Nhìn những khuôn mặt người lính lặng lẽ, bình thản. Họ ngồi rải ra trên đường phi đạo, trên cái nón sắt hay tựa mình vào ba lô. Họ nghĩ gì hay không nghĩ gì khác ngoài sự chờ đợi theo lệnh.


Ánh trăng chếch trên cao. Chỉ có bóng người một màu lạnh lẽo, nhưng thật bình tâm. Đại đội tôi quân số tham chiến 94 người sẽ xuống trước, kế tiếp Đại Ðội 2. Bốc lên đồng loạt đi vào mục tiêu, máy bay hạ thấp dưới ngọn cây, bay xà nhanh theo đường Quốc Lộ 13 để tránh tầm pháo. Chúng tôi chuẩn bị nhảy khi thấy mái ngói nhà. Đạn phòng không nổ chập chùng ở dưới. Đoàn phi cơ tự dưng bẻ quặt một đường và cất lên cao đổi hướng. Tôi biết có điều không ổn. Máy liên lạc. Không xuống được. Các anh xuống được. Nhưng trực thăng không cất lên kịp được. Chỉ làm mồi cho pháo. Cho đến phút này tôi mới nhận ra viên phi công trước tôi là Thành, bạn cùng trường. Mầy hả Thành. Ừ thì là tao. Bạn hữu đã lâu, bất ngờ gặp. Nhưng lúc này chỉ biết cười trừ, hồn ai nấy giữ.


Lần thứ hai, máy bay Mỹ, phi hành đoàn Mỹ. Lập lại. Cũng thế thôi. Không Quân làm nhiệm vụ của họ. Chúng tôi chỉ như thiên lôi. Cuối cùng kế hoạch hành quân đổi, không xuống được thành phố làm tuyến thủ, thì làm mũi tiến công. Đơn vị xuống phía nam An Lộc mười ba cây số. Nghe lệnh mới. Tôi đâm lo, thà vào trong nằm yên ổn, hơn là đối mặt theo tình hình bây giờ.


Thế rồi đổ xuống, tiến quân cả ngày lẫn đêm, chạm lớn, chạm nhỏ. Giá nào cũng phải tiến tới. Hệ thống truyền tin đôi khi lọt vào tần số tiếng Trung Quốc. Cho đến lúc địch phát hiện, khi hệ thống dây điện thoại của họ vô tình bị ta phá hủy. Cuộc bao vây đối đầu diễn ra. Chúng tôi tiến quân cả ba tiểu đoàn, một đại đội trinh sát bảo vệ Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn. Để vững chắc không bể tuyến, đơn vị theo hình thức nấc thang, một tiểu đoàn thủ, hai tiểu đoàn tiến.


Trận chiến gay go, hầm hố cá nhân, phải đào nhiều lần trong ngày theo thế công. Đất đỏ cứng, khó đào, xẻng cuốc cá nhân vừa đủ. Người đệ tử nhỏ bên tôi, Huỳnh văn Sâm, mười tám tuổi, người miền nam, dân Sàigòn, ốm yếu nhỏ con, nhưng gan dạ. Nửa đêm Sâm đưa cho tôi bi-đong nước. Tôi nhớ khuôn mặt non choẹt hồi trưa đào mấy lần hố, nhễ nhại mồ hôi, rừng kín bưng không gió. Sâm và lính mang máy truyền tin khát khô cả họng. Tôi hỏi. Ở đâu vậy? Của tui. Sao hồi chiều mầy không uống. Uống sợ tụi nó thấy, tụi nó xin, tui để dành cho ông. Tôi nhìn lấy Sâm, người hạ sĩ trẻ. Tự dưng lòng tôi nao nao. Một bi đong, mấy giọt nước ở thời điểm này. Cái tình người ở đó. Biết quên thân mình nghĩ đến người khác. Tôi có đáng để người lính hy sinh cho mình vậy không. Tôi nói. Thôi thì uống chung nghe. Tôi chỉ sợ cho Sâm, sợ đôi chân mày quá dợt của nó là một tướng yểu.


Ngày sau đó, xe T-54 địch tràn vào. Sâm bị thương. Tôi cho hai người lính, đặt Sâm lên thiết giáp cùng với thương binh. Trên đường đi, xe bị phục kích, Sâm lọt xuống đường, tay quấn băng, chân còn chạy được, bươn đường rừng về Lai Khê. Đó là lần tản thương duy nhất bằng đường bộ, để rồi sau này không còn cơ hội nữa.


Cho đến lúc gần An Lộc. Cuộc giằng co trở nên khốc liệt hơn. Lúc bấy giờ Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù sau khi bị thiệt hại nặng ở Đồi Gió, tái trang bị bổ sung quân số, tăng phái cho Chiến Ðoàn 15 Sư Ðoàn 9 BB, tiến quân một cánh khác vào mục tiêu. Đây Xa Cam, Xa Cát. Địch và ta cận kề. Cổng tòa hành chánh An Lộc nhìn thấy nếu đứng trên đường quốc lộ. Tiểu Ðoàn 3 chúng tôi chỉ còn cách Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù bảy trăm thước. Địch chen vào giữa chận đứng. Hai tiểu đoàn chưa bắt tay được. Cuộc chiến dừng lại ở đây gần hai chục ngày.


Trong những ngày này, tiếp tế thực phẩm, đạn dược chỉ nhờ vào phi cơ thả dù, lọt vào tuyến trong thuộc về ta. Rơi bên ngoài địch lấy. Chưa nhận được, phi cơ tiếp tục thả nữa. Từng bành kiện hàng lớn, từ trên cao dù trắng nhỏ, lưng chừng rồi dù lớn bung ra chịu bớt lực rơi nhanh. Nhưng xuống thấp, chạm trên đầu cây rừng cao su, ầm ì cây cối ngả đổ, đủ sức làm hầm sập. Đêm, chờ lúc thuận tiện mò mẫm dẫn lính với cuốc, xẽng, cắt dây niền, khui ra, có hôm thì gạo sấy, có hôm chỉ toàn đồ hộp ăn, hay thuốc men cho quân y. Lệnh tâp trung, điều quân coi như báo điểm hẹn rồi một, hai, ba từ hầm phòng thủ cá nhân phóng lên. Pháo địch nghe riết rồi quen, nghe tiếng hú, tiếng rít dài là biết đạn sẽ nổ hay qua khỏi đầu. Giờ này đây chiến lợi phẩm không cần phải chuyển về. Quan trọng hơn hết là sinh mệnh những người còn lại, tiến công về phía trước, bằng mọi giá thế thôi.


Một ngày ở tháng sáu. Hành quân bung rộng tuyến phòng thủ, ở một phía rừng bên kia đồi. Một vận tãi cơ của Mỹ rớt nằm trơ đó. Một phi cơ trực thăng Việt Nam tìm thấy hôm sau, cũng gần khu vực trên. Tôi nghĩ có lẽ cả hai chiếc rơi ở những ngày đầu cuộc chiến. Riêng chiếc trực thăng, đầu máy bay hơi chúi về trước, hai càn trong thế vững vàng trên mặt đất. Đầu hai người phi công gục xuống, tay buông thỏng, xác khô rũ. Phụ xạ thủ và mấy người ngồi trong cũng chung số phận. Chết đã lâu, khô cả, không còn mùi.


Tôi nhận diện đơn vị mấy người ngồi trong lòng máy bay, qua quần áo phù hiệu Sư Ðoàn 5 BB.Trong đó một xác người còn máy ảnh trên vai, một máy quay phim rớt trên sàn, và mấy thước phim, loại phim nồi của điện ảnh. Chiều đó tôi được biết một trong hai viên phi công, là thiếu úy con của một bộ trưởng phủ tổng thống. Lệnh từ Sài gòn yêu cầu trung đoàn giúp đỡ đưa xác nạn nhân ra. Và người mang máy ảnh, trên miệng túi áo tên Bình. Sau này tôi mới biết là Nguyễn Ngọc Bình phóng viên điện ảnh.

Trận tiến quân giành nhau năm mười thước đất, tấn lên dạt xuống. Địch chiếm thủ, ta công phá vào vòng đai An Lộc. Ngày ta tiến công. Đêm xe tăng địch tràn vào. Cho đến ngày chúng tôi được trang bị loại ra-đa mới, mang xuống từ viên trung tá Mỹ thay thế viên cố vấn bị thương. Lúc này đây oanh kích không cần hướng dẫn như thường lệ. Máy ra-đa được đặt theo chu vi phòng tuyến. Loại bom tinh khôn nhận biết từ những tia laser phát sóng chỉ điểm vị trí phòng thủ, đơn vị bạn. Chúng tôi được báo, bom sẽ trút xuống tiếp cận ba mươi thước. Lần đầu tiên bom được ném gần, ném sát như vậy. Hoàn toàn khác với qui định an toàn về khoảng cách.


Đêm đó. Một loạt hàng dãy tiếng nổ từ máy bay oanh kích thả xuống. Ánh sáng lòe lên trước mắt như những khối chớp bật lên không ngừng. Địa thế đất rung rinh, hầm rung rinh, tưởng như mình cùng chung số phận ở đợt bom vừa thả xuống. Từng đợt bom nổ sát vòng tuyến đánh trải ra từng lớp một. Một mặt, đại bác bắn trực xa, loại đạn từ máy bay AC-130 bắn xuống. Âm thanh từ trên đưa xuống, nghe như tiếng trống. Tốc tốc rồi tùng tùng. Đó là lúc máy bay săn đuổi xe tăng địch.


Đợt oanh kích tiếp cận vừa dứt, lệnh xung phong đồng loạt tràn lên. Địch bị ép hai đầu. Cho tới sáng Tiểu Đoàn 3/15 của Sư Đoàn 9 BB và tiểu đoàn Nhảy Dù bắt tay. Gương mặt người lính rạng rỡ. Sau bao ngày chịu đựng, chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ nối liền trong ngoài thành phố An lộc.


Bốn tháng sau, ở chiến trường miền Tây. Tôi đã cầm bút viết lại trận đánh này, trận đánh với quân số hai bên tham chiến đông đảo nhất trong chiến tranh Việt Nam. Không viết bằng bút hiệu của tôi, không gởi đâu để lấy tiền nhuận bút. Tôi viết cho đơn vị. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ký tên, trong tập sách Bình Long Anh Dũng do Bộ Tổng Tham Mưu in ấn. Đó là buổi chiều, tôi được chỉ định tiếp người lính không mang cấp bậc từ ban quân sử, hay báo chí Bộ Tổng Tham Mưugì đó, để thực hiện đề tài này. Anh ta tưởng tôi là sĩ quan chiến tranh chính trị. Tôi nói không phải. Tôi đang trực hành quân. Chúng tôi không có thì giờ chuyện vãn. Anh ta ngủ lại đêm chờ. Còn tôi chỉ cần biết hôm sau giao bài.


Dĩ nhiên mọi đòi hỏi ở tôi điều được thỏa mãn nhanh chóng, những dữ kiện như bản đồ hành quân, phóng đồ đơn vị tham chiến trú đóng, những chi tiết để chính xác địa danh, tọa độ. Cho đến gần sáng, tôi hoàn tất. Cho đánh máy lại. Trung đoàn trưởng ký tên. Thế là xong. Anh bắt tay tôi từ giã. Tôi cảm thấy nhẹ nhỏm. Cơ hội này thúc ép tôi viết xong. Khác gì niềm vui sau ngày giải tỏa, từng đoàn người Việt, người Thượng, trẻ già trai gái bồng bế, từ thành phố tràn xuống thoát ra xuôi trên quốc lộ. Con đường vượt thoát, bỏ tất cả ra đi sau bao ngày chịu trận. Nhưng với tôi đó là ngày trở về một nơi thanh bình khác.


Sau này cầm lấy quyển sách Bình Long Anh Dũng trên tay, đọc lại tôi thấy ngỡ ngàng với biết bao cắt xén. Người ta không muốn chúng tôi nói thật, những đóng góp xứng đáng của đơn vị, những chiến công là thật để mở đường vào thành phố An Lộc. Chiến tranh là có chính trị, chính trị đối đầu với địch, chính trị với cả phe ta chọn lựa dàn dựng.


Như có một sự e dè sắp xếp nào đó không hiểu được. Người viết ngồi ở phía sau an lành, viết phóng sự từ lời kể lại, tưởng tượng thêm thắt, không thấy được xương máu đổ xuống, hy sinh ngã xuống, của những con người hiến thân cho tổ quốc. Họ muốn thêm, bớt tô son cho đơn vị, ca ngợi thổi phồng cho ai thì tùy. Qua rồi một cuộc chiến. Thử đặt một tác dụng ngược. Tạo ra những huyền thoại cho một binh chủng, khác nào nói với kẻ đối đầu, quân lực ta là đây, chỉ duy nhất có đơn vị này.


Điều sai lầm nữa là ở chiến lược quốc phòng, đã không đặt nặng, trang bị đúng mức cho lực lượng lãnh thổ, giữ làng giữ đất, hay người lính nghĩa quân, căn bản từ hạ tầng hành quân bình định. Tạo một sự cách biệt mất tự tin, và tiểu khu luôn đòi hỏi đơn vị chủ lực đánh thay trên phần đất mình, để đơn vị nhà không bị thiệt hại. Đem quân chủ lực đi đánh đều khắp, chẳng khác nào chỉ sử dụng một lực nhỏ ở đầu mà bỏ đi phần hạ bộ. Thần thánh hóa một đơn vị nào đó. Chỉ gây thêm đố kỵ, tạo cách biệt, cân phân một trọng lượng chung. Điều phải nhìn thấy là, đã là lính tác chiến, người lính nào cũng vậy. Chúng tôi là những con người không phân biệt màu da, đơn vị, binh chủng. Đánh giặc, chịu chơi, chơi hết mình. Sống, đơn thuần một hành động chiến đấu, bảo vệ sự sinh tồn cho miền Nam Việt Nam.

Ngày đơn vị trở về miền Tây, tiểu đoàn chúng tôi rút ra sau cùng. Kế hoạch nhảy bắc Lộc Ninh hủy bỏ. Hơn bốn mươi ngày quần áo bám chặc màu đất đỏ. Chưa bao giờ có một cuộc đón rước tưng bừng như vậy. Dân chúng hai bên đường, từ cầu Bắc Mỹ Thuận tới tỉnh lỵ Sa đéc. Đoàn xe chạy thẳng đến địa điểm. Chúng tôi chỉ được báo trong chốc lát. Buổi lễ choàng vòng hoa chiến thắng tổ chức tại tòa hành chánh tỉnh. Những tà áo dài trắng của các em nữ sinh trung học, của nhân viên hành chánh các ngành, dân chúng đông đảo reo vui. Tôi không có ai chốn này. Hầu hết hơn ba mươi anh em sĩ quan tiểu đoàn tứ tán tập họp về đây, không gốc, con mồ côi, không dù lộng để che, ai cũng như ai.


Chính vì vậy, tình nghĩa anh em sống rất thực lòng. Điều ngoài dự tưởng. Tôi cũng có người chờ đợi ngóng trông. Người đàn bà đón nhìn mặt tôi là mẹ Được, người sĩ quan trước ở đơn vị, bị thương bốc về trước. Bà khóc và ôm lấy tôi. Thấy con về được là mừng rồi, dì nghe nói chết nhiều quá, không tản thương được. Dì đi coi và chờ gặp con. Tình cảnh ngày hôm đó, bây giờ đây hơn ba chục năm qua. Tôi bồi hồi, nó như đánh thức khơi dậy một tình cảm riêng tư sâu kín, bỏ quên lấy bản thân mình.


Trước mắt là đồng đội, là người lính, là mệnh lệnh, là chiến trường hung hiểm. Chúng tôi sống chai lì và không muốn ai nhìn thấy tình cảm của chính mình. Tưởng tượng ở niềm vui bao quanh. Bất ngờ đẩy tôi vào hoàn cảnh này, để thấy mình không lẻ loi. Vòng hoa chiến thắng với mấy cô gái trẻ, là niềm vui yêu thương cho một hoạt cảnh, nhưng với Dì, ở đó còn có một tấm lòng nhân ái, một tình thân.


Ngay chiều đó trên chiếc xe Jeep diễn hành. Tôi mới biết Trung Úy Minh là người cùng quê. Thực tình tôi không biết anh trước đây. Trong mặt trận chúng tôi không có dịp gần gũi. Anh được bổ sung thay thế vị sĩ-quan đại đội trưởng Đại Đội 4 bị thương, ở những ngày sắp chuyển quân về. Dáng người anh không cao lắm, có bề ngang, và điều đáng nhớ là râu quai nón. Giọng anh hiền hòa. Anh hẹn lần về phép tới, cả hai thằng về chung một chuyến cho vui. Tôi cũng mong vậy.


Tôi kể Minh nghe lần đầu tiên cả ba tiểu đoàn, đại đội trinh sát về một lúc, chật cả hậu cứ, sĩ quan hơn một trăm mạng gặp nhau thấy rần rần, nhưng sao thiếu đi cái tình người hàng xóm. Bây giờ đất đai quê nhà là đây. Ở ngày về. Nhớ ngày đi, nhớ buổi lễ xuất quân thật lạ. Tôi ngỡ ngàng với trống chầu văn tế, bô lão, nhân sĩ trên khán đài. Trong đời lính tác chiến, tôi chưa từng gặp cảnh ai bày vẽ như thế này cho lần xuất quân. Bao năm qua, bao lần hành quân trước có bao giờ như thế. Lệnh cấm trại trăm phần trăm. Không khí nặng nề bao trùm cã hậu cứ trung đoàn. Tư lệnh sư đoàn, kế Tướng Ngô quang Trưởng Tư Lệnh Vùng xuống họp hành quân, thông báo tình hình mặt trận. Bộ Chỉ Huy 4 tiếp vận cấp phát trực tiếp, rồi trang bị mặt nạ phòng hơi ngạt, tăng cường hỏa tiển cầm tay mới, loại bốn nòng, trước đây chưa được cấp phát. Người Mỹ trang bị vũ khí chỉ để đối đầu cân xứng với địch. Chờ địch có trước rồi mới viện trợ sau. Điểm đáng ghi nhớ là tướng Trần Bá Di, tư lệnh sư đoàn, trả các cố vấn Mỹ cấp tiểu đoàn về mỗi đơn vị, với lời dặn dò cho kẹt chung cả.


Bây giờ qua đi. Mấy ai còn nhắc dài lâu về người nằm xuống. Mất đó, thêm đó. Ngày đi, trong chiến trận. Mất mát, hy sinh. Bổ sung cho hành quân. Ngày chuyển quân về, quân số đầy đủ đâu vào đó. Người lính tác chiến nói chung có một điểm đặc biệt là, hôm nay thấy đồng đội chết. Ừ thì là hôm nay. Ngày mai không buồn nhắc tới. Người chết rồi sẽ có người thay thế. Số phận họ, sống hay chết lẫn trong cuộc đời, cũng đồng với chiến sĩ vô danh.

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1182165147&first=1740&last=1799

Chuyện lẩn thẩn :.. lại.. con Heo ? – Lý sự Cùn

Chuyện lẩn thẩn :.. lại.. con Heo ?                                                            Lý sự Cùn

“ Trời vào thu.. buồn lắm Em ơi “.. Lý Toét đang ngồi buồn nhớ Cụ Tổng Thống 4 ngày của Nước mất Cờ : Cụ Giáo này cũng ngồi buồn , gãi ? và làm thơ.. Lý Toét buồn hơn, đang ngậm ngùi số phận “Trên bảo dưới chẳng nghe!” Nước tiêu từ tháng Mười Một năm 63 và mình đến 75.. cũng tiêu theo..

  Bất ngờ, Bác Xã Xệ gửi i-meo báo tin ‘hồ hởi phấn khởi’ Chờ nhen : “Ghép thận heo vào người được rồi đó “ Vui lên.. phất cờ ăn mừng đi và nhớ đòi BS khi ghép thận cho Toét thì phải ghép thận Heo (nọc) nhen ! Lý Toét dzui sao quá xá là dzui, chuyển tin này đến Quý vị thân hữu xa gần :

  Science News  (10-22-2011) loan tin “nóng” : “First Successful.. pig-to-human kidney transplant.. “. Tin được các hãng thông tấn Reuters, AP, BBC News cũng thi đua loan tin. Vậy là tin thật ! không phải Fake News? (tên gọi tin tức của các đài TV Cable , chê nhau loan tin ‘dởm)

https://www.bbc.com/news/health-58993696

https://www.livescience.com/pig-kidney-to-humam-transplant-experiment

  Chuyện Heo và Người (Of Pig and Men?) (hình như ông Steinbeck viết ‘Of Mice and Men” mà !) cũng thuộc loại truyện dài nhân dân tự vệ ? Lý Toét đã kể chuyện “ Nợn” thở cửa ‘hậu’ giúp Người tìm phương pháp khỏi bị nhét ống cửa trên và bỏ được ‘cái gọi là .. văng ti la-to ?  Chuyện.. ‘con heo’ (cochon).. không bàn vì Lý Toét ngày xưa học Trường Phờ re.. bị cấm dữ lắm !. Nói bậy là .. aller au piquet ! .. Lớn nữa được bố mẹ cho ăn.. Heo sữa quay (cochon de lait rôti) ngon tuyệt..Học hơn một chút : thấy Heo.. có ích quá xá mà người .. lại xực heo ? khen lòng heo ? (Con nợn có béo thì lòng mới ngon), các Cụ lại thích ăn ‘Cháo bầu dục” (cật heo) nói là  giúp tăng lực còn hơn thần dược.. ‘Thuốc xanh, thuốc vàng ‘ (viagra, levitra..).

   Các Cụ giới ‘ dao cầu thuyền tán Tây’ cho biết : Heo được lắm đó :

  • Các Cụ ‘đái đường’ xài insulin..: từ tuyến tụy (pancreas) Lợn đó
  • ACTH trị sưng xương khớp là từ tuyến yên (pig pituitary gland)
  • Chống đông máu.. chống stroke : Nếu xài Heparin ư ? từ niêm mạc ruột (intestinal mucosa pig)
  •  Cần Máu ? đừng quá lo vì có hemoglobin của Heo biến đổi gen (modified genetic pig) xài tạm .
  • Chất surfactant (tạo sức căng bề mặt) lấy từ phổi Heo dùng trị trẻ sinh non, phổi chưa phát triển đủ (pulmonary immaturity).

Đó mới chỉ vài ba cái lẻ tẻ mà Người  lấy xài của .. Nợn! mà không xin phép..

  Quý Cụ nào cho là Lý Toét xạo (thua XHCN= Xạo Hết Chỗ Nói.. ) thì vào chỗ này đọc chơi : “Everything But the Oink” do các Nhà Y Dược viết , Lý Toét ‘nha-que’ hiểu không hết mà dịch cũng chẳng xong ! : (Oink là tiếng Mỹ dịch ụt-ịt của bạn Heo)

https://porkcheckoff.org/pork-branding/facts-statistics/every-thing-but-the-oink/

Không vào được, in mời google tiếng Anh :

        “Everything But the Oink-Pork Checkoff”

Bài liệt kê đến trên 20 thứ thuốc mà .. Người mượn của Lợn xài chơi !

   Thế mới hay : Người thật ‘bạc bẽo “  : Xài những ‘đồ’ lấy từ Nợn, và độc đáo hơn nữa là dùng bộ phận của Lợn trong Tim! đó là Van tim  và coi chừng có ngày sẽ có vụ ‘ Em yêu Anh  và tim Em đập  ‘ụt ụt’ như Lợn ?

  Bệnh về Van Tim cũngnhư các bệnh về Tim khác, có nhiều dạng khác nhau : Bệnh nhân có thể bị hơi thở ngắn, hụt hơi (shortness of breath), tức ngực, phù chân, loạn nhịp tim..: Van có thể bị hẹp (narrowed) khiến máu bị chậm lại hay stenosis, Van có thể bị rò rỉ làm tim phải đập nhiều hơn : trường hợp này các Thầy Tim gọi là regurgitation. Cách trị liệu  hữu hiệu nhất sẽ là thay van tim.

  Việc dùng van tim Heo ghép vào Tim người đã được thực hiện từ hơn 30 năm rồi (điểm lý thú nhất là Tim người và tim heo rất tương đồng về hình dạng, kích cỡ (size), trọng lượng và cả đến cấu trúc (structure)..

  Các vấn đề kỹ thuật, ‘biến chế’ van tim Heo để ghép cho người đều được FDA chấp thuận.. Van tim Heo, ghép cho Người có khả năng kéo dài  được đến 17 năm .

 So sánh việc dùng van cơ khí (mechanical) và van Heo : một nghiên cứu cho thấy khi ghép vào vị trí động mạch chủ (aortic) : tỷ lệ sống còn (survivability) với  mechanical 76% và heo 66%.  Một nghiên cứu khác kéo dài 20 năm lại ghi là tỷ lệ bằng nhau?

    Xin mời vào  xem , có rất nhiều chi tiết khoa học ly kỳ :

Pig Valve Replacements: 10 Important Facts

https://www.heart-valve-surgery.com/learning/pig-valve-replacement/embed/#?secret=5M65jHDWW2

                                           Van tim..  van cơ học và van Heo

                                              Vị trí các van và van heo

   Ngay từ 1992, ĐH Padova (Ý) đã được ghép gan nhân tạo làm từ các tế bào heo ‘biến gen’ cho một phụ nữ 53 tuổi bị viêm gan do siêu vi (hepatitis), giúp bà sống được 4 ngày để chờ được ghép gan từ một người hiến gan kịp thời tìm ra..

   Nhưng cái vụ làm Lý Toét lên tinh thần là.. Ghép luôn ‘quả thận Heo cho người’ vì cứ theo các Cụ Lang ta thời xưa thì Thận là..sức mạnh của Nam giới mà! Các Ông Thầy Cali đang quảng cáo nhiều thuốc trị thận suy, tăng cường sức bật.. ghê gớm.. Cụ nào thử xong cũng im re, không kể lại là công hiệu hay không? Có ông Thầy cao đơn hoàn tán còn khoe là thuốc của Ỗng ta :” ông uống đi.. bà sẽ khen “?

  Lý Toét ngu ngơ hỏi Bác Xã Xệ , bị mắng liền : Đồ già .. dịch! Thế là tắt đài luôn.

   Đọc bài của Science News thấy hay hay..

Bài báo cho biết :

   “ Các thầy mổ tại New York City đã thành công trong việc ghép thêm (attach) một quả thận Heo vào một bệnh nhân (người) và theo dõi quả thận này, ghi nhận được hoạt động bình thường trong 54 giờ liên tục.. Đây là lần đầu mà thận của heo ghép cho người mà không xảy ra sự ‘tống khứ vật lạ =reject’ của người nhận..    Tin thật phấn khởi đã được loan báo trong một cuộc họp báo ngày 21 tháng Mười, bước đầu để tạo hy vọng cho hàng triệu bệnh nhân đang chờ được ghép nội tạng trên thế giới khi nội tạng người cho đang rất khan hiếm và người chờ thường chết trong khi chờ đợi”.

     Tại sao là Heo ?

  Một vị BS chuyên khoa Thận tại ĐH Stanford cho biết : hiện nay Y học chưa thể đáp ứng nhu cầu nội tạng (của người hiến) để ghép cho bệnh nhân cần được ‘thay hay ghép’ vì số nội tạng của người’ chết’ mà dùng được, lại rất hiếm.

   Tại Hoa Kỳ, hiện nay có 90,240 bệnh nhân cần thay/ghép nội tạng đang nằm trong danh sách chờ, khoảng 90% cần đến thận và trong năm 2019 chỉ có dưới 23,401 ca được ghép/chuyển và mỗi ngày theo Health Resources & Services Administration thì có 17 người chết khi còn đang.. chờ.

    Các nhà khoa học đã nghĩ đến việc ghép nội tạng thú vật cho người hay xenotransplantation và Heo được chú ý vì các bộ phận của heo có các đặc điểm cơ thể học (anatomy) khá giống với người, hơn nữa heo có thể nuôi trong các điều kiện kiểm soát mong muốn..

    Vấn đề cần vượt qua là khi ghép nội tạng thú vật cho người, hệ miễn nhiễm của người sẽ phản ứng bằng mọi cách để tống khứ vật lạ ra ngoài . Khi dùng nội tạng khỉ (các ông Khoa học XHCN cho là.. các ngài tổ của người !).. Phản ứng xảy ra ngay lập tức!). Tổ XHCN không nhận cháu.. mất đuôi?   Trong thập niên gần đây các nhà khoa học đã tìm hiểu về ‘hiện tượng chống ngoại xâm’ và tìm ra một yếu tố : Một phân tử đường chuyên biệt alpha-gal có rải rác trên mạch máu heo.. phân tử này cũng chính là tác nhân gây một số phản ứng ‘dị ứng’ khi ăn ‘thịt đỏ’, Đầu những năm 2000s, các nhà khoa học đã tìm ra cách loại bỏ gen có nhiệm vụ tạo ‘alpha-gal trong heo và tìm thêm được là nội tạng từ heo bị khử gen này có thể ghép cho khỉ baboon mà không bị đá ra..nhưng chưa thành công khi thử ghép  qua người..

Chuyện gì mới ?

   Việc ghép nội tạng Heo cho người sống đặt ra những vấn để Ethic ( Y đức)  khó giải quyết để làm thử nghiệm.

  Nhưng tháng 9 vừa qua, gia đình một bệnh nhân đã ‘chết não=brain-dead’, cơ thể đang giữ sống nhờ.. ventilator đã đồng ý cho thử nghiệm và bệnh nhân sẽ được rút ống thở sau khi thử nghiệm kết thúc !

  Người nữ bệnh nhân này là một người đã ký giấy hiến nội tạng khi còn sống, nhưng nội tạng của bà lại không phù hợp để hiến tặng cho người khác và theo BS Robert Montgomery,Trưởng nhóm thử nghiệm thì việc chấp thuận của gia đình bệnh nhân cho phép thử .. là một hy sinh thật lớn cho Khoa học.   Trong hơn 2 tiếng, Montgomery và các cộng sự viên đã gắn một quả thận Heo đã biến đổi gen (genetically engineered) (để không có alpha-gal) vào mạch máu đùi trên của người bệnh đang ở trạng thái sống thực vật.. Quả thận Heo được đặt bên ngoài, để nhóm nghiên cứu theo dõi diễn biến. Tuyến ức (thymus) của Heo do có nhiệm vụ giúp hệ miễn nhiễm bị lừa là nhận thận  của cơ thể cũng được cùng ghép để hy vọng cơ thể bệnh nhân chịu nhận quả thận Heo, đồng thời các thuốc chống ‘reject’, ức chế miễn dịch (immuno-supressive) cũng được dùng kèm theo..

                              Ca ghép Thận Heo tại NYU Langone Transplant Institute

   Chỉ vài phút sau, quả thận heo vừa ghép đã sản xuất nhiều nước tiểu và cho thấy sự cải thiện hoạt động của các chức năng khác và đưa cơ thể trở lại tình trạng bình thường.. Nhóm nghiên cứu theo dõi tiếp trong 54 giờ, không ghi nhận phản ứng reject. Thận heo ghép đã hoạt động giống như thận người khi ghép!   Cuộc thí nghiệm ngưng sau 54 giờ theo  hướng dẫn của nhóm kiểm soát Ethic..

Tiếp sau là gì đây ?

  Thời gian ‘sống còn ‘ được xác nhận qua thử nghiệm là 54 giờ . Quả là một thành công bước đẩu, nhưng đâu ai cần một quả thận chỉ xài trong 3 ngày ? Và các nhà khoa học hiện nay đang nghiên cứu nhiều hơn để tìm cách giữ cho thận Heo ghép sê không bị tống xuất và ‘xài’ được ít nhất vài tháng hay vài năm..

  Các nghiên cứu tập trung vào T-cells; Thymus gland của Heo là những yếu tố quan trọng nhất liên hệ đến Hệ miễn nhiễm ; và kỹ thuật gene-editing CRISPR  sẽ giúp thêm để giúp loại một số virus liên hệ.. chưa kể việc nuôi Heo để ăn và để lấy Thận (các Cụ hết ăn.. Cháo cật rồi ! hết luôn no cơm ấm cật..Cần gì thì chỉ có cách .. ghép ?)

     Heo .. lên ngai rồi ?..Tổ chức Bảo Vệ Thú vật “People for the Ethical Treatment of Animals = PETA đã lên tiếng bảo vệ Heo chống sự ‘áp bức’ của Người.. Lý Toét mời quý vị gia nhập Tổ chức mới nhen : “Ủy Ban Heo/Lợn đòi quyền sống”, đăng ký tại Hà Nội, cái nôi của Dzăng Hóa..”

                                                                         Vua Trư Bát Giới

  Lý Toét , biết thân biết phận, tuy tuổi con Heo mà không được ‘ăn no vỡ béo’, cũng phải làm ‘lao động’ (là vinh quang?)  như ..bò kéo xe lên dốc.. xin chỉ mơ :

  “Kiếp sau xin chớ làm người,”  khi tái sinh xin Phán quan cho làm

  • Con heo nọc suốt ngày ăn no tẩm bổ , vỗ béo và ..leo thang ?..

Lúc đầu Lý Toét tính mơ được làm con heo mọi “Vietnamese pot-belly pig” mà các Kiều nữ Mỹ nuôi làm pet.. cho ngủ chung giường.. quá đã ? nhưng pet toàn là heo ‘con gái “ và heo con giai thì bị biến thành heo thái giám ! Không xong chút nào..

                                                                                 Pot-belly pig

                                                                                                              Lý sự Cùn 10/2021

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Viếng Mộ Phần 81 Chiến Sĩ Nhẩy Dù tại Nam California – Phạm Gia Đại

Phạm Gia Đại

*Sáng hôm nay thứ Ba ngày 26 Tháng 10 năm 2021, tại Peek Funeral Family, thành phố Westminster, Ca đã diễn ra lúc 10 giờ một buổi lễ trang trọng viếng và dâng vòng hoa lên mộ phần của 81 chiến sĩ Nhẩy Dù đã tử nạn máy bay cách đây 66 năm. Mỗi năm cứ vào ngày 26-10 kỷ niệm Quốc Khánh của nền Đệ Nhất Cộng Hòa VNCH, nhóm Đàn Chim Lạc Việt với Ngọc Nhung và phu quân là Cựu Đại Tá TQLC Hoa Kỳ Gene Quốc Việt Castagnetti  lại bay từ Hawaii qua Nam Cali cùng với các thân hữu đến viếng mộ phần của 81 vị anh hùng của QLVNCH.

*Trở lại quá khứ oai hùng của VNCH ngày trước, vào ngày 11 Tháng 12 năm 1965, khi hai tiểu đoàn 3 và 7 Nhẩy Dù đã hoàn thành sứ mạng và đang chuẩn bị về hậu cứ thì được lệnh phải ở lại Quân Đoàn II để tiếp cứu một đơn vị quân bạn thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn đang bị VC vây hãm tại Tuy Hòa. Đại Đội 72/Tiểu Đoàn 7 đã lên chiếc phi cơ C-123 định mệnh bay từ Pleiku về Tuy Hòa. Khi đến vùng núi Tuy Hòa vì thời tiết rất xấu mây mù giăng mắc nên chiếc máy bay đã va vào núi và tất cả 4 phi hành đoàn Mỹ cùng 81 chiến sĩ Dù của Đại Đội 72 đã tử nạn. Nhiều cuộc tìm kiếm đã được tiến hành cả trên không và trên bộ, nhưng vì rừng già che lấp và không có định được tọa độ chính xác của nơi chiếc C-123 đã rơi nên suốt nhiều năm vẫn không tìm được hài cốt. Năm 1974, một tiều phu trong rừng đã thấy xác chiếc máy bay này nên đã thông báo cho chính quyền VNCH địa phương biết, và tất cả những phần còn lại của hài cốt của 4 phi hành đoàn và 81 chiến sĩ Dù  đã được chuyển về hậu cứ của Hoa Kỳ tại Thái Lan. Sau đó được chuyển qua Hawaii. Một số xương cốt của 4 phi hành đoàn đã được lựa ra và chôn cất, nhưng số xương cốt còn lại của 81 chiến sĩ Dù vẫn còn năm tại Hawaii 33 năm sau mới được Thượng Nghị Sĩ Jim Webb (Bộ Trưởng Hải Quân thời TT Ronald Reagan) tìm cách liên lạc với phía cộng sản VN để đưa về quê hương , nhưng phía CSVN họ đã từ chối. Với sự giúp sức của cựu Đại Tá Gene Quốc Việt và phu nhân Nina Ngọc Nhung, cuối cùng ngày 26-10-2019, hài cốt của 81 chiến sĩ Dù mới được chuyển từ Hawaii đến Quận Cam, nam California và được an nghỉ trong Nghĩa Trang Peek Funeral Family. 

Trong các thành phần tham dự cuộc viếng mộ phần năm nay, ngoài Nhóm Đàn Chim Lạc Việt, còn có anh Huỳnh Công Ánh và Kiêu Hạnh từ Louisiana qua RMS chiều Thứ Bẩy 23/10 vừa qua, ông Thị Trưởng Tạ Đức Trí và Phó Thị Trưởng Charlie Nguyễn Mạnh Chí, và Ban Tù Ca Xuân Điềm đến giúp nghi thức chào Cờ VNCH và Hoa Kỳ và hợp ca bài “Chiến Sĩ Vô Danh”:“Mờ trong bóng chiều, một đoàn quân thấp thoáng
Núi cây rừng lắng tiếng nghe hình dáng, của người anh hùng lạnh lùng theo trống dồn
Trên khu đồi hoang im trong chiều buông, ra biên khu trong một chiều sương âm u
Âm thầm chen khói mù, bao oan khiên đang về đây hú với gió
Là hồn người Nam nhớ thù…
……………………………………….Gươm anh linh đã bao lần vấy máu, còn xác xây thành, thời gian luống vô tình
Rừng trầm phai sắc thấp thoáng tàn canh, Hỡi người chiến sĩ vô danh!”
Ngày hôm qua trời mưa gió bão bùng tại Quận Cam, nhưng sáng hôm nay trời nắng sáng thật ấm áp trở lại giúp cho buổi viếng thăm mộ phần được hoàn thành viên mãn. Hai vòng hoa một bằng Anh Ngữ và một bằng Việt Ngữ dành cho 4 phi hành đoàn tử sĩ Hoa Kỳ và dành cho 81 chiến sĩ Dù đã được dâng lên và đặt hai bên mộ phần. Buổi lễ chấm dứt lúc 11 giờ 30 am cùng ngày, mọi người ngậm ngùi từng người một thắp nén nhang lên mộ phần rồi chia tay nhau, cùng hẹn ngày này sang năm sẽ tề tựu trở lại, nhưng bên tai vẫn văng vẳng lời ca bi hùng: “Gươm anh linh đã bao lần vấy máu-Còn xác xây thành, thời gian luống vô tình-Rừng trầm phai sắc thấp thoáng tàn canh-Hỡi người chiến sĩ vô danh!”
(xin xem thêm hình ảnh đính kèm)

Videohttps://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2643016682669195&id=100008826661153

Nguồn: Cảm ơn Mr. VVC chuyển bài.

Không đoàn 74, Không quân VNCH được Tổng thống Lyndon B. Johnson ân thưởng huy chương Presidential Unit Citation – Nguyễn Văn Quân

Nguyễn Văn Quân

Huy hiệu Không đoàn 74, Không quân VNCH.

Ngày 8 tháng 10 năm 1968, Tổng thống Lyndon B. Johnson long trọng ân thưởng huy chương Tổng thống Hoa Kỳ/Presidential Unit Citation (PUC) cho Không đoàn 74, Không quân Việt Nam Cộng Hòa do công trạng thành tích phi thường, anh dũng chiến đấu trong các phi vụ oanh kích yểm trợ tiếp cận tại chiến trường vùng IV chiến thuật miền Nam, Việt Nam.

Trong suốt thời gian từ ngày 1 tháng 7 năm 1966 đến ngày 19 tháng 2 năm 1968, Không đoàn 74 đã tham dự nhiều cuộc hành quân thực hiện 52696 phi vụ, trung bình 120 phần trăm lập trình thời gian bay. Phi đoàn 520 Khu truc cơ Skyraider trực thuộc Không đoàn 74 chiến thuật đã bay 17730 phi vụ với 24,760 giờ bay, một kỷ lục mới trong các Phi đoàn chiến đấu cơ của Không quân VNCH. Tất cả Sĩ quan và Hạ sĩ quan và Binh sĩ của Không đoàn 74 đã nhiều lần thi hành nhiệm vụ thật xuất sắc, chứng minh chủ nghĩa anh hùng và lòng dũng cảm, cá nhân và tập thể trong đơn vị đã biểu hiện một tinh thần đồng đội trong việc giữ những truyền thống cao quý nhất của Không quân thế giới tự do.
Không đoàn 74 đã tham dự nhiều cuộc hành quân khốc liệt, oanh kích vào các mục tiêu của quân việt cộng gây cho chúng nhiều tổn thất nghiêm trọng về nhân mạng và vũ khí trong khoảng thời gian này, đồng thời Không đoàn 74 cũng đã cứu sống được nhiều sinh mạng quân bạn đồng minh Hoa Kỳ và các đơn vị bộ binh QLVNCH và dân chúng. Mặc dù Không đoàn 74 phải gánh chịu những thiệt hại trong lúc chiến đấu, nhưng những quân nhân Không quân của Không đoàn 74 luôn giữ vững tinh thần chiến đấu cao độ, các hành động anh dũng phi thường, và sự tận tụy cống hiến của họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, và sự phục vụ chuyên nghiệp của Quân nhân Không đoàn 74 đã phản ánh sự tín nhiệm tuyệt vời của họ trong quân chủng Không quân Việt Nam Cộng Hòa.

Không đoàn 74 là một trong ba đơn vị Không quân VNCH được Tổng thống Hoa Kỳ ân thưởng huy chương cao quý Presidential Unit Citation. Hai đơn vị khác là Phi đoàn 514 khu trục cơ vào năm 1965, và Phi đoàn 219 trực thăng vào năm 2001.

Huy chương Tổng thống Hoa Kỳ (Không Quân)/Presidential Unit Citation (Air Force).

Bản tuyên dương công trạng Không đoàn 74 được ân thưởng huy chương Tổng thống Hoa Kỳ/Presidential Unit Citation.

Presidential Unit Citation (Air Force) là huy chương cấp đơn vị Không quân cao quý nhất, do Tổng thống Hoa Kỳ ký quyết định tuyên dương trao tặng cho các đơn vị Không quân, kể cả các đơn vị Lục quân, Hải quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và các đơn vị quân đội đồng minh cùng hoạt động chung với các đơn vị Không quân Hoa Kỳ trong các cuộc hành quân. Các đơn vị đó phải can đảm, chiến đấu anh dũng, phi thường và xuất sắc, hoàn thành nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh khó khăn và nguy hiểm đánh bại địch quân đạt được chiến thắng.
Huy chương Presidential Unit Citation (Air Force) đồng hạng với Huy chương Presidential Unit Citation (Army), Huy chương Presidential Unit Citation (Navy/Marine Corp).

Nguyễn Văn Quân

Nguồn: The American Presidency Project; Presidential Unit Citation (United States); Army and Air Force Presidential Unit Citation — Military Decorations.

LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT VNCH – TOÁN THÁM SÁT DELTA XÂM NHẬP MẬT KHU AN LÃO ( TÂY BẮC BÌNH ĐỊNH ) 9 – 1969.

onnguonsuviet.com

CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU QUÂN SỬ – QUÂN LỰC VNCH :

25 Tháng Chín 2021

Mật khu An Lão – Bình Định .
“Tiếng già nhưng núi vẫn là non”
(Chơi núi An Lão Nguyễn Khuyến)

Khoảng tháng 9 năm 1969, các Toán Thám Sát của Trung Tâm Hành Quân Delta được đưa từ Nha Trang ra Phi Trường Đệ Đức. Đây là Phi Trường dã chiến của Quân Đội Hoa Kỳ. Đang mang các trang bị cá nhân vào lều bạt thì tôi đã nghe Thiếu Úy Thạch Thon, Trưởng Toán 6 Thám Sát rỉ tai: “kỳ nầy sẽ hoạt động vùng Mật Khu An Lão, theo nhu cầu của Quân Đoàn II”.
Mật khu An Lão là chỗ nào?
Nhớ mang máng hồi còn học Trung Học, Ông Thầy dạy Việt Văn có giảng bài “Chơi Núi An Lão” của Nguyễn Khuyến, bọn học sinh chúng tôi gọi đùa tác giả là Ông già gân, bởi vì câu cuối bài thơ là: “Dẫu già mà đã hơn ta chửa? Chống gậy lên non bước chẳng chồn”. An Lão của Nguyễn Khuyến ở đâu ngoài Bắc, còn An Lão ở đây là An Lão Bình Định. Dĩ nhiên, Ông Lão còn chịu chơi, huống chi bọn tôi còn trẻ, sá chi cái An Lão nầy.
Nhưng trước sau gì cũng phải xem lại Bản Đồ một chút cho chắc ăn. Thói quen của những người Chỉ Huy là ưa xem Bản Đồ, mà phải xem kỹ Bản Đồ Quân Sự. Binh thư dạy rồi: “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa”. Xem Bản Đồ để biết địa lợi, khai thác địa lợi là điều cần thiết của cấp Chỉ Huy.

Hôm sau, vào Trung Tâm Hành Quân, nhìn vào tấm Bản Đồ trải rộng trên cái giá gỗ, tôi quan sát thấy mật khu An Lão nằm về hướng Tây của Thị Trấn An Lão, Hưng Long và Xuân Phong, cách ngăn bởi một con suối chạy từ hướng Bắc đổ ra biển ở miệt Xã Hoài Hương, thuộc Quận An Nhơn. Đây là các Thị Trấn nhỏ miền thượng du Tỉnh Bình Định. Đường bộ vào đây nối liền từ Quốc Lộ 1 bằng Tỉnh Lộ 629 tại Thị Xã Bồng Sơn. Địch thường đưa quân từ mật khu An Lão để bao vây tấn công vào các Thị Trấn nầy rất gắt gao, có lẽ chúng muốn nhổ sạch hết toàn bộ mà không nhổ được.
Hướng Tây Bắc mật khu An Lão là Quận Ba Tơ, nơi đây cũng có một Trại Ba Tơ của Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt đồn trú. Quận Ba Tơ nằm về hướng Tây Tây Nam Thị Trấn Đức Phổ thuộc Tỉnh Quảng Ngãi. Về hướng Tây Tây Nam An Lão là Tỉnh Kontum. Hướng chính Nam là Quốc Lộ 19, con đường nối liền Qui Nhơn – Pleiku, có Đèo An Khê là nơi từ cuộc chiến tranh trước, Việt Minh CS đánh Tây nhiều trận xiểng liểng. Trong thời điểm này tại An Khê, cộng quân chưa làm được gì suy suyển phe ta. Hướng Đông Nam là Quận Hoài Nhơn có hai Thị Trấn Bồng Sơn và Tam Quan nằm trên Quốc Lộ 1. Tam Quan gần Sa Huỳnh thuộc Tỉnh Quảng Ngãi.

Đại Đội 3, Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù: – Những Phút Máu Lửa Ở Đồi 250 -  Đoạn Đường Chiến Binh - Hải Ngoại Phiếm Đàm

Về hướng Tây Tây Bắc Kontum, tôi thấy địa danh Attapeu một cao nguyên của Nam Lào, và vùng Tam Biên: Việt Miên Lào. Đích thị là chúng nó đây rồi. Đường mòn Hồ Chí Minh đưa cộng quân đến cao nguyên nầy của Xứ Lèo. Từ đó chúng đổ xuống hướng Đông là vào mật khu Đỗ Xá, phía Tây Quảng Ngãi và hướng Đông Nam vào Tân Cảnh, Dakto. Hồi học lớp Đệ Tứ tôi có nghe Ông Thầy dạy Địa Lý nói tới Mọi Đá Vách ở vùng nầy, được Ông quan Nguyễn Thân cho ăn đường phèn mà tưởng là đá, nên xin hàng. Mấy năm nay không nghe nói gì tới tình hình chiến sự ở Đỗ Xá. Về phía Nam Đỗ Xá là mật khu An Lão.
Căn cứ trên Bản Đồ cho thấy, mật khu An Lão là một vị trí chiến lược quan trọng. Chúng có thể rút về phía Tam Biên, nếu bị tấn công dữ dội. Chúng có thể uy hiếp Kontum hay Quốc Lộ 14 nối Kontum và Pleiku, uy hiếp An Khê, gây áp lực trên Quốc Lộ 19, hoặc tấn công Sa Huỳnh, cắt đứt Quốc Lộ 1. Quân Đoàn II quan tâm vào vùng nầy là chí lý, chí lý vô cùng.
Tôi rời khỏi Trung Tâm Hành Quân, ngẫm nghĩ càng thấy cái vô cùng chí lý của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II.
Và rồi, một cuộc hành trình vào mật khu Cộng sản khá hào hứng, và cũng không thiếu nguy hiểm, đổi mạng như chơi. Nghĩ tới đó, tôi không sợ mà lại tự cười thầm tự tin.
Theo đúng thủ tục thường lệ, sau khi Toán nhận lệnh, tôi cầm tấm Bản Đồ đã được khoanh vùng hoạt động, leo lên Trực Thăng đi bay để quan sát khu vực và tìm chọn bãi đáp cho Toán. Hôm sau, mọi chuẩn bị lương khô, súng đạn, thuốc men đã hoàn tất đầy đủ, trước khi lên đường Toán đã đến Trung Tâm Hành Quân để trình bày kế hoạch trước Chỉ Huy Trưởng và các Trưởng Ban 2, Ban 3. Dĩ nhiên, ngoài bốn chinh nhân da vàng mũi tẹt còn có hai bạn đồng minh chổng mỏ ngồi nghe, bên cạnh có Thông Dịch Viên cùng ngồi với họ.
Một số Toán Thám Sát Delta của Thiếu Úy Cao Kỳ Sơn, Trần Bá Lễ, Phan Anh đã vào trận mấy hôm nay rồi. Toán tôi đang chuẩn bị tiếp nối.

Trực Thăng đưa Toán thâm nhập vào mạn Nam, trong vùng trách nhiệm ở mật khu An Lão vào khoảng xế chiều Toán di chuyển về hướng Tây Bắc chừng tiếng đồng hồ thì dừng lại bố trí nghỉ qua đêm. Địa thế ở đây thật hiểm trở, rừng rậm xen lẫn vách đá cheo leo cao nghệu. Di chuyển phải hết sức thận trọng, dò dẫm từng bước, lần theo các bậc đá, vịn vào các thân cây non hay kéo đẩy giúp nhau mới đi được. Một ngày, hai ngày chầm chậm, lặng lẽ trôi qua, Toán chưa tìm thấy hay phát hiện được gì cả về mọi họat động của địch..
Rạng sáng hai hôm sau, Toán tiếp tục di chuyển theo hướng Tây Bắc, cũng đi thật chậm, chú ý quan sát kỹ các dấu vết trên lộ trình, qua từng đồi cây, con suối.
Có một điều Toán tin chắc là Quân Đội VNCH chưa từng vào mật khu nầy hành quân, thành ra Cộng sản thường huyên hoang, tự phụ, cho rằng mật khu An Lão là vùng bất khả xâm phạm và cũng chính vì thế mà tình báo của ta không nắm rõ tình hình quân số, đơn vị địch hoạt động trong mật khu này. Do vậy mà hôm nay mới có sự hiện diện của các Toán Thám Sát Delta. Gần cuối ngày, khi Toán đang đi lần xuống một trũng rừng thì Toán đã phát hiện hai con đường mòn chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Những con đường mòn còn tươi rói, có nghĩa là địch đang sử dụng. Toán men theo một trong hai con đường mòn, sau đó không lâu, thì lại thấy một con đường lớn, có dấu vết chạy của xe Molotova.
Tôi suy nghĩ không ít về những con đường xe nầy. Xe về tới đây là coi như đã tiến sâu vào lãnh thổ nước ta, nó đâu còn chỉ di chuyển trên vùng biên giới Việt – Lào. Từ chỗ có đường xe nầy tính ra tới bờ biển chưa tới 25 dặm. Bọn chúng lộng hành đến thế hay sao?

Sau khi báo cáo cấp tốc mọi chi tiết về Trung Tâm Hành Quân, Toán được lệnh dừng chân qua đêm, chọn chỗ an toàn, kín đáo, trong tầm quan sát để theo dõi mọi hoạt động địch.
Có lẽ Trung Tâm Hành Quân đã thu thập một số tin tức do các Toán Thám Sát Delta hoạt động trong các khu vực kế cận gởi về, phối kiểm và đúc kết đã xác định được lực lượng địch quân ở đây không phải là ít. Vì vậy, rạng sáng hôm sau, Toán nhận được công điện phải bám sát đường mòn, tìm chỗ thuận lợi tổ chức phục kích bắt sống tù binh để khai thác tin tức, nhất là danh tánh, quân số và các kho tàng, căn cứ địa của bọn chúng…
Nhận lệnh xong, xem Bản Đồ, đối chiếu thực địa, tôi bàn thảo sơ lược kế hoạch phục kích cùng hai bạn Đồng Minh. Có ba điểm căn bản:
– Phải là con đường địch đang xử dụng.
– Vị trí phục kích thuận lợi, có hiệu quả, dễ dàng bắt sống được địch.
– Cuối cùng, khi nổ súng rồi là coi như Toán đã bị lộ, phải rút nhanh. Cần biết rõ con đường rút và bãi triệt xuất, nơi trực thăng sẽ đón Toán.
Khu nầy là rừng già, phục kích trong rừng già thì tốt, nhưng khi nổ súng rồi, phải triệt thoái nhanh tới chỗ khoảng trống, bãi tranh để trực thăng có thể đáp xuống bốc về dễ dàng.
Toán chọn lựa địa điểm phục kích gần một con suối. Bên kia con suối, hướng chính Đông, cách khoảng 200 đến 300 mét, tính theo đường chim bay có một hai khoảng trống, có thể là đồi tranh hay rẫy bỏ hoang của người Thượng. Các bộ lạc ở đây thuộc giống người H’rê, sống đời sống du canh, phá rừng làm rẫy, một vài mùa lại bỏ đi nơi khác. Đoạn đường di chuyển từ nơi phục kích đến đó không xa lắm, kịp cho Toán bôn tập tới đó.
Nắm chắc địa thế, lập xong kế hoạch phục kích, và rút lui, tôi báo cáo tất cả cho Trung Tâm Hành Quân để theo dõi và yểm trợ khi cần.

Đại Đôi 3, Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù VNCH Tấn Kích cộng quân ở  Savanakhet, Lào – dòng sông cũ

Toán nằm trải dài chừng 50 mét, dọc theo đường mòn, núp sau các tảng đá, gò mối, gốc cây rừng, cách khoảng năm mét, đạn đã lên nòng, tất cả hướng mắt về trước mặt, đúng tầm sát thương của vũ khí.
Chờ địch chừng 2 giờ đồng hồ thì chúng xuất hiện, ngang nhiên đi trên con đường mòn. Đi đầu là một Toán khoảng mười tên, cứ mỗi hai tên gồng gánh một bao gì đó gói trong tấm bạt dầu, chúng tôi không rõ là hàng gì, có thể lương thực hay vũ khí, đạn dược? Gánh hàng không nặng lắm vì chúng vừa đi vừa nói chuyện. Có thể chúng rất chủ quan, coi như đây là vùng đất thánh của chúng, như chưa từng bị tấn công, phục kích bao giờ.
Khi chúng vừa tới ngay tầm xạ kích của Toán thì bỗng dừng lại. Tôi nghĩ thầm: “Ồ! không lý mình hên vậy?” Và, chỉ mới dự định cho nổ súng thì thấy có một tên phía sau đang khó nhọc đi tới. Tôi cười thầm trong trí: “một con vịt đẹt”, tiếng gọi đùa như khi tôi còn sinh hoạt trong Gia Đình Phật Tử hay Hướng Đạo, mỗi khi đi Cắm Trại, thường gọi những người đi chậm, lẹt đẹt phía sau. Vậy thì không phải chúng nghỉ mệt mà chỉ dừng lại chờ tên đi sau.
Chờ con vịt đẹt tới gần bọn chúng, Toán bắt đầu khai hỏa. Bốn cây XM.16, hai cây XM.18 nổ ran. Bốn tên gục tại chỗ, mấy tên khác vừa nổ súng phản công vừa lủi vô rừng chạy mất. Con vịt đẹt quay đầu tháo lui, nhưng không kịp rồi! Hai ông bạn đồng minh đã nhanh chóng xông ra, vật cổ, đè “con vịt đẹt” xuống, còng tay, kéo nó đứng lên chạy lẩn vào rừng để cùng theo Toán rút lui về hướng đã định.

Khoảng nửa giờ sau, khi Toán đi quá nửa con đường đến bãi triệt xuất, thì nghe có nhiều tiếng súng nổ ở chỗ Toán đã phục kích. Tôi yên tâm. Bấy giờ phía trên đầu Toán, chiếc L.19 hướng dẫn chúng tôi tới Bãi, và 4 chiếc Trực Thăng UH.1B đang vần vũ. Thông lệ thì luôn có một chiếc CNC của Chỉ Huy Trưởng, hai chiếc Gunship bao vùng, yểm trợ, sẵn sàng xạ kích bằng Hỏa tiễn, Đại liên để an toàn bãi và một chiếc có nhiệm vụ bốc Toán.
Toán đến bãi an toàn, không phải chờ đợi, một chiếc Trực Thăng sà xuống đón Toán trở về.
Đẩy tên tù binh đang bị trói nằm xuống sàn, chúng tôi ngồi dựa lưng vào nhau, muốn cười mà không cười nổi. Mệt quá!
Về đến căn cứ Hành Quân, giao xong tù binh cho Ban 2 để tạm thời khai thác, trước khi chuyển đến Trung Tâm Thẩm Vấn Tù Binh của Quân Đoàn II, tôi đi thẳng xuống căn lều Câu Lạc Bộ để kiếm món gì ăn và uống một lon RootBeer cho đã thèm, vì mấy ngày nay chỉ dùng toàn lương khô, nước lạnh. Chán chết được.

Ngày hôm sau, Trung Tâm Hành Quân Ban 2 cho biết tên tù binh do Toán bắt được là Bí Thư Huyện Ủy Huyện Xuân Phong, vừa đi B trên đường trở về. Y khai, hiện có 2 Tiểu Đoàn của Công Trường 7 CS đang ẩn trú tại mật khu An Lão, và trong tương lai Công Trường 9 CS từ Dakto, Tân Cảnh cũng sẽ di chuyển về đây để lập mặt trận tấn công các Thị Trấn Tam Quan, Bồng Sơn, Đức Phổ.
Dĩ nhiên, trước mọi tin tức nóng hổi đã được cung cấp thì đã có cấp trên lo liệu. Còn tôi sau khi hoàn thành “mission imposible” ngày ngày đón xe Lam ra Quán tranh, ở đầu Thị Trấn Bồng Sơn trên Quốc Lộ 1 để uống cà phê, nghe nhạc. Cà phê ở đây uống cũng tạm, còn nhạc thì máy móc ở các Quán quê nầy chỉ nghe cho nó vui vui, đỡ buồn, đâu có thể đòi hỏi âm thanh phải như ở Nha Trang, Sài Gòn.
Nếu không có nhu cầu Toán 3 nhảy vào một khu vực khác thêm lần nữa, thì chờ khoảng hơn tuần lễ, khi các Toán Thám Sát Delta, hiện đang hoạt động ở những vùng kế cận, rút ra hết, thì Trung Tâm Hành Quân Delta sẽ cuốn gói trở về lại Nha Trang, chấm dứt những ngày thâm nhập, phục kích, bắt sống địch, triệt xuất đem về khai thác tin tức… như trong phim ciné… /.

(Lê Đắc Lực – Tàn Cơn Binh Lửa)

Nguồn: https://onnguonsuviet.com/p104a540/chuong-trinh-nghien-cuu-quan-su-quan-luc-vnch-luc-luong-dac-biet-vnch-tham-sat-mat-khu-an-lao-tay-binh-dinh-nam-1969-

Bù Na (Bunard) ? Căn cứ bị bỏ quên ? – Trần Lý

Trần Lý

08-26-2019, 11:29 PM Chiến tranh Việt Nam có rất nhiều địa danh không “quen với người dân thị thành” ,những địa danh xa lạ chỉ được biết đến vì là nơi đã diễn ra những trận đánh khốc liệt giữa QLVNCH , quân đội Đồng Minh và CSBV..Bù Na là một trong những địa danh rất ít người biết kể cả các chiến sĩ VNCH (ngoại trừ các chiến sĩ LLĐB và SĐ5BB VNCH)

TogetherWeServed - SGT Robert Pryor

● Vị trí địa lý :

– BS Nguyễn Duy Cung viết trong “Đời Y sĩ trong Cuộc chiến tương tàn” : Ấp Thượng Bunard (trang 114) : “ Quốc lộ 14 từ Phước Long đi Đồng Xoài..đoạn đường này rất xấu,đầy hang ổ do đắp mô, có nơi cỏ tranh, lồ ồ mọc de ra đường um tùm che khuất tầm nhìn phía
trước..phải mất gần hai tiếng mới đến ấp Thượng Bunard, nghèo nhất Tỉnh..”… “Sau khi thăm ấp Bunard trên đường về tôi ghé qua đơn vị LLĐB đóng quân ở gần đó, hầm chiến đấu được xây dựng kiên cố dưới mặt đất, có nhiều lớp kẽm gai và mìn bao bọc chung quanh ..”

– Tác giả Đỗ văn Phúc trong “Nhớ lại Chiến trường xưa : Đồng Xoài- Bù Na” ghi lại một số chi tiết liên quan đến Bunard như sau :
“Quốc lộ 13 từ sài Gòn qua Bình Dương, An Lộc, đến Lộc Ninh. Đến căn cứ Alpha là tiền đồn cuối cùng của SĐ 5 BB thì vượt biên giới Việt-Miên đến thị xã Snoul thuộc tỉnh Kratie. Qua khỏi thị xã Bình Dương chừng 1 cây số, đường 13 tách một nhánh tại Ngã Tư Sở Sao để thành Liên tỉnh lộ 13.. Từ đây đi qua các quận Phú Giáo, Đồng Xoài đến ngã ba Bù Noi thì rẽ làm hai..Qua Tây thì đến Phước Bình (tỉnh lỵ của Phước Long), sang Đông thì chạy lên Ban Mê Thuột..”
Tác giả ghi : “ Chúng tôi đóng quân trên ngọn đồi 289 gần một sóc thượng ở Bunard, nơi đã có trại A-344 LLĐB..dân Thượng ở đây thuộc sắc tộc Stieng (người Việt gọi là Cà răng, căng tai).. Cạnh bên sóc thượng là một Điểm Dinh điền lập ra từ thời TT Ngô Đình Diệm quy tụ trên 100 dân gốc miền Trung..”

– “Where We Were in Viet Nam (Michael Kelley), trang 5-72 :
– Bunard (YT 24-88) : khoảng 23 km Đông-Bắc Đồng Xoài, 24 km Đông-Nam Sông Bé; 4 km Đông-Nam QL-14 và 100 km Đông-Bắc Saigon
– Sân bay Bunard (YT 273-887) : khoảng 22 km Tây-Nam Trại Đức Phong 25 km Đông-Bắc Trại Đồng Xoài. Phi đạo dài 2600 feet.
– Trại LLĐB Bunard : khoảng 22 km Tây-Nam Trại Đức Phong; 25 km Đông Bắc Trại Sông Bé.

● LLĐB Hoa Kỳ và Bunard :

Trong kế hoạch xây dựng một hệ thống phòng thủ dọc biên giới Lào, Miên LLĐB Hoa Kỳ tại Vùng 3, nhất là tại các tỉnh Tây Ninh , Bình Long và Phước Long.. Các căn cứ đươc xem là “nguy hiểm” nhất gồm các Trại Prek Klok và Tống Lê Chơn trong vùng Chiến Khu C, Bunard tại Chiến Khu D và thêm vào đó là Sông Bé…

Tỉnh Phước Long nằm sát biên giới Việt Miên, ngay từ ngày được thành lập đã là khu vực hoạt động của CSBV, họ dùng các vùng đất xa các thị trấn do quân VNCH kiểm soát để lập các căn cứ tiếp vận, khu vực dưỡng quân trước khi di chuyển vào Chiến Khu D..Khu dinh điền Bunard là một trong những vùng được CQ tạo ra một căn cứ trên đường xâm nhập.
Từ đầu năm 1967, LLĐB Mỹ (5 th SF) đã quyết định lập một Trại SF loại A gần làng “Địa Điểm Bunard”. Trại A này sẽ là nơi xuất phát các cuộc hành quân chống CQ trong vùng, Trại sẽ do lực lượng CIDG trấn đóng và hoạt động bình định trợ giúp lực lượng hành chánh địa phương của VNCH, đồng thời giúp ngăn chặn các hoạt động của CQ.. Bunard cũng là một “mắt xích” trong một chuỗi trại thám sát của SF dọc QL 14 từ Chơn Thành đến Ban Mê Thuột..

https://i0.wp.com/s3.amazonaws.com/armyreflectionphotos-togetherweserved/20700.jpg

Vào giữa tháng 3-1967, một toán nghiên cứu thám sát của ĐĐ A , 5th SF cùng một trung đội bảo an Tỉnh đã được trực thăng vận vào một vùng xa, vắng vẻ gần Bunard, với nhiệm vụ tìm chỗ lập Trại.. Vào ngày thứ ba của cuộc thám sát, Toán này bị một ĐĐ quân địa phương VC tấn công khi họ di chuyển về làng Dinh điền. Toán không bị tổn thất và được trực thăng bốc trở về với các dữ kiện đã thu thập được để làm căn bản cho kế hoạch lập trại sắp tới.
5th SF đã tổ chức cuộc Hành quân HARVEST MOON để “xây” một Trại loại A tại Bunard. Kế hoạch chia thành 3 giai đoạn : Giai đoạn thứ nhất dủng lực lượng Mike Force (CIDG xung kích hay DSCĐ tiếp ứng ) Trung ương tại Nha Trang nhảy dù xuống Khu Bunard, làm đầu cầu, một lực lượng tăng viện sẽ đến sau bằng trực thăng ; Giai đoạn 2 là đổ quân CIDG cùng một toán A SF.. sẽ lo an ninh khu xây trại ..Giai đoạn 3 là xây dựng Trại đề lập một Căn cứ hành quân..

Ngày 2 tháng 4, 1967, 370 quân Mike đã được thả dù bằng 8 chiếc C-123 của Air Commando (Shelby Stanton trong Green Berets at War, trang 163, ghi là bằng các C-130) xuống địa điểm được chọn. Toán quân này do Đ úy Wilson, toán trưởng A-530 chỉ huy.
Đây là cuộc hành quân nhảy dù đầu tiên của CIDG trong 3 chuyến nhảy dù chiến đấu trong suốt cuộc chiến VN ! (cuộc hành quân thứ nhì là nhảy xuống Núi Giài, ngày 15-3-1967,và cuộc nhảy dù thứ ba là trong cuộc hành quân bình định vùng Cô Tô tháng 11 năm 1968)
(Cuộc hành quân nhảy xuống Bunard được thiết kế rất chi tiết, hoàn toàn do SF Mỹ lập kế hoạch, huấn luyện quân MIKE về nhảy dù không qua VNCH; việc xếp đặt máy bay, thời gian, phi trình đều do SF tính toán..)
370 quân nhảy xuống gồm 3 ĐĐ quân xung kích củng toán Chỉ huy, đáp an toàn chỉ 6 bị thương nhẹ (2SF+ 4 Mike), sau khi tập trung, đã bung ra tạo khu vực đổ quân và liền sau đó thêm 700 CIDG bằng trực thăng. LL này do Đại úy Ambrose W Brennan A-344 chỉ huy và lực lượng này sẽ chịu trách nhiệm thiết lập các vị trí phòng thủ tạm thời và củng cố Trại Bunard trong thời gian xây cất.

* Lực lượng CQ trong khu vực :
Theo các tin tình báo ghi nhâṇ được thì khu vực quanh Bunard là vùng hoạt đôṇ g chính của Trung đoàn 272 CSBV , Tr đoàn này được trang bị nhiều vũ khí khá tối tân của khối Côṇ g (lúc đó) như súng trường Trung công SKS, súng phóng rocket, đại liên 12.7 và cối 82.. Tr đoàn này có nhiêm vụ bảo vê ̣ các kho tiếp liêụ của CQ trong khu vực biên giói Miên-Viêt, và thường tấn công quấy phá Quâṇ Đồng Xoài chỉ cách Bunard khoảng 20 km.. Dân dinh điền được xem là dân theo CS có lẽ do sự vắng măṭ của quân QG trong vùng này.. các khu trồng trọt cách đó chỉ 10 km cho thấy CQ đã tổ chức được môt hê thống hâu cần cung cấp thực phẩm cho họ.
Tuy địa điểm đóng quân chính thức của 272 chưa dược xác định nhưng các dấu hiêụ đã cho thấy có ít nhất môṭ Tiểu đoàn chính quy CQ hoạt đông trong vùng quanh Dinh điền Bunard gần suối Da Panton; môṭ Tiểu đoàn khác có măt tại vùng Tây Bắc làng dinh điền cạnh QL 14..


Báo cáo trinh sát tháng 3-1967 ghi thêm sự di chuyển vào Phước Long của Trung đoàn 101 CSBV. CQ có khả năng mờ các cuôc̣ tấn công tâp̣ trung vào các quâṇ xa của Phước Long..!

File:NARA 111-CCV-522-CC43912 Vietnamese children on 5th Special Forces Group jeep 1967.jpg

Trại Bunard là một trại nhỏ, không có bãi đáp trực thăng trong phạm vi phòng thủ, và được sử dụng như một Căn cứ hỏa lực, nớ phát xuất của nhiều kế hoạch thám sát của SF như các Kế hoạch Omega, Gamma..
Sau khi trại được thiết lập, dân quanh vùng quy tụ lại và một ấp tân sinh đã thành hình, có một trạm y tế và một trường tiểu học do SF xây dựng trong chương trình dân sự vụ.
Chương trình CIDG chính thức chấm dứt ngày 31 tháng 12 năm 1970. Trại Bunard được chuyển giao cho QLVNCH và trở thành một căn cứ của TĐ 363 ĐPQ thuộc Tỉnh Phước Long Từ tháng 11-1974, CQ thường xuyên phá quấy, cắt đứt đường lộ ngăn chặn việc tiếp tế thực phẩm cho Tiểu khu Phước Long (Tỉnh cần 500 tấn gạo mỗi tháng nhưng chỉ tự sản xuất được 250 tấn). Đại tá Tỉnh trưởng Nguyễn Thống Thành đã phải tổ chức hành quân mở đường bằng các lực lượng địa phương :
Quân đoàn 3 không còn quân nên chỉ tăng phái cho Phước Long 3 Đại đội Trinh sát của 3 SĐ 5,18 và 25, các đại đội này lo phòng thủ Phước Bình và Sông Bé để các TĐ ĐPQ có thể mở đường. Tại Đức Phong LL VNCH gồm TĐ 362 ĐPQ, 4 Tr đội Nghĩa quân, một chi đội pháo binh 105 tăng cường thêm 2 ĐĐ của 304 ĐPQ .. bố trí dọc QL 14.. Đ tá Thành còn có các TĐ 341 ĐPQ tại Đôn Luân (ngoài 363 đóng tại Bunard) ..
Lực lượng địa phương của Phước Long không thể kháng cự cuộc tổng tấn công của CQ và Tỉnh đã mất hoàn toàn vào tay CQ ngày 6 tháng Giêng 1975.

Trần Lý (7-2019)

Nguồn: ,https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1/s%C6%B0u-t%E1%BA%A7m-bi%C3%AAn-kh%E1%BA%A3o/16795-b%C3%B9-na-bunard-c%C4%83n-c%E1%BB%A9-b%E1%BB%8B-b%E1%BB%8F-qu%C3%AAn-tr%E1%BA%A7n-l%C3%BD?28765=

Ngồi Lại Trên Cầu – Tường Lam

  • Tường Lam

Trong toàn cõi miền Nam Việt Nam, qua trên một phần tư thế kỷ chiến tranh lửa đạn ngút ngàn, đa số chiếc cầu bắc ngang một dòng sông, dù nhỏ lớn đều có một tiểu sử đau thương, đẫm máu bởi những trận đánh trên cầu, thậm chí còn bị phi cơ không tập.

Cầu Mây Tức nằm giữa ranh giới giữa hai tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình, giữa huyện Vũng Liêm và Càng Long. Theo ngôn ngữ người Miên: ‘’Mây’’ là đục, ‘’Tức’’ là nước, cầu Mây Tức là Cầu Nước Đục.

Năm 1973, cầu nầy bị đặc công Cộng Sản đánh sập. Sáng sớm hôm sau Thiếu Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh Quân Đoàn IV, đến thị sát đập một cây can và bẻ một bông mai trên ve áo của trung úy Thạch S. quăng xuống dòng sông.

Đầu năm 1975, đại đội đặc công VC tràn ngập cầu nhưng thối lui vì trận mưa lựu đạn của chốt phòng thủ, để lại trên cầu nhiều xác chết trong đó có tên đại đội trưởng trên tay còn nắm chặt khẩu K.54, trước đó năm phút còn thét lớn ‘’đầu sống, chống chết’’. Chỉ huy trận nầy là thiếu úy trẻ đẹp trai, mang kính cận thường được bè bạn gọi đùa là ‘’Trịnh Công Sơn’’.

Sau sáu năm tù “cải tạo”, tôi trở về bán cặp loa nhạc làm vốn, đi mua mía ép đường. Trước khi cùng gia đình sang Mỹ theo diện HO độ hai tháng, tôi mua căn nhà gạch chữ đinh mặt dựng, rộng, đẹp, khang trang của một cán bộ hồi hưu, giá nhà tương đối rẻ vì không chịu nổi sự đai nghiến của hai bà vợ, một già một trẻ. Căn nhà nằm sát cầu và dòng sông Mây Tức, nửa trên lộ, nửa dưới sông tiện bề cho vựa buôn bán vật liệu xây cất. Tôi ủy quyền cho vợ chồng người em trai thứ Bảy ở và trông coi ngôi nhà.

Nhiều năm qua đi, tôi từ Mỹ trở về thăm lại chốn xưa. Thức dậy khi trời còn sớm tinh mơ, tôi pha cà phê, ngồi trên sa lông trong hàng ba lót gạch bông, nhìn ngắm chiếc cầu trong màn sương sớm lờ mờ.

Kỷ niệm tháng ngày áo trận, giày saut, lại trở về. Tôi nhớ đêm đêm căng mắt nhìn và bắn vào đám lục bình mà đặc công thường hay ngụy trang để gài mìn phá cầu.

Rời quân trường Bộ Binh, rời Vũ Đình Trường,
thấy đài Trung Nghĩa như thuyền vỡ đôi,
mưa nào nhỏ xuống mặn môi,
nhìn Tăng Nhơn Phú ngỡ đồi hoa sim.

Tôi gác bên nầy bãi Tự Tin, trông sang đồi Hăm Chín, cây Mẹ Bồng Con muôn đời vẫn hướng mắt về đâu? Thủy ơi! Thủy ơi! Chúng mình còn thương được bao lâu?

Giã từ quân trường, tôi ra mặt trận. Tôi được chỉ định làm Trung Đội Trưởng, phụ trách hai trung đội đóng ở cầu Mây Tức và đồn Đập Ấu. Ban chỉ huy đại đội đóng ở cầu Mỹ Huê chịu trách nhiệm bảo vệ quận Càng Long.

Cầu ngày đó bằng sắt, lót ván. Đà cầu gác trên các cây thông tròn, làm bằng trụ đèn có tẩm dầu, đang chéo hình chữ X. Mỗi lần nước ròng chảy xiết, cầu rung và đong đưa như răng mấy cụ già mừng ngày khánh thọ.

Thiếu úy Khang, vị sĩ quan tiền nhiệm, đạp phải mìn tử thương trong buổi sáng mở đường an ninh trục lộ từ cầu đến đồn Đập Ấu.

Địch ngày đêm tấn công, bắn sẻ, thả mìn mong đánh sập cầu, cắt đứt giao thông, cô lập tỉnh Vĩnh Bình.

Thông trục lộ là một việc làm đầy gian nan của Chi Khu Càng Long. Sáng sáng các nơi báo cáo về Trung Tâm Hành Quân. Khi biết các cầu an toàn ai cũng thở phào nhẹ nhỏm. Đào đường đắp mô của địch xảy ra như cơm bữa. Riết rồi Chi Khu đốn dừa cưa khúc để sẵn, khi đơn vị báo về đường bị đào, tức tốc dừa được chở đến, độn và lấp đất lên cho đoàn xe đi qua, sau khi bị dồn đọng hằng mấy trăm thước.

Sáng ra không thấy xe hai bánh hoặc bạn hàng gánh gồng gà vịt, trái cây… đi ngang là lực lượng đồn trú biết chắc khúc đường trên kia bị đắp mô.

Đơn vị thường ngày đi ban mô, phá mìn. Những lần phản phục kích, máu thấm trên những thửa ruộng bị quần nhầu nát, khi lúa còn xanh con gái, mới ngậm đồng đồng. Bên nầy có người hy sinh phủ cờ vàng ba sọc đỏ lên quan tài, mang về quê chôn cất trong nước mắt mưa tuôn của gia đình, vợ con. Bên kia xác được kéo lên bờ đường, áo đen, quần xà lỏn, khăn rằn quấn cổ, bàn chân hà ăn loang lổ ngón to bè như quả chuối ngự, vì cả đời có được mang giày dép!

Dân tộc tôi không cần “mặt trận” nào giải phóng. Chúng tôi chỉ cần con cá lóc nướng trui vài xị rượu đế trong vắt như mắt mèo và bài ca vọng cổ ‘’Tình Anh Bán Chiếu’’, sau những buổi gặt lúa vần công cho nhau, và suốt năm bồ lúa vẫn nằm khoanh tròn giữa nhà cho cuộc sống ấm no. Và tôi một thanh nhiên mới lớn đâu phải giã từ sách vở, bỏ thành phố vẫy tay giã biệt ‘’Con đường tình ta đi’’ để lao vào cuộc chiến đẫm máu anh em. Đêm đêm, chúng tôi ôm súng xiết cò, dưới ánh sáng hỏa châu, “giết ngày không đủ tranh thủ giết nhau cả ban đêm’’, đạn lên nòng và máu chảy thành sông. Nhân danh bất cứ điều gì để gây chiến tranh đều đáng nguyền rủa.

Tết Mậu Thân áp lực địch thật nặng nề. Tôi ra lệnh tu sửa lại hệ thống phòng thủ khẩn cấp, trữ dừa làm đà, đắp đất dầy làm mái che, gài thêm lựu đạn, mìn claymore, đạn dược phân phối đến từng hố cá nhân, đêm ngày ăn ngủ và chiến đấu tại chỗ. Đắp thêm bao cát trong ụ súng cối và lô cốt đặt khẩu đại liên, làm mấy lớp ngựa sắt và nhiều vòng kẽm gai bít kín trục lộ trước bảy giờ tối, đề phòng địch xung phong chính diện. Lính gác rọi đèn pin suốt đêm cả những khi mưa tầm tã. Bắn xuống những dề rau mát, lục bình, bụi dừa nước trôi ngang vì đặc công có thể gài mìn hoặc bám vào đấy để tấn công bằng bộc phá.

Mặt trời lên, cổng rào mở, xe cộ, người đi kẻ lại quang gánh trên vai, vui cười trò chuyện. Họ đâu biết rằng mấy người lính đứng bên kia thành cầu, môi bập bập mấy điếu thuốc giồng, mắt thâm quầng, đỏ hoe vì thiếu ngủ hằng đêm ôm súng giữ cầu.

Lạ một điều, từ lúc đơn vị về đóng ở đây, cứ vào buổi chiều một thiếu nữ tóc dài biếng chải, đôi mắt mệt mỏi thẫn thờ, thường đi ngang và đứng lại trên cầu, mắt thăm thẳm nhìn xuống dòng nước, miệng lẩm bẩm điều gì không rõ thành lời. Cô đứng bất động, tay trì lên thành cầu thật lâu và sau đó từng bước nhỏ, nhẹ nhàng đi về phía bên kia và khuất mình sau con dốc.

Theo mấy chú lính nói lại, cô ta tên là Thụy Trâm, đang học lớp 12 trên tỉnh, là người tình của thiếu úy Khang. Thụy Trâm bỏ học như người mất trí sau cái chết không toàn thây của thiếu úy Khang.

Ngoài những trận đánh đẫm máu, giờ đây cầu Mây Tức lại cõng trên lưng một chuyện tình thương đau thời chinh chiến.

Mỗi lần đi ngang qua cầu, Thụy Trâm đều được mấy chú lính chào bằng câu:

– Người đẹp ăn cơm chưa?

Thụy Trâm không cười.

– Tui không còn là người đẹp đâu.

Cho đến một hôm, đang đứng quan sát và nghiên cứu, tôi thầm nghĩ nếu tôi là đặc công hoặc đơn vị tác chiến của địch, tôi sẽ bố trí các thành phần tác chiến như thế nào để tấn công đồn. Tôi, phải nhìn từ mắt của địch, để thấy thấy sự phòng thủ sơ hở của mình. Thụy Trâm đến sau lưng tôi hỏi:

– Ông là chuẩn úy Anh chỉ huy ở đây phải không?

– Vâng! Sao cô biết tên tôi?

Thụy Trâm nhìn xa xôi và hỏi:

– Ông biết hát không?

Tôi hỏi tò mò:

– Không, nhưng điều đó có gì đáng nói đâu?

Thụy Trâm nhè nhẹ bước đi và lắc đầu:

– Không biết hát mà còn bày đặt để râu.

Tôi thấy hơi tự ái và bị ‘’sốc’’. Thụy Trâm đã đi xuống bên kia cầu, tôi nghe một chút buồn phiền.

Hai tuần sau tôi được gia đình Thụy Trâm mời đi dự giỗ. Đến bàn thờ đốt nhang cho ông bà, cạnh bàn thờ chánh, một chiếc bàn thấp hơn có bình bông tươi và bát nhang cùng hình thiếu úy Khang đẹp trai, mắt cương nghị nhìn tôi.

Mẹ Thụy Trâm cho biết:

– Con Trâm thờ thằng Khang đó! Ngày hai buổi cúng cơm và nó chỉ ngồi ăn cơm với thằng Khang thôi! Không ngồi cùng mâm với gia đình nữa. Đồng thời mấy tuần nay bệnh Thụy Trâm trở nặng, đêm không ngủ và ngồi gục trên bàn thờ thằng Khang. Nó thức dậy giữa đêm khuya mở cửa đi lên cầu, nhứt là những đêm trăng sáng. Tôi phải thức canh cửa không khéo mấy chú lính gác tưởng VC bắn chết thì tôi làm sao. Mong chuẩn úy thông cảm, báo cho mấy chú lính biết và tôi đang thu xếp chở nó lên nhà thương Biên Hòa điều trị. Gia đình tôi đội ơn chuẩn úy.

Mấy đêm sau, tôi đang nhận công điện ngày mai gom đại đội đi hành quân thì trung sĩ trưởng ca gác báo cho tôi biết cô Thụy Trâm đang đòi mở rào cho cô ta lên cầu ngồi vì đêm nay trăng sáng.

Tôi đứng trong nầy rào, Thụy Trâm lễ phép:

– Xin chuẩn úy vui lòng mở cửa rào cho tôi lên ngồi trên cầu, trăng sáng tôi nhớ anh Khang quá!

Tôi mũi lòng, mở rào. Lên đến giữa cầu, Thụy Trâm đứng lại và chỉ xuống chân mình:

– Nơi nầy mỗi mùa trăng sáng tôi nôn nóng từ trên tỉnh về, tối đến Khang ôm đàn và hát cho tôi nghe. Ôi! Nếu bây giờ Khang sống lại, so phím và hát cho tôi nghe bản ‘’Bên Cầu Biên Giới’’ của Phạm Duy, tôi sẽ chết theo Khang ngay.

Bước lên lề, tựa tay vào thành cầu, trong gió mát, con nước mười sáu tràn bờ, trăng sáng vằng vặc trên đỉnh đầu, tôi lắng nghe giọng mềm, nhỏ và xa vắng của Thụy Trâm:

Dừng đây soi bóng bên dòng nước lũ
Cầu cao nghiêng dốc bên dòng sông sâu
Tuổi xanh như lá rụng cuối trời
Một vùng thương đau chốn làng cũ quê xưa

Thụy Trâm chỉ hát bốn câu thì dừng, đứng yên và lặng thinh như pho tượng, nước mắt tuôn thành dòng, lấp lánh trên má trong đêm trăng lồng lộng soi rõ từng cơn sóng nhấp nhô đôi bờ.

Tôn trọng nỗi đau thương của Thụy Trâm, tôi lặng lẽ bỏ vào lô cốt cũng là phòng ngủ của ‘’Tư Lệnh’’ cầu Mây Tức. Đó là chiếc ghế bố xếp, áo giáp kê làm gối và trên đầu chiếc radio Ấp Chiến Lược đang phát thanh chương trình Dạ Lan,

“Tiếng nói của người em gái hậu phương, gửi đến các anh chiến sĩ can trường trên khắp các nẻo đường đất nước.” ngọt ngào như mật rót vào tai! Yêu lính bằng lời mà.

Trời sáng tỏ. trung sĩ trưởng ca gác vào báo cáo tình hình trong đêm vô sự, duy chỉ có cô Trâm vẫn còn nằm ngủ bên thành cầu. Thật tội nghiệp! Tóc tay buông xõa, rã rời, gương mặt nằm nghiêng xanh xao! Một cánh hoa rũ tàn. Đêm vừa qua, quân số giữ cầu tăng thêm một, nhưng bất khiển dụng.

Chuyện ấy tái diễn mấy lần, sau cùng tôi làm mặt quạu với Thụy Trâm:

– Mỗi tháng cô chỉ được lên cầu ngủ một lần vào đêm rằm với điều kiện mùng mền chiếu gối đầy đủ. Nếu cãi lời tôi, cô sẽ không bao giờ được bước lên cầu nầy nữa dù đêm hay ngày.

Trâm cúi đầu rơm rớm nước mắt:

– Chuẩn úy ra lệnh sao! Trâm xin nghe vậy.

Tôi quay bước bỏ đi, nghe lòng mình chùng xuống. Thật đáng thương cho người con gái, khi phải đón người yêu từ mặt trận về mà thân xác nằm trong ‘’hòm gỗ cài hoa’’!

Bên kia đường hướng về đồn Đập Ấu là một nhà máy xay lúa nhỏ đã ngưng hoạt động, mấy chục căn nhà lá tả tơi nằm khít vào nhau hai bên ven đường. Đêm đến, khi dân tay xách, nách mang tản cư xuống quận lỵ ngủ, dãy nhà vô chủ thắp đèn bão trước hiên, đong đưa theo gió từng cơn, tăng thêm vẻ buồn thiu cho khu phố! Gió chiều rờn rợn nước sông, người chỉ huy cũng nghe se sắt nhưng tuyệt đối giữ kín trong lòng.

Có một việc nếu xảy ra đúng như dự tính của đặc công Cộng Sản thì cái lon ‘’quai chảo’’ trên ve áo tôi sẽ bay xuống dòng sông và có thể tôi bị truy tố ra toà án về tội: Tắc trách để cầu sập giữa ban ngày. Đơn vị giữ cầu phối hợp với Trung Đội Đồn Đập Ấu đi mở đường rà mìn và ban mô giữa khúc đường xã Phú Tiên. Du kích bắn sẻ rồi rút, thu một quả mìn bằng đạn pháo binh 105 ly lép, một cuộn dây điện. Mô được ban, lộ thông, xe cộ và người an toàn qua lại.

Tôi và trung đội giữ cầu trở về, cất vũ khí nhào xuống sông tắm giặt. Mấy chú lính đùa giỡn, cười đùa tát nước vào nhau, hồn nhiên như trẻ nít. Bỗng Hạ Sĩ Sơn phóng mình bơi thật nhanh sang bờ bên kia, chụp và cắn lìa sợi dây điện đang quơ lên mặt nước, Sơn la lớn:

– Trái mìn lớn quá, chuẩn úy ơi!

Chúng tôi phụ lực lôi nó vào bờ. Đó là một thùng phuy đầy chất nổ, bao quanh bằng bập dừa, trọng lượng đủ nổi và trôi lềnh bềnh dưới mặt nước.

Mấy loạt đạn bắn vào cầu và chúng tôi đáp lễ bằng mấy tràn đại liên thật giòn. Nếu không nhờ sự nhanh nhẹn phán đoán của Hạ Sĩ Sơn, chỉ cần năm phút sau thùng phuy chất nổ được kích hỏa, cây cầu sẽ sập nằm dưới mặt nước và tôi biết trả lời sao với cấp chỉ huy để cho cầu sập giữa ban ngày! Đôi khi ‘’hay không bằng hên’’. Trước áp lực ngày càng gia tăng, yếu điểm cầu Mây Tức được bổ sung mười tân binh, thêm vọng gác và đêm bung xa hai điểm tiền đồn.

Trời tối đen như mực, đồng hồ dạ quang chỉ hai giờ sáng, tôi đi rảo một vòng yếu điểm dặn dò lính gác quan sát cẩn thận, rồi vào cố gắng ngủ một ít để năm giờ sáng cả đại đội tham dự hành quân cùng Trung Đoàn 14, Sư Đoàn 9 Bộ Binh.

Đoàng! Đoàng! Đoàng! Một loạt đạn xé màn đêm bên kia con dốc. Đơn vị báo động! Tất cả ra hố cá nhân chiến đấu. Tôi phóng nhanh về phía súng nổ. Người âm thoại viên mang máy chạy theo sau, ống liên hợp phát ra tiếng khè khè như tiếng thở của loài mãng xà. Người lính gác cho tôi biết địch cắt hàng rào bò vào. Tôi cho lịnh súng cối bắn trái sáng. Xác một phụ nữ áo bà ba tím, máu đẫm ướt ngực trái, nằm bất động. Đến gần ai cũng muốn khóc, Thụy Trâm nằm bất động trong vòng rào. Y tá mang lên cầu băng bó nhưng Thụy Trâm đã tắt thở, đạn xuyên qua tim. Trong túi áo hình thiếu úy Khang đang tươi cười bên Thụy Trâm. Cả hai đều tựa lưng vào thành cầu.

Trách nhiệm trước cái chết của Thụy Trâm là thượng sĩ thường vụ và có cả tôi, không thông báo cho số tân binh mới bổ sung, về hội chứng Thụy Trâm.

Xã Mỹ Cẩm lo quan tài, tôi quyên góp tất cả quân nhân đại đội, cộng thêm tiền xã hội thuộc khối Chiến Tranh Chính Trị Tiểu Khu, rồi mang vòng hoa và tiền phúng điếu đến tạ lỗi và chia buồn cùng tang quyến. Gia đình đón tôi bằng nước mắt và tôi cũng khóc.

Lúc đốt nhang trước linh cửu Thụy Trâm, tôi thấy ánh mắt thiếu úy Khang nhìn tôi trách móc và lạnh lùng.

Cái chết của Thụy Trâm gây xúc động mạnh đối với người dân trong quận, làm rơi nước mắt nhiều người trong đó đa phần là bạn học của Thụy Trâm, đến tiễn đưa người bạn gái vắn số, sống chết với tình, lần cuối cùng.

Một tuần sau, chìm vào giấc ngủ thật sâu tôi thấy thiếu úy Khang tay cầm đàn, tay dắt Thụy Trâm áo tím, tóc dài. Cả hai tươi cười đứng trên đầu ghế bố, ngỏ lời cám ơn tôi cùng đơn vị đã đưa Thụy Trâm xuống gặp Khang. Hai người rất hạnh phúc bên nhau, những đêm trăng sáng vẫn về ngồi đàn hát trên cầu.

Tôi giật mình tỉnh giấc, lưng và trán ướt đẫm mồ hôi, hơi hớm Thiếu Úy Khang và Thụy Trâm vẫn còn phảng phất trong lô cốt. Qua lỗ châu mai, tôi nhìn lên thành cầu nhưng chẳng thấy ai.

Nắng lụa lấp lánh trên rặng dừa nước bên kia sông, có tiếng bìm bịp kêu, trời cũng vừa rựng sáng. Tôi đưa tách lên môi, hớp một ngụm. Cà phê đã nguội ngắt tự bao giờ.

Tường Lam

11 Tháng Mười 2013

Theo Biệt Động Quân

Nguồn: https://hung-viet.org/p18a15923/ngoi-lai-tren-cau

Bạn tôi: ĐẠI ÚY TRẦN QUANG HIỆP – Lưu Hoàng Kỳ

Lưu Hoàng Kỳ

Tháng 3 năm 1980 bất ngờ tôi gặp lại Hiệp, đúng là quả đất tròn. “Tha hương ngộ cố tri”. Chuyện tôi gặp lại Hiệp như một sắp xếp của bàn tay vô hình. Nhưng cuộc hội ngộ cũng cho tôi nỗi xót xa đến không ngờ. Đúng là mỗi người một mảnh đời không ai biết trước được.

Sáng hôm đó như thường lệ 4 giờ sáng tôi đạp xe từ Phú Nhuận đi Chợ Sặt Biên Hòa mua đậu nành. Qua khỏi ngã tư Thủ Đức thì chiếc dép đứt quai, trời tối đèn điện lờ mờ, nhét chiếc dép vào sau ba ga tôi đạp chân không. Đến chợ Sặt tìm đoạn kẽm cột tạm nhưng dép của tôi quá cũ mỏng như tờ giấy, mới đi vài bước lại đứt tiếp, thấy tôi loay hoay cột tới cột lui bà “chủ vựa” vừa nói vừa cười: “mòn cỡ đó mà còn tiếc gì nữa em ơi! Bỏ mẹ nó mua đôi khác cho rồi”.

Bà đâu biết tôi chỉ đủ tiền mua 50 kilo đậu nành, còn mấy đồng dằn túi đề phòng xe dọc đường nên phải đắn đo. Sau cùng tôi nghĩ về tới Chợ Lớn 45 cây số đạp chân không, chết chắc! đành phải mua đôi dép nhựa loại rẻ nhất. Vậy là trả tiền cho bà chủ xong tôi sạch túi.

Tôi đạp xe chở 50 ký đậu trên đường về đến ngã ba “Xa lộ Đại Hàn” thì bánh xe sau bị xì, với tôi lúc đó là một tai họa. Nhìn xuống thấy bánh xe xẹp lép tôi chết điếng người, trong túi không còn dù chỉ một đồng, tiền đâu vá xe? Tôi thầm nghĩ sao hôm nay gặp toàn chuyện xui vậy trời? “Họa vô đơn chí” khi sáng đứt dép bây giờ lại xì bánh xe.

Tôi hạ bao đậu xuống lề đường, bối rối không biết giải quyết thế nào? Tiền đâu vá xe bây giờ? Bí lối chỉ biết kêu trời!

Nhìn về hướng Sài Gòn, cách chừng hơn trăm mét bên lề đường một người sửa xe đạp đang ngồi trong lều nhỏ che nắng bằng tấm nylon. Không còn cách nào khác cứ dắt xe đến rồi tính sau, chưa biết phải mở lời nói sao để người ta cho thiếu nợ ngày mai tôi sẽ trả.

Dựng xe tôi đến trước lều, người sửa xe mặc áo lính quay mặt vào trong đang lục tìm trong thùng đồ nghề. Tôi lấy nón vải lau mồ hôi lên tiếng gọi: “Anh ơi!”. Người thợ ngoảnh mặt ra: “Có tôi đây”. Tôi ngỡ ngàng kêu lên: “Trời ơi! Hiệp có phải không?”. Anh cũng mở to mắt ngạc nhiên: “Ủa, mày hả Tiến?”. Hiệp xoay người ra trên cái đòn ghế, tôi rụng rời xót xa, Hiệp cụt cả hai chân đến nửa đùi. Hai đứa mừng quá bắt tay nhau, tôi xúc động chưa biết nói gì. Hiệp chỉ chiếc ghế thấp:

– Ngồi đi mày… tao lấy nước uống rồi chuyện gì nói sau.

Hiệp xoay người trên chiếc đòn ghế lấy ca nhỏ rót nước từ bi đông quân đội, vừa hỏi:

– Mày vào đây khi nào, bây giờ ở đâu?

Hai đứa tóm tắt hoàn cảnh hiện tại của nhau. Hiệp nói:

– Chuyện còn dài. Bây giờ trước hết mày đem bao đậu đến đây để mấy thằng quản lý thị trường nó “đớp” là hết vốn… vác nổi không? Chân cẳng tao làm sao giúp mày được?”.

Tôi chui ra khỏi lều: “Ông cứ để mình”.

Bây giờ lại thấy trong cái rủi có cái may, nếu xe không xẹp bánh thì tôi đâu gặp lại người bạn trong cảnh tha hương giữa đất miền Nam mênh mông trong hoàn cảnh này.

O o O

Tôi và Hiệp cùng học lớp Đệ Thất 4 ở trường Trần Quốc Tuấn Quảng Ngãi. Nhưng Hiệp lớn hơn tôi đến ba tuổi, năm vào Đệ Thất tôi mới mười hai còn nhỏ xíu, mà Hiệp thì đã mười lăm cao lớn nhất lớp, đang thời kỳ trổ mã đẹp trai, mặt đã có mụn trứng cá và giọng nói khàn khàn như vịt đực. Tính tình nghịch ngợm, hay chọc phá bọn con gái (lúc đó Quảng Ngãi chưa có trường Nữ Trung Học). Nghịch nhất lớp mà học thì cũng loại siêu hạng. Hiệp thông minh học giỏi đều các môn, mỗi lần Cô Hy (vợ thầy hiệu trưởng Hà Như Hy) kêu nó đứng lên đọc Pháp văn là cả lớp im lặng như tờ lắng nghe, nó đọc hay như Tây. Xếp vị thứ hàng tháng, thi lục cá nguyệt, đến tổng kết cuối năm, không đứa nào dành ngôi số một của nó. Mới Đệ Thất mà “cu cậu” đã biết khiêu vũ, chơi đàn guitar, mandolin. Tới giờ dạy nhạc thầy Trần Quang Ngọc thường bảo nó đàn cho cả lớp nghe. Nói chung là cùng lớp Đệ Thất nhưng Hiệp trưởng thành hơn bọn tôi.

Hiệp học giỏi có tiếng, kết quả học tập là một kỳ tích. Nó chỉ chung lớp với bọn tôi đến năm Đệ Ngũ, bỏ Đệ Tứ làm đơn thi trung học Đệ Nhất Cấp, thi đậu qua trường Chấn Hưng học Đệ Tam học luôn chương trình Đệ Nhị, thi Bán Phần đậu bình thứ, lại trở vào Trần Quốc Tuấn học Đệ Nhất và kỳ thi Toàn phần đậu Bình nữa mới ghê. Hiệp học nhảy hai lớp nên khi bọn tôi mới hết Đệ Tam, nó đã đậu xong Tú Tài toàn phần.

Hiệp nộp đơn vào Quốc Gia Hành Chánh. Còn đúng một tuần nữa đến ngày thi, chuẩn bị hành lý vào Sài Gòn thì tai họa ập xuống. Trong một chuyến công tác ở Mộ Đức trở về đi qua Mỏ Cày cha của Hiệp bị Việt Cộng ám sát, ông chết vì một viên đạn AK xuyên qua tim.

Hiệp bỏ thi, còn tinh thần đâu mà học? Bọn tôi đến nhà thăm nhưng nó cứ nằm khóc vùi, mặt mày bơ phờ. Trần Quang Hiệp thông minh giỏi giang miệng mồm tía lia biến mất, nó xác xơ tiều tụy.

Bạn bè đứa nào cũng tiếc cho Hiệp, con đường học vấn đang thênh thang rộng mở. Phải nói Hiệp là một tài năng hiếm có, năm Đệ Tam bọn tôi hay đến nhà hỏi bài, Hiệp giảng hay và dễ hiểu hơn giáo sư ở lớp. Nó mang hoài bão lớn, có lý tưởng rõ ràng, đã vạch cho mình hướng đi nên chọn Quốc Gia Hành Chánh.

Nhưng cái chết của cha làm Hiệp chuyển hướng, cuối năm 1967 nó nộp đơn vào khóa 24 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (Đà lạt). Bốn năm học ở Đà Lạt, Hiệp ít về Quảng Ngãi, ra trường lại về binh chủng Biệt Động Quân ở Quân Khu Hai trên cao nguyên. Thỉnh thoảng chỉ biết tin tức qua bạn bè.

Hiệp vô Đà Lạt, bọn tôi hai năm sau mới xong Tú Tài toàn phần. Sau đó cũng tứ tán bốn phương, đứa vào đại học, thằng nào hết hạn hoãn dịch thì vào quân đội, đứa vào Sư phạm Qui Nhơn, đứa Cán Sự Y Tế Huế. Mỗi người một mảnh đời nổi trôi theo vận nước.

Tôi nhập ngũ khóa 5/70 Thủ Đức, rồi học căn bản pháo binh ở Dục Mỹ, ra trường về tiểu đoàn 20 pháo binh. Suốt hai năm đi “đề lô” cho các tiểu đoàn Biệt Động Quân, Trinh Sát, Chiến Xa, Thiết Giáp, vào sinh ra tử đánh đấm tưng bừng. Trong vòng ba năm bạn bè tôi tử trận gần hết. Đến trung tuần tháng 3 năm 1973, tôi rời Tiểu Đoàn 20 pháo binh thuyên chuyển về làm Trung đội trưởng Trung đội 109 pháo binh lãnh thổ Quảng Ngãi.

Tháng 10 năm 1974 từ Bình Sơn về họp với ban chỉ huy pháo binh tiểu khu Quảng Ngãi. Trưa hôm đó tôi mời Đại úy Tùng, Chỉ Huy Phó và Trung úy Ba Trung đội trưởng 111 ăn cơm ở Bắc Hải. Tiệm đông khách nên không để ý đến ai. Ăn xong tôi vào quầy thanh toán tiền. Lúc trở ra mới được mấy bước có tiếng hỏi: “Phải mày không Tiến?”.

Một ông Đại úy Biệt Động Quân đang ngoảnh lên nhìn tôi mỉm cười, ngồi cạnh là một cô gái đẹp. Phản xạ tự nhiên tôi đưa tay chào kính, cũng trong khoảnh khắc tôi nhận ra Trần Quang Hiệp. Bất ngờ vì trước mặt tôi không phải là Hiệp mảnh khảnh trắng trẻo thư sinh của bảy năm trước ngày bọn tôi tiễn thằng Hiệp 20 tuổi vào trường Võ Bị Đà Lạt. Mà là một ông Đại úy Biệt Động Quân đồ trận hoa rừng, ba bông mai đen trên ve áo với bộ ria mép đen rậm, đẹp trai vóc dáng phong trần.

Hiệp bắt tay tôi giới thiệu với cô gái. Nó quay qua: “Ngọc, người yêu của tao”. Tôi “Chào chị”. Hiệp cười.

Mới đó mà đã bảy năm, gặp lại hai đứa đều mặc áo lính. Hoàn cảnh chiến tranh mỗi đứa một chiến trường nên không gặp nhau. Bọn tôi hỏi tin tức về bạn bè, đứa còn đứa mất. Hiệp đang là sĩ quan phòng Ba của bộ chỉ huy Biệt Động Quân Quân Khu II. Nghỉ mấy ngày phép về thăm mẹ. Đó là lần đầu tiên cũng là lần duy nhất bọn tôi gặp lại từ khi Hiệp vào Võ Bị.

Hiệp lên lại cao nguyên, tôi về đơn vị ở Bình Sơn. Tình hình đất nước biến chuyển xấu do sự cắt giảm quân viện của Hoa Kỳ theo tinh thần hiệp định Paris. Tình trạng tiếp liệu của toàn quân đội bế tắc thê thảm, đạn dược thiếu hụt. Đến cuối năm 1974 đạn tồn kho cạn kiệt, Pin PRC 25 trực tác xạ không còn. Tôi được lệnh chỉ bắn một đến hai quả cho mỗi lần quân bạn chạm địch. Bao nhiêu công điện xin tiếp tế tôi gởi đi đều được trả lời là: “Đợi”. Bộ binh chiến đấu đơn độc ngoài chiến trường vì không còn hỏa lực yểm trợ. Trong khi ngược lại, Việt Cộng được Nga Sô, Trung Cộng gia tăng viện trợ tối đa toàn vũ khí tối tân hạng nặng áp đảo. Ưu thế quân sự dần nghiêng về phía cộng sản bắc việt.

Thế rồi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, tôi lăn lóc qua nhiều nhà tù trong nhiều năm. Ra tù thêm bản án quản chế, tôi tất bật mưu sinh trong đói rách tả tơi.

Đầu năm 1980 tôi bỏ Quảng Ngãi vào Sài Gòn tá túc nhà người quen ở Phú Nhuận tìm cách mưu sinh. Thấy tôi nghèo không nghề nghiệp, bà chị sát vách cho mượn tủ thuốc lá nhỏ, tôi bê ra ngã tư Phú Nhuận ngồi từ sáng đến khuya, cả tuần lễ bán lẻ được năm điếu Samit, hai gói rưỡi thuốc Hoa Mai. Thất bại tôi chuyển qua đi bỏ sữa cho quán cà phê, bỏ 6 lon chỉ lấy tiền được bốn, còn hai lon chủ quán không trả tiền, khi tôi đến hỏi lần thứ ba lại lên tiếng lớn, còn cho tôi một tát tai nổ đom đóm, rồi đuổi ra vì chê sữa cũ đặc quá làm họ mất khách. Vậy là tôi mất vốn. Đang tính chuyện đạp xích lô thì có người mách đi chợ Sặt mua đậu nành về bỏ ở Chợ Lớn.

Thế là cứ 4 giờ sáng tôi thức dậy đạp xe ra chợ Sặt Biên Hòa hơn 40 cây số, chở bao đậu 50 ký về Chợ Lớn đoạn về phải 45 cây số, như vậy trong ngày vừa đi về tôi đạp xe gần 100 cây số. Nhưng tiền lời chỉ tương đương 2 ký gạo cho mỗi chuyến. Mà tôi đạp xe trong tình trạng nhịn đói từ 4 giờ sáng đến 5 giờ chiều trở về nhà mới ăn bữa cơm duy nhất. Tôi cũng tiết kiệm không dám uống nước dọc đường, cứ đến “vựa” uống đầy bụng, về Chợ Lớn thì xin nước nơi bán hàng, cho nên đi mấy ngày là tôi ốm nhom. Sợ nhất là đoạn trở về đèo 50 ký mà còn lên cái dốc Thủ Đức, nên người rã rời nhưng không còn cách nào khác.

O o O

Hôm đó tôi và Trần Quang Hiệp ngồi tâm sự, đến 8 giờ tối mới đèo bao đậu đến Chợ Lớn bán xong về tới nhà là 10 giờ đêm.

Từ lúc tạm biệt Hiệp lòng tôi ngổn ngang nỗi buồn tê tái. Một thời binh lửa đã đi qua, nhưng vết thương vẫn hằn sâu nhức buốt trong tâm hồn những người lính như bọn tôi.

Dù tôi và Hiệp còn rất trẻ đang tuổi thanh niên. Đã từng xông pha nơi chiến trường máu lửa, đã bao lần bước vào cửa chết để tìm ra đường sống. Nhưng hai đứa đã nghẹn lời khi kể nhau nghe những bi kịch về đoạn đời của mình sau ngày phần đất tự do đã mất.

Hiệp nói: “Tao tin vào định mệnh. Mỗi người một số phận không ai biết trước cuộc đời mình sẽ ra sao? Nếu Việt Cộng không giết “ông già” thì tao đâu vào Võ bị Đà Lạt? Rồi nếu không ở quân đội tao đâu gặp Ngọc? Cuộc sống vốn nhiều những sự tình cờ, tình cờ bọn mình gặp nhau, tình cờ tao vào quân đội, và gặp Ngọc cũng là một tình cờ”.

Ngọc quê Quảng Ngãi, tốt nghiệp đại học sư phạm Huế lên dạy ở Pleiku. Ngọc dạy cùng trường với vợ Trung úy Kha ban Ba tiểu đoàn Biệt Động Quân. Họ gặp nhau trong một bữa cơm gia đình ở nhà Kha. Không hiểu sao anh Trung úy đại đội trưởng trinh sát Trần Quang Hiệp gan lì nơi trận mạc. Về thành phố có tiếng hào hoa, đẹp trai, miệng mồm như tép nhảy, thế mà tự nhiên ít nói, lừng khừng như thằng “ngố” bị lãng tai. Ngọc đẹp, hiền lành lại đồng hương gặp nhau nơi cao nguyên nắng bụi mưa bùn, thế là họ yêu nhau.

Từ ngày yêu Hiệp, Ngọc sống trong lo âu đợi chờ, mà Hiệp thì miệt mài say mê chiến trận. Những địa danh Chupa, Dakto, Tân Cảnh, Kiến Đức, Pleime… Trận nào cũng ác liệt một còn một mất với quân thù. Sau hai tuần vắng mặt Hiệp trở về với một cánh tay quấn băng trắng loang lổ máu tươi treo trước ngực, thấy Ngọc rưng rưng, Hiệp mỉm cười: “Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ”, vết thương chưa lành lại đòi ra đơn vị với anh em. Rồi Ngọc khóc ngất khi thân thể Hiệp bê bết máu, mê man trong phòng hồi sinh ở Quân Y Viện Pleiku, sau ba tháng điều trị không cần tái khám lại nhất định lên đường. Và bao nhiêu lần trở về trên băng ca, chân tay mình mẩy lại băng bông máu me thấm đỏ. Ngọc phải nhờ bạn bè dạy thế để săn sóc chăm nom. Và Hiệp luôn dấu gia đình nhất định không cho mẹ biết tin.

Chuyện tình của anh quân nhân Biệt Động và cô giáo ngọt ngào như một bài thơ hay. Sau những cuộc hành quân trở về họ sánh vai trên đường phố Pleiku, cả hai đều đẹp. Rồi những buổi hẹn hò, những chiều tiễn đưa. Phố núi Pleiku là cõi “thiên đàng” của những người đang yêu nhau. Nhưng chuyện đời không phải lúc nào cũng xuôi chèo mát mái như mơ tưởng.

Ngày tôi gặp hai người ở Bắc Hải chính là ngày định mệnh, chuyện tình của Hiệp qua một ngã rẽ khác.

Trước đó một tháng Hiệp thưa với mẹ chuyện hôn nhân, và cho biết thông tin về Ngọc: “Nhà ở Đức Phổ, Cha chết đã lâu chỉ còn mẹ già sống với người con gái lớn…”. Nỗi vui mừng dâng tràn, niềm ước mong bao năm là thấy mặt con dâu bây giờ mới đạt được. Mẹ đôn đáo lo toan, báo cho chú Hiếu biết, cùng mấy người bà con, tìm thông tin về gia đình Ngọc và chuẩn bị đến lễ Trầu Cau.

Một tối mẹ đang ngồi tính chuyện sắm lễ vật, những ai sẽ là họ hàng đến nhà gái, thì chú Hiếu của Hiệp làm cảnh sát “đặc biệt” ở Quảng Ngãi, người sẽ đại diện nhà trai trong lễ đính hôn xuất hiện với vẻ ưu tư. Ngồi lặng yên hồi lâu, thoáng buồn ông nói: “Chị Hai, cha con Ngọc không phải chết mà là tập kết, đã hồi kết từ năm 1968 từng hoạt động ở Quảng Nam, mới đổi vùng từ 1973, địa bàn hoạt động hiện tại ở nam Quảng Ngãi, là cán bộ cấp tỉnh, và y đã có móc nối với gia đình… Em đã xem và nghiên cứu kỹ hồ sơ. Phải cho thằng Hiệp biết ngay không chậm trễ được…”.

Hiệp hốt hoảng khi cầm bức điện tín: “Mẹ đau nặng con về gấp”. Không biết bệnh mẹ nặng nhẹ thế nào? Thôi cứ đem Ngọc cùng về để mẹ biết mặt con dâu. Hiệp gọi thầm: “Mẹ ơi đợi con về”.

Phải đợi hai ngày mới có chuyến bay về phi trường Chu Lai, Hiệp đưa Ngọc về nhà. Mặt mẹ đầm đìa nước mắt khi Hiệp ôm bờ vai gầy của mẹ.

Ngọc e dè ngồi vào ghế sát tường. Hiệp theo xuống nhà sau vào phòng của mẹ. Ngồi xuống giường mẹ hỏi nhỏ: “Hiệp… Con có biết cha con Ngọc làm gì không?”. “Cha nó chết lâu rồi mà mẹ”. “Không… nó dấu con, cha nó là Việt Cộng, đang hoạt động ở Đức Phổ…” mẹ cho biết thêm những thông tin điều tra của chú Hiếu, cùng sự xác nhận của những người quen.

Như nhát búa tạ vừa đập vào ngực, Hiệp bật ngửa ra giường hai tay dang rộng nhìn lên trần nhà. Hiệp không nghi ngờ gì kết luận của chú Hiếu. Hiệp ăn năn sự hời hợt chết người của mình, tại sao không cho gia đình biết từ đầu? Một sai lầm không đáng có.

Trong đầu Hiệp hiện lên: Vậy là lâu nay mình đã bị kẻ thù giăng bẫy? Không ngờ cô ta lại đóng kịch hay đến thế? Cảm giác sợ hãi. Hiệp cố nhớ lại có bao giờ cô ta hỏi điều gì về lãnh vực quân sự chưa? Hay có khi nào mình sơ suất tiết lộ chuyện gì không? Thời gian hai năm làm sao nhớ hết? Người yêu khoảnh khắc thành kẻ thù hai bờ chiến tuyến. Rõ ràng mình với cô ta là hai đường thẳng song song. Không bao giờ!

Căn phòng yên lặng. Hiệp ngồi dậy gục mặt vào vai mẹ: “Mẹ ơi! Con có lỗi với cha mẹ… Con sẽ tự giải quyết… Mẹ chuyển lời xin lỗi của con đến chú Hiếu. Con hứa không làm gì sai trái với gia đình… Con sẽ liên lạc xin tàu ngày mai trở lại đơn vị. Nếu mấy hôm nữa Ngọc đến tìm, mẹ cứ nói con đã đi và tuyệt đối không tiết lộ gì thêm”.

Vào Bắc Hải ăn cơm xong, Hiệp nói với Ngọc là chiều nay nhà có khách, các cô chú tập trung bàn chuyện đám cưới, để tránh khó xử Ngọc về Đức Phổ thăm mẹ, ngày mai Hiệp sẽ vào đón…

Sáng hôm sau Hiệp bay lên Pleiku, và hai ngày sau Phòng Ba đưa Hiệp ra thay cho một Tiểu Đoàn Phó vừa bị thương, đơn vị đang hành quân ở Kontum. Đến ngày thứ năm khi dẫn hai đại đội ra khỏi khu rừng đến một đồi tranh, cho dàn quân bố trí xong, lúc tiến lên quan sát mục tiêu Hiệp dẫm phải quả mìn cá nhân lớn, một tia lửa sáng lòa tiếp theo tiếng nổ rền rung chuyển. Hiệp không còn biết gì nữa.

Ra khỏi phòng hậu phẫu ba ngày sau tỉnh lại Hiệp lờ mờ cảm giác khác lạ, người nặng nề râm rang đau nhức, đầu óc bồng bềnh, tay chân không co duỗi được. Hồi lâu Hiệp mới biết hai tay bị cột chặt vào cạnh giường, dây chuyền máu, chuyền nước biển chằng chịt tê cứng người. Dần dần Hiệp biết mình bị mất đôi chân, phải giải phẫu lấy mảnh ở tay, đầu và bụng qua lời của một bác sĩ mà Hiệp nghe trong trạng thái mơ màng nửa tỉnh nửa mê.

Bảy ngày sau Hiệp mới hoàn toàn nhận biết đang ở Quân Y Viện Pleiku. Vừa mở mắt thấy Ngọc ngồi cạnh giường mặt bơ phờ, đáp lại thái độ vồ vập nghẹn ngào gọi tên mình, Hiệp nhắm mắt im lặng, cố nhớ những gì đã xảy ra.

Chiều hôm đó Đại úy Kha cùng vợ vào thăm, sau khi yêu cầu tất cả ra ngoài. Hiệp cố gắng tóm tắt những thông tin về Ngọc, nhờ Kha vận động để mình được chuyển về Tổng Y Viện Cộng Hòa trong thời hạn sớm nhất. Đại úy Kha đồng ý và ủng hộ hướng giải quyết của Hiệp. Hôm sau có chuyến bay Hiệp được chuyển về Tổng Y Viện Cộng Hòa.

Tiếng khóc của mẹ làm Hiệp cảm giác xót buốt như nhát dao cắt vào từng đoạn ruột. Bên mẹ Hiệp thấy bớt cô đơn, suốt ngày loay hoay chăm sóc rửa lau, an ủi nói chuyện để Hiệp khuây khỏa nỗi buồn.

Ngọc đến Tổng Y Viện Cộng Hòa ba lần với dáng vẻ tiều tụy. Hiệp nói với Ngọc mình tàn phế nên không muốn cô bị ràng buộc vào đời một phế nhân, và xin lỗi là lâu nay mình đã lừa dối chứ không yêu thương gì! Bao nhiêu nước mắt của Ngọc cũng không làm Hiệp lay chuyển.

Từ đó tuần nào cũng có một lá thư của Ngọc từ Pleiku, lá thư đầu tiên đến lá cuối cùng Hiệp chưa bao giờ mở ra, cũng không cần biết nàng viết những gì cứ bảo mẹ đốt bỏ.

Tình hình chiến sự diễn biến mau lẹ sau khi mất Phước Long, rồi Quân Đoàn Hai rút bỏ Pleiku, Quân Khu Một di tản, những tin tức xấu từ các chiến trường cứ dồn dập bay về.

Thế rồi khi hai chân còn rỉ máu, những vết mổ chưa liền da, chưa tự ngồi dậy được, thì biến cố 30 tháng 4.

Có mặt ở Tổng Y Viện nên Hiệp tận mắt chứng kiến số phận bi thảm của anh em thương binh Việt Nam Cộng Hòa trước sự tàn nhẫn vô độ của quân Việt Cộng.

Một bọn người nón cối dép râu ăn bận luộm thuộm, mặt mày hung dữ đằng đằng sát khí xông vào, súng AK đạn lên nòng gắn lưỡi lê chĩa vào những người thương binh đang nằm trên giường, đập đánh chửi rủa xua đuổi bằng lời thô tục đầy hận thù. Những người thương binh què cụt, bông băng đỏ ối máu tươi, xương tay chân còn bó nẹp không tự mình ngồi dậy được đã bị đạp rơi xuống sàn nhà mà không dám kêu la. Bao nhiêu người không thể tự mình rời khỏi giường, bị báng súng nện vào lưng, có người phản ứng lại bị đánh tới tấp bằng gậy, bằng bất cứ vật gì chúng vớ được chung quanh.

Máu căm hờn dâng lên đỉnh đầu. Hiệp cắn răng nghe nhịp tim dồn dập, đầu óc quay mòng mòng mồ hôi toát ra và hai tay run rẩy không còn tự chủ. Khó khăn lắm mẹ mới xốc Hiệp lên chiếc xe lăn hối hả đẩy ra sân. Trước mắt Hiệp kẻ lết người bò, kẻ xe lăn người chống nạng, có người một tay đỡ đùm ruột trong bao nilon, một tay cầm bịch máu thất thểu mặt còn nhăn nhó đớn đau. Một dòng người què quặt, máu me lang thang trên đường vật vờ như những bóng ma.

Cuộc chiến ghê gớm nhất hai mươi năm chấm dứt một cách dễ dàng, kẻ chiến thắng cũng ngỡ ngàng, người chiến bại thì vẫn không tin là sự thật. Sau những hối hả ngược xuôi tìm đường trốn chạy, ngày 30 tháng 4 đi qua. Sài Gòn là một thành phố chết, phố xá đóng cửa, nhìn đâu cũng toàn màu đỏ của cờ xí, biểu ngữ. Mọi sinh hoạt đều ngưng đọng đợi chờ chính sách của người “chủ” mới. Không khí khủng bố chết chóc bao trùm xuống miền Nam. Mọi sinh hoạt của Sài Gòn bị tê liệt.

Phe chiến thắng chia nhau chiến lợi phẩm, họ chiếm đoạt những kho tàng, nhà máy. Những người lạ từ đâu dọn vào các biệt thự, nhà phố. Từng đoàn xe nối đuôi hướng về phương bắc chất đầy máy móc hàng hóa.

Hai mẹ con về tá túc nhà cậu Ba ở Tân Bình. Hiệp nằm vùi trên giường như người đã chết, không cần biết những gì đang xảy ra chung quanh. Thiếu thuốc, mẹ rửa bằng nước muối hai vết cắt ở chân làm độc đau nhức, nhưng cái đau của thân xác không sánh bằng cảm giác tả tơi xót buốt như dao cắt bởi tuyệt vọng. Hiệp như rơi xuống một hố thẳm không đáy chẳng biết bám vào đâu?

Những khi thức giấc thực tế hiển hiện như một cơn ác mộng hãi hùng, Hiệp kinh hoàng nhận ra rằng đang đối diện với sự thật. Quốc Gia không còn, Việt Cộng đã thắng, lịch sử đã sang trang. Mình là kẻ chiến bại, một niềm đau đớn dâng lên ngập lòng, mắt cay cay như ai thổi muối ớt vào mặt. Hình ảnh bao anh em đồng đội ngã gục chết tức tưởi hôm nào lại trở về trong tâm tưởng, những người lính đã hiến thân để xây nên một huyền sử não nùng! Bây giờ có giọt nước mắt nào rơi xuống tiếc thương cho người lính hay không? Hiệp nhớ những đồng đội đã nằm lại chiến trường, những anh em Đại Đội Trinh Sát của mình đã chết trong những trận đánh dành từng ngọn đồi. Nhớ bao người lính đã gục xuống để chiếm lại từng tấc đất nơi những địa danh đã đi vào quân sử: Dakto, Tân Cảnh, Đức Lập, Kiến Đức, Pleime… Xương máu nào đã đổ xuống đem sự yên vui cho mọi người, cho một đất nước đầy tai ương? Bạn bè bao nhiêu người còn sống? Bao nhiêu người đã chết, hy sinh trong cuộc chiến giờ này linh hồn họ có tủi hờn gì không?

Những ý nghĩ cứ liên tục hiện ra trong tâm tưởng, như ngọn đèn dầu bùng lên chút ánh sáng cuối cùng trước khi phụt tắt. Một luồng máu nóng lan ra khắp đỉnh đầu, tim thắt lại, mắt hoa lên trong giây phút nghiệt ngã tận cùng. Hiệp thở dài: Ngày đã đi qua, bóng đêm đang tới. Lịch sử đã sang trang.

Nước mất nhà tan, chú Hiếu bị bắt và đưa đi mất tích như số phận của hàng trăm người ở quê nhà. Năm 1979 mẹ qua đời sau cơn bạo bệnh mà không có thuốc men. Hiệp bơ vơ.

Chính quyền “cách mạng” lùa dân Sài Gòn đi kinh tế mới. Ngày nào cũng có người đến gõ cửa. Từng lớp người bị đưa lên rừng phá rẫy tìm đất canh tác.

Cậu Ba có miếng đất gần làng đại học cũ ở Thủ Đức, thằng Tâm con lớn của cậu rủ anh Hiệp ra đó làm nghề chăn nuôi. Hiệp theo nó tìm đường sống. Làm thời gian thấy chân cẳng di chuyển khó khăn không giúp được gì cho em. Sau nhiều đêm suy nghĩ thế là Hiệp thành anh thợ sửa xe.

Từ hôm gặp lại Hiệp, tôi ghé lại đến 10 giờ đêm mới về tới nhà. Hai đứa có nhiều chuyện để nói: chuyện xưa, chuyện nay, chuyện bạn bè, chuyện học hành, chuyện lính tráng trận mạc, chuyện đứa chết, chuyện thằng sống.

Hiệp nói một người bà con ở Quảng Ngãi vào ghé thăm cho biết thông tin về cô giáo Ngọc: “Sau tháng tư 1975, cha cô Ngọc xuất hiện làm cán bộ lớn, và với lệnh của ông hàng trăm viên chức địa phương chế độ cũ, một số đã bị hành quyết, một số bắt đi đến nay không thấy trở về. Ngọc được cha đưa lên làm cán bộ giáo dục ở tỉnh nhưng cô từ chối. Và nghe nói cô giáo Ngọc tuy có được móc nối nhưng không nhận công tác nào như suy đoán trước đây”

Sau 30 tháng 4 năm 1975, Ngọc ra Quảng Ngãi thấy nhà mẹ Hiệp đóng cửa, người láng giềng cho hay bà đã vào Sài Gòn trước ngày “giải phóng” nuôi con trai bị thương chưa về. Cô hỏi địa chỉ của Hiệp ở Sài Gòn nhưng không ai biết. Sau đó Ngọc vào Sài Gòn nhờ người quen dò tìm tin tức Hiệp cả tháng trời nhưng không kết quả. Thất vọng về lại Quảng Ngãi cô bệnh nặng, hình hài tiều tụy thần sắc bơ phờ như người mất trí. Chuyện cô giáo Ngọc con gia đình “cách mạng” thất tình anh Đại Úy Biệt Động Quân được người ta xầm xì bàn tán. Cha cô nổi trận lôi đình chống đối quyết liệt, lên án con gái ăn phải bơ thừa sữa cặn của đế quốc, bị tay sai “Mỹ Ngụy” đầu độc quyến rũ, chống phá “cách mạng” và đòi đưa cô đi tù.

Ngọc không còn đi dạy, năm 1976 cô bỏ nhà đi tu trong một ngôi chùa ở Đà Lạt. Chuyện cô vào chùa cũng làm ông giận dữ trong một thời gian dài. Sau đó nghe nói chuyện gia đình cũng không vui vẻ gì vì ông đã có vợ con ngoài Bắc trước khi hồi kết.

Tôi hỏi: “Vậy ông có hối hận gì không?”. Hiệp nhìn tôi cười chua chát: “Không lẽ tao kêu một tên Việt Cộng bằng cha?”

Nhìn Hiệp xoay trở trên cái đòn ghế cặm cụi cào vá, đục gõ, hai bàn tay đen thui dầu nhớt, mồ hôi ròng ròng lòng tôi dâng lên nỗi buồn, dù bản thân tôi cũng đang làm một thằng cu ly hạng bét, tôi nói cảm nghĩ đó ra, nó cười: “Mày nhớ câu thơ của Lý Bạch không?… “Xứ thế nhược đại mộng!… cuộc đời là một giấc mộng lớn mà”.

Từ khi gặp lại cùng chung tâm trạng nên hai đứa tôi càng thương quý nhau, những suy nghĩ vui buồn đều san sẻ. Mỗi khi ghé lại tôi bơm hơi thử ruột, cào vá cho khách, làm những việc gì có thể, trong khi nó loay hoay siết vặn đục gõ. Vài ba hôm Hiệp lôi xe tôi vào tu sửa, vặn ốc, bỏ mỡ nhỏ dầu rồi nói: “Mày đi xa chở nặng xe mau hư, tiền lời không đủ sửa đâu!”, Hiệp góp ý nên tìm việc khác.

Công việc chở đậu của tôi cũng thưa dần vì đuối sức. Thật ra tôi đã nản ngay từ đầu vì đường xa mà lời thì ít quá, lại thêm chân cẳng rã rời. Rồi chuyện xui xảy đến làm tôi chán và bỏ cuộc:

Một hôm, sau khi bán đậu xong tôi nghĩ lâu nay mình trung thành một chỗ biết đâu họ ém giá? Tìm thêm nơi khác xem sao? Quả đúng vậy cách ba căn người ta chịu mua hơn mỗi ký hai hào (lâu quá nhớ không chính xác) nghe vậy tôi rất mừng và tự trách mình “ngu” nên lâu nay bị thiệt, vì với tôi lúc đó một hào bạc cũng rất quý. Hôm sau ghé lại tôi khoe, Hiệp mừng còn trách: “mày là thằng khờ” lại còn biểu tôi hôm nay phải đi tìm thêm biết đâu có nơi giá cao hơn nữa.

Tôi về đến cầu Balicao 8 giờ tối đi thẳng đến địa điểm mới, năm thằng choai choai ùa vào, nó kéo tôi tận sau nhà miệng tía lia: “Nhanh lên, nhanh lên quản lý thị trường kìa”. Đèn điện lờ mờ, năm thằng mỗi đứa một bao giấy tranh nhau xúc, linh tính tôi thấy không bình thường, quả đúng vậy cân lên 5 bịch chỉ còn 45 ký, đương nhiên là tôi không đồng ý, và khẳng định bao đậu 50 ký chưa bao giờ thiếu. Lập tức tôi bị một thằng giật cổ áo, thằng dí tay vào mặt chửi lời tục tĩu: “ĐM mày nói tụi tao lấy hả? ĐM tao dzớt thấy con đĩ mẹ mày……” Cả bọn ào tới đòi đánh, biết gặp bọn bất lương tôi điếng người sợ toát mồ hôi, khi đổ lại vào bao, lưng xuống một đoạn xa không đầy như ban đầu, nhưng tôi không dám nói, lo đẩy đi càng nhanh càng tốt. Tôi quay lại chỗ cũ, ông chủ vựa hỏi sao chỉ 45 kg? Tôi nói do vựa hết đậu.

Mất 5 kg đậu coi như tôi đi cả tháng không có đồng nào! Buồn quá nghỉ vài hôm, tôi đạp xe ra kể chuyện với Hiệp. Nó tiếc nhưng không nhịn được cười còn chê tôi “khờ”. Hôm đó ở lại phụ Hiệp và cho biết ý định ngày mai tôi đi Long Thành tìm người quen, nếu ở được sẽ thay đổi.

Thế rồi hoàn cảnh đẩy đưa tôi quyết định ra Long Thành làm rẫy. Nơi tôi đến là trong rừng sâu cách xa đường lộ 15 cây số. Trước hôm rời Sài Gòn tôi đạp xe ra chơi với Hiệp một ngày. Nó buồn lắm, gần trưa Hiệp lên xe lăn đi một lúc trở về với một bịch nhỏ thịt gà và một xị rượu đế. Mọi hôm cơm trưa chỉ mắm làm chuẩn hôm nay bày đặc, tôi phàn nàn: “Ông làm gì vậy?”. Nó buồn buồn “Mày đi ra Long Thành tới chỗ xa xôi heo hút như vậy biết bao giờ gặp lại, xem như bữa cơm chia tay”. Có cái gì chận nghẹn nơi cổ, tôi quay mặt ra đường nước mắt trào ra.

Hai đứa tôi uống chung bằng cái ca nhựa, tôi uống ít nhưng cũng đủ lâng lâng bồng bềnh. Có hơi men cảm xúc tự do tuôn trào đứa nào cũng ràn rụa nước mắt. Tôi và Hiệp vừa bạn học, tình chiến hữu còn gặp nhau ở lý tưởng, và có cùng hoài bảo giống nhau, nhưng chúng tôi đã không phùng thời. Rồi thời thế đẩy đến đường cùng, đứa nào cũng te tua bị nhận chìm xuống tận đáy vực của lớp người cùng khổ nên hiểu và thương quý nhau.

Giọng Hiệp lè nhè: “Thà đừng gặp lại mày, cứ để tao cô độc như lâu nay. Tao sống như đã chết từ lâu rồi… Từ ngày có mày tao vui, mày đi rồi biết nói chuyện với ai?” rồi Hiệp khóc tôi cũng nghẹn ngào.

Lúc chia tay Hiệp nhắc lại: “Chân cẳng tao vầy không đi thăm mày được đâu, cố gắng lên thăm tao”. Hai đứa nắm tay nhau bịn rịn.

Tôi đạp xe một đoạn, ngoảnh lại thấy Hiệp ngồi trên xe lăn đang leo lên lề đường nhìn theo. Tôi nhấn mạnh bàn đạp mà nước mắt quanh tròng, nghe thương Hiệp nhiều quá!

Sáng hôm sau trên chiếc xe than đi Long Thành khi chạy ngang qua chỗ Hiệp, tôi đưa cánh tay ra vẫy nhưng Hiệp đang cặm cụi làm.

Tôi loay hoay cuộc sống mới trong xó rừng ở Long Thành, phương tiện liên lạc khó khăn. Nhà của Tâm trong làng Đại Học nơi mỗi đêm Hiệp về tá túc thì hẻo lánh không có địa chỉ nên cũng không thư từ.

Hơn một năm sau có việc đi Sài Gòn tôi ghé lại thăm, Hiệp mừng quá. Vẫn qua ngày bằng nghề sửa xe, vẫn nỗi khắc khoải ngày nào! Hiệp cho biết một số bạn bè ra tù đã tìm đến thăm, gặp lại bạn cũ cũng bớt buồn. Thằng nào cũng xác xơ đói rách, người đạp xích lô, kẻ chạy ba gác. Hiệp báo một tin quan trọng: “Thằng bạn thân cùng khóa Võ Bị Đà Lạt vừa ra tù tổ chức vượt biên giúp tao, dự trù sẽ đi vào cuối năm… thôi thì một liều ba bảy cũng liều… còn gì để mất? Nếu may còn sống tao sẽ tiếp tục đi học, không may bỏ mình trên biển thì cứ xem như một lần ra trận… mà mình cũng đã chết từ lâu rồi!”. Hiệp tiếp: “Mày yên trí tao sẽ không chọn ở Mỹ đâu!”. (hai đứa tôi cùng lập trường không ưa Mỹ). Tôi mừng và cầu mong chuyến đi thành công để Hiệp thoát thảm cảnh hiện tại.

Tôi tiếp tục cuộc sống trong rẫy Long Thành một thời gian, rồi chuyển đi Phước Tuy, lại thay đổi chỗ ở liên miên. Tháng 6 năm 1983 tôi lên thăm Hiệp thấy không còn căn lều, nền đất cỏ mọc um tùm. Tôi vào nhà Tâm nơi Hiệp tá túc hỏi thăm. Tâm buồn bã báo tin: “Anh Hiệp vượt biên nhưng đã chết trên biển rồi anh”. Tôi rụng rời kêu lên: “Trời!”

Tâm nói: “Ghe xuất bến ở Lam Sơn hôm 10 tháng giêng, chính em đưa “ảnh” đến nơi. Ghe đi được năm ngày thì chết máy, trôi trên biển nửa tháng, bị hải tặc cướp mấy lần, sau cùng ghe bị đâm chìm tất cả đàn ông đều chết, đàn bà con gái bị bắt đi, hãm hiếp rồi nhốt trên đảo hoang, sau được Cao Ủy Tị Nạn cứu. Em có bốn người bà con đi cùng chuyến nhưng chỉ còn sống một người nữ”. Ngưng một lát Tâm tiếp: “Anh Đại úy bạn giúp cho anh Hiệp cũng chết, chị vợ bị hải tặc bắt, hai anh chị mới lấy nhau có một tháng, vào trại tị nạn chị ấy bị điên… Tội quá anh à! Tự do chưa thấy mà tan nát cả.

Nhìn thùng đồ nghề quen thuộc của Hiệp trong góc nhà tim tôi se thắt, đồ đạc còn đây mà người thì không còn nữa. Hiệp hiện lên, tôi úp mặt vào lòng bàn tay gục xuống bàn, không kềm được tiếng khóc: “Hiệp ơi!”

Tôi thất thểu ra về như kẻ mất hồn, cảnh vật chung quanh nhạt nhòa. Đứng trước nơi hai đứa đã ngồi sửa xe, bây giờ chỉ còn mình tôi mà Hiệp thì đang vất vưởng nơi nào? Linh hồn anh đã về với quê mẹ hay còn vật vờ ngoài đại dương nơi trùng trùng sóng gió? Hay anh đã bay về gặp lại bạn bè đồng đội nơi chiến trường xưa?: Tân Cảnh, Dakto, Benhet, Kiến Đức, Pleime…. những địa danh mà đồng đội anh đã chọn làm nơi an nghỉ cuối cùng. Họ nằm xuống để mong ngày quê hương thanh bình và hồi sinh.

Tôi ngồi viết những dòng này đã 32 năm từ ngày Hiệp ra đi và 40 năm ngày Việt Nam Cộng Hòa không còn nữa. Cho dù cuộc chiến đã đi qua, và cũng đang dần chìm vào quên lãng theo dòng chảy của thời gian. Nhưng đối với những người lính như chúng tôi đã từng chiến đấu để bảo vệ phần đất tự do. Đã vào sinh ra tử trên các chiến trường, thì đó là một vết thương khó chữa lành, sẽ mãi mãi âm ỉ một niềm đau không nguôi. Biết bao đồng đội bạn bè đã ra đi vĩnh viễn, nằm lại chiến trường! Biết bao người tàn phế đang sống cuộc đời còn lại trong tận cùng đau thương, khốn cùng và tủi nhục!

Cái quy luật chiến tranh đã vạch nên biên giới “kẻ thắng” và “người bại”, nên những đứa con bất hạnh của Mẹ Việt Nam đã nhận chịu tất cả những đắng cay phũ phàng, nhận chịu cái vô tình và tàn nhẫn, bạc bẽo như dòng nước lũ cuốn phăng ra biển những huyền thoại về người lính mang tên Việt Nam Cộng Hòa. Trong đó có người bạn đáng thương của tôi: Trần Quang Hiệp.

Hiệp ơi! Bài viết này là một nén nhang lòng gởi đến anh, người bạn của tôi, một tài năng hiếm có, mà một thời biết bao anh em từng cúi đầu ngưỡng mộ. Anh đã gắn đời mình vào binh nghiệp và chấp nhận những thiệt thòi đau thương khi tuổi đời còn rất trẻ như tất cả bạn bè thế hệ chúng ta. Tôi chúc anh được yên nghỉ dù rằng yên nghỉ trong cay đắng muộn phiền. Cầu xin linh hồn anh được trở về trên đất mẹ nơi đó có bạn bè chiến hữu, có mồ mả anh em những người đã cùng anh một thời đem xương máu mình tô thắm cho tự do của quê hương.

Gần nửa thế kỷ đi qua, mỗi lần ngang qua chốn cũ, nhìn lại nơi bọn mình ngồi sửa xe, dù dấu tích không còn, nhưng lòng tôi vẫn quặn thắt một nỗi đau khi nghĩ đến anh, nước mắt tôi doanh tròng, buồn… và nhớ nhiều lắm Hiệp ơi…!!!

Lưu Hoàng Kỳ

Posted on October 22, 2021 by Lê Thy

Nguồn: https://baovecovang2012.wordpress.com/2021/10/22/ban-toi-dai-uy-tran-quang-hiep-luu-hoang-ky/

NHỮNG GIÒNG CUỐI CHO “NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ”

27/10/2021Pham

Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng
October 22, 2021

Mùa Đông năm 1976, chúng tôi bay sang London, Anh, để thăm ông bà cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trước khi đi, chúng tôi viết thư cho ông biết ngày giờ tới phi trường Heathrow và số chuyến bay. Ông trả lời là sẽ có người ra đón. Tới nơi thì vừa ra cửa đã thấy ông đứng ngay ở đó vẫy tay chào. Thật là cảm động gặp lại ông sau hơn một năm trời và sau bao nhiêu biến cố.

Sau khi bắt tay nhau thật chặt và trao đổi mấy lời thăm hỏi, ông tự lái xe đưa chúng tôi về nhà. Đây là một căn nhà nho nhỏ, xinh xinh nằm ở vùng Surrey, ngoại ô London. Một cái bảng treo trên cửa với mấy chữ khá lớn “The White House.” Chúng tôi hỏi ông là bảng này vẫn có từ trước hay ông treo vào? Ông nói villa bên này hay mang tên cho dễ nhận, và cái bảng này là của chủ cũ để lại. Ông tự tay xách giúp cái valise và đưa chúng tôi lên một phòng trên lầu hai, vặn hộp sưởi điện cho ấm, rồi dặn là nếu thấy vẫn còn lạnh thì cứ vặn thêm cái hộp sưởi thứ hai.

Buổi chiều hôm ấy ông nói nên đi ngủ sớm cho đỡ mệt sau chuyến bay dài từ Washington, DC và nói là sáng hôm sau thì cứ thủng thẳng lúc nào dậy cũng được.

Sáng hôm sau, từ trên tầng thứ hai xuống nhà, chúng tôi thấy ông đang đọc báo. Còn bà thì loay hoay trong bếp. Chỉ mấy phút sau đã thấy hai tô hủ tiếu đúng hương vị miền Nam và cà phê thơm phức bày trên bàn. Bà Thiệu là người Mỹ Tho mà hủ tiếu Mỹ Tho thì ngon có tiếng.

Bà mời chúng tôi tới ăn cho nóng. Khi hỏi sao bà không cùng ăn thì bà nói: “Tôi ăn rồi, để cho hai ông dễ nói chuyện.” Câu nói giản dị nhưng phản ảnh thật rõ cái lối sống của bà trong suốt thời gian 10 năm ông là người lãnh đạo của VNCH. Chúng tôi không biết nhiều nhưng có cảm tưởng là bà luôn luôn xa cách, không xen vào chính trị, vào những công việc của ông, chỉ đứng sau để lo cho gia đình và tham gia vào công việc xã hội. Trong thời gian chúng tôi làm việc ở Dinh Độc Lập thì ít khi thấy bà xuất hiện, kể cả khi Tổng Thống Thiệu tiếp khách xã giao ngoại quốc.

Ngồi xuống bàn ăn buổi sáng hôm ấy, thấy ông hết còn căng thẳng như những buổi ăn sáng hồi Tháng Ba, Tháng Tư năm trước. Chỉ hơn một năm không gặp mà thấy ông cũng có phần già đi, tuy phong độ vẫn còn chững chạc như ngày còn tại chức. Còn bà thì hầu như không thay đổi. Vẫn trẻ trung, vẫn dịu dàng, nồng ấm.

Lưu lại nhà ông bà cả tuần lễ, chúng tôi bắt đầu bằng những câu chuyện vui vui về các món ăn bên Anh, bên Mỹ, nhiều khi không hợp khẩu vị. “Tổng thống còn nhớ cái món ‘pín voi hầm thuốc bắc’ không,” tôi hỏi. Ông hỏi lại là tôi ăn món ấy bao giờ? Khi tôi nhắc là ăn trong bữa tiệc mừng sinh nhật của ông cuối năm 1974 gần ven sông Sài Gòn, ông nhớ ngay và phá ra cười: “Ừ thì họ nói là pín voi chứ tôi cũng chẳng biết là pín gì.”

Trong bữa cơm chiều, bà Thiệu cho ăn canh chua, cá kho tộ. Năm 1976 thì ở London cũng chưa có chợ búa Việt Nam nên bà phải cố gắng thì mới có được gia vị để nấu ăn. Hình như là phải nhờ người từ bên Pháp gửi sang. Bà nói ông thích ăn canh chua nấu với lá me non như mẹ ông thường nấu ở Phan Rang, nhưng “làm sao tôi tìm được lá me non ở bên Anh.” Để làm cho ông vui, tôi gợi ý nói đến một đề tài mà ông rất ưa thích: hải sản, làng chài và ngư nghiệp ở Việt Nam. Ông kể lại những kỷ niệm đi câu cá ở sông Sài Gòn và đôi khi câu được cả cá thu ở ngoài Côn Sơn.

Bệnh viện Vì Dân

Còn bà thì hay nói đến bệnh viện Vì Dân. Đối với bà thì đây là một niềm vui lớn và nó còn ghi dấu ấn trong tâm trí. Đây cũng là một di sản quý hóa mà bà để lại cho người dân, nhất là những người nghèo. Chúng tôi đã có dịp tới thăm nhà thương này và thấy nó được xây cất theo tiêu chuẩn quốc tế, được trang bị rất hiện đại, với 400 giường bệnh. Người khám bệnh và chữa bệnh luôn được miễn phí. Các bác sĩ, y sĩ, y tá được chọn lọc cẩn thận. Ngoài ra, lại còn những sinh viên y, dược, xung phong làm việc từ thiện.

Bà kể là sở dĩ nảy ra ý muốn xây một bệnh viện là vì bà hay vào nhà thương Chợ Rẫy thăm bệnh nhân. Nhiều khi thấy hai người phải chen chúc nhau nằm trên một cái giường nhỏ, làm bà hết sức mủi lòng. Vì vậy, ba bỏ ra nhiều công sức đi vận động để xây nhà thương như là một bước đầu để cải thiện nền y tế Việt Nam.

Tài trợ cho bệnh viện này hoàn toàn không dính dáng gì đến ngân sách quốc gia mà do sự đóng góp của những cơ quan từ thiện, những người có lòng hảo tâm trong nước cũng như ngoại giao đoàn. Bà nói tới sự đóng góp đặc biệt của bốn tòa tòa đại sứ Đài Loan, Nam Hàn, Nhật, và Hòa Lan. Bà đi vận động xây nhà thương là do sự đam mê công tác xã hội, hoàn toàn không có mục đích chính trị như một số người đồn thổi.

Ném bom Dinh Độc Lập.

Nói tới chính trị, có một biến cố làm bà rúng động và còn nhớ mãi. Đó là vụ ném bom Dinh Độc Lập ngày 8 Tháng Tư, 1975 do một phi công VNCH nổi loạn thực hiện. Một trong hai quả bom thật to chọc thủng bãi trực thăng trên nóc dinh, lọt xuống rồi nổ tung. Ông Thiệu vừa ngồi xuống ăn sáng ở một bàn nhỏ ở ngoài hành lang, lấy đôi đũa gắp sợi bánh đầu tiên trong bát phở nóng thì cận vệ vội tới đưa ông vào ngay thang máy để xuống lầu hầm. Bà Thiệu kể lại là ngay chỗ gần thang máy, một quả bom “dài thòng” rơi sát bên nhưng không nổ. Đầu Tháng Tư là thời gian có nhiều chống đối từ mọi phía đòi ông Thiệu phải từ chức. Ông vẫn bình tĩnh, chỉ hơi cáu kỉnh khi nghe báo cáo về một số quý vị thuộc đảng Dân Chủ “thân chính” tại Quốc Hội quay lại chống ông.

Về biến cố ngày hôm ấy, bà kể là trái bom rơi trúng ngay chỗ mỏng nhất của bãi trực thăng. Mùi khét tỏa ra khắp nơi khi những tấm thảm dầy bốc cháy dữ dội. Lúc ấy bà bị kẹt cứng trong cái phòng của gia đình “vì cháu bé người làm đang lo sắp xếp quần áo đã sợ quýnh lên, tay run lẩy bẩy, không tìm và mở được cái khóa vào cầu thang.” Một lúc sau mới có sĩ quan đến giúp bà xuống hầm trú ẩn. Khói bay lên nghi ngút làm bà như ngạt thở.

“Ông già định ở lại”

Chưa tới hai tuần sau vụ ném bom, ngày 20 Tháng Tư, 1975, Đại Sứ Graham Martin của Mỹ, theo chỉ thị của Ngoại Trưởng Henry Kissinger, tới Dinh Độc Lập thuyết phục ông Thiệu từ chức (với kế hoạch là để Đại Tướng Dương Văn Minh lên thay) và nói: “Nếu ông không chịu từ chức thì các tướng lãnh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông làm điều này.”

Ông Thiệu hỏi ông Martin: “Nếu tôi từ chức thì liệu viện trợ có đến hay không?”
Ông Martin trả lời: “Tôi không dám hứa nhưng cũng có thể.”

Ông Thiệu kể lại rằng ngày hôm sau, ông mời các tướng lãnh đến Dinh Độc Lập. Trong buổi họp, ông cho họ biết về những chuyện Đại Sứ Martin đề cập tới. Ông Thiệu nói nếu các tướng lãnh coi ông như một chướng ngại vật cho hoà bình của đất nước thì ông sẽ từ chức. Không ai phát biểu gì hết. “Thế là đã rõ họ không muốn tôi ngồi lại ghế tổng thống nữa, cho nên tôi tuyên bố từ chức để Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay, theo đúng Hiến Pháp.”

Chiều ngày 22 Tháng Tư, 1975, ôngThiệu lên TV tuyên bố từ chức. Với tâm tư thật cay đắng, ông tố cáo Hoa Kỳ đã thất ước, đã phản bội VNCH, và nói các ông đã cắt hết quân viện, “để chiến sĩ của chúng tôi chết đuối dưới làn mưa đạn của địch. Đó là một hành động vô nhân đạo.”

Trong bài diễn văn từ chức, ông nói sẽ cùng với nhân dân và quân đội chiến đấu, và tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ. Vậy tại sao ông lại ra đi?

Nhiều anh em chiến sĩ và đồng hương vẫn còn đặt vấn đề “ông Thiệu đào ngũ” cho nên  chúng tôi đã viết chi tiết về bối cảnh lịch sử của việc Tổng Thống Thiệu ra đi (sách Tâm Tư Tổng Thống Thiệu, Chương 18). Ông ra đi ngày 25 Tháng Tư là vì chính tân Tổng Thống Trần Văn Hương đã làm áp lực, yêu cầu ông phải ra đi. Ông Thomas Polgar (giám đốc CIA ở Sài Gòn) cũng thuật lại là Tổng Thống Hương gọi cho ông Thiệu khuyên ông sớm rời khỏi Việt Nam, vì “nếu không, Cộng Sản sẽ nói tôi đang điều khiển một chính phủ Thiệu không Thiệu.” Về phía Đại Tướng Dương Văn Minh thì lúc ấy chưa lên tổng thống, cũng muốn ông Thiệu phải ra đi. Trong cuốn “Decent Interval,” tác giả Frank Snepp (nhân viên cao cấp của CIA ở Sài Gòn) viết lại (trang 435): “Ông Minh yêu cầu tướng Charles Timmes là người của CIA phải làm cách nào để ông Thiệu đi lưu đầy (He asked the CIA’s Timmes to see to it that Thiêu was sent into exile).”

Nhân tiện có một cơ hội: Tổng thống Đài Loan là ông Tưởng Giới Thạch vừa qua đời. Tổng Thống Hương liền viết sắc lệnh: “Nay đề cử cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm đại diện tổng thống VNCH đến Đài Bắc để phân ưu cùng chánh phủ và nhân dân Trung Hoa Dân Quốc nhân dịp Tổng Thống Tưởng Giới Thạch tạ thế…” Bản văn do Đại Tá Cầm viết tay. May mắn là Thiếu Tá Nguyễn Tấn Phận (một người trong đoàn tùy tùng đi theo cựu Tổng Thống Thiệu) còn giữ được một bản sao của sắc lệnh này.

***

Chỉ ba tuần trước đây, ngày 26 Tháng Chín, khi viết một đôi lời về cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nhân dịp lễ giỗ lần thứ 20 của ông, chúng tôi có nói: “Rất tiếc rằng vì lý do sức khỏe, ngày hôm nay phu nhân Tổng Thống Thiệu không thể tới đây để dự buổi lễ tưởng niệm này. Trong cảnh về hưu cô đơn ở gần San Clemente, California, thỉnh thoảng chúng tôi có tới thăm bà.

Bà sống rất thanh đạm và một mình với một con chó, trong căn nhà nhỏ bé. Trong bếp chúng tôi thấy mì ăn liền Mama chất đầy từng đống. Bà nói cũng không buồn vì quen rồi. Quen từ lúc “ông già’ còn làm tổng thống.

Bà hay dùng hai chữ “ông già” để nói về người chồng. Có lần chúng tôi hỏi bà về ngày bà ra đi khỏi Sài Gòn, bà kể: “Ông già định ở lại.” Hỏi thêm thì bà nói: “Sau khi từ chức, ông già mặc cái quần xà lỏn và nói: ‘Mẹ con mày đi đi, tôi ở lại.’”

Chúng tôi chưa hề biết chuyên này nên hỏi thêm thì bà mới kể: “Ông già ngậm một cái cục gì ở trong hàm răng.” Chúng tôi giật mình, vì ý bà muốn nói là ông ngậm một loại thuốc độc mà điệp viên thường dùng để phòng hờ trường hợp phải đối đầu với tình huống bi cực nhất.

Dọn sang Mỹ sau khi ông Ronald Reagan lên ngôi

Ông bà Thiệu chọn nước Anh để lưu vong trong giai đoạn đầu. Chính phủ Anh cũng rất kính trọng đời sống riêng tư của ông và gia đình. Bà Thiệu kể lại là ngay từ khi tới London, chính phủ đối xử với gia đình ông bà rất chu đáo, lại còn cử một đại úy coi về an ninh để tiếp cận và yểm trợ, hướng dẫn ông cùng gia đình về đời sống xã hội trong thời gian tới trên một năm.

Gia đình chỉ dọn sang Mỹ dưới thời Tổng Thống Ronald Reagan. Bối cảnh là như thế này: Sau Hiệp Định Paris, Tổng Thống Richard Nixon mời ông Thiệu sang thăm Hoa Kỳ. Nhưng ông Nixon lại mời ông về tư dinh là Casa Pacifica ở San Clemente chứ không đón tiếp ông với tư cách là một vị quốc trưởng ở Washington, DC. Tiệc khoản đãi ông Thiệu ở Casa Pacifica chỉ vỏn vẹn có 12 người, kể cả chủ lẫn khách. Lý do đưa ra là “không đủ chỗ ngồi.” Điều yên ủi đối với ông Thiệu là thái độ và tình cảm của Thống Đốc Ronald Reagan lúc đó. Trước đó, ông Thiệu đã đón tiếp ông Reagan nồng hậu khi ông thăm viếng Sài Gòn. Nhân dịp này, ông có tặng ông Reagan một cặp ngà voi và nói đùa với ông: “Một ngày nào đó, ngài sẽ lên voi.”

Năm 1976, ông Reagan ra vận động làm ứng cử viên của đảng Cộng Hòa để tranh chức tổng thống, nhưng ông không được đảng chọn, và thua ông Gerald Ford dù rất ít phiếu. Vì uy tín của đảng Cộng Hòa xuống quá thấp trong thời Nixon và thời Ford, cho nên ông Jimmy Carter trúng cử. Dưới triều đại Carter, uy tín của Hoa Kỳ lại tiếp tục suy giảm hơn nữa, phần lớn vì thù địch đã coi thường nước Mỹ sau khi tháo chạy khỏi Việt Nam.

Sau cùng thì ông Reagan thắng trong cuộc bầu cử Tháng Mười Một, 1980. Ngày 20 Tháng Giêng, 1981, ông Reagan lên ngồi chắc trên lưng voi và lời tiên đoán của ông Thiệu đã đúng.

Ra đi sau biến cố 9/11

Ở Boston khi chớm Thu thì cũng đã bắt đầu lạnh. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ông bà Thiệu thành hôn, cháu Nguyễn Quang Lộc mời bố mẹ sang du lịch bên Hawaii. Vừa tới nơi vài hôm là biến cố 9/11 xảy ra. Bà Thiệu kể lại là ông rất “lo ra” khi thấy chiếc máy bay cất cánh ngay từ phi trường ở Boston (là nơi ông đang cư ngụ) rồi đâm vào Trung Tâm Thương Mại Quốc tế tại New York và một chiếc khác lại nhào vào Ngũ Giác Đài. Xúc động này ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe của ông.

Trong mấy năm ông bị bệnh tim, bà Thiệu phải lái xe chở ông vào nhà thương. “Tiếc rằng không còn bệnh viện Vì Dân để chị săn sóc cho ông già,” bà tâm sự. Bây giờ tuổi đã cao, bà phải lái xe ban đêm một mình trên xứ người, đi vòng vèo khá lâu mới tới bệnh viện. Bà kể có hôm mãi tới 1 giờ sáng mới về tới nhà. Lúc về lại phải đi tìm xe ở dưới cái hầm nhà thương tối lù mù nên bà còn sợ ma, có lúc phải đi giật lùi. “Thôi thì cũng còn tôi để lái xe cho ông tổng thống,” bà nói cho ông vui hôm sau trở lại nhà thương thăm ông. “Cám ơn bà,” ông Thiệu nhoẻn nụ cười đáp lại.

Sau vụ 9/11, ông rất muốn rời Hawaii để trở về Boston ngay, nhưng tất cả các máy bay đều án binh bất động, cả tuần sau mới về được. Về tới nhà thì bệnh ông thêm nặng. Thứ Năm, ngày 27 Tháng Chín, 2001, ông bị té xỉu, rồi hôn mê. Tại Trung Tâm Y Tế Beth Israel Deaconess, ông đi vào giấc ngủ ngàn thu chiều Thứ Bảy, 29 Tháng Chín, 2001.

Tổng Thống Thiệu ra đi chưa tới ba tuần sau biến cố 9/11. Trong một bài bình luận thật dài đăng trên mạng với tựa đề “Nguyễn Văn Thiệu và Cuộc Khủng Bố 11 Tháng Chín,” tác giả David Bennett bình luận: “Cái chết của ông Thiệu trong Tháng Chín vừa qua nêu lên một câu hỏi: Liệu Hoa Kỳ có quyết tâm để chiến thắng cuộc chiến chống khủng bố này (tại Afghanistan) hay không…và liệu Hoa Kỳ có nhất định giúp xây dựng lâu dài một quốc gia Afghanistan hay không?” Lúc ấy thì ở thế giới bên kia, ông Martinô Nguyễn Văn Thiệu đã có câu trả lời.

Sau khi ông mất, trong cảnh cô đơn giá lạnh ở Boston vào mùa Đông, chúng tôi cùng người bạn là Tiến Sĩ Tạ Văn Tài ở đại học Harvard University đến thăm bà. Bà sống đạm bạc, vẫn giữ nguyên bộ xa lông cũ kỹ nay đã sờn. Trên một cái bục cao bà để hình ông và một chai rượu xâm banh. Hỏi về chai rượu thì bà kể là cứ mỗi năm khi đến ngày kỷ niệm thành hôn của hai vợ chồng, ông mua một chai sâm banh, tự tay mở ra và mời bà uống với ông một ly, dù bà không biết uống rượu. Như vậy là bà muốn cùng ông giữ lại suốt đời cái kỷ niệm không bao giờ nhạt nhòa. Bà nói là người ta dèm pha là ông già với bà này cô kia, nhưng bà cũng chẳng để ý vì “tía đi rồi tía lại về.” Nghe vậy, anh bạn Tài phá ra cười, còn tôi thì lúc ấy cũng không hiểu tía là gì nên không cười. Thì ra con người bình dị, hiền hậu vùng đồng bằng Cửu Long còn khoan dung cả với người chồng.

***

Có lần ông Thiệu hỏi người Mỹ nghĩ thế nào về ông, chúng tôi nói về một hai khía cạnh: Khen có, chê có, rồi thêm: “Tôi nghe một tướng Mỹ nói là tổng thống nhu nhược.” Ông Thiệu hỏi tại sao? Tôi trả lời là ông ấy nói “Tổng thống không cương quyết đủ để ra lệnh tử hình khi cần thiết để làm gương.” Ông nhìn tôi giây lát rồi chậm rãi nói: “Suốt đời, tôi đã tránh không có cái nợ máu.

Xét ra thì trong suốt thời gian 10 năm ông lãnh đạo, thực sự đã không có tội nhân nào phải ra pháp trường. Trên bàn thờ nhà bà Thiệu ở Newton, Massachusetts, vẫn còn treo một cái bảng với phương châm do chính ông viết rồi cho người thêu chữ thật to “Đức Lưu Quang” (Ánh sáng của đạo đức tồn tại mãi). Bà luôn chỉ vào đó mà dạy con cái phải ăn ở cho có đức.

Nếu chúng ta tin rằng mọi việc trên cõi đời này đều do Trời an bài xếp đặt, thì Trời cũng phù hộ ông Thiệu trải qua nhiều nguy hiểm trong gần 10 năm chèo lái con thuyền miền Nam Việt Nam qua bao nhiêu sóng gió. Theo như những chuyện ông kể lại thì đếm ra cũng có tới sáu lần ông bị đe dọa làm ông cảnh giác về đảo chính. Như vậy thì Trời cũng đã giúp cho bà Thiệu không phải trở thành quả phụ của một tổng thống khi còn đương nhiệm.

Ngày 15 Tháng Mười, 2021, bà đã theo ông về thế giới bên kia. Ở đó thì “Cô Bảy Mỹ Tho” Nguyễn Thị Mai Anh sẽ mãi mãi được gần “Cậu Tám Phan Rang” Nguyễn Văn Thiệu. [đ.d.]

Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng

*

Cổ ngữ:
“Đức Lưu Quang” : Ánh sáng của đạo đức tồn tại mãi.

Nguồn: https://vietluan.com.au/58985/nhung-giong-cuoi-cho-nguoi-muon-nam-cu

Nước mắm là nước mắm – Vũ Thế Thành

Vũ Thế Thành

Tôi được giới thiệu một khách Ý tại một hội chợ cách nay vài năm. Cà phê chuyện vãn một hồi, ông bạn (trẻ) mới quen người Ý nói, nước mắm mà anh thấy ở hội chợ là có nguồn gốc từ Ý, có tên gọi là garum, cách nay cả hơn 2.000 năm.Và anh thao thao bất tuyệt về garum với vẻ tự hào. Nói rất bốc, nhưng khá bài bản với những gì tôi đã đọc về lịch sử garum ở châu Âu và Địa Trung Hải. Đợi cho anh ta xả hết máu tự hào, tôi hỏi:– Thế bạn có phân biệt được mắm và nước mắm không? (fermented fish and fish sauce). Same same– OK, vậy anh có phân biệt được fish sauce và nuoc-mam or Vietnamese fish sauce không?– Same same– OK, Vậy màu, mùi và vị của garum và nuoc-mam có same same không? (Are their color, smelling and tasting, and in all flavor same same?) .– Ngắc ngứ !Tôi nói, anh có biết để làm nuoc-mam, phải có tối thiểu cả 3 điều kiện:– Cá phải nhỏ để enzyme trong ruột cá “nhảy” ra khỏi ruột để phân giải protein thịt cá cho ra đạm amin tạo vị. Enzyme phải phân giải (disassociate) thịt cá càng sớm càng tốt để cạnh tranh với phản ứng phân hủy gây thối (decompostion). Mùi vị nước mắm sau thời gian ủ chượp 6-8 tháng mới thơm được.– Cá phải mập thịt mới phân giải ra nhiều đạm acid amin, vị nước mắm mới ngon được. Cá cơm (anchovy) và cá nục (Carangidae) ở vùng biển VN có cả 2 điều kiện trên.– Thời tiết phải nóng quanh năm, từ 35 – 40 độ C thì phản ứng lên men mới hoàn hảo được.Sao? Ý, châu Âu,.. có những điều kiện cá và thời tiết này không? Còn dịch (drip) rỉ ra từ cá và muối chỉ là cách bảo quản ngàn đời nay. Bạn lên miền Thượng, như vùng Tây Bắc, Đông Bắc… của Việt Nam để ăn thử món thịt trâu gác bếp ở đây xem có giống thịt xông khói của châu Âu không? Hay lại cho rằng dân Thượng nơi đây học cách làm thịt xông khói của Tây ?Khỏi cần thử tôi cũng biết mùi vị garum giống như tôi lấy bánh đa (rice-pancake) xúc ăn với Casu Marzu xứ bạn vậy. Casu Marzu là loại phó mát có giòi, đặc sản của Ý, có mùi rất…tàn bạo.Ướp muối hay xông khói là bản năng sinh tồn của nhân loại, nhằm bảo quản đồ ăn, chẳng ai học ai cả. Garum làm từ cá và muối. Nước mắm cũng làm từ cá và muối, nhưng garum không phải là nuoc-mam. Absolutely!Từ Garum đến nước mắm ViệtẨm thực phương Tây hiện đại đã bắt đầu dùng nước mắm như một loại gia vị để nêm nếm trong các món ăn. Nêm nếm thôi, chứ dùng như loại nước chấm (ăn sống) với món thịt luộc, cá lóc nướng trui… thì Tây chưa dám! Như thế cũng là hội nhập ẩm thực Tây – Ta lắm rồi. Sự hội nhập quốc tế này làm nảy sanh việc tranh giành nguồn gốc nước mắm, với nhiều tình tiết suy diễn ly kỳ.Garum là… garumChâu Âu cho rằng “nước mắm”, loại chất lỏng có được từ sự lên men muối và cá, đã có từ thời cổ Hy Lạp, thời đế quốc La Mã còn đang tung hoành, đại loại cách đây gần 2.500 năm. Họ có bằng chứng hẳn hòi chứ không nói khơi khơi. Dấu vết là những bình cổ mà họ cho là để đựng “nước mắm” được tìm thấy ở thành phố cổ Pompei (thuộc nước Ý ngày nay). Họ gọi thứ nước này là garum hay liquamen. Thật ra, garum không chỉ làm từ cá (không vẩy) mà còn từ nghêu sò vẹm… Và rồi, thứ nước thần thánh này theo con đường tơ lụa, truyền vào châu Á.Nói thế thì nghe có mùi… eurocentric (mọi thứ đều quy về châu Âu) quá! Chuyện đời đâu có đơn giản để hiểu, hễ thứ nước có được từ cá và muối đều gọi là nước mắm.Bảo quản là vấn nạn muôn đời của người thượng cổ, trung cổ, thậm chí cho tới thế kỷ 19. Nông sản có vụ, tôm cá có mùa. Chăn nuôi giết thịt heo bò, ăn không hết phải để dành. Để dành thì phải bảo quản, mà cách bảo quản sơ khai nhất là hun khói và muối. Châu Âu, châu Á, châu Phi… hay châu gì cũng thế. Bản năng sinh tồn dạy họ: Khói và muối, chứ chẳng ai truyền cho ai cả.Thuở ban đầu, nhân loại làm mắm để bảo quản tôm cua cá mực… Muối bất cứ loại thủy hải sản nào cũng đều cho ra mắm, nói nôm na là mắm cái, hay mắm nguyên con.Mắm là sản phẩm của quá trình lên men, khi mà một phần (chỉ một phần thôi) protein của thủy sản được phân giải (tạo vị), rồi làm cơ thịt của cá mềm ra và dịch lên men ứa ra từ cá. Đồng thời phản ứng phân hủy xảy ra cũng góp phần tạo ra mùi đặc trưng của mắm. Gọi là góp phần vì mùi mắm còn do tác động của vi khuẩn kỵ khí nữa.Dịch là thứ tinh túy từ cá. Tùy loại cá, tùy cách lên men, thứ dịch ít ỏi đó có khi lại thơm ngon (tùy khẩu vị) và quý hiếm. Hiện nay một số công ty Nhật vẫn tìm đến các cơ sở làm mắm cái ở miền Tây để mua thứ nước dịch này đem về chế biến lại.Cũng có tài liệu cho rằng, garum làm từ cá nhỏ, thêm ruột cá (?) và muối, rồi đem phơi nắng. Nước tạo thành là garum và chất sệt còn lại gọi là allex.Nước mắm là… nước mắmLàm nước mắm thì cá phải nhỏ, chỉ cỡ ngón tay trở lại. Sao vậy? Vì enzyme phân giải protein nằm trong ruột cá. Cá nhỏ thì enzyme từ ruột cá mới dễ thoát ra để hoạt động. Vì vậy, mức phân giải protein cao, nước mới ra nhiều (sản phẩm chính), và “mắm cá” chỉ còn là… xác bã. Rồi còn phải ủ chượp để có môi trường kỵ khí sanh hương.Làm nước mắm kiểu Việt Nam, thì nước mắm là sản phẩm chính, còn xác mắm hay bã mắm là sản phẩm phụ. Trước đây bã được đem làm phân bón, sau này vì lý do môi trường nên thành phế phẩm….Dịch “nước mắm” là “fish sauce” thì sượng lắm.
Thứ nước có được từ cá và muối, Tây cổ gọi là garum, Tàu gọi là ngư lộ, Nhật là gyoshō, Hàn Quốc là aekjeot, Philippine là patis… Còn tiếng Anh, gọi chung chung fish sauce.
Làm nước mắm công phu lắm, có khi mất cả năm hoặc hơn, hương nước mắm mới chín ngấu. Đó là chưa kể phải là nơi có khí hậu gần như nóng quanh năm và có nguồn cá thích hợp.
Châu Âu, Nhật – Hàn, Tàu là xứ lạnh, muốn lên men cá phải chượp ít muối. Ít muối thì sản phẩm mùi hăng, nặng lắm, do phản ứng phân hủy chiếm ưu thế.
Nhật – Hàn thường chỉ làm “nước mắm” từ mực, bạch tuộc hơn là từ cá. Màu sắc và mùi vị của loại “nước mắm” này thì miễn bàn.Miền Trung Nam bộ làm nước mắm từ cá cơm hoặc cá nục nhỏ xíu nhiều đạm, nên dễ lên men, lại ủ lâu nên hương vị cũng hoàn toàn khác. Từ miền Trung Bắc bộ trở ra, nước mắm cũng được làm từ cá nhỏ, nhưng là cá tạp, lại gặp thời tiết không thuận lợi, lạnh nhiều hơn nóng, nên phải đánh khuấy cho nát, cá mới lên men được. Mùi nước mắm, dĩ nhiên, nồng hơn nước mắm khu vực phía Nam.
Chỉ riêng nam-pla của Thái Lan là gần gũi với nước mắm Việt Nam hơn, nhưng cũng chưa thể đạt tới đẳng cấp như nước mắm Phan Thiết và Phú Quốc. Thái Lan xem ra phát triển về mắm hơn là nước mắm. Cũng nên biết nước mắm Thái hiện nay hầu hết là nước mắm công nghiệp (dùng hóa chất). Và nếu cần, gọi Thái Lan là “ông tổ” của nước mắm công nghiệp cũng không sai.
Do đó, “nước mắm” mà dịch sang tiếng Anh là fish sauce thì nghe… sượng lắm. Có ai dịch sandwich hay hamburger là bánh mì kẹp thịt đâu. Nước mắm là nước mắm, không thể dịch là fish sauce được.
Vũ Thế Thành

Nguồn: http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2021/10/nuoc-mam-la-nuoc-mam-vu-thanh.html

‘Bài Hương Ca Vô Tận,’ nhạc tình mùa chinh chiến của Trầm Tử Thiêng

Vann Phan

SANTA ANA, California (NV) – “Hát nữa đi Hương, hát điệu nhạc buồn điệu nhạc quê hương/ Hát nữa đi Hương, hát lại bài ca tiễn anh lên đường…”

Bìa nhạc phẩm “Bài Hương Ca Vô Tận” của nhà phát hành Minh Phát năm 1967. (Hình: Tài liệu)

https://f7b8b1be83e1485f2627031848ac3a6f.safeframe.googlesyndication.com/safeframe/1-0-38/html/container.html

Hương ơi! Trong giây phút biệt ly, xin em chớ để tâm hồn nặng câu lưu luyến mà hãy hát lại bài ca tiễn anh lên đường làm nhiệm vụ người trai thời ly loạn, cho dù đây cũng là điệu nhạc buồn muôn thuở của quê hương mình trải qua bao cuộc xung đột triền miên, từ thời thực dân xâm lược cho đến thời nội chiến từng ngày.

Nền hòa bình mà cả hai miền Nam, Bắc đã tốn biết bao xương máu mới giành được từ tay thực dân, đế quốc nay lại đang có nguy cơ tiêu tan chỉ sau ba, bốn năm tồn tại, vì tham vọng của bên này cứ muốn giành lấy độc quyền cai trị đất nước chứ không muốn để cho bên kia cùng tồn tại trong hòa bình, thực hiện quyền tự quyết định lấy tương lai chính trị và kinh tế của người dân sinh sống trên cả hai miền đất nước.

Và nếu không có sự đồng thuận nào về tương lai của dân tộc thì không ai biết chắc được cuộc chiến huynh đệ tương tàn này sẽ kéo dài cho tới bao giờ, trong khi cái chuyện miền Nam và miền Bắc có cơ hội được thống nhất một nhà để vợ chồng khỏi chia lìa, anh em không xa cách và mẹ con được sum vầy phải nói là một điều may mắn quá hiếm hoi.

Vậy thì, xin em cứ tiếp tục hát lên những bài tình ca quê hương muôn thuở, đừng bận lòng làm chi vì những khắc khoải đợi chờ cái ngày vui đoàn viên ấy: “Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu/ Cuộc phân ly may lắm thì qua mau/ Hát nữa đi Hương, hát để đợi chờ…”

Mặc dù đất nước mình đang lâm cảnh chinh chiến đau thương, khiến cho quê hương xơ xác, điêu tàn đến thế, nhưng “Hương ơi! Sao tiếng hát em nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt ngào…” làm cho lòng người càng thêm nao nao xúc động.

Những khúc hát mà em ca, cho dù về những cuộc tình nồng thắm, hay ngay cả những đoạn tính buồn dang dở, những tan tác, điêu linh, bãi bể nương dâu mà người dân lành phải hứng chịu trong khói lửa chiến tranh cũng đều khơi dậy những rung động dạt dào như thuở nào trong lòng người dân miền Nam hiền hòa: “Dù em ca những lời yêu đương, hay chuyện tình gãy gánh giữa đường/ Dù em ca nỗi buồn quê hương, hay mưa giăng thác đổ đêm trường…”

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng chụp vào Tết năm 1975. (Hình: Đỗ Thái Tần)

Nhìn em ca thấy cả một trời hoa mộng, đôi môi em mấp máy dịu dàng và làn tóc mềm mại bồng bềnh như chơi vơi trên bờ vai em rung động nhẹ nhàng, vậy thì cứ hát mãi nghe em, để cho má em thêm tươi hồng và để cho người em giữ mãi nét thanh xuân: “Hát chuyển vai em tóc xõa bồng mềm, dịu ngọt môi em/ Hát mãi nghe Hương cho hồng làn da kẻo đời chóng già…”

Không còn nghi ngờ gì nữa, giọng hát ngọt ngào và dạt dào tình cảm của em chính là món quà vô giá mà em thừa hưởng được từ mẹ hiền qua những bài hát ru con, những câu ca dao mà mẹ hát cho em nghe ngày em còn nằm trong nôi, và giờ thì em hãy hát cho cha nghe để người thấy ấm áp tuổi già: “Ngày xa xưa em vẫn nằm trong nôi, mẹ ru em câu hát dài buông lơi/ Hát để yêu cha ấm lại ngày già…”

Rồi giọng hát đó của em bỗng chuyển thành não nuột với những ca khúc kể lể những đau thương của người dân vì cuộc chiến tranh phá hoại của Cộng Sản tại Miền Nam Tự Do mặc dù hòa bình đã đạt được ở hai bên bờ sông Bến Hải chia đôi đất nước, với những đoạn cầu đường mà người dân đi lại bị phá hủy, những chiếc xe đò chở người bị phục kích giữa đường và đoàn xe lửa Xuyên Việt vừa được chính quyền Quốc Gia tái lập thỉnh thoảng lại bị giật mìn làm hư hại, tất cả chỉ là nhằm phục vụ cho sách lược phá hoại nền kinh tế thời bình của miền Nam Việt Nam.

Thật không thể nào tưởng tượng nổi cái tàn khốc của chiến tranh khi cả một khu rừng đầy hoa thơm, cỏ lạ trên quê hương mến yêu bỗng một sớm, một chiều trở thành bãi chiến trường loang máu người đồng chủng: “Hát nữa đi Hương, câu nhạc thành nguồn gợi chuyện đau thương/ Hát kể quê hương núi rừng đầy hoa bỗng thành chiến trường…”

Chiến tranh ngày càng lan rộng, khiến cho hoạt động sản xuất nông nghiệp tại nhiều nơi bị đình trệ, và tại một số thôn làng chỉ thấy còn những cánh đồng trơ trọi, trên đó lúa dường như quá hoảng sợ đến độ không dám đơm bông, mặc dù các nông dân cần cù vẫn ngày ngày cày sâu, cuốc bẫm để có được hạt gạo nuôi sống con người.

Trong khi “Đồng tan hoang nên lúa ngại đơm bông” thì những chàng trai thế hệ phải đành lòng xa làng xóm thân yêu, vui vẻ lên đường nhập ngũ để bảo vệ non sông, tạo nên cảnh vợ trông chồng, mẹ chờ con trên quê hương nay không còn ánh trăng thanh bình nữa: “Thuyền ham vui nên nước còn trông mong…” Như thế đó, hỏi sao giọng hát em không nghe não nuột canh trường: “Khiến cả đêm thâu tiếng em rầu rầu?”

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đứng sau máy quay một chương trình truyền hình Người Việt. (Hình: Tài liệu)

***

“Bài Hương Ca Vô Tận” là một trong những bài hát đầu tay do nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng sáng tác hồi cuối thập niên 1950 trên quê hương miền Nam Việt Nam và đã được nữ danh ca Thái Thanh trình bày, lần đầu tiên, tại Sài Gòn hồi năm 1959.

Đặc biệt, nhóm từ ngữ “Bài Hương Ca” ở đây không hẳn có nghĩa là “ca khúc mà một người con gái tên Hương hát lên” do bởi chữ Hương được viết hoa như một danh từ riêng. Theo một số tác giả nghiên cứu về dòng nhạc Trầm Tử Thiêng, “hương ca” ở đây có nghĩa là “ca khúc viết về quê hương,” nhưng vì tác giả đã tình tứ hóa và lãng mạn hóa hai chữ “hương ca” bằng cách viết hoa chữ “Hương” để mọi người nghĩ rằng đây là ca khúc do một nàng ca sĩ tên Hương hiền dịu trình bày. Và đây không phải là một bài hương ca bình thường mà là một bài “hương ca vô tận.”

Quê hương của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (tên thật là Nguyễn Văn Lợi) ở mãi tận xứ Quảng Nam. Người nhạc sĩ tài hoa này xuất thân là một nhà giáo ở Sài Gòn, và khi nhập ngũ thì phục vụ trong ngành Chiến Tranh Chính Trị, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trầm Tử Thiêng sáng tác rất mạnh, cả khi ở trong nước lẫn khi sống lưu vong tại Hoa Kỳ.

Ngoài “Bài Hương Ca Vô Tận,” các nhạc phẩm nổi tiếng của Trầm Tử Thiêng còn gồm có “Kinh Khổ,” “Đưa Em Vào Hạ,” “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy,” “Hòa Bình Ơi! Việt Nam Ơi!”, “Trộm Nhìn Nhau,” “Đêm Nhớ Về Sài Gòn,” “Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng,” “Mười Năm Yêu Em,” “Cám Ơn Anh” (với Trúc Hồ), “Bên Em Đang Có Ta” (với Trúc Hồ), “Một Ngày Việt Nam” (với Trúc Hồ)…

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng tại Trung Tâm Học Liệu. (Hình: Tài liệu)

Theo tác giả Đông Kha trong “‘Bài Hương Ca Vô Tận’ của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng – Những lời buồn bất tận của một thuở phân ly” trên trang mạng nhacvangbolero.com, ngày 29 Tháng Bảy, 2020, thì bản nhạc của Trầm Tử Thiêng còn có một phiên khúc cuối mà ít người hát, như sau đây: “Hát nữa đi Hương, câu nhạc bình thường một giờ đau thương/ Hát nữa nghe Hương cho rộn lòng ai ở ngoài chiến trường/ Chờ em ca cho ấm nguời ra đi, mình yêu thương trong tuổi đời si mê/ Hát nữa đi Hương đón nhau ngày về”… (Vann Phan) [qd]



Nhạc phẩm “Bài Hương Ca Vô Tận”

Hát nữa đi Hương hát điệu nhạc buồn điệu nhạc quê hương.
Hát nữa đi Hương hát lại bài ca tiễn anh lên đường.
Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu,
cuộc phân ly may lắm thì qua mau
Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ.

Đ.K:
Hương ơi… sao tiếng hát em,
nghe vẫn dạt dào, nghe vẫn ngọt ngào
Dù em ca những lời yêu đương,
hay chuyện tình gãy gánh giữa đường.
Dù em ca nỗi buồn quê hương,
hay mưa giăng thác đổ đêm trường.

Nguồn: https://www.nguoi-viet.com/cuu-chien-binh/bai-huong-ca-vo-tan-nhac-tinh-mua-chinh-chien-cua-tram-tu-thieng/

NGƯỜI THƯƠNG PHẾ BINH NGÀY TÀN CUỘC CHIẾN.

Cam Huynh

hinhkhiem

Hình Khiêm Tháng Tư năm 1975.

Hắn và tôi cùng ngồi chung một lớp từ năm bước vào lớp Đệ Thất. Hắn con nhà giàu đẹp trai. Ba hắn có chức có phận làm việc trong Chính phủ thời Việt Nam Cộng Hoà.Năm 1965…1966…1967 Quận Xuân lộc hoang sơ chung quanh là lô cao su là vườn cà phê đi vòng quanh mấy bước là giáp vòng cái quận. Thời đó cùng lớp với tôi đa số là con nhà lính, còn lại là con nhà chủ vườn cây ăn trái, vườn cà phê, con mấy ông có chức có quyền. Trong lớp chia làm hai nhóm ranh giới rõ ràng, con nhà lính đến trường bằng xe “ lô ca chân” con nhà quan con nhà giàu bảnh bao chạy xe Honda 67… Yamaha. ..Honda Dame bóc khói..

Tôi và hắn học chung mấy năm liền hình như chưa bao giờ ngồi lại nói chuyện với nhau, hắn đẹp trai nhất đám con trai, lúc nào cũng gọn gàng tươm tất, tan trường hắn chiếm chệ trên chiếc Yamaha quần Pat ống loa xoè ra phành phạch trong gió cùng mấy chàng con nhà giàu lượn qua lượn lại… thấy ghét

Bọn tôi con nhà lính mà người ta thường có câu “tiền lính tính liền” mà y như vậy lương lính của ba tôi chỉ đủ nuôi vợ nuôi con tháng nào hết tháng nấy, cuối tháng mong cho tới đầu tháng lảnh lương , nên con của lính cuộc sống rất khiêm nhường. Nhà nghèo nhưng cũng phách lắm tôi không thèm để ý bọn con trai con nhà giàu cùng lớp, chê mấy chàng ”nhóc tì”

Lớn lên một chút biết làm điệu biết mắc cỡ trước đám con trai tôi nghinh cái mặt với bọn hắn, ghét tôi nên đặt cho tôi cái tên “trái táo” rồi cười hô hố, chắc tại tôi vừa mập vừa lùn..

Tôi quê, tôi giận Rồi lên lớp lớn hơn tứ tán chàng vào Đại học, chàng vào quân ngũ chàng hoa nở trên cổ áo, chàng mang “cánh gà” trên tay áo thiệt là đẹp. Con gái đứa lấy chồng đứa ngước cao hơn tiếp tục mài ghế nhà trường. Tôi bỏ Xuân Lộc trôi nổi kiếm miếng ăn cái mặc phụ giúp cho má cho ba bớt cái gánh trên vai, năm đó ba tôi giải ngũ về làm thường dân Bỏ Xuân Lộc tôi lấy chồng, mấy năm không về. Sau năm 1975 theo gia đình bên chồng về lại cái quận nhỏ ngày xưa, với bao kỷ niệm thời học trò…

Một ngày tôi gặp hắn trên đường ngược chiều, tay bỏ ra ngoài tay kia trong túi áo khoác.. Tôi nhớ liền tên của hắn…Nguyễn Hồng Khiêm, ngày nay hắn chững chắc bụi đời quá…Hỏi ra mới biết hắn bị thương trong trận đánh cuối cùng tháng tư năm 1975 còn mấy ngày nữa mất Xuân Lộc, hắn đã để lại một bàn tay trong cuộc chiến khi vừa qua tuổi hai mươi.

Làm thường dân sau cuộc chiến, hắn mặc cảm nên bên tay kia lúc nào cũng trong túi áo khoác…Tôi thương hắn thương những chàng trai trong thời binh lửa đã để lại một phần thân thể của mình trong cuộc chiến. Thương những chàng vừa hẹn hò với cô bạn học để rồi ra đi vĩnh viễn bỏ lời hẹn ước nửa chừng. Bạn tôi hắn cũng độc thân chưa vợ, ba hắn cũng bị bắt đi tù mãi mãi không trở về, hắn mồ côi mẹ khi còn rất nhỏ, hắn may mắn có được người chị tuyệt vời chi luôn bảo bọc thương đứa em không may mắn, ngày tàn cuộc chiến thành thương phế binh không ai công nhận. Chị lo cuộc sống cho hắn, từ đó hắn ẩn thân lo chăm sóc làm rẫy làm vườn cà phê của gia đình, thỉnh thoảng chạy ra phố lấp ló ngó thiên hạ. Hắn việc gì cũng làm được, cuốc đất làm vườn.

Tôi thường lan man trên YouTube tìm xem những clip về chiến tranh ngày Việt Nam trong cơn khói lửa, tôi bắt gặp “Phim Tài Liệu Về Những Ngày Cuối Cùng Của Miền Nam Việt Nam. Người dân di tản ngày 22/04/1975 tại Long Khánh, Trảng Bom, Vũng Tàu”. cảnh người dận chạy loạn có anh lính bị thương ôm bàn tay được tản thương, nhìn giống hắn quá. Tôi gọi cho hắn …Thì ra là hắn “Nguyễn Hồng Khiêm..”Tôi nói với hắn từ nay ông không còn phải mặc cảm nữa ông đã góp phần máu và thịt của ông cho đất nước..

Ông được phóng viên chiến trường của nước Pháp làm phóng sự, thế giới nhìn thấy ông. Hãnh diện và tự hào với chính mình với bạn với đất nước … Người chiến binh của QLVNCH nhé Nguyễn Hồng Khiêm…..Hắn cười Cám ơn cái tình bà dành cho tôi, những chàng trai trẻ của chúng tôi luôn hãnh diện là mình đã góp phần cho đất nước, dù ngày tàn cuộc chiến trở về hình hài không còn nguyên vẹn, sống trong cảnh đói khổ, thiếu ăn thiếu mặc.

Tôi vẫn tự hào tôi là người Quân Nhân của QLVNCH.Tôi đùa với hắn Bỏ bàn tay ra khỏi áo khoác khoe với đời..Hắn cười kè ..kè Quen rồi bà ơi…. tại hồi còn trẻ đi cua đào mắc cờ dấu … Nên quen ….Mỗi năm có dịp về họp bạn tôi và hắn thân nhau xích lại gần như thân thuộc. Qua rồi cái tuổi háo thắng ngạo mạn, ngày nay chúng tôi đã bước vào cái tuổi 6..con số thật đẹp. Thương bạn già thương “Người Thương Phế Binh” ngày tàn cuộc chiến.

Viết Tặng Nguyễn Hồng Khiêm

Feb 10. 2020

Cam Huynh

Nguồn: http://www.tongphuochiep.com/index.php/bao-chi/van/30368-ngu-i-thuong-ph-binh-ngay-tan-cu-c-chi-n-cam-huynh

QUÂN LỰC VNCH: ĐẶC KHU RỪNG SÁT ( RỪNG SÁC ) – TỈNH GIA ĐỊNH.

CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU QUÂN SỬ – QUÂN LỰC VNCH :

onnguosuviet.com

13 Tháng Mười 2021

Rừng Sác hay Rừng Sát (?) và Forest of Assassins (?)
Theo sách cổ Sác, chữ Nôm là rừng ngập mặn trên bãi sình lầy. .Cây sác còn gọi là cây mấm, mọc rất nhiều trong khu rừng ngập mặn này.. (còn có các cây ngập mặn khác như sú, vẹt, bần, đước.. ) chà là (nipa palm?), dừa nước..
Sát có thể giải thích là cây mọc sát mặt nước (?). Sát còn có nghĩa là Sát nhân, do đó Người Pháp gọi là Forêt des Assassins và Người Mỹ chuyển thành Forest of Assassins
Sác và Sát có thể là do cách phát ngôn của Người Miền Nam, không phân biệt c và t (?)
Khu vực Rừng Sác có hai con sông chính : Sông Lòng Tảo và sông Soài Rạp.. Hai nhánh sông này tách nhau tại Nhà Bè (Nhà Bè , nước chảy chia hai)
•Sông Lòng Tảo, chảy xuống hạ lưu khoảng 7Km lại tách hai : một nhánh giữ tên Lòng Tảo và nhánh kia có tên là sông Đồng Tranh : hai nhánh này đổ ra biển tại cửa Cần Giờ. Sông là thủy lộ chính để tàu bè ra vào Sài Gòn : Các tàu có tầm nước 12m có thể dùng thủy lộ bất cứ lúc nào, nhưng các tàu trọng tải lớn hơn phải chờ thủy triều.. Tàu bè thường mất 5 giờ để đi từ Cửa biển vào Sài Gòn.
Sông Lòng Tảo là tên gọi gom lại của 4 sông, dài khoảng 45Km : từ biển vào phải qua Vịnh Gành Rái bên sông Ngã Bảy, qua Mũi Nước Vận, theo một đoạn sông Lòng Tàu , sau đó qua Ngã ba Đồng Tranh, vào sông Nhà Bè đến Sài Gòn.
•Sông Soài Rạp chảy qua Tân nhơn, Rạch Vàm.. và ra biển theo Cửa Soài Rạp. Sông tuy có bề ngang rộng hơn sông Lòng Tảo nhưng lòng sông cạn , tuy nạo vét nhiều lần nên không thuận tiện cho tàu thuyền lớn khi vào cảng Sài Gòn.
•Di chuyển trong khu vực hoàn toàn dùng thuyền..Ngoại trừ tại Cần Giờ có một đoạn hương lộ dài 13Km nối Cần Thạnh đến Đông Hòa nhưng không sử dụng được do CS phá hoại..
•Hải Sử Tuyển Tập ghi : ‘ Chỉ trên một đoạn bờ biển dài độ 20Km, có 4 cửa sông rạch lớn của các dòng sông Soài Rạp, Đồng Tranh, Ngã Bảy, Rạch Tà chen..Những con sông đều có những bãi bùn lan xa ra cửa biển, nên dòng sông thường bị cạn, nhất là ở mạn dọi Gành Rái. Cửa Cần Giờ có bãi cát kéo dài đến 3Km. Cửa sông Soài Rạp rộng nhất trong các cửa sông ở Rừng Sác mở ra từ 5-8Km..
Các sông lạch ở Rừng Sác như sông Cái Giáp, sông Thị Vải, sông Gò Ga có độ sâu từ 15-20m. Riêng sông Ngã Bảy nối liền với sông Lòng Tảo là sâu nhất. Đoạn Vịnh Gành Rái có nơi sâu đến 29m..”
Vài điểm lịch sử :
Một số tài liệu khả tín ghi nhận những cư dân đầu tiên đến cư trú trong khu vực Rừng Sác vào thế kỷ 18, là những dân chạy loạn trong cuộc chiến Việt-Chân lạp và họ tạm ngụ tại Cần Giờ..khoảng 1802, một số dân di cư từ Phú Quốc đến và lập 3 ấp thuộc Làng Cần Thạnh..
Lúc Pháp khởi đầu cuộc đô hộ, họ đã buộc các dân thuộc các giáo phái chống họ, từ Cầu Địa Tây Ninh đến sống tập trung tại các vùng Thạnh An và Đông Hòa..Do mật độ dân cư còn thưa thớt nên người Pháp khuyến khích dân đến tái định cư tại Rừng Sác. Dân đến định cư sinh sống bằng các nghề đánh cá, khai thác củi, hầm than và trồng lúa (An thới Đông, Lý Nhơn).. cây ăn quả (Đông Hòa)..
Trong thời gian Nhật chiếm đóng Đông Dương, quân Nhật tuần tiễu vùng bờ biển và sông Lòng Tảo nối biển với Sài Gòn. Sau chiến tranh một số lính Nhật đã không chịu đầu hàng và trốn tránh trong khu vực Rừng Sát.
Khi người Pháp trở lại, HQ Pháp tuần tra và kiểm soát khu vực bằng một Dinassault (Hải đoàn Xung Phong của Pháp) có thêm sự trợ lực của 2 LCU, 1 LSIL và 1 LCT (tàu sửa chữa) (2). Pháp cũng đặt thêm 6 tiền đồn (quan trọng nhất là đồn Ngã Ba Đồng Tranh) dọc sông Lòng Tảo để ngăn chặn các vụ cướp bóc trên sông..
Năm 1954 , Lực lượng Bình Xuyên với sự yểm trợ của Pháp, chiếm đóng khu vực Rừng Sát và dùng làm căn cứ chống Chính Phủ của TT Ngô đình Diệm.. Căn cứ chính của Bình Xuyên là Giòng Chùa , một ngọn đồi nhỏ, cao hơn mặt nước 20m.
Giai đoạn này Rừng Sác thuộc Tiểu khu Chợ Lớn..
Ngày 21 tháng 9 1955, Quân đội Quốc Gia Việt Nam mở cuộc Hành quân Hoàng Diệu tấn công Lực lượng Bình Xuyên đang lập căn cứ chống Chính Phủ trong Rừng Sác . Trận đánh duy nhất tại Rạch Lá, một trung đội quân Bình Xuyên bị hạ, sau đó toàn bộ bị bao vây và ra hàng..

lt-dkrs

Về phương diện Hành chánh:
•Năm 1959 Chính phủ VNCH tách Quận Cần Giờ để lập Quận Quảng Xuyên thuộc Tỉnh Phước Tuy
•Năm 1965 hai Quận này chuyển sang thuộc Tỉnh Biên Hòa
•Năm 1970 Cần Giờ và Quảng Xuyên trở lại thuộc Tỉnh Gia Định.
Cần Giờ có 5 xã : Cần Thạnh, Long Thạnh, Đồng Hòa, Tân Thạnh và Thạnh An. Quận lỵ đặt tại Cần Thạnh.
Quảng Xuyên cò 4 xã : An Thới Đông, Bình Khánh, Lý nhơn và Tam thôn Hiệp. Quận lỵ đặt tại An thới Đông.
•Vài điểm về địa lý :
•Tài liệu Hải Quân VNCH:
HSTT trang 326 ghi : ‘Đặc khu Rừng Sát (chữ t) giữ một vị trí chiến lược quan trọng vì bao gồm mọi thuỷ lộ đưa từ biển Thái bình dương vào Sài Gòn và là cửa ngõ của Thủ đô Sài Gòn ra biển. Nằm giữa hai sông Lòng Tàu và Soài Rạp .Đặc khu Rừng Sát là một vùng đất dài khoảng 35Km, ngang 30Km với toàn đầm lầy và hàng ngàn con lạch chằng chịt . Các tàu bè viễn dương muốn đến SaiGon phải qua Vũng Tàu , và sau đó đi khoảng 70Km đường sông ngoằn ngoèo để cập bến Sài Gòn. Địa thế Rừng Sát rất hiểm trở, con nước lên với vận tốc 4 gút và cao khoảng 2.4m , khi rút xuống để lại một bãi sình lầy lún đến ngang ngực”
•Tài liệu Hoa Kỳ:
Theo tài liệu ‘Rung Sat Special Zone’’ (1965) : Đặc khu Rừng Sát Nằm cách Sài Gòn 43 Km (20 miles) về phía Nam/Đông-Nam, Đặc khu gồm 2 Quận Quảng Xuyên và Cần Giờ. Phía Bắc giáp các Quận Nhà Bè và Nhơn Trạch, phía Đông giáp các Tỉnh Long An và Gò Công. Ranh giới phía Nam là Biển Đông và phía Đông giáp Phước Tuy.. Diện tích khoảng 710 Km vuông (485 square miles)..Đặc khu đặt dưới quyền chỉ huy của Hải Quân VNCH, Bộ Chỉ huy đặt tại Nhà Bè (1); và về phương diện hành chính và tiếp liệu trực thuộc Tỉnh Gia Định.

Đặc khu Rừng Sác – dòng sông cũ

•Những hoạt động Quân sự :
Quân Lực VNCH :
Ngày 8 tháng 2 năm 1962, Chính Phủ VNCH công nhận Sông Lòng Tào là thủy lộ chính nối liền Sài Gòn và biển Đông và thiết lập Đặc Khu Rừng Sát, bộ Chỉ huy đặt tại An Thới Đông và trực thuộc Biệt khu 32 Chiến thuật. Lực lượng quân sự cơ hữu ban đầu của Đặc khu chỉ có hai Đại đội Địa Phương Quân.
Năm 1964 , Đặc khu Rừng Sát được giao cho Hải Quân VNCH điều hành về mặt quân sự (an ninh và hành quân). Đặc khu do một Sĩ quan HQ cấp Đại tá chỉ huy cùng 2 phụ tá cấp Trung tá: một về HQ và một về BB (Đặc khu trưởng sau cùng là một SQ TQLC) và có thêm sự yểm trợ của một SQ Không quân biệt phái liên lạc.
Lực lượng Bộ binh cơ hữu gồm 2 TĐ ĐPQ và 4 ĐĐ biệt lập (ĐPQ), giữ nhiệm vụ bảo vệ thủy lộ, đóng tại các đồn dọc lòng sông như Thiềng Liềng, Ngã Ba Giàng Xây, Tắc ông Nghĩa, Đập Đá Hàn, Ngã Ba Đồng Tranh.. Một pháo đội 105 tăng cường. Năm 1974-75 Đặc khu có TĐ 359 ĐPQ lưu động.
Lực lượng Hải quân gồm 2 Giang đoàn Xung phong, 1 Giang đoàn trục lôi và Liên đoàn Tuần thám. Ngoài ra còn có sự tăng phái của Liên đoàn Người nhái (LDNN)
Về Không quân , một biệt đội 2 trực thăng tăng phái..
Đặc khu trưởng (khi HQ chịu trách nhiệm) đầu tiên là các SQHQ Diệp Quang Thủy, Nguyễn Quốc Thanh và sau cùng là Đại tá TQLC Cổ tấn Tinh Châu.
(Ghi chú : Tại Quảng Xuyên có 5 ĐĐ ĐPQ và 2 Trung đội Nghĩa quân trú đóng tại Bình Khánh (ĐĐ 999), Tam thôn Hiệp (ĐĐ 117), Lý Nhơn (ĐĐ 782)và Tắc Ông Nghĩa (2 ĐĐ 902 và 601); Tại Cần Giờ có 5 ĐĐ ĐPQ (các ĐĐ 361, 647,783, 809 và 875) và 6 Trung đội Nghĩa quân cùng một Biệt đội An ninh-Tình báo ĐPQ. Lực lượng Cảnh sát gồm 48 nhân viên..Bộ Chỉ huy đặt tại Cần Thạnh..

Lực lượng CS .
CS dùng tên Ngụy trang T10 cho khu Rừng Sác sau đó đổi thành Đoàn 10
Năm 1966 , quân số CS tại Rừng Sác khoảng 600 quân chia thành 6 đại đội, 2 đội công binh hoạt động dưới nước (sau gọi là đặc công nước) , một đội cối 82 và DKZ 57. [D-1 hoạt động từ Đồng Tranh-Phước Khánh trách nhiệm tấn công Kho xăng dầu Nhà Bè ; D-2, trách nhiệm khúc sông Lòng Tảo từ Đồn Tắc Ông Nghĩa đến Tân Thạnh ; D-3 và D-5 khúc Đồng Tranh đến Tắc ông Nghĩa ; D-4 khu vực Sông Soài Rạp ; D-6 vùng Lý Nhơn]
Lực lượng du kích , địa phương khoảng 300 quân : các đơn vị có khả năng hoạt động như Du kích Xóm Thít (Tam thôn Hiệp) ; Du kích Bình An (Xóm lá)..chuyên lo phá hoại các Ấp Tân sinh của VNCH..
Cuối 1967 được tăng cường thêm 1 ĐĐ Công binh nước từ miền Bắc xâm nhập .. Năm 70-71, quân CS bị thiệt hại quá nặng hầu như không còn khả năng hoạt động. Từ cuối 1971, quân tăng viện từ miền Bắc giúp tăng quân số lên 14 ĐĐ : Từ hai cụm tập trung quân ở phía Nam Chàng Hảng và Sông Ông Kèo, Đoàn 10 rải quân trên tuyến 50Km từ Vũng Tàu lên hai bờ sông Lòng Tảo đến Nhà Bè..
(Sử CS ghi chép : từ cuối 1965 đến 30-4-75 Đoàn 10 đánh 595 trận, diệt 6200 quân địch, đánh chìm và bắn cháy 365 thuyền chiến, đắm 133 tàu tử 800-13 ngàn tấn và hạ 29 trực thăng ?! ..những con số..không tưởng !)
Tuy phải giữ nguyên tắc : ‘ thiệt hại phe mình phải giữ kín, hạ thấp và tăng số quân địch bị hạ (Việt-Mỹ) lên tối đa, nếu cần cứ tự tạo..’ Nhưng CS phải nhận :
“Hơn ba năm từ 1969-1971, 324 chiến sĩ, cán bộ Đoàn 10 lần lượt ngã xuống.. chiếm gần 1/2 số liệt sĩ Rừng Sác trong 8 năm (tổng cộng trên 800). Năm 1970 mỗi ĐĐ còn 10-15 người, quân số bổ xung không qua được hành lang ngăn chặn của quân Mỹ, Úc, Thái Lan..Súng B-41 chỉ còn 4 quả đạn..thuốc nổ chỉ còn 2 quả bom lép; Giữa 1971 đội vận tải.. chạy gạo (đội 84 tải gạo từ Nhơn Trạch, Thị Vải ) , hy sinh 1/3 quân số.. D- 5 chỉ còn 9 tay súng.. mỗi chốt chỉ còn 2-3 người..”
(Sẽ Tiếp Theo)

Nguồn: https://onnguonsuviet.com/p104a546/chuong-trinh-nghien-cuu-quan-su-quan-luc-vnch-

NHỮNG CÁI…KHÔNG BAO GIỜ QUÊN – CUA-ĐINH

CUA-ĐINH

Tưởng nhớ đến: Lâm Đế, Trọng Khẹt, Hảo Caribou..(tiếp và hết )

PHI VỤ TÀU PHÉP – dòng sông cũ

Về việc Tướng VC :Trần Độ.Tiện thể sẳn nhớ kể luôn việc nầy:
Chắc chư liệt vị còn nhớ tin Tướng VC Nguyễn chí Thanh ăn bom B52 , rồi chẳng bao lâu sau đó là trận tổng tấn công của VCvào dịp tết Mậu Thân 1968 thì báo chí , đài phát thanh lại loan tin rùm- beng là Tướng VC Trần Độ bị tử thương khi đánh vào Saigon!
Thế rồi mấy năm nay lại nghe tin có Tướng Trần Độ” phản kháng “chế độ, đòi sửa đổi nầy nọ…v.v . Ủa lại ông Trần Độnào nửa đây? Và gần đây nhất năm vừa qua ,Tướng “phản -kháng”(?) Trần Độ trước khi chết có gửi một lá thư lên bộ chính trị CS phân trần gì đó, có đoạn “ …trước đây Tâm lý chiến của Mỷ Nguỵ đã từng khai tử tôi “….Ý nói là phao tin đã chết.Thì ra chỉ có một ông mà chết hai lần.Lần sau nầy mới chết thiệt.Còn lần trước….dỏm ; không phải do Tâm lý chiến vẻ ra đâu; mà do quý quan An ninh,Tình báo của ta…nhầm:Cớ sự như vầy:
Những ngày sau tết Mậu Thân,PĐ vẩn cung ứng 1 trực thăng H34 ứng trực nằm tại sânTổng Tham Mưu để thi hành mọi phi vụ cấp thiết mà bên đó cần. Hôm đó anh Trần quế Lâm (Đế)ứng trực.Trong phi vụ tải thương ở ngoài ven đô phía Phú Lâm -Phú Thọ Hoà,ngay bải nghỉa trang; Lâm Đế thấy có những xác VC chết nằm rải rác,nhưng đặc biệt gần cái gò mả có 6,7 caí xác chết toàn mang súng K54 có vẻ như đám cận vệ ,nằm quanh một cái xác nọ có vẻ là… Ông Kẹ .Anh mới về báo sự nhận xétcủa anh với những vị chức- sắc bên TTM. Đến khoảng 3giờ chiều cùng ngày ,tôi được lệnh bay qua thêm một chiếc nửa tăng cường để chở thêm mươi quân nhân cơ hữu của TTM đổ bộ xuống ngay nghỉa trang đó, nhằm bảo vệ cho quý vị trách nhiệm bên chiếc của anh Lâm xuống xem xét.Khi tôi đáp xuống thì có 4,5 VCở đó mang súng ngắn hoảng sợ , chạy tán loạn ra ngoài ruộng , anh cơ phi của tôi xả súng đại liên ,nhưng chỉ thấy đạn bay tốc bụi đất gần chổ mấy tay VC chạy ,chứ chẳng trúng tên nào cả!Lính trên tàu tôi nhảy xuống bố trí cho chiếc của anh Lâm làm việc.Sau đó chiếc của anh Lâm mới … rinh một xác chết đem về TTM để giảo nghiệm.!
Xong nhiệm vụ tôi về lại PĐ ,một lúc sau Lâm Đế gọi phone về cho biết ,sau khi giảo nghiệm tử thi , lấy dấu tay..vv..và sưu tra lý lịch thì xác nhận đó là Tướng VC Trần Độ .Tin tức được loan truyền ra từ đó .Nghe tin đó anh Đặng kim Quy và anh Nguyễn hửu Nhàn giật mình ,hú hồn ,vì biết bộ chỉ huy VC đã về vùng nầy từ lâu ,mà hai anh đâu có biết; thường nhờ anh em PĐđi bay thả xuồng đó để …..bắn cò bằng súng carbine,rồi một chút đến rước về ! Củng may vì muốn giử bí mật nên hai anh không bị…làm thịt.

Đến bây giờ lại nghe tin về Trần Độ nửa, thì ra là ..bé cái nhầm.!
Tôi không dám ý kiến hoặc so sánh ngành an ninh tình báo của.ta,nhưng tin- tức thời sự gần đây thấy tình báo của DoThái mới hết sẩy!Làm sao mà thu lượm được tin tức một cách chính xác ngày giờ của các thủ lảnh Hamas di chuyển ,mà dùng trực thăng xịt rocket tiêu diệt từng người một!Chỉ riêng việc bắn rocket trúng phóc ngay chiếc xe là mục tiêu đang di chuyển , tôi củng bái phục rồi,tôi nghĩ chắc có laser hướng dẩn nên mới chính xác như vậy;chứ trực thăng vì có độ rung nhiều và tốc độ chậm hơn khu trục, nên bắn rocket rất ..rất là dể trớt quớt lắm.Ngoài ra còn phải kết hợp tin tức về giờ giấc ,lộ trình xe cộ… vv để cho máy bay xuất hiện đúng lúc nữa.Như vậy mới là siêu đẳng ,là bậc sư tình báochứ! Còn dân Palestine củng không vừa gì ,củng dể nể thật!!
Còn ta thì sao???Có hay biết gì không mà để cho bọn VC ;chỉ riêng việc tấn công vào các đô thị với quy mô lớn như vậy trong tết Mậu Thân , ắt hẳn củng làm chúng ta phải suy gẩm nhiều lắm..!!
Bạn bè xưa năm củ…
Hôm nay ngồi viết lại những dòng nầy ,trong lúc hồi tưởng lại chuyện xưa của những năm từ 1964 đến 1969,tôi không khỏi bồi hồi tấc dạ,củng gần 40 năm rồi mà sao cứ ngở mới đây thôi, hình ảnh những gương mặt chưa một nếp nhăn ,vóc dáng trẻ trung,những mái đầu xanh, những lúc kêu gọi tên tục của nhau mà chọc phá đùa giởn , sao mà nhớ quá ,sao mà thương vậy!Nhớ tất cả mọi người trong PĐtừ anh văn thư nhớ đi…và nhất là,làm sao mà quên được anh em Hạ sỉ quan cơ phi ,xạ thủ,cùng bay bổng sống chết với nhau trên một con tàu.
Thế sự thăng trầm ,vận nước nổi trôi ,vở tổ đàn chim tứ tán muôn phương… kẻ mất, người còn…mà xa nhau vạn dậm.!
Âm hưởng hai câu thơ củaVủ Đình Liên nghe sao mà thấy nao lòng:
Những người muôn năm củ
Hồn ở đâu bây giờ?!

Không thể kể hết ra đây ; xin nhớ đến một số người…..với hổn danh mà anh em trong đơn vị gán cho vì dáng vẻ ,hoặc vì sao đó do cái trực giác cảm nhận mà thốt ra rồi chết tên luôn ,khác hẳn với bí danh bí số của mấy anh Ba VC có suy tính để nghe thật êm dịu hoặc có vẻ chân chất thiệt thà, mà ” lận “mả tấu ,dao găm ở trong bụng và che dấu âm mưu thủ đọan gian manh !
Nhớ đến,:Anh Nguyễn kim Bông,Bông( Cô Tông )không rỏ nguyên nhân vì sao có danh đó, lúc tôi mới về PĐ thì đã có sẳn tên rồi,có lẻ Cô Tông là loại Bông vải.(?),bên Trưc Thăng còn mấy anh tên Bông nửa ,không cần nhớ nguyên họ tên ,chỉ cần nói Bông Cô Tông là biết ngay Ổng Không Đoàn Trưởng.
Anh Nguyễn văn Lắm ,Lắm U-NU, vì anh có gương mặt… lảnh tụ giống Thủ Tướng 0U –NU (?)của Miến Điện Tác giả đặt tên tôi,Cua Đinh đây rồi!Anh Lắm à:
Dù nhớ lời anh nói,nhưng thời gian bị tù cải tạo vì mợ cả Đọi thường trực ở trong bao tử nên tôi củng ăn nhiều “đồ” độc lắm (“đồ “là tiếng Nam ,chứ không phải tiếng Bắc đâu nhé): nhái qué chuyện thường không kể; con muổm nướng lên gọi là tôm càng bay;con rít rừng to màu xanh đen nướng lên ăn mà nhớ tới bang trưởng cái bang Hồng Thất Công(trong truyện Kim Dung)cắc kè ngon như thịt gà dể gì kiếm;rắn mái gầm nếu gặp, nó có… gầm lên xin tha mạng củng không được ân xá;chuột rừng hoạ-hoằng mới gặp.Coi vậy chứ tôi ăn uống củng có trình độ lắm nghe anh,chuột trong trại thật to ,lông thưa có lát chút đỉnh chắc củng già yếu rồi khi thấy người ta cứ thủng tha thủng thỉnh đi chứ chạy…. không nổi là tui chê!cùng với mấy con bò cạp nghĩ chắc là không có thịt thà bao nhiêu nên tôi củng không rớ!Vì mình ở trên rừng nên không gặp con cua đinh, chứ nếu gặp tôi củng đâu có ngán ,cái đời mình lúc đó kể như… cùi rồi sợ gì lở.Anh thấy toàn là đồ độc không? Mải đến bây giờ sáng nào ngủ dậy tôi củng nhìn xuống bàn tay xem có móng nào rụng chưa?Xin thưa chưa anh ạ!Chắc cở ..40 năm nửa lận !!!-Anh Vũ quang Triệu , về làm PĐT 211 năm 1969,có tên Triệu Voi ,hiền lành chân thật ,to lớn ,khoẻ mạnh đến độ thuở còn bay H19 lúc máy bay bị servo off ,tay lái nó nặng kể gì mà anh vẩn ung dung đáp nhẹ nhàng và có lần nắm cái núm indicator của Chân trời giả để reset; kéo … nhẹ thôi mà nó sút ra nên có biệt danh từ đó, chức vụ cuối cùng mới có… Không Đoàn Trưởng,ngườimà nhà văn Dương hùng Cường coi là có thiên phú vì biết lái máy bay trước khi biết cởi…. xe đạp.(??) .!Về sau có anh Nguyễn văn Thành bay UH1 củng vóc dáng và gương mặt hao hao giống nên củng được “ăn theo” hổn danh là Thành Voi !
Anh Nguyễn thanh Cảnh ,tướng đô con ,hiền lành nhân hậu có tên Quách Tỉnh; anh là người Huế nói giọng nghe còn nặng ,nhớ hồi anh còn là PĐ Phó 211, đầu năm 1969,trong một phi vụ đổ quân ,anh bay chiếc chỉ huy C&C ,tôi là Copilot,khi thám sát bải đáp, hoặc địa điểm nào nghi ngờ anh ra lệnh cho cơ phi ném khói đánh dấu để cho gunships bắn phá dọn bải:
– Đôi đi!
Anh cơ phi nhanh nhẹn ném 2 quả khói màu , rồi một chút nửa lại nghe :
– Đôi đi !
Lại một cặp khói màu , rồi cứ mổi lần có lệnh là một cặp , một cặp bay ra .Tôi củng không để ý sao anh cơ phi xài sang vậy , đến một lúc anh báo :
– Khói màu mình còn ít lắm Th / tá
– Tai sao không đôi mổi lần một quả thôi?
Lúc bấy giờ mới bật ngửa ra : Đôi đi là ném đi ,mà anh cơ phi hiểu nhầm đôi là hai nên mổi lần ..chơi một cặp !
Trong Phi Đoàn đa số pilot đều biệt danh ,có đến gần ¾ .Như các anh LỘC :
-Nguyễn hửu Lộc, Lộc Bừa vì anh có hàm răng hơi chênh một chút , qua bay cho biệt đoàn 83, tiền thân PĐ219 sau nầy, anh là PĐT một PĐ UH1 ở Biên Hoà ,anh baybổng… khỏi chê !dáng vẻ cao ráo hào hoa.Thuở còn hàn vi anh cùng với một số anh khác như K .Phát, anh Ninh, Ông kim Sanh…và nhiều người nửa…tôi củng có mặt,thường hay chung vào mấy cái phòng trống mà cờbạc, điều đặc biệt ít thấy khi nào anh thắng lắm!Nghe đâu bây giờ anh ở Cali,củng gần thiên đàng hạ giới Las Vegas,không biết anh có thường lên đó để ân oán giang hồ không? Đừng làm”thầy …cúng” nửa anh Lộc nhé!Nếu không đi thường thì lâu lâu củng nhớ phải duy trì khả năng chứ, đã biết rồi mà để lâu nó quên….uổng!Miệng ăn mắm ăn muối nhắc bậy ,anh bỏ qua cho!

PHI VỤ TÀU PHÉP – dòng sông cũ

– Lê văn Lộc , Lộc Bụng vì anh có cái bụng của bà bầu bốn tháng ;anh đã mất tại Vùng 4 vì SA7;
-Anh Lộc Khò, nghe danh không thôi củng đủ biết ,rất dể ngủ hể “xểnh ra “là ngủ, đi biệt phái vừa mới chợt tối , anh em còn đang đùa giởn ,cải nhau ỏm tỏi ,mà đã nghe tiếng khò khò của anh rồi, vì vậy anh em mới đùa rằng thằng nầy nếu mới cưới vợ, ngay đêm động phòng mà tân giai nhân còn đang nhẩn nha trút bỏ đồ phụ tùng, tế -nhuyển nầy nọ,quay lại là anh đã khò mất rồi , đối với anh có lẻ… ngủ là đủ rồi ,nên hiện thời anh vẩn còn” ở vậy”chưa có chị nào” nâng chăn sửa chiếu “cả; anh rất hiền hay cười cười chẳng mếch lòng ai,hiện anh còn kẹt lại ở VN ;
-Anh Phạm văn Lộc ,Lộc Đại Hàn anh từ Vùng 2 đổi về PĐ 211 cuối năm 1968,giống đến nổi Đại Hàn thứ thiệt ,có một lần nọ còn tưởng là phe nhà nên đã xổ tiếng Triều Tiên líu lo với anh một lúc ,sang đến Mỷ vẩn còn nặng nợ với nghiệp cầm …cần lái máy bay nên cầm tiền củng ..nặng !Mới gặp lại anh ,bây giờ đầu bạc trắng nên còn giống Đại Hàn ác liệt!
-Anh Lộc Đại liên , có tật nói hơi cà lăm ,là C/U Cơ phi, anh chuyển về PĐđầu năm 1967 ,năm sau không rỏ chuyển ngành đi đâu,và đến nay củng không biết tin tức gì về anh
-Còn một anh Lộc nửa mà tôi quên mất họ ,có tên là Lộc “Nức Trứng”là pilot, dáng người trung bình ,vui vẻ trẻ trung, chuyển về PĐ 211 lúc đóng ở Bình Thuỷ năm 1968 , để mô tả cái gì quá mức là anh xài chử” nức trứng “ ;như ngon nức trứng, đẹp nức trứng …,xài nhiều đến nổi mang danh đó luôn ,về một thời gian ngắn rồi lại chuyển đi nơi khác ,từ đó đến nay chưa biết tin tức gì về anh.
-Anh Robert Quang , là Trần xuân Quang ,còn được gọi là Má Robert nửa!Tôi và hầu hết anh em trong phi đoàn rất kính mến anh ,chẳng những bay hay êm ái nhẹ nhàng,kỷ thuật giỏi mà tính tình hiền hậu đạo đức,biết lolắng và sống hòa mình với anh em.Dù kêu là Má Robert chớ không phải là anh” lại cái”(gay) đâu. Nhớ lúc Tết Mậu Thân tất cả bị cấm trại ,nội bất xuất ngoại bất nhập ,là Trưởng Phòng Hành Quân ,anh lấy thức ăn trong Ration C chế biến lại kho nấu với rau cải các bạn đi bay ở các tỉnh đem về , ăn với cơm gạo xấythật vừa miệng đậm đà,tối lại còn cho ăn chè đậu nửa Nên anh em thấy công việc của anh như một bà mẹ mới mến gọi anh là Má Robert !Nghe nói thời kỳ bị tù cải tạo ở ngoài Bắc anh bị kỷ luật(cùm)củng vì cái tội thương anh em trong tổ ,mà anh là tổ trưởng dám nhổ sắn trộm của trại để cải thiện cho anh em ! Được biết bây giờ anh sống hạnh phúc an vui cùng gia đình bên ÚC,thuộc hàng Bô lão, khoẻ mạnh và béo tốt hơn xưa ,quên hỏi anh xem có phải nhờ thịt con Kangaroo không?
-Anh Nguyễn thanh Tùng ,dáng vẻ mảnh mai ,nhỏ con mặt mày non choẹt nên được tên là Tùng Lỏi,không dùng chử con vì kỵ huý với anh Minh Con.Tùng Lỏi là đồng -phạm với tôi trong vụ đè…Taxi,mà nếu xét kỷ ra anh là chánh phạm mới đúng,vì anh là người chỉ hướng tôi quẹo theo,không nghe người ta nói ma dẩn lối,quỷ đưa đường sao? Đùa với Tùng chút chơi,chứ thật ra nếu anh thiếu bình tỉnh để phụ giúp thì giờ đây không phải mồ đà xanh cỏ mà là “cồn rêu xanh” rồi!
-Anh Cao vănTư , hiền lành chất phát ,anh bay rất .. “độc”,có máy tóc xụ một bên giống chicken wing nên mang danh Tư Cánh Gà!Anh về bay cho Ông Tổng Tham Mưu Trưởng ,có hôm nghe anh trên tần số,
Lâm Đế gọi chọc:
-Ê ,Cao văn TƯ ơi, hôm nay rảnh hả, mầychở Anh mầy đi chơi dâu đó vậy?
Anh sợ đáp ngay:
– Thôi đừng nói bậy nghe !
Vì anh cùng họ với Đai Bàng mà Lâm Đế đâu có biết là Mặt Trời đang ngồi ghế Copilot!Anh Tư “nhột “ quá ,len lén tắt radio vì sợ Lâm Đế nói bậy tiếp ,một chút lại thấy Mặt Trời mở radio lại và tủm tỉm cười.,chứ không nói gì.Anh Tư kể lại vậy.
-Anh Nguyễn chánh Tâm ,Tâm Cóc ,không phải da mặt anh sần xùi như con cóc đâu ,mà trái lại mịn màng đẹp trai nửa ,nhưng anh rất ít nói nên “có câu cóc mở miệng “và có gương mặt chử điền giống cựu xếp , đàn anh Lân Cóc.
-Anh Phạm thành Quới,tính tình cẩn trọng, ăn nói chẩm rải,thật thà kể chuyện gì củng có đầu có đuôi chứ không đi đâu mà vội ,không ngắn gọn vắn tắt, ăn nói giống như mấy ông tiên chỉ thời xưa ở trong làng xả ,mà cao nhất là ông Cả,nên anh em cứ kêu Cả Quới đến bây giờ.

-Anh Phan tất Đắc , mặt mày trắng trẻo mịn màng ,bụ bẩm giống như hình em bé trong hộp sửa BABILAC,nên còn gọi là Đắc Sửa(đã bị nạn mất cùng với Tướng Đổ cao TRÍ ở Tây ninh) một hôm bay chung với anh Nguyển văn Hảo, đang bay thình lình anh Hảo chỉ kịp trân mình nhéo vào tay cuả anh Đắc , điến hồn hét:
-Caribou!.
Một chiếc Caribou chần dần xẹt lên ngang qua bụng . Hú vía Chắc chẳng có..” ma” nào thấy nhau cả!Nghe anh Đắc kể lại và thấy anh Hảo cao, tay chân củng lỏng khỏng củng giống thân hình chiếc Caribou nên mang danh Hảo Caribou từ đó.Anh là Sỉ quan Hành Quân của PĐ211, bay củng … “chì” lắm đã từng bị cánh quạt đuôi của UH1 hư mà đáp an toàn Tội nghiệp đi sông đi biển không chết mà chết lổ… chân trâu nhà tù VC ngoài Bắc! Đuợc biết vợ con anh đang ở Cali.
Tên Trọng thì có:
– Nguyển tấn Trọng ,Trọng XÌ vì anh to con và rậm râu gíống Mể .Sau nầy anh biệt phái qua Biệt đoàn 83,và cuối cùng chuyển qua Chinook bị bắn rớt ở Tàu Ô An Lộc, bị bắt và được trao trả tù binh ,cái số anh chỉ bị tù một lần thôi ,nên anh và gia đình đã đến Mỷ năm 75
-Nguyễn văn Trọng ,Trọng Khẹt ,dáng vóc trung bình ,lì lợm ,bay giỏi và siêng năng ,chắc thuở nhỏ bị sâu răng nên anh cứ… hít hít rồi thành tật ,cứ nghe khẹt khẹt hoài .Anh là PĐT UH1 Ở Biên Hoà,bị đi tù và chết ở trại Hỏa Lò Hà Nội .
Tôi có nghe nhiều bạn đồng tù kể lại anh là một trong nhóm khoảng trên 20 người chống đối trong nhà tù VC , trưa thường leo tường đi đánh mấy tên Ăng- ten ở các buồng khác trong trại Hà Nam Ninh
.Bị VC nhốt cách ly ở Hỏa Lò đến chết !Các chiến hửu nào có biết rỏvề Trung Tá Nguyễn văn Trọngvà nhóm nầy; xin kể lại những hành động ngoạn mục, hào hùng của nhóm Rất cám ơn!Nghe đâu nhóm có nhiều thành phần: có anh là giáo sư Trung học PÉTRUS KÝ,có anh Cảnh sát độc nhản , được phong là Tướng Moshe Dayan(DoThái) ..v..v..Tôi rất thân với anh , được biết vợ và 2 con gái của anh củng được.qua Mỷ
-Anh Trần quế Lâm , Lâm Đế,anh là PĐT cuối cùng của PĐ211 thay anh Nguyễn thanh Cảnh lên chức vụ cao hơn.Trong những năm 1965,66 phi trường Bình Thuỷ chưa có,PĐ thường biệt phái 2 chiếc H34cho Quân khu 4,,phi hành đoàn tối về ở trong một building vảng lai ngoài phố, gần bến Ninh Kiều;.anh chàng Lâm nhà ta thả rề rề ra mấy chổ bán khô cá đuối ,khô mực nướng ,cốc ổi …với những cái bàn gổ và chiếc ghế con con ,anh thoải mái an vị kêu vài xị đế loại ngon ngồi nhâm nhi và đưa cai bằng miếng khô , miếng ổi ,anh chê la-de nó lạt . Đúng là dân chơi thứ thiệt,anh củng nhìn nhận có vô chút đỉnh lái máy bay nó mới đầm !Với đám pilot trẻ thì xem đây là một hiện tượng…nên có hổn danh Lâm Đế từ đó .
Tôi và anh củng rất thân với nhau.
Nhớ lại những năm 68,69 hằng ngày đều có hợp đoàn bay hành quân trưc thăng vận cở 10chiếc ,sau khi đổ quân tất cả về nằm chờ (standby) ỏ các phi trường nhỏ của Tỉnh lỵ .Cơm trưa xong xuôi mới tụ tập nhau đấu láo ,chọc phá nhau.Có lần anh kêu tôi :
-Cua Đinh ơi , tao mới vừa tìm được tiểu sử của mầy, lại đây nghe tao đọc nè.
Anh tằng hắn lên giọng :
-Thiều công tử vốn giòng hào kiệt
-Xếp bút nghiêng theo việc kiếm cung
Nghe được lắm!Rồi anh lại tiếp:
-Thiều tiên sinh vốn người phương Nam,sinh trưởng tại tỉnh Bến Tre ,quận Ba Tri ,huyện Giồng Trôm,hạt…Cù Lao Rồng(quê của mấy người..cùi),tên cái hạt nầy phải đổi ra tiếng Nho nó mới hay ;Rồng là Long rồi ,còn Cù lao chử Hán là gì ta?Một anh bạn nào đó nói
-Cù lao là Lẩu đó.Bộ không nhớ đi nhậu ,kêu một cái cù lao ăn với bún đó sao?
-Đúng rồi ! Hay… hay.!Cù Lao Rồng tức là Lẩu Long .Vậy là mầy ở hạt Lẩu Long đó nghe Cua Đinh!
Cả bọn cười cái rần! Đang quê độ ,phát… nực củng tức cười vì kiểu kẹt…chử Nho nầy . Sau khi nghe giảng nghĩa…đùi, ngẩm nghĩ mới thấy dùng chử Lẩu ở đây thật là … “đắc địa”!
Sau 75,hơn mười lăm năm tôi mới có dịp gặp lại anh bên Mỷ ; câu đầu tiên anh cười hỏi:
-Mầy định chừng nào về thăm lại hạt Lẩu- Long của mầy đây?
Anh thường điện thoại cho tôi ,kể tên một số KQ quen đã nằm xuống,và khuyên tôi nên bớt đi cày ,retire sớm mà hưởng đời đi.Nhưng rốt cuộc ,tôi bàng hoàng ,vô cùng xúc động khi nghe tin anh mất bất ngờ vì đau tim ! Đến bây giờ tôi củng vẩn còn thường nghĩ và nhớ đến bạn lắm, Lâm Đế !!!!Có những anh không có nét gì đặc biệt để chọc mà vẩn không tha;như anh Lê tiết Chinh, bảnh trai ,hiền lành ,nho nhả củng bị kêu là Lê mất Trinh ,rồi lại anh Đặng kim Quy,con người đạo mạo như một nhà giáo , đàng hoàng , ít có ồn ào thường được gọi là thầy Quy.mà củng bị ..khều ra ,hôm nào nhẹ nhàng thì:
Ê ,bi ,xi (a,b,c) bắt thầy Quy rang muối!
Làm anh củng phải phì cười! Còn có hôm ,anh Lâm Đế cao hứng thì chọc anh Quy bằng một câu 7 chử nghe thật đậm – đà ,mà tôi không dám viết ra đây vì thuộc loại cấm …đàn bà .Dù cho có vị nào bảo đừng ngại,tới… luôn đi bác tài, cứ viết ra đi vì có ai còn là con trai hay con gái nheo nhẻo nửa đâu,không răng mô!! Thật tình không dám ,chỉ xin gợi ý: Đây là câu đối lại chan -chát với câu gì mà trong sách xem tướng có nói;
-Không có Mao chủ tịch,nghèo tận mạng (Âm h…vô mao, bần chí tử!)
Anh Qui xin lổi… viết lại ,anh Quy có còn nhớ không?Nếu anh không nhớ được thì củng chẳng sao ,hảy sống vui vẻ với anh em chừng 30 năm nửa rồi đi tìm Lâm Đế mà hỏi nhé!
Còn nhớ ….nhớ nhiều , và củng nhớ đừng để quý vị bảo: thôi đủ rồi…Tám ; nên xin chấm hết.!

CUA ĐINH
(10/2004)

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1196010926&first=1680&last=1739

BẮC ĐẨU NGUYỄN NGỌC BÍCH – Ls NGUYỄN NGỌC ANH TRANG

Ls NGUYỄN NGỌC ANH TRANG

Mỗi năm vào cuối tháng năm, tôi thường xem Memorial Day Concert ở Washington DC trên TV. Chương trình bắt đầu với lời tưởng niệm: “ALL GAVE SOME, SOME GAVE ALL” làm tôi bùi ngùi nhớ đến anh Bích cũng như các cựu chiến binh của QLVNCH. Anh tôi hy sinh cả sinh mạng của anh vào cuộc chiến đấu để bảo vệ quê hương. Trong sáu người con của ba má tôi, người anh lớn này có cá tính đặc biệt, độc lập từ ngày thơ ấu. Chị Huệ và tôi đi đến trường tiểu học trong Chợ Lớn cách nhà vài cây số. Mỗi ngày, anh Bích có trách nhiệm đưa 2 em gái đến trường và đến rước em về sau giờ tan học.

Rồi một buổi trưa, Má tôi rất ngạc nhiên khi thấy Huệ và Trang từ trường về nhà có “hai” mình. Tôi giải thích là vì trời mưa, chờ lâu quá mà không thấy anh đâu hết, nên hai đứa con quyết định đi về, không chờ anh Bich nữa. Từ ngày này trở về sau, anh Bích không còn phải đưa đón hai em thêm lần nào nữa.
Khi Ba tôi đổi đi Vĩnh Bình làm việc, Ba Má đem theo bốn đứa con nhỏ. Hai đứa con lớn của Ba Má ở lại Sài Gòn, trọ một người bà con để học tiếp chương trình trung học. Học trò ờ trường Pétrus Ký phải mặc đồng phục, quần xanh dương, áo sơ mi trắng. Một lần anh tôi bị rượt chạy trong sân trường, vì anh mặc áo sơ mi đủ màu, anh né tránh vào nơi nào đó, lột bỏ cái áo nầy ra thì trở nên học trò áo trắng ! Anh ham chơi hơn ham học, nên đến lớp đệ nhất, Ba Má đem anh về Long Xuyên để theo dõi anh học thi Tú Tái. Tư gia chánh án Long Xuyên nằm ở một góc đường , trước mặt nhà băng qua đường là tòa án, bên hông nhà băng qua con đường kia là Tòa Tư dinh Tỉnh Trưởng.Anh tôi hay đi qua nhà ông Trung tá , tỉnh trưởng Nguyễn văn Minh cởi ngựa, vì vậy ông bà Minh biết anh khi anh chưa được 20 tuổi.
Buổi tối trước khi đi thi, anh Bích học làm toán trên bảng đen treo trên tường ngoài phòng ngủ của Ba Má . Anh lục đục với tiếng phấn viết trên bảng cả đêm, làm Má không ngủ được ! Rồi anh đi qua Cần Thơ thi tú tài toàn phấn. Chiều ngày thi đầu tiên, cả gia đình tôi đang ở công viên Nguyễn Du gần nhà chòi thì thấy anh Bích từ từ đi đến. Rất ngạc nhiên, Má tôi hỏi; – Sao con về sớm quá vậy? . Anh tôi giải thích là bài thi làm tệ lắm, chắc không có hy vọng gì đậu nên bỏ cuộc. Vì bị Ba Má rầy la lớn tiếng, nên hôm sau anh Bích trở qua Cần Thơ thi tiếp.
Đậu xong Tú tài, anh được Ba Má gởi ra mõ than Nông Sơn học với hy vọng anh sẽ được học bổng qua Pháp đi học kỹ sư hầm mõ (chớ không phải đào mỏ).
Không bao lâu, anh bỏ Nông Sơn trở về Sài Gòn. có lẽ vì anh đã có bạn gái, rồi có con với cô nầy.
Làm sinh viên thì không làm sao có tiền lo cho gia đình, anh Bích tình nguyện vô trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, tốt nghiệp khóa 18.Tôi nghĩ là lúc này, anh tôi chưa có ý định chống cộng gì cả.
Anh chị em tôi, ai học xong trung học thì cũng bước chân vô Đại học Luật Khoa! Anh Bích cũng ghi danh học thêm ở đây, chắc để làm vui lòng Ba Má. Khi đi vô thi viết năm thứ nhất, anh gặp một ông tuổi trung niên , hỏi ông coi giảng đường số 2 (nơi anh phải thi) nằm ở chỗ nào! Ông này, chắc là Giáo Sư của trường, nhìn anh như một người ở hành tinh nào xuống. Giảng đường số 2 rộng lớn nhất của trường, phần lớn các môn học của năm đầu giảng dạy ở đây, có sinh viên nào mà không biết? Nhưng anh Bích không biết gì cả, vì anh ôm sách học ở nhà.
Anh tôi không có tiếp tục học Luật mà chắc cũng không muốn, vì anh còn bận rộn học để tốt nghiệp khóa 13 Sĩ quan căn bản Thiết giáp. Không nghi ngờ gì hết là anh thích cầm súng hơn cầm viết. Như vậy bắt đầu cuộc đời binh nghiệp của anh Bích.
Sau khi tốt nghiệp sĩ quan, anh tôi bắt đầu đi chiến đấu, càng “đánh giặc”, anh càng thù ghét Cộng Sản. Giữa thập niên 1960, anh bị thương lần đầu, gãy tay ở Bến Cát. Cuối năm 1967 hay đầu năm 1968, anh bị thương lần thứ hai ở ngoài Huế. Anh được đem về Tổng Y Viện Cộng Hoà, được gắn thêm bù lon trong đùi.
Nhờ vậy anh trở thành quân nhân loại hai, được vô văn phòng làm việc chớ không phải ra chiến trường nữa. Tết Mậu Thân, đang nằm dưỡng bệnh ở Y Viện Cộng Hòa, nghe radio kêu gọi nếu quân nhân nào nghĩ mình còn khả năng tác chiến thì hãy ra trình diện.
Mặc dù là quân nhân loại 2, anh Bích xin xuất viện, nhận lãnh mấy chiếc xe tăng đem đến đóng ở Gò Vấp, chuẩn bị tác chiến.Má tôi nhận được tin này mà không muốn tin một chút nào hết. Sau Tết Mậu Thân, Ba Má tôi xin với Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc cho anh vô làm Tùy Viên Quân Sự, anh tôi làm ở đây mấy tháng cho đến khi ông Lộc không còn làm thủ tướng nữa.
Vào khoảng cuối năm 1968, lúc Thiếu tướng Nguyễn Văn Minh là Tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô, anh tôi theo ông Minh, lo liệu về Chiến Dịch Bài Trừ Ma Túy. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, anh Bích hút thử á phiện rồi hút thật sự…Má tôi quá kinh hoàng, tìm đủ mọi cách cho anh cái thuốc phiện, sau cùng anh cũng cai được.
Không muốn làm bài trừ mà túy nữa , vì sợ bị ảnh hưởng xấu trở lại, anh Bích tình nguyện trở ra chiến trường.
Rất khó thay đổi tánh tình”ba gai” của mình , nhưng anh Bich không phải bị kỷ luật nhà binh.
Khi anh mở hàng rào giây kẽm gai trốn đi chơi, cấp chỉ huy trực tiếp của anh nói: Đừng lo gì hết, Bích không khi nào đào ngũ cả, trước sau vì nó cũng trở vô trại!.Tánh tình cởi mở, rộng rãi anh tôi rất được chiến hữu thương yêu. Anh cùng bạn bè đi ăn hột vịt lộn, mấy quả trứng này vừa mới đem ra khỏi nồi luộc không cầm được, anh tôi mở bóp ra phát cho mọi người một tờ giấy bạc để bọc trứng cho bớt nóng. Một lần khác đang ngồi nhậu với đồng đội, thì có một vài quân nhân khác xin được vô nhậu chung cho vui.Vì vậy, anh Bích không có đủ tiền để trả cho cuộc vui nầy.Anh đưa cho bà chủ quán một trái lựu đạn để làm tin, nói ngay hôm sau anh sẽ trở lại trả đủ tiền và nhận lại trái lựu đạn nầy.
Bà chủ quán có quen với Má tôi kể lại chuyện này và nói: Tôi nhận ra Bích là con trai của chị, mà nó không hề biết tôi là ai!
Tôi nhỏ hơn anh 7 tuổi,ít có dịp ở gần anh thường xuyên, nên hai anh em ít có nhiều kỷ niệm thân tình.
Một lần về phép thăm nhà, anh gặp tôi ở ngoài sân và hỏi: Nghe Ba Má nói Trang đang đi học Luật phải không? Đây là một trong những lần rất hiếm hoi anh nói chuyện với tôi. Trong gia đình,Má là người bạn thân của anh, mặc dù anh không bao giờ muốn nghe lời Má khuyên nhủ. Má tôi nói Bích lì lợm lắm, nhưng nó không khi nào cải vả với Má.Mỗi khi Má nói những gì nó không muốn nghe, như nó phải làm gương sáng cho các em, nó chỉ lặng thinh rồi tiếp tục làm theo ý nó!
Với thời gian qua, khoảng cuối thập niên 70, chiến tranh VN là đề tài nóng bỏng của nhân dân ở trong hay ngoài quân đội.
Anh Bích về phép, xin với Má tôi: Nếu có chuyện gì không hay xảy đến cho con, xin Má đem Phi Ánh, con gái lớn của con về nuôi nấng, dạy dỗ.
Má tôi trả lời: Má nuôi con không thành ý nguyện như Má muốn, làm sao Má nuôi cháu nên người được? Nghe vậy, anh Bích khóc rồi nói: Chiêm tinh gia Huỳnh Liên coi tử vi con, nói con không có sống quá 30 tuổi đâu, thôi Má để cho con sống cuộc đời theo ý muốn của con.
Về sau nầy, không biết bao nhiêu lần tôi nghe Má tôi nhắc lại câu nói này của anh tôi. Không làm gì khác được, Ba Má tôi đành để cho anh Bích sống cuộc đời theo ý muốn của anh.
Khi được biết cậu Mười, em út của Má, tập kết ra Bắc đã trở vô Nam và đang nằm vùng ở Cũ Chỉ, Hậu Nghĩa, anh Bích nói với Má: Nếu con mà gặp Cậu Mười, con cũng không tha thứ cho Cậu đâu. Khi Bà Ngoại lén lúc vô thăm Cậu Mười, cậu nói với mẹ nên khuyên các cháu đang chống Cộng nên tìm cách giải ngũ ra khỏi QLVNCH hay là “móc nối” với Cậu để làm gián điệp, cung cấp tin tức cho VC (kiểu ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản).
Nếu không, đến khi Việt Cộng thành công, Cậu Mười không làm sao che chở các cháu được hết!Tôi luôn tưởng tượng đến hình ảnh Cậu Mười và anh Bích gặp nhau sau 30/4/1975, nếu anh tôi còn sống.
Cuộc chiến Việt Nam càng ngày càng trầm trọng, thêm nhiều chiến sĩ bị thương hay hy sinh trên chiến trường mà không ai đoán được kết cuộc như thế nào.

Người tử trận 3 lần: Cố Thiếu Tá “Bắc Đẩu” Nguyễn Ngọc Bích – biển xưa

Mùa hè đổ lửa 1972, anh Bích là Chi đoàn trưởng Chi đoàn 2 thuộc Thiết đoàn 18 Kỵ Binh của Quân Đoàn III QLVNCH. Được lệnh đến tăng cường cho chiến trường Quảng Trị, các Thiết Vận Xa M-113, rất thông dụng trên sình lầy, đi dần đến phía bắc sông Thạch Hãn. Ngày 28/4/1972, anh Bích đứng trên thiết xa, anh thích chỉ huy trong vị trí này chớ không chịu ở trong xe, trúng quả pháo 130 mm, tử trận tại chỗ.Anh tôi hưởng dương 29 tuổi.
Quan tài của anh Bích được chở bằng quân xa GMC hướng về sông Mỹ Chánh. Ngày 29/4/1972, khi quân xa đến cầu Ga thì bị trúng đạn quả tiễn tầm nhiệt AT-3 nên anh tôi bị “tử trận” lần thứ nhì và được cho vào cái quan tài thứ nhì.
Nhất quá tam, đến ngày hôm sau quân xa bị mắc lầy, trúng đạn pháo kích thêm một lần nữa, “tử trận” lần thứ ba nên anh tôi cần có cái áo quan thứ ba.
Đến nhà báo tin buồn cho Bà Má tôi, vị sĩ quan Thiết giáp nói là chiến trường miền Trung còn đỏ lửa, nên việc di chuyển thi hài anh Bích về gặp nhiều trở ngại, nhưng ông hứa bằng mọi cách sẽ đem anh về với gia đình và tang lễ sẽ được cử hành theo ý muốn của Ba Má tôi.
Hơn hai tháng sau, Đại úy Thiết giáp Bắc Đẩu Nguyễn Ngọc Bích về nhà thăm Ba Má một lần cuối cùng, rồi tiếp tục đi lên Nghĩa Trang Quân Đội BH.

Bây giờ anh tôi nằm ở trên đồi.
Kỷ vật anh để lại cho gia đình tôi là một cái vỏ đạn cà nông 105mm, mỗi năm Tết đến Má tôi chưng bông mai vàng trong đó. Ngàn dặm ra đi ,nhưng mỗi năm Tết đến, tôi vẫn luôn mong ước là được có lại có võ đạn này.
Vietnam Veterans Memorial ở Washington DC rất trang nghiêm, đặc biệt, không như các đài kỷ niệm khác. Tên của hơn 58 ngàn chiến sĩ Quân đội Mỹ hy sinh trong cuộc chiến này được ghi trên một bức tường dài bằng đá màu đen. Nếu các chiến sĩ QLVNCH đã nằm xuống có được một đài kỷ niệm tương tợ như vậy, bức tường đen phải dài, dài hơn nhiều lắm.
Đôi khi tôi nghĩ mình cần phải kể lại những gì mà thật ra mình không muốn nhớ lại chút nào hết. Đã bao nhiêu năm qua, nhưngg mỗi khi nghe Thái Thanh hát bài “Kỷ vật cho em”, nhất là vào những ngày mùa đông giá lạnh ở đây, tôi vẫn không cầm được nước mắt../.
LS NGUYỄN NGỌC ANH TRANG

TB: Viết để tưởng nhớ đến anh của tôi, Đại Úy NGUYỄN NGỌC BÍCH đã hy sinh tại mặt trận Quảng Trị năm 1972.
Câu chuyện hào hùng và thương tâm của anh tôi đã được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác qua nhạc phẩm: Bắc ĐầuXEM BÀI CÓ HÌNH ẢNH ĐÍNH KÈM
Nguyễn Vạn Bình

Nguồn: dacsanydan@yahoo.comBẮC ĐẨU NGUYỄN NGỌC BÍCH.pdf-http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2021/10/bac-au-nguyen-ngoc-bich-ls-nguyen-ngoc.html

Thêm chuyện bá láp về Cô Vít : Cô Đen ta gây .. loạn ? – Lý Sự Cùn

Lý Sự Cùn

   Chuyện về Cô Vít đúng là.. Chuyện dài ‘nhandantuve’, trong nhà ngoài phố gây lộn xộn khắp nơi trên thế giới, vui nhất là cái ‘clip’ ghi lời tuyên bố của Ngài Duc Dam (?) họ Vu nghe xong .. cười té ghế !

     Mời quý Cụ xem .. trước khi xem, lấy dây xanh tuya buộc mình vào ghế đó..  Clip về Ngài Duc Dam (?) họ Vu :  Clip được đặt ở cuối trang.

Lão Lý Toét kể các chuyện tào lao bị các vị ‘nữ lưu’ rầy rà quá : viết nhảm nhí chuyện Cô Mu, chuyện Ngựa (dám nhắc.. thượng mã) rồi chuyện con heo .. ! Quý ‘nàng’ cao tuổi, nhưng còn trẻ, mắng là đồ .. già dịch !

   Bài này Lý Toét xin.. ‘đàng hoàng’ hơn một chút !

Số là.. Nàng tiên xẩm cánh dơi, đi mỹ viện Tàu, sửa sắc đẹp, biến hóa thành các Nàng Alpha, Bê ta.. không ‘hấp dẫn các ông CDC Mỹ, nàng sửa thêm nữa thành Nàng Đen Ta và còn có thêm nét đẹp khác để thành Nàng Mu..

   Nàng Mu.. đến, được chiêm ngưỡng, nhưng tự nhiên ‘ra đi không một lời từ biệt !

(Lý Toét nhớ hồi đó Ông Tài tử Nguyễn Long có làm xi nê : “Thúy đã đi rồi !’ có bài hát , tạm mượn để tiếc Cô Mu : “ Mu ơi, Mu ơi ..Mu đã đi rồi../ Nàng đi về đâu.. cho thế nhân sầu..)  Cứ theo Ông CDC thì Mu là người đẹp Colombia, xuất hiện vào tháng giêng 2021, đến 39 quốc gia (trong đó có Mỹ, tại (Cali và Florida..).. giã từ Xứ Cờ Hoa từ Tháng 7, độ nhiễm chỉ còn 0.2% trong các ca..dương tính với Covid tại Mỹ. Nàng chê Mỹ và ở lại quê hương Columbia ( hiện vẫn chiếm 39% các ca nhiễm..)

  Nàng Đen-ta nay, một mình một chợ, đang gây loạn ‘giang hồ’.. bắt đầu từ Xứ Sương mù (phớt tỉnh Ăng Lê) lan đến Xứ Do gốc của Kinh Thánh!

  Nàng Đen-ta xuất thân (tháng 10-2020) cũng kỳ dị.. vì từ Xứ Phật (!).. tên cũng ngộ Đen ta, gốc tiếng Hy lạp Delta, từ điển Mít, giải thích là Tam giác phì nhiêu, châu thổ sông, có rạch chạy ra, nhiều cây cỏ ; nước Ta có Đen ta Bắc Kỳ (sông Hồng), Đen ta Nam Kỳ (sông Cửu), cũng lạ là có Đen ta không cây cỏ (?) như Đen ta sông Nile, khô cằn ?.. rồi có thêm Tam giác Vàng (quý thật?) rồi Tam giác Quỷ (ghê quá); nhưng tên Đen thì tam giác phải đen?  Lý Toét hỏi thêm Bác Xã Xệ thì Bác mắng : “Lão già rồi, hỏi chi dớ dẩn, coi chừng ăn bạt tai đó..”.Lý Toét hại quá, tuy không hiểu, đành tịt về ý nghĩa của Đen ta..?

  Từ Delta ban đầu, mà các Nhà thông thái gọi là B.1.617.2 sau đó ghi thêm AY.1, AY.2,AY.3.. rồi nhiều quá xá tiếp nên gọi thêm chữ Delta plus.. Đen ta.. cộng? chưa thấy có.. Đen ta ‘trừ”?

 Cũng theo CDC thì Delta hiện chiếm đến 80-90% các chủng gây nhiệm Covid tại Hoa Kỳ? và Cô Delta này có võ công kỳ lạ là ‘thay đổi các protein trong gai’ (Nữ nhân càng đẹp.. càng nhiều gai?. Ông Kim Dung có kể một cây gọi là “Tuyệt tình hoa.. đụng vào gai là.. tiêu diêu miền cực lạc!)..gai của Cô Đen-ta còn ghê hơn vì kết hợp thêm các protein của các Cô bạn Bê-ta và Gam-ma.. Rồi CDC cho biết thêm 13 % của các ca nhiễm tại Mỹ là do nhóm bạn’ Delta plus ’mang các số AY.1.AY.2 và AY.3..CDC cho biết.. Delta lây lan rất nhanh và rất mạnh (nhanh hơn Alpha đến 60%) và có khả năng .. tránh né các thuốc chủng lô can như thuốc chủng Tàu.. thuốc chủng Nga?

   Bản báo cáo trên Fortune (Aug 31, 2021) ghi các chi tiết về các thuốc chủng Sinovac và Sinopharm dùng tại Brazil, United Arab Emirates cho thấy chỉ sau 2-3 tháng của mũi chủng thừ nhì.. thì khả năng bảo vệ của thuốc chủng chỉ còn ở mức 20-30% (?)..

 Brazil, Malaysia và Thái Lan đã.. chấm dứt việc xài đổ made in China; tuy nhiên các Ông WHO vẫn khuyên..’ nước nào không có sự chọn lựa thì cứ xài đồ Tàu, ‘có còn hơn không’ vì  nếu không ..thì tắt thở nhanh hơn? (Tàu đã đưa ra thế giới trên 2 tỷ liều.. vaccins và đang dự tính.. xâm lăng thế giới bằng sản xuất và ‘biếu không’ thêm 5 tỷ liều (nước lạnh cũng là thuốc mà?)

    Thuốc chủng Nga thì .. bí mật hơn? Dân Nga không chịu xài (kể cả ông Putin, chỉ đem con gái ra quảng cáo là đã chích thuốc chủng Sputnik-5) Dân chỉ có 35 % chịu chủng ngừa (AP ngày October 19, 2021).. Nga đang có số nhiễm covids tăng cao đến mức ông Putin cho toàn quốc.. nghỉ chơi.. một tuần (The Moscow Times- Oct-20,2021)

    Lý Toét ‘cảnh báo’ Cô Đen ta gây loạn là dựa theo tin của Bác Xã Xệ bên Tây đọc báo của các Ông Thầy Thánh Kinh Do thái.. “Có vẻ là đáng tin cậy?”  “ Tin Ăng lê ghi là Cô Delta plus.. nay có đến 56 thành viên, dành nhau chỗ đứng, và thành viên ‘sáng giá’ nhất là cô AY4.2 đang xuất hiện tại Anh. Cô này xuất sắc hơn vì có tài lây lan tăng hơn các bạn đến 10-15%

So sánh độ lây lan của các chủng Covid-19

   Ông Giáo sư Cyrille Cohen của Phòng Nghiên cứu Immunology ĐH Bar-Ilan (Do thái) giải thích AY4.2 xuất phát từ AY.4 và là ‘cháu nội’ (sub-lineage) của dòng giống Delta-plus.

  Tính đến 15 tháng 10 thì Cơ quan Y Tế  Anh cho biết 10% các ca nhiễm covids tại Anh là do chủng này và nếu theo đà này tăng thêm 10% nữa thì sẽ trở thành một vấn đề đáng lưu ý..

    Giáo sư Gottlieb của FDA  ghi rõ thêm :

Ngày có số ca nhiễm cao nhất tại Anh trong 3 tháng qua, là ngày giới chức Anh xác định là Chủng AY.4 chiếm 8% của số ca. AY.4 có biến chủng mới C:Y145H và FDA đang theo dõi rất kỹ về khả năng gây nhiễm và lây lan .. của chủng này..

AY.4 mutants
Theo các chuyên viên về vi trùng và siêu vi trùng thì hai biến chủng đáng lo ngại nhất là Y145H và A222V vì khi chúng phối hợp sẽ tạo ra ‘chủng quái vật’ gây lan và chống lại các thuốc chủng đang có nhất là các loại thuốc chủng dùng nguyên tắc cổ điển (dùng siêu vi đã gây bất hoạt như thuốc chủng Tàu).  Một số ca nhiễm chủng mới này đã xảy ra tại Hoa Kỳ, Đan Mạch và mới nhất là tại Do Thái (hiện nay 99.7% các ca nhiễm mới tại Mỹ được xác nhận là do chủng Delta).

   New York Post (October 20, 2021) cho biết :

    Giám đốc CDC, Bà Rochelle Walensky nói rằng.. đừng có lo “Delta” gây loạn.. vì chúng chưa tập họp tại Hoa Kỳ, chưa đủ ‘đông’ đâu! Hơn nữa các phương tiện chủng ngừa và điều trị hiện nay của Mỹ vẫn.. dư sức ‘dẹp loạn’ : chủng và bịt vẫn còn hiệu nghiệm.. Bà chưa cho biết Cô Delta AY4.2 này..đang ở đâu trên đất Mỹ (chắc phải nhờ ..FBI chăng?).. Ông Gottlieb (phe Trump cũ) lại tỏ vẻ lo lắng (xem trên), các Ông Ăng Lê thì ‘lo hơn’.. BBC là ‘run ‘nhất ?(BBC News 19 October 2021)

Cô Delta gây loạn: Bác Sĩ lo nhưng các Ông ‘chế’ thuốc chủng lại .. ‘hồ hởi phấn khởi’

   Nature (News 20 October 2021) loan tin :

https://doi.org/10.1038/d41586-021-02854-3

  Ba Ông ‘trùm’ vaccin Mỹ Pfizer, Moderna, và.. J&J đều lên tiếng trấn an dân Mỹ (đã chi cả trăm tỷ đô để mua vaccins của ba Ông). Cô Đen-ta AY4.2 biến hóa .. thì vaccin ‘tam hãng’ này cũng sẽ .. biến hóa theo”.

   Ông Trùm Pfizer, Albert Bourla, ngon lành nhất:  Đứng cạnh Ông Tổng Biden trong một cuộc họp báo tại St Ives (Anh), trước ngày Họp Thượng đỉnh G-7 , ông trùm phán “ Nếu ..cần có một loại vaccin mới chống Covid-19 (kiểu Đen ta gây loạn?).. Pfizer sẽ có liền trong vòng 100 ngày”.

Hai xếp lớn

   Ngon lành thiệt.. có vaccin sớm là hốt bạc nhanh? nhưng báo  Nature đặt câu hỏi : “Làm sao có vaccin khi Covid chưa làm loạn? Đoán cách nào đây? và FDA có nhắm mắt OK liền không?

     Hai hãng Pfizer và Moderna lo bảo vệ ‘nguồn kim ngân’ nên luôn ‘updated’ vaccin (?) để theo kịp Cô Đen-ta, bằng cách tiếp tục thử nghiệm vaccin đang có, thay đổi ‘công thức’ để.. chạy theo biến chủng? (học kiểu.. đoán chủng cúm hàng năm ‘đón trước’ chủng .. sắp đến, và đoán sai thì.. trớt quớt (!) ngừa chủng này nhưng chủng khác đến thì chỉ còn cách uống.. Tamiflu?).

   Các Ông Pfizer và Moderna  chắc chắn thuốc chủng hiện nay ‘làm được một điều là sau khi chủng đủ hai liều (nay thêm liều thứ ba) thì dù bị Cô Đen-ta tấn công (các ông BS gọi là ‘breakthrough infection’ (nhiễm phá rào) thì “cũng khó vào nhà thương hơn và không sợ bị nhét ống cùng văng ti la to..”

   Ông Moderna cũng phải chạy đua vì.. chậm chân là húp cháo! Moderna, theo bà Phó xếp Jacqueline Miller thì họ đã nộp cho FDA về kết quả sơ khởi các  thử nghiệm một vaccin mới “đa tài= multivalent’ chống đỡ cả bộ đôi Beta và Delta.. không ngán cô Đen-ta gây loạn.

   Ông Ăng Lê AstraZeneca (vaccin loại .. virus-vector) không nhanh được như hai Ông Mỹ vì phương pháp chế vaccin rắc rối và đòi hỏi kỹ thuật sản xuất ‘chậm hơn’? nhưng cũng đang tìm và thử.. Chờ xem .

   Lý Toét, dốt đặc, đang tự hỏi.. Cô vít Đen ta chưa gây loạn thì vaccin làm ra đón trước sẽ được ‘đánh giá hiệu quả cách nào đây? Nature cũng hỏi : “how to determine the true efficacity of variants vaccines ?” Làm sao ‘tuyển mộ người tình nguyện’ chịu.. thử trước đây? rồi các thử nghiệm so sánh kiểu thuốc thật/thuốc vờ..vân vân..

  Thành ra “ true efficacy” lại là .. đo sự gia tăng các kháng thể hay lượng tế bào B?

Các nhà chuyên môn.. còn đang bàn và cãi ..

 Lý Toét nản quá.. chợt nhớ Ông Nhân Dụng xúi ‘lên đồng’ hỏi Thánh! vậy xin hẹn Quý bạn già chờ Thánh phán nhé..

                                                                                         Lý sự Cùn 10/2021

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Áo Lụa Còn Đâu! – Khuyết Danh

Khuyết Danh

Nắng Saigon anh đi mà lạng quạng

Bởi vì em mặc váy áo mỏng tang

Anh nhìn em đang khoe của hở hang

Lên cơn rét …  váy không còn chỗ ngắn

Anh vẫn nhớ, em ngày xưa xinh xắn

Áo dài bay trong ráng đỏ mây chiều

Nhưng sao nay, em thay đổi quá nhiều

Cuồng đuổi sát những mô đen bốc lửa

Gặp một bữa, anh hết hồn một bữa

Gặp hai hôm, xây xẩm cả mặt mày

Em ra đường chỉ vài kẻ khen hay

Còn tất cả đều nhìn em ngao ngán

Xưa em đẹp với áo dài duyên dáng

Xưa em xinh với áo ngắn bà ba

Nay nhìn em, anh bỗng sởn da gà

Bởi em mặc toàn thời trang kinh dị

Nghĩ lại đi,  hỡi người em yêu quý

Giữ hộ anh nét mộc mạc bà ba

Anh mãi yêu những vẻ đẹp quê nhà

Giữ hộ anh tà áo dài mê hoặc!

Khuyết Danh

Nguồn: http://nguoiphuongnam52.blogspot.com/2021/10/ao-lua-con-au.html

Cuộc hành trình của Colin Powell – Ngô Nhân Dụng

  • Ngô Nhân Dụng

24/10/2021


Tướng Colin Powell tại tượng đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam, 11/11/2007.
Tướng Colin Powell tại tượng đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam, 11/11/2007.

Nghe tin ông qua đời, tôi mới nhớ ra Tướng Colin Powell là chính khách Mỹ duy nhất mà tôi đã ngồi nghe đọc một bài diễn văn từ đầu tới cuối. Nghe các nhà chính trị nói không phải là một điều thích thú gì vì mình biết họ chỉ nói để kiếm phiếu. Hồi ở Việt Nam tôi chỉ nghe hai nhà chính trị đọc diễn văn từ đầu tới cuối, vì làm việc cho chính phủ nên phải đến ngồi nghe. Các diễn giả lý luận rất sắc bén; nhưng giọng nói đều đều như các thầy giáo của họ không làm cho trái tim mình rung động một chút nào.

Colin Powell thì khác. Tôi tình cờ được nghe ông nói trong một bữa tiệc gây quỹ của Đại học Cal State Fullerton. Nghe Colin Powell nói tôi mới biết tài hùng biện của một chính khách ở xứ này. Ngay từ phút đầu, sau khi thực khách đã ăn đĩa tráng miệng, ông Powell đã lôi cuốn mọi người với những câu pha trò hấp dẫn mà tế nhị, không “rẻ tiền.” Giọng nói ấm áp, rõ ràng, lời lẽ giản dị. Trong nửa tiếng đồng hồ nghe ông, có lúc ai cũng phải bật cười, rồi khi được ông khích động những tình cảm cao thượng trong lòng, tất cả lại bùi ngùi cảm động.

Sau chiến thắng ở Iraq lần thứ nhất, năm 1991, Colin Powell là một ngôi sao đang lên. Ông trở thành Tham mưu trưởng Liên Quân trong hai đời tổng thống, George H.W. Bush và Bill Clinton. Nhiều người trong đảng Cộng Hòa đề nghị ông ra ứng cử năm 1996. Năm 1995 ông đã xuất bản cuốn tự truyện về “Cuộc Hành Trình” của mình, “My American Journey.” Các chính khách sắp ứng cử tổng thống đều chuẩn bị theo sách này. Tổng thống Bill Clinton lúc đó đang bị đàn hạch vì chuyện trai gái trong Tòa Bạch Ốc. Powell có nhiều hy vọng thắng, sẽ thành vị tổng thống Mỹ đầu tiên là con của một di dân da đen!

Nhưng cuối cùng Powell không ứng cử. Có tin tiết lộ rằng bà vợ ông khuyên can. Mặc dù tư tưởng ông có khuynh hướng bảo thủ, nhưng bản chất ông chỉ là một người chỉ huy, một nhà quản trị. Ông khó thay đổi chính mình khi cần chiều theo thị hiếu của cử tri. Cũng không mang một “ngã mạn” đủ mạnh để thu hút quần chúng vốn thích những “người hùng.” Nhưng một lý do khác, có thể vì ông và bà Alma Johnson Powell nghĩ rằng dân Mỹ chưa sẵn sàng bầu một tổng thống da đen.

Bà Alma Johnson sanh ra ở Birmingham, Alabama, nơi tinh thần kỳ thị chủng tộc rất mạnh; các nhóm “da trắng thượng đẳng” từng đốt nhà thờ của người da đen. Bố mẹ ông di cư từ Jamaica, Powell may mắn sanh ra ở Harlem năm 1937, lớn lên ở South Bronx, New York, chung quanh toàn là di dân đủ thứ sắc tộc, không ai quan tâm đến màu da hay tôn giáo của người hàng xóm. Ông gia nhập quân đội, nơi mọi người được đối xử bình đẳng hơn bên ngoài. Đó là “gia đình” thứ nhì của ông, suốt đời. Chỉ đến thời 1950, được thuyên chuyển tới căn cứ Fort Benning, tiểu bang Georgia ở miền Nam, ông mới nếm mùi bị phân biệt chủng tộc.

Trong cuốn tự truyện Powell kể lại, “Tôi có thể đến tiệm Woolworth mua cái gì cũng được, nhưng không được phép vào quán ăn, … không được bước vào phòng vệ sinh dành cho người da trắng.” Một bữa ông ra khỏi căn cứ, ghé vào một quán hamburger. Biết người da đen không được vào trong tiệm, ông đứng ngoài cửa sổ đặt món ăn. Cô gái da trắng bên trong, muốn giúp ông, hỏi: “Ông là người Puerto Rico?” “Không.” “Ông là sinh viên Phi châu du học?” “Không. Tôi là một sĩ quan, người Mỹ, Da đen, I’m a Negro.”

Cô gái phân trần: “Tôi từ tiểu bang New Jersey, miền Bắc xuống đây. Tôi không biết tại sao, nhưng người ta bảo tôi không thể bán thức ăn cho ông.”

Quán hamburger này không bán cho “negro.” Cô đề nghị sẽ đem cái bánh ra cửa sau đưa ông, cho khuất mắt mọi người. Nhưng Colin Powell từ chối, không chấp nhận giải pháp “đi cửa sau.”

Colin Powell đã đi cửa trước, cứ thế tiến tới. Hai lần chiến đấu ở Việt Nam, lên đại tướng, là người trẻ tuổi nhất nhậm chức tham mưu trưởng, làm Cố vấn An ninh Quốc gia cho Tổng thống Reagan, làm bộ trưởng ngoại giao thời Tổng thống George W. Bush. Ông được gắn Huy chương Tự Do (Presidential Medal of Freedom) hai lần.

Năm 1991 Colin Powell nổi bật khi quân Mỹ đánh đuổi quân Iraq ra khỏi xứ Kuwait. Quân Mỹ theo lệnh của Tổng thống George W.H. Bush (ông bố) đã dừng chân giữa sa mạc, cho tàn quân Iraq thoát chết chạy về nước. Mười năm sau, thời Tổng thống George W. Bush (con) đánh dấu một điểm “u tối” trong cuộc đời. Thuyết trình trước Liên Hiệp Quốc, ông chỉ lên các bức hình do vệ tinh nhân tạo chụp, tìm cách chứng minh cho cả thế giới thấy Saddam Hussein đã tích trữ các bom vi trùng và bom hóa học, có thể cả bom nguyên tử; để biện minh nước Mỹ phải tấn công Iraq.

Sau khi quân Mỹ chiến thắng, mọi người không thấy một thứ vũ khí hủy diệt tập thể nào. Cả Tòa Bạch Ốc, chính phủ Mỹ và Ngoại trưởng Colin Powell, đã tin tưởng vào các tin tình báo sai lầm. Chính phủ Anh và Liên minh NATO cũng tin như họ. Cuộc chiến Iraq kéo dài cho tới bây giờ.

Đó là một bài học cho Colin Powell. Trước khi tấn công, ông đã nói chuyện với Tổng thống Bush, nêu ra các vấn đề sẽ phải đối phó sau khi chiến thắng. Nhưng sau khi quân Mỹ đánh bại Saddam Hussein, mọi công việc được trao cho Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, và người của ông ta là Paul Bremer. Mọi quyết định ở ngoài tầm tay của ông ngoại trưởng. Ông Rumsfeld ra lệnh giải tán quân đội Iraq, hàng trăm ngàn người bỗng dưng thất nghiệp, dần dần biến thành quân khủng bố. Khi dân chúng Iraq kéo tới phá cả viện bảo tàng để hôi của, ông Rumsfeld phủi tay, coi đó là chuyện thường tình. Powell không được hỏi ý kiến lần nào.

Từ đó Powell nhận ra rằng quân đội không phải là thứ “khí cụ” giản dị cho các vị tổng thống Mỹ an bài việc thế giới. Từ đó, xuất hiện một “Lý thuyết Powell” về chiến tranh. Ông chủ trương nước Mỹ chỉ nên tham chiến khi không con đường nào khác. Trước hết, phải xác định rõ ràng mục tiêu của cuộc chiến, một mục tiêu chắc chắn có thể đạt được, và phải có sẵn một chiến lược rút lui. Cuộc chiến tranh phải có một mục tiêu chính trị rõ ràng, được dân chúng trong nước và được các nước đồng minh ủng hộ. Phải sử dụng tất cả sức mạnh kinh tế, tài chánh cho cuộc chiến với một lực lượng quân sự bảo đảm thành công chắc chắn.

Colin Powell lớn lên trong một nước Mỹ đang thay đổi. Cha mẹ ông được hưởng chính sách mở cửa thâu nhận di dân. Ông nhập ngũ mười năm sau khi quân đội không còn phân chia các đơn vị theo màu da. Ông rất hãnh diện cả cuộc đời ông được dạy dỗ tại các trường công lập, kể cả trường Đại học Thành phố New York (City College of New York).

“Tôi là một sinh viên CCNY tiêu biểu. Ngôi trường được lập ra để đón nhận các thanh niên nam nữ của các gia đình di dân nghèo. Các bạn học của tôi có khả năng không kém gì những sinh viên Harvard, Yale hay Princeton. Họ chỉ thua kém vì gia đình không có tiền và thiếu quan hệ móc nối. Nhưng khi ra trường họ vẫn có thể cạnh tranh và qua mặt các cựu sinh viên những đại học lớn nhất nước.”

Thành công trong cuộc đời của Colin Powell là một bài học cho con cháu các di dân. Có người coi ông là một bằng chứng nước Mỹ không còn vấn đề màu da nữa, nhất là sau khi con một di dân da đen đã được bầu làm tổng thống. Thực ra trong xã hội vẫn nhiều người còn mang tâm lý phân biệt chủng tộc, có lúc họ cũng rất lớn tiếng. Trong nước Mỹ vẫn có những người giàu càng giàu thêm, nhiều người nghèo từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nhưng phải công nhận xứ sở này cho mọi người nhiều cơ hội thay đổi và tiến lên. Con cháu người Việt tị nạn ở Mỹ có thể coi Colin Powell là một tấm gương đáng noi theo. Chính các thế hệ di dân nối tiếp nhau góp phần làm nước Mỹ tiến bộ hơn, nhân đạo hơn, và hòa hài hơn nữa.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/colin-powell-chien-tranh-viet-nam/6282854.html

Ngày Ấy Một Chặng Đường – MĐ Nguyễn Tấn Vinh


Chuyện kể lại của MĐ Nguyễn Tấn Vinh

This image has an empty alt attribute; its file name is cac-chien-si-nhay-du-vung-tay-sung-chien-dau-sang-ngay-30-thang-4-1975.jpg

Cuối tháng ba năm 1975. Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù được không vận về Saigon. Lịnh ứng chiến một trăm phần trăm. Ba lô súng đạn giá ngay sân cờ. Mười mấy chiếc GMC túc trực sẵn sàng lên đường bất cứ lúc nào.

Tôi mệt mỏi ngồi xuống chiếc ghế sắt cũ kỹ trong câu lạc bộ sĩ quan tiểu đoàn. khẽ cựa mình, tiếng kẽo kẹt khô đét, lì lợm của chiếc ghế làm tôi khó chịu. Sài gòn tháng Ba vẫn thoang thoảng gió xuân muộn, cái cảm giác mát rượi dễ chịu từ cơn gió, không khỏa lấp được nỗi âu lo của một kẻ đứng trước cơn bão cát, chỉ còn chờ những hạt cát sắc cạnh, cháy bỏng táp vào da thịt.

Tổ mẹ nó… tôi lầm bầm chửi đổng, ở đâu cũng đem thân che bão, mà toàn là bão lửa, thứ bão lì lợm, chết người. Mới mệt nhoài leo lên, leo xuống ngoài Thường Đức! Đổ không biết bao nhiêu là máu để lên ngồi trên chỏm núi đá có cao độ 1062, ngồi hút thuốc, nhìn mông lung, cái mông lung vô hồn của một vùng đất chết… đất chết thật đó.

Xác người la liệt, nối đuôi nhau, nằm chồng chất lên nhau. Nằm sấp, nằm ngửa trong giao thông hào quanh ngọn đồi; nằm rải rác dài dài từ đỉnh đồi xuống chân núi. Xác nguyên vẹn cũng có, xác “banh ta long” cũng có. Mùi tử khí hôi thối cuồn cuộn giữa trời xanh. Cũng may là chỉ còn lại xác phe địch, xác phe ta thì đã gói ghém đem về.

Nhục, người lính phụ máy cho truyền tin tên là Nhục, hỏi:

“ Kỳ cục thật, khi không dành nhau một chỏm núi. Khi không nướng hết mấy trăm mạng người, rồi khi không… xuống núi, bỏ lại hết; xuống núi… xuống núi, bay gấp về Sài gòn. Vậy sao không bay về từ Huế, mà giành giật làm chi, nướng Lính làm chi mà giờ chiếm được rồi rút bỏ?

Tôi hằn học… ĐM mầy hỏi mấy ông ở trên kia kìa!… tôi chỉ lên trên mấy chiếc trực thăng đang nghiêng mình chém gió…. Tao cũng như mầy thôi! Biểu húc là húc… bất kể cha già mẹ yếu….. Mẹ nó! Hai thầy trò, một tên Vinh một tên Nhục… nó mới về trung đội, chân ướt chân ráo là ông trung đội phó “ấn” cho tôi. Nó hợp với tên ông thầy. Vinh Nhục. Nhục Vinh, hai người đèo bồng cho nhau lấy hên. Hên đâu không thấy, đang nghĩ ngợi lung tung lại thấy nó lại thấy nó lọ mọ đi vô:

* Thiếu úy! Đại đội mời họp…. Mới về tới SàiGòn có mấy hôm. Rồi! Xong! Bữa cơm tối tại nhà Quận coi như đi đong. Mới hôm qua tôi đã hứa với em, thế nào anh cũng về “Ngồi với Ba Mẹ em một bữa”. Tôi ngậm ngùi nhìn Quận! Em mong manh quá để có thể chia sẻ với tôi một đời giông bão. Tội cho em! Yêu làm chi người lính Dù, để rồi đời con gái, tuổi thanh xuân phải từng đêm nhung nhớ, đợi mong trong âu lo, phiền muộn! Yêu một lần nhưng nhung nhớ một đời vì một năm chỉ gặp nhau vài lần sau những ngày chiến trận, gặp nhau trong khoảnh khắc để ôm nhau quyện lấy nhau trút hết nỗi nhung nhớ yêu thương qua nụ hôn nồng cháy. Thôi anh đi đây đám bạn đang chờ!…..

Đấy tình yêu của người chiến binh Dù mong manh và ngắn ngủi. Khi đơn vị được về Saigon là đám Sĩ Quan trẻ chúng tôi tụm nhau uống rượu tìm say để quên đi những thống khổ, những mất mát đau thương của chiến hữu nơi trận mạc.

******

Sau những tháng ngày quần thảo với cộng quân tại mặt trận Thường Đức, Lữ Đoàn 1ND.Tham chiến toàn bộ cùng các TĐ.1-8-9. Với 100% quân số vì thời gian dài nằm trấn giữ biên cương nơi tuyến đầu sau hiệp định Ba lê. Từ lúc nhập cuộc tháng 8/74 cho đến tháng 11/74, qua các trận đánh nẩy lửa, nhất là trận 1062. Quân số tử vong và thương vong rất lớn vì địch quân hơn 3 sư đoàn, gồm pháo binh hạng nặng 130 ly, và phòng không yểm trợ tối đa. Chúng tôi chỉ một LĐ mà đánh giặc theo kiểu tiết kiệm vì lúc đó Hoa Kỳ đã cắt giảm viện trợ. Hoàn toàn không có sự yểm trợ của đồng minh và hỏa lực.Nhưng LĐ1 ND đã hoàn thành nhiệm vụ trong danh dự của binh chủng nhất là chiến thắng vẻ vang tái chiếm đồi 1062 và đẩy lui địch quân vào sâu gần chi khu Thượng Đức.

Riêng TĐ 9 ND đã tiến chiếm thêm ngọn đồi B2 phía sau lưng 1062. Trấn giữ làm bàn đạp cho bước kế tiếp để tiến chiếm lại chi khu Thượng Đức và cũng là tiền đồn bảo vệ cho ngọn đồi chiến lược 1062.

Thế nhưng có lệnh rút bỏ 1062. Sau khi nhận lệnh, các trung đội trưởng đã nhận lãnh các antenna điện tử 3 chân màu xanh lá cây để đặt lại các ngọn đồi, kể cả 1062 để toán tác chiến điện tử ở Non Nước, Đà Nẵng theo dõi tiếng động của bước chân người di chuyển.

Còn chúng tôi toàn bộ TĐ 9ND rời bỏ 1062 trong đêm tối. Tr/úy Thăng Đ/Đ trưởng 94. Gọi các Tr/đội trưởng về họp ban lệnh hành quân và cho lệnh các tr/đội di chuyển.

Chúng tôi lãnh mỗi người một ổ bánh mì với đường, dự trù cho bữa ăn trưa ngày hôm sau. Cấp trên cho biết, khi ra khỏi vùng pháo kích của địch quân thì sẽ có xe GMC đón ra ngoài.

Tiểu đoàn bắt đầu di chuyển lúc 12 giờ đêm, đội hình hàng một trong đêm tối thinh lặng. Người sau nối đuôi người trước. Tr/đội 2 của tôi đi sau cùng của ĐĐ Và ĐĐ94 bao chót của TĐ.

Sau nhiều giờ men theo dấu chân đường mòn của người đi trước lên đồi xuống suối, trời bắt đầu mưa nhẹ hạt, cơn mưa kéo dài cả tiếng đồng hồ. Đường mòn nhỏ trở nên trơn trợt làm cho sự di chuyển khó khăn và chậm chạp. Nhất là các binh sĩ bị bệnh sốt rét bắt đầu lên cơn.

Khoảng 4 giờ chiều chúng tôi đến một con suối cạn thì bắt gặp một số đông binh sĩ của các đại đội khác rớt lại vì bệnh và đuối sức; đặc biệt một người lính tr/đội 2 của tôi bị sốt rét lên cơn không thể di chuyển vì quá yếu.

Tôi ra lệnh cho người khác mang ba lô cho anh ta, nhưng sau vài bước chân chậm rãi mệt nhọc, cuối cùng anh ta ngất xỉu. chúng tôi không có cáng để khiêng vì y tá của đại đội đã đi trước quá xa.

Tôi gặp Th/úy Thành thuộc ĐĐ90 cũng là người chú bà con với tôi, anh ta đã nóng giận khi thấy các binh sĩ ngồi bẹp xuống đất không thể di chuyển nên quát tháo và hối thúc họ lên đường vì sợ đêm tối buông xuống mà chúng tôi còn rất xa TĐ.

Cuối cùng chúng tôi thay phiên dìu người lính sốt rét của tôi đến chân ngọn đồi trọc. Đường mòn trơn trợt quá leo lên tụt xuống đã rất khó cho người khỏe mạnh chứ nói chi đến kẻ bịnh. Tôi cho một binh sĩ kéo tay hắn ta và tôi thì đẩy đít nó lên gần tới đỉnh đồi, hởi ôi người lính phía trước nắm lấy thân cây bằng ngón tay cái để lấy đà kéo lên nhưng thân cây đã gãy với sức nặng của hai người. Chúng tôi bị tụt xuống lại chân đồi. Quá mệt mỏi chúng tôi đuối sức. Cố hết sức chỉ đưa hắn ta lên gần nửa ngọn đồi và để nó nằm lại đó, tôi lấy Poncho và mền đắp cho anh ta. Khi tôi lên được đỉnh đồi chỉ cách thêm 25 thước; gặp một chốt của TĐ7 ND. nhờ họ đem võng xuống khiêng anh ta lên để nằm lại đó hôm sau tản thương.

Chúng tôi tiếp tục lên đường khoảng 7:30 chiều hôm đó. Sau cùng, toàn bộ tr/đội 2 và các bệnh binh của TĐ đã ra đến điểm hẹn của TĐ. Mọi người rã rời, mệt lả vì đói khát. Một cuộc triệt thoái không bao giờ quên trong đời binh nghiệp.

Sau Khi triệt thoái khỏi 1062, đơn vị đang đóng quân tại Quận Đại lộc tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng. Tiểu Đoàn bung rộng ra các xã Hòa Vang, Hòa Mỹ, Hòa Phước.. Đối với Nhảy Dù mà được đóng quân trong Ấp, Xã có dân chúng là một đặc ân lớn (một hình thức dưỡng quân sau những ngày đánh đấm tơi bời hay nằm tuyến phòng thủ đối diện địch quân trên những cao điểm chiến lược, chiến thuật quá lâu).

Buổi sáng, đang nhâm nhi ca cà phê (cái ca sắt của lính) thì Dũng âm thoại viên gọi:

“Thẩm quyền! đích thân 21 trên máy”.

— 19 tôi nghe 21.

– Anh cho kiểm điểm lại quân số, bao nhiêu ông già 60, bao nhiêu cấp số đạn? Báo về Đại Đội trong ngày hôm nay.

Linh tính cho biết có chuyện sẽ nhập cuộc tôi vội hỏi

-Mình vào vùng hả Đích Thân? Trám tuyến hay có đồ chơi ?

– Về Saigon. Nhưng tuyệt đối bảo Mật cho đến khi rời tuyến.

– nhận rõ 5/5 Đích Thân.

Những ý tưởng về Saigon gặp em, đi xi-nê dạo phố, cafe ở Rex lòng tôi tràn ngập niềm vui. Tôi cho gọi 4 tiểu đội trưởng đến cho lịnh kiểm điểm quân số. Súng đạn để báo về ĐĐ.

Hôm sau những người lính Mủ Xanh (TQLC) từ Huế vào trám tuyến hoán đổi cho chúng tôi, khi tất cả đã hoàn tất. Chúng tôi những người lính của TĐ 9 Nhảy Dù lên xe GMC ra phi trường Non Nước để được không vận về Saigon.

Khoảng 10 giờ sáng đoàn xe bắt đầu chuyển bánh một hiện tượng bất ngờ xảy ra. Đó là dân chúng túa ra chạy theo xe hai bên đường la lớn:

“Nhảy Dù đừng đi! Nhảy dù đừng đi! Ở lại với chúng tôi!”.

Một số đông đồng bào lại gồng gánh bắt đầu di tản. Vì thấy tình hình dân chúng quá hoang mang chúng tôi được lệnh ở lại đợi tối khuya dân chúng ngủ rồi mới lên đường.

Về đến hậu cứ trại Châu văn Tiếp trong Hoàng Hoa Thám lệnh ứng chiến 100%. Ba lô súng đạn được giá ở sân cờ Tiểu Đoàn. Xe GMC túc trực 24/24 chúng tôi có thể đi hành quân bất cứ lúc nào. Thế là giấc mơ gặp Em tan biến. Nhưng có nhờ nhắn tin em đã vào hậu cứ thăm tôi.

Nằm ứng chiến tại hậu cứ hơn một tuần thì được lịnh hành quân tái chiếm Xuân Lộc, Long Khánh. Lịnh xuất phát bảy giờ tối. Đoàn xe không mở đèn, âm thầm lăn bánh, cho đến khi ra khỏi vòng đai thành phố mới được mở đèn.

Tôi ngồi ghế trưởng xa trên chiếc xe thứ nhất của đại đội. Đoàn quân xa di chuyển khỏi cổng tiểu đoàn, tôi bỗng nôn nao như linh cảm chuyến đi này là lần cuối cùng tại hậu cứ… có khi nào mình sẽ đi mãi không về. Trong ánh đèn hiu hắt, vàng vọt ở cổng doanh trại, hình như Quận đang đứng đó, tôi chỉ kịp nhìn thấy chiếc Yamaha màu xanh và một ánh mắt nhìn theo. Cố nhoài mình ra cửa xe, tôi vẫy tay gọi lớn …. Quận! … Quận…! Anh đi….

Những băn khoăn về gia đình, cha mẹ, dấy lên tràn ngập tâm hồn tôi. Tin chiến sự miền Trung đã mất, cả dòng họ tôi chỉ mỗi người chú ruột là Cảnh Sát chi khu Bình Sơn may mắn di tản vào được Saigon theo đoàn người chạy loạn.

Khoảng một, hai giờ sáng xe đổ quân ở ngã ba Dầu Giây, tỉnh Long Khánh. Cả tiểu đoàn ép sát vào bìa rừng cao su chờ đợi. Bảy giờ lịnh của đại đội cho các trung đội tập họp ở bãi đất trống gần quốc lộ, chờ trực thăng đến bốc.



Tiếng phành phạch của cánh quạt trực thăng xa xa vọng lại rồi liền sau đó “những con quạ đen khổng lồ” xuất hiện bốc chúng tôi vào vùng hành quân. Trước khi lên trực thăng tôi còn thấy có phóng viên ngoại quốc phỏng vấn một vài người trong đoàn quân của TĐ 9 Nhảy Dù lại ra tuyến đầu ngăn chận địch quân trong giờ thứ 25.

Trực thăng đổ chúng tôi xuống rừng cao su Xuân Lộc. Lấy đội hình tiến quân. Trung đội 2 của tôi hàng ngang đi đầu, trung đội 1 và 3 hai hàng dọc bên trái và phải, trung đội 4 hàng ngang sau cùng tiến bước theo những gốc cây cao su thẳng hàng ngay lối như một cái hộp di chuyển trong cánh rừng. Nếu đụng địch hướng nào chúng tôi cũng sẵn sàng chống đỡ và yểm trợ cho nhau. Người lính mang máy đưa ống liên hợp cho tôi và nói Đích Thân 21 gọi

– 19 đây 21

– 19 tôi nghe đích thân.

– Anh cho con cái đi chậm giữ im lặng quan sát thật kỹ phía trước, vì trước mặt chúng ta là vùng phi oanh kích.

– Nhận rỏ 5/5 đích thân.

Nửa tiếng sau khinh binh ra dấu dừng bước và cho biết thấy căn nhà trước mặt, tôi báo máy về đại đội và gởi ba người bò lên sát căn nhà.

Không có dấu hiệu của địch, chúng tôi vào nhà thì có hai người đàn bà nói giọng Quảng Nam họ cho biết căn nhà ông Năm là chủ nhân, họ chỉ là người làm công. Tôi hỏi ông Năm đâu họ nói vừa mới lái xe đi khi trời vừa sáng.

Căn nhà thật khang trang, phòng khách có bộ ghế gỗ quí màu vàng óng ánh và trên tường treo những đầu nai có sừng to. Tôi báo về đại đội và nghe giọng nói của Đích Thân Lê Mạnh Đường tiểu đoàn phó vẳng theo loa trong máy đại đội…

Chúng tôi tiếp tục di chuyển theo hướng tiến quân trên bản đồ. Bỗng dưng nghe tiếng hỏi ai đó? Tiếp theo, tiếng súng nổ, hỏa lực rất hùng hậu đủ các loại vũ khí.

Tôi nép vào một gốc cây và quan sát, lệnh cho tiểu đội bên phải theo các gốc cao su tiến sát lũy tre và hàng rào kẽm gai trước mặt. Chỗ này không dễ gì liều mạng để “nhào dô”.

Kiểu phòng thủ của Ấp chiến lược, rất cứng để làm chậm sức tấn công của địch trong khi chờ viện binh, với hàng rào tre gai và lởm chởm kẽm gai. Chắc chắn sau đó sẽ là giao thông hào và các hỏa điểm.

Tôi phân vân…có phải địch đã chiếm vị trí này? Hay quân bạn?… Kệ mẹ nó, mầy bắn tao thì tao dứt mầy cái đã… tính sau!! Nhảy Dù mà!

Tôi cho tiểu đội khinh binh xử dụng cùng một lúc bốn trái M72 thổi vào bụi tre non thưa thớt với ý định đục một lỗ thủng để xung phong, một trái đạn lọt xuyên qua trúng căn nhà bốc khói sập mái. Súng nổ càng dữ dội hơn, có tiếng la ngay trước mặt “ĐM đem cây đại liên 60 lại đây”.

Tôi ngóc đầu lên sau gốc cây cao su và thấy lố nhố người di chuyển dưới giao thông hào, đầu đội đủ các thứ nón và một số để đầu trần. Tôi gọi máy về đại đội xác nhận lại có thể chúng ta đánh nhầm quân bạn vì địch quân không chửi thề ĐM (nó có chửi thề thì phải là đéo mẹ). Nhưng Đại Đội Trưởng Thăng khẳng định trước mặt hoàn toàn là địch không một đơn vị bạn nào theo tin ban hai của tiểu đoàn.

Tiếng súng thưa dần một người mặc quân phục bộ binh tay cầm Speaker phone loại ấp chiến lược hô to:

– Chú ý nếu các bạn là QLVNCH thì bỏ súng đứng lên. Câu nói nầy như là lời kêu gọi đầu hàng của địch quân nên chúng tôi vẫn nằm yên tại chỗ, ông ta tiếp tục kêu gọi và tiếng súng im hẳn tôi nói với Lê Ta đang nấp sau cây cao su trước mặt tôi. “Lê Ta mầy đứng lên nói là Nhảy Dù đây”.

Lê Ta tần ngần… “ĐM. mầy đứng lên ép sát vào thân cây đưa cánh tay trái có phù hiệu ND ra nếu nó bắn trúng chỉ bị thương tay trái tao cho di tản”. Lê Ta đứng lên, người đàn ông trông thấy hắn liền hỏi:

– Chỉ huy anh đâu?

Tôi đứng lên, tiến đến ông ta. Tôi nhận ra ông là một thiếu tá bộ binh.

Khi vừa qua khỏi bờ giao thông hào thì một số người chĩa súng vào tôi than khóc đòi trả mạng của cha, chú cho họ. Tôi lúng túng vì sợ họ mất bình tĩnh cướp cò tôi sẽ chết oan. Ông thiếu tá bộ binh kêu gọi họ bình tĩnh bỏ súng xuống nhưng vô hiệu.

Từ xa bên trái có một người mặc bộ đồ đen tuổi trung niên tiến về chúng tôi vừa đi ông ta vừa hỏi:

– Cái gì thế?

Tuyệt nhiên mọi người im lặng, tôi hỏi người bên cạnh được biết đó là ông Cha xứ của ấp Bảo Định. Trung úy Thăng, đại đội trưởng lên gặp Cha, trao đổi với nhau chúng tôi được biết ông đã cùng dân làng quyết tử thủ nên mới có sự nhầm lẫn đáng tiếc xảy ra.

Được biết, trung tá Nguyễn Văn Nhỏ Tiểu đoàn trưởng TĐ 9 chúng tôi bị thương ở cổ vì mảnh đạn súng cối 60 của Cha xứ bắn ra. Lính tôi ba người bị thương một nặng đổ ruột. Bên phía dân làng hai người chết, ba bị thương trong căn nhà sập vì M72 trong đó có một ấp phó an ninh.

Trưa hôm đó Cha xứ cho giết heo khoản đãi. Chúng tôi tạm dừng quân chờ tải thương trước khi tiếp tục di chuyển.

Trung đội phân tán vào các vị trí quanh ngôi nhà thờ nhỏ. Tôi cởi nón sắt và tự nhiên quỳ xuống làm dấu thánh giá. Hình như đã lâu, tôi đã quên mất lời kinh nguyện, có điều gì như một lời hối lỗi chạy nhanh qua và mất hút cuối tầm mắt hướng về Cung Thánh.

Ngọn nến leo lét như một hy vọng nhỏ nhoi, nhưng bền bỉ niềm tin làm tôi xót xa nghĩ ngợi…. Cả một Quân đội đã không bảo vệ được người dân mà để họ phải cầm súng!

Tôi rùng mình…liệu cái xứ đạo nhỏ bé nầy còn sống được bao nhiêu người khi bánh xích T54 tràn qua?… Xin Chúa thương xót chúng con…tôi lẩm bẩm cầu nguyện và không biết phải xin Chúa cho tôi điều gì khi quanh tôi đã có quá nhiều tan nát.

Cuối cùng thì không có tải thương. Chúng tôi phải mang theo thương binh và tiến sâu vào các rừng cao su cũng như các vườn cây ăn trái của Tướng Tỵ. Tái chiếm lại những vùng bị địch quân chiếm đóng. Mặt trận càng ngày càng khốc liệt.

Tôi lại được lịnh 94 vào bắt tay với đại đội của Nguyễn Quốc Bảo Huệ tiểu đoàn 8. Khi đến vườn chuối, trung đội 2 của tôi đụng nặng. Địch quân núp dưới hầm có nắp làm bằng thân cây cao su và cây chuối, phủ lá chuối rồi đắp đất bên trên rất kiên cố. Nơi đây là ổ súng cộng đồng thượng liên và B40 hỏa lực địch rất dữ dội (xin nói rõ chiến trường ở đây là đồng bằng trong các vườn cao su và trái cây nên đôi bên dùng hỏa lực súng cá nhân và cộng đồng tấn công nhau. Không như chiến trận vùng 1 ở mặt trận Thường Đức 1062. Núi đồi dốc đứng đánh nhau bằng lựu đạn nhiều hơn)

Địch quân chống trả mãnh liệt quyết cầm chân chúng tôi không cho qua khỏi vườn chuối để trám tuyến cho Bảo Huệ.

Đánh nhau từ sáng đến trưa chúng tôi không vượt qua được vườn chuối và thiệt hại khá nặng. Cuối cùng phải chọn hai chiến binh tình nguyện bò sát hầm địch quân, tung lựu đạn vào hầm. Diệt được ổ súng thượng liên, chúng tôi xung phong băng qua vườn chuối đến bìa rừng cao su, cố gắng bắt tay với tiểu đoàn 8, nhưng bị khựng lại.

Địch quân ngồi trên ngọn cây cao su khạc đạn xuống lính ND dưới đất. Lại lãnh thẹo thêm mấy con nữa. Quá đau lòng tôi điên tiết hô xung phong và cùng binh sĩ bắn xối xả lên các ngọn cây để trút hết căm hờn, xác địch quân rụng như mít chín .

Những ngày kế tiếp được lịnh ra nằm giữ pháo binh. Buổi sáng trung úy Thăng gọi tôi qua lều gặp ông cho lịnh dẫn đại đội trừ đi lục soát, anh nói tôi muốn chọn trung đội nào nữa tùy ý, chỉ súng đạn đi lục soát chiều về. Tôi về lều chuẩn bị thì anh Thăng gọi trở lại và nói lịnh tiểu đoàn là cà đại đội đi lục soát.

Tôi gặp thượng sĩ thường vụ là Đặng Văn Chinh biệt danh Năm Râu, trước của lều. Anh nhìn tôi rồi vừa nói vừa ở túi áo lấy ra một gói nylon loại đựng gạo sấy, đưa cho tôi bảo .

– Ông bọc theo cái nầy hôm nay nhìn ông thấy dữ nhiều lành ít.

Tôi hơi thắc mắc nhưng vẫn nhận cái bịch nylon và bỏ vào túi áo bên trái.

Chúng tôi đi trong rừng cao su bỏ hoang vì chiến tranh nên cỏ mọc cao trên đầu gối, không chạm địch, tình hình yên tĩnh, đến trưa tôi nghe tiếng động bên hông phải dừng lại quan sát nhưng không thấy động tĩnh gì. Tiếp tục di chuyển thì nghe tiếng xào xạc và nhìn thấy cỏ lau lay động, linh cảm địch đã phát hiện và bám theo chúng tôi. Tôi báo cáo lên đại đôi và tiếp tục di chuyển, cho đến khi tiếp cận với một trảng trống. Khoảng đồng trống cách xa chừng 1000 – 1500 mét về bên phải, địch quân lố nhố sát bìa rừng cao su. Tôi báo máy lên anh Thăng và xin pháo binh dập chúng, nhưng không nghe thấy tác xạ. Sau nầy nghe nói tiểu đoàn không xin được pháo vì … pháo binh đã hết cấp số đạn quấy rối, chỉ còn rất ít, phải để dành khi đụng trận. Chiều lại, đại đội cho lịnh trung đội một của thiếu úy Chu Y Quí khoanh tròn tại chỗ còn tất cả tiến thêm khoản 500 thước cũng khoanh tròn đóng quân. Chúng tôi vừa đào hầm hố cá nhân xong thì súng nổ bên hướng của trung đội 3 rồi súng nổ vang trời khắp nơi.

Anh Thăng ra lịnh không được bắn cho đến khi nào thấy địch, vì sợ nó dụ chúng tôi bắn hết đạn. Đêm về tôi cho toán nhỏ đi kích đêm trong vườn mảng cầu bên tay phải. Nửa đêm một toán nhỏ địch quân mang mấy ba lô cơm vắt đi tiếp tế ngang qua. Toán kích đêm của trung đội tôi bắn hạ và lấy được ba lô cơm vắt về chia cho cả đại đội ăn tạm, nhờ đó chúng tôi sống qua hai đêm ba ngày bị bao vây.

Nơi đây không thức ăn và nước uống cũng đã hết. Tôi đã uống nước sương đọng lại trong chén mủ cao su lâu ngày vàng ói và tanh hôi vì quá khát.

Sáng ngày hôm sau anh Thăng gọi tôi qua hầm BC của anh, và chỉ cho tôi phía trước mặt có cái chòi nóc lợp tôn và bảo tôi phải mở đường máu ra đến cái chòi tôn đó mới bắt tay được với đại đội 93.

Khoảng cách cỡ 100 thước. Tôi gọi trung sĩ Thành đến để bàn bạc về việc phải mở đường máu ra chòi tôn. Bất ngờ, một loạt AK bắn thẳng vào người tôi, tôi ngã sấp xuống nửa người dưới hố, mặt tôi nóng rang, đưa hai tay vuốt mặt xem không thấy máu, nón sắt tôi rớt ra ngoài Dũng, người lính mang máy đưa nón sắt cho tôi đội lại lên đầu năm dấu đạn lún sâu vào nón sắt nhưng không lủng.

Thấy tôi lồm cồm ngồi dậy trên miệng hố. Anh Thăng la lớn:

“ĐM chúng nó nói anh có bùa hộ mạng đúng thật rồi”.

Anh bảo khi nghe loạt đạn và nhìn thấy tôi ngã sấp tưởng là sẽ gói xác chứ đâu ngờ tôi vô sự. Thế là việc mở đường rút quân của trung đội 2 tôi không thành. Anh Thăng gọi xin tiểu đoàn cứu ứng, chúng tôi đã hai đêm hai ngày dài không ăn không uống. Vì tất cả ba lô đã đề tại chỗ, đi về trong ngày nhưng chúng tôi đã bị bao vây.

Tiểu đoàn cho biết sẽ có thiết giáp và tùng thiết đến kéo chúng tôi ra. Đại đội cho lệnh tất cả xuống hố cá nhân tránh đạn lạc, vì pháo binh sẽ nổ rất sát và hỏa lực của thiết giáp sẽ bắn qua đầu.

Đại liên của Thiết Giáp nổ liên tục càng bắn càng tiến gần về chúng tôi để mở vòng vây. Chúng tôi được Thiết Giáp vô tiếp tế thức ăn nước uống rồi chiều lại rút ra với tiểu đoàn.

Khi đó khoảng 5-6 giờ chiều băng ngang qua giữa rừng cao su và vườn mảng cầu có ngã ba đường quẹo phải nhưng thiếu úy Quí lầm đường quẹo trái nên đi lạc và bị địch quân bắt làm tù binh. Sau nầy Quí cũng đi Mỹ diện HO.

Tối đến chúng tôi ra đến bộ chỉ huy tiểu đoàn, nhìn thấy cảnh y tá chích thuốc cho các thương binh nặng rồi để nằm lại tại chỗ còn tất cả cột dây trắng nơi tay trái hàng một nối đuôi nhau di tản rút khỏi Xuân Lộc. Khi ngang qua ấp Bảo Định và Ấp Bảo Bình giữa đêm khuya dân chúng thức dậy theo chúng tôi ra quốc lộ di tản về Phước Tuy.

Khoảng một giờ chiều tôi đến đồi đá gặp ngay trung tá Lê Hồng Lữ đoàn phó. Ông ra lịnh bằng miệng cho tôi… “ông thiếu úy dẫn trung đội lên chiếm ngọn đồi cho tôi mau”.

Nhìn theo ngón tay chỉ về hướng ngọn đồi đá trước mặt tôi nhìn thấy có cây cờ xanh đỏ cắm trên đỉnh đồi. Không do dự, tôi liền dẫn lính cùng chạy lên xung phong đánh chiếm ngọn đồi. Vì lữ đoàn phó ra lịnh trực tiếp bằng miệng ai dám cãi lời?

Chúng tôi chiếm ngọn đồi hạ cây cờ không khó khăn vì .. khôngcó địch. Được biết chỗ ấy lúc đêm khuya, bộ chỉ huy lữ đoàn 1 và bộ chỉ huy tiểu khu Long Khánh di tản đến đó đã bị phục kích nên khựng lại.

Tiểu đoàn được lịnh rẽ phải đi trong rừng cao su về Phước Tuy. Về đến Phước Tuy đại đội 94 đóng quân trên núi ông Tịnh gần sân bắn của quân trường Vạn Kiếp.

Chiều hôm sau anh Thăng theo xe phát lương về Saigon tôi được chỉ định Xử Lý Thường Vụ Đại Đội Trưởng 94.

Lúc bấy giờ có ba thiếu úy tăng cường về 94. Có hai người khóa 29 Đà Lạt ra trường non vì mất Đà Lạt và một người từ đơn vị bộ binh quân khu 2 di tản, xin về ND. Tôi chỉ thị 2 ông Đà Lạt về nắm trung đội 2 thay thế tôi và ông kia về trung đội một.

Tối đến Đích Thân Chi Lăng ban ba của tiểu đoàn lịnh cho tôi đưa đại đội xuống đường lộ để vô bảo vệ thị xã Phước Tuy.

Tôi lên máy thông báo cho các trung đội trưởng kế hoạch chuyển quân. Hai trung đội đi trước vào đổ quân gần sát thị xã làm đầu cầu chờ trung đội 3 và 4 đi sau vì chỉ mỗi một chiếc GMC.

Chuyến sau vừa qua khỏi ngã ba Vũng Tàu thì một loạt súng nổ vang từ bìa làng bên tay trái, người tài xế hốt hoảng, xe chệch xuống lề đường bên phải bờ ruộng lúa đã gặt xong. Tôi ra lịnh cho binh sĩ ép sát lề đường, và báo máy về tiểu đoàn. Sau đó tiếng súng im bặt không có tổn thất, quá may mắn!

Lúc bấy giờ trung tá Lê Hồng vào tần số đại đội hướng dẫn tôi trực tiếp trên máy chỉ tôi cách tiến quân vô thị xã và bố trí đóng quân… khuya hôm đó thì bộ chỉ huy Lữ đoàn 1 và Trinh sát 1 rút quân.

Gần sáng địch quân pháo kích. Cơn mưa pháo dội xuống thành phố Bà Rịa trong chốc lát tan hoang, đổ nát, chết chóc thê lương!!

Tiếng máy gọi về báo cáo tổn thất của các trung đội, chưa kịp ra lịnh cho các trung đội trưởng thì máy của tiểu đoàn gọi xuống ra lịnh cho tôi… tôi lúng túng vì lần đầu tiên phải ứng xử trong tình huống tai bên trái nhận lịnh từ tiểu đoàn, bên phải áp sát ống liên hợp vào tai, miệng thì ra lịnh cho cả trung đội trên cương vị người đại đội trưởng tại mặt trận.

Tiếp theo là chiến xa địch tràn vào thị xã Phước Tuy. Chiếc T54 chạy ngang qua mặt chúng tôi cách hố cá nhân của mấy thầy trò tôi vài thước, K Tem (gốc người thiểu số) dương khẩu M72 chưa kịp bóp cò vì còn nhắc tôi ghi tên để lãnh tiền thưởng có công diệt chiến xa. Rất may nếu không tôi đã bị sức phụt hậu của M72 ngay mang tai thì chắc đi đoong.

Vì bị trung đội 3 của Bền thổi M72 quá rát, xe lùi lại, trở đầu. Khi vừa qua khỏi chúng tôi mấy thước, K Tem thổi trái M72 ngay đít xe; bốc khói, xe đâm vào bồn chứa nước của thành phố.

Tiếp theo, nhiều chiếc PT76 và T54 tiến vào; có cả bộ binh tùng thiết khạc đạn như mưa. Cùng lúc địch quân pháo kích khắp nơi trong thị xã.

Chúng tôi chiến đấu đơn độc không có pháo binh và phi pháo yểm trợ. Chống cự với địch quân đông đảo, hỏa lực mạnh gấp trăm lần trong suốt buổi sáng, đại đội 94 nát như giẻ rách!

Thành phố đổ nát điêu tàn, cảnh chết chóc thê lương của dân, của lính, của giặc thù sau cơn lốc bão lửa ập xuống.

Cuối cùng thiếu tá Lê Mạnh Đường tiểu đoàn trưởng ra lịnh cuốn chiếu, chúng tôi may mắn còn gặp một chiếc M113 cuối cùng di tản, xe bị đứt xích bên phải nhưng vẫn ì ạch lăn bánh. Họ cho chúng tôi lên xe chạy ra cầu Cỏ Mây.

Sau khi giựt sập cầu TĐ 9 án ngữ tại đây.

Chiều ngày 29/4/75, tiểu đoàn 9 di tản từ cầu Cỏ Mây về bến Đá, Vũng Tàu cùng với thiết vận xa M113 tăng phái.

Chúng tôi xuống các ghe đánh cá của dân chúng neo gần đó đã được Lữ Đoàn chiếm giữ. Khoảng 1-2 giờ sáng đến Vàm Láng, Gò Công, các đại đội trưởng phải liên lạc và gom quân về lại trên từng chiếc tàu của mình.

Mỗi đại đội một chiếc riêng, bộ chỉ huy tiểu đoàn cũng trên một chiếc riêng biệt cùng với khoảng ba mươi quân nhân của Thiết Giáp, có ông đại úy chi đoàn trưởng tên Lượng.

Sáng ngày 30/4/75 ông Đường ra lịnh cho 94 tôi đổ bộ vô bờ tại chợ Vàm Láng. Nhưng khi tàu vào gần bến súng nổ dữ dội về hướng chúng tôi; không vô được nên phải trở ra neo tàu gần các đại đội khác.

Gần trưa ngày 30/ 4/75 ông Minh tuyên bố đầu hàng. Ông Đường gọi máy các Đại Đội trưởng đến tàu của ông họp. Tôi cùng với Dũng người hiệu thính viên, lấy chiếc ghe đuôi tôm chạy lại tàu ông Đường. Sau khi tuyên bố tình hình chiến sự, cho biết vì ông Dương Văn Minh đã ra lịnh đầu hàng chúng ta cũng rã ngũ. Ổng có nhận được nguồn tin từ Quân Đoàn 4 cho biết hướng đi phương giác 17 ra hải phận quốc tế sẽ gặp hạm đội 7 của Mỹ, nếu ai muốn đi thì theo ông, còn ai muốn về với gia đình thì tùy ý.

Chúng tôi về nói lại với lính của mình, một số ít lên bờ số còn lại quyết định đi cùng với tôi. Tôi hỏi người tài công, anh ta cho biết dầu chỉ còn đủ chạy về đến Vũng Tàu vì họ đi đánh cá gần biển Thái Lan khi về đến đây bị chúng tôi bắt. Thế là tôi lấy chiếc ghe đuôi tôm chạy xin dầu từ các tàu chung quanh nhưng chỉ xin được mười mấy lít.

Tôi lấy ống nhòm nhìn ra biển thấy được một chiếc tàu đang chạy về hướng chúng tôi, liền nói Dũng mang máy lên ghe đuôi tôm chạy ra chận đầu, tôi đã chặn bắt được chiếc tàu sắt to lớn, màu trắng có đầy đủ dụng cụ hải hành như antena và rada.

Dẫn chiếc tàu ấy vô lại tàu đánh cá để đưa nguyên đại đội 94 lên định cùng đi Mã Lai với họ. Nhưng ông Hồi gọi máy lên báo cho ông Đường là tôi bắt được chiếc tàu sắt to ngon lành và có ông thiếu tá Hải Quân làm tài công. Thế là ông Đường gọi máy lịnh cho tôi đưa chiếc tàu sắt mới bắt được lên cho ông. Và ông Đường cùng bộ chỉ huy tiểu đoàn và binh sĩ của đại đội 90 lên tàu sắt. Để lại ông đại úy Lượng và lính Thiết giáp trên chiếc tàu cũ của ông. Phần tôi về lại chiếc tàu đánh cá cùng đại đội 94.

Đến 4 giờ chiều khởi hành ông Đường trên chiếc tàu sắt sơn màu trắng dẫn đầu các tàu của từng đại đội 91, 92, 93 và 94 chạy theo. Chiếc tàu của Thiết giáp chạy sau cùng. Đến tối tàu của tôi hết dầu gọi ông Đường xin cấp cứu ông trả lời …đang ở trước quá xa không thể quay lại, bảo tôi lên các tàu của những đại đội khác. Lúc đó anh Tường đại đội trưởng 93 chạy ngang qua tôi nhưng tàu anh lính đông quá không thể chở thêm. Tôi gọi ông Đường cầu cứu và ông bảo tôi còn tàu của Thiết Giáp.

Tôi liên lạc với ông Lượng, ông không muốn cứu chúng tôi. Tôi hăm dọa là sẽ bắn M72 chìm tàu ông nếu không cứu tôi. Tôi nghe được ông chủ tàu nói vào máy ông Lượng là tàu lớn còn rộng chỗ có thể chở thêm cả trăm người, nên đồng ý ghé qua vớt chúng tôi.

Lúc bấy giờ có khoảng mười mấy người lính 94 cùng ở lại với chiếc tàu hết dầu. Khi lên tàu với Thiết Giáp, đại đội 94 tôi còn tất cả là 86 người có Lê Ta, Hạ sĩ nhất Cáp Cội, Dũng mang máy cho tôi và Bình, K Tem người đệ tử khỏe mạnh hiện sống ở Dallas và Bò, Thanh thợ cắt tóc, Cảnh y tá, Minh cá trê y tá, Tám rau má, Quang lòi… và thằng Nhục, “phụ tá truyền tin”

Sau khi lên tàu cùng với Thiết Giáp, tôi ngủ một giấc thì ông Lượng gọi dậy nói gọi cho ông Đường không được. Tôi gọi cũng không được và nhìn vào hải bàn trên tàu của ông chủ thấy hướng 17 ở vòng đỏ.

Chúng tôi đi lạc hướng, tôi mở địa bàn ra và đưa mũi tàu về đúng hướng 17 ly giác, một lúc sau bắt được tần số của tiểu đoàn và nhìn thấy đoàn tàu của ông Đường chạy bên phải. Chúng tôi liền chạy theo cho đến tối thì gặp hạm đội Mỹ.

Lúc tàu chúng tôi chạy theo đoàn tàu tiểu đoàn, quân số ĐĐ 94 là 86 người kể cả tôi, máy truyền tin PRC 25 vẫn liên lạc với TĐ và vẫn nhận lịnh từ Đích Thân 504 Lê Mạnh Đường; súng ống còn đầy đủ cả cối 60 ly. PhíaThiết Giáp 26 người. Dân sự 8 người tất cả. Nhưng cuối cùng dân sự chỉ có 4 người lên tàu Mỹ trong đó có Vợ tôi bây giờ Nguyễn Thu Vinh.

Sau khi theo được đoàn tàu tiểu đoàn, tôi định nhắm mắt ngủ tiếp thì thằng Nhục tới khều khều:

– Thiếu úy! Xuống sau bếp ăn chén cơm nóng có thịt kho nữa.

Tôi hỏi:

– Cơm thịt đâu ra mà ăn?

Nó ra dấu im lặng vừa nói nhỏ cứ xuống ăn đi. Thế là chúng tôi, Dũng và Nhục, ba thầy trò ra sau bếp. Trời!! tôi trố mắt nhìn nồi cơm trắng bốc khói và nồi thịt kho đậm màu cánh dán, óng ánh trong nước mỡ của thịt quá tuyệt vời. Tôi định bụng chỉ ăn mỗi đứa một chén thôi. Nhưng sau bao nhiêu ngày chiến trận khốc liệt đói khát không có cơm nóng như thế này nên chúng tôi đã không cầm được sự cám dỗ của lòng háu ăn nên thanh toán sạch sẽ cả cơm và thịt trong nháy mắt.

Hehehehehe Nhảy Dù mà, đánh nhanh rút lẹ. Ngồi trên Divan với điếu thuốc trên tay say sưa với cảm giác mặn ngọt và béo ngậy của những miếng thịt kho với cơm nóng, bữa ăn ngon nhất trong năm của đời lính trận, bỗng nhiên một cô bé đến bên tôi cất tiếng nhẹ nhàng:

– Thiếu úy! Thiếu úy có thịt hộp không? Cho em một lon.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Cháu xin thịt hộp làm gì?

– Dạ ở đây mới nấu nồi cơm và kho nồi thịt cả nhà chưa kịp ăn giờ ra sau bếp không biết ai đã ăn hết cơm và thịt. Cô bé trả lời và nói tiếp:

– Trên tàu đồ ăn như cá khô thì nhiều nhưng Ba em ăn cơm phải có thịt quen rồi.

Tôi áy náy và hối hận cùng với nỗi xấu hổ không biết đục mặt đi đâu. Không biết trên mặt, trên môi tôi có còn dính chút mỡ heo nào không. Lỡ rồi, tôi phải đóng cho tròn vai:

– Ê Nhục! Mầy coi còn hộp “ba lát” nào không… đưa cho “cháu” đây.

– Ủa! Mình mới được trực thăng thả đồ tiếp tế hả thiếu úy? Cái thằng ôn dịch, còn chơi tôi. Tôi biết chắc cả đại đội không có đứa nào còn thịt hộp vì chúng tôi đã đánh nhau suốt cả tháng trời không được tiếp tế ngay cả đạn dược cũng không, lấy đâu ra thịt hộp lương khô!!

Nhờ có bữa cơm nóng với thịt kho trên tàu thế mà duyên nợ đã đưa đẩy chúng tôi đến với nhau nên vợ thành chồng.

Chiều hôm sau khoảng 2-3 giờ, lịnh của Tiểu đoàn gọi xuống báo cáo quân số tổng cộng bao nhiêu? Và dân sự bao nhiêu người để Tiểu đoàn báo cho Lữ đoàn và thông báo cho hạm đội Mỹ.

Tôi hỏi ông chủ tàu:

– Bác có đi không? Nếu bác đi thì cho biết tất cả bao nhiêu người .

– Tôi phải đi chứ tôi Công Giáo di cư mà. Chúng tôi có 8 người cả cô con gái và những người thợ giúp việc trên tàu.

Tôi lên máy báo về Tiểu đoàn, nửa tiếng sau ông già nói với tôi lấy tên ra, người công giáo không thể làm điều bất nhân được vì vợ tôi và các anh em nó, ông chỉ tay về cô bé, còn ở Vũng Tàu.

Tôi gọi máy báo gạch tên những người dân sự ra, sau đó ông lại xin ghi tên đi, sau nhiều lần đi và không đi. Cuối cùng ông quyết định không đi, tôi lúc đó, nói với ông rằng:

– Thưa Bác cháu xin lỗi bác trong mấy ngày qua cháu có lớn tiếng và có lúc đã làm bác buồn giận, nhưng đó cũng chỉ là vì tánh mạng của các anh em đồng đội cháu thôi. Xin bác tha thứ.

– Cậu nói vậy thì cũng thuộc loại người tốt biết điều.

Và quay sang phía cô bé tiếp lời nó 18 tuổi rồi tôi gởi nó theo cậu, tôi về chở mẹ và các anh em nó ra lại tôi nhớ hướng đi rồi.

Khi ra đến hạm đội 7 của Hoa Kỳ tàu chúng tôi được hướng dẫn đến chiếc tàu lớn. Họ thả thang xuống chiếc tàu chở hàng và lính dưới tàu chen chúc, hối hả leo lên chiếc thang dây. Thấy mọi người mất trật tự nên người Mỹ trên tàu kéo thang lên. Sau đó có tiếng loa kêu gọi bằng tiếng Việt:

– Ai là sĩ quan dưới tàu thì đưa tay lên!

Tôi và đại úy Lượng thiết giáp cùng tất cả sĩ quan đều đưa tay lên. Họ nói tiếp:

-Ai là người cấp bậc lớn nhất để tay lại còn tất cả bỏ tay xuống. Ông ra lịnh cho lính ông xếp hàng một, thứ tự lên tàu. Đại úy Lượng ra lịnh nhưng không một ai chịu vô hàng ngay thẳng. Tôi nghĩ lính Nhảy Dù sẽ không nghe lịnh của ông Thiết giáp, khi chưa có lệnh của cấp chỉ huy, liền đứng ra truyền lịnh cho anh em vào hàng. Sau đó, họ lại thả thang dây xuống.

Hai người lính MP của Mỹ xuống gặp tôi đứng ngay cầu thang vừa nói vừa đưa tay ra hiệu cho tôi cởi dây ba chạc đeo khẩu Colt 45 và anh ta lấy cây Colt của tôi bấm nhả băng đạn rồi bỏ cây súng vô túi quần. Tôi nói còn rất nhiều súng, tay chỉ về đống súng dưới mấy tấm poncho và họ đã giở mấy tấm poncho và vứt hết súng đạn đủ loại gồm cả cối 60 ly đại liên M60 xuống biển; ngay cả máy PRC25 còn đang liên lạc với Đích Thân Lê Mạnh Đường.

Họ sắp xếp cho thường dân lên tàu trước và Cô bé con ông chủ tàu cùng người anh em họ và chú họ lên tàu. Tôi đến dặn dò …và quên không hỏi tên. Tôi hứa, “thế nào chú cũng tìm gặp cháu”.

Chúng tôi lần lượt lên tàu và MP Mỹ lục soát chúng tôi thật kỹ vứt bỏ tất cả những vật bằng kim loại ngay cả cây ghim túi. Tôi là người lên sau cùng và chúng tôi ngồi phía sau con tàu, phía trước là dân sự rất đông. Chính giữa được ngăn chận bởi dây thừng và có lính TQLC Mỹ đứng canh không cho lính qua khỏi dây hướng dân sự.

Như vậy, tôi đã lạc mất Cô Bé. Chúng tôi được biết là tàu dự định đón 2000 người nhưng cuối cùng đã lên đến trên 5000 cho nên lương thực không đủ cho số người quá tải. Thế nên họ yêu cầu chúng tôi lính tráng trai trẻ ăn ít một chút nhường phần cho phụ nữ và trẻ con cùng người già cả.

Sau một ngày hai đêm lênh đênh trên biển, cuối cùng chúng tôi được biết tàu sẽ ghé vào Subic Bay của Phi Luật Tân. Chúng tôi xuống đấy ăn uống ngủ một đêm sáng hôm sau được phi cơ C130 chở qua đảo Guam. Sau khi xếp hàng ăn sáng xong về lều thì gặp lại cô bé, lúc bấy giờ cô bé diện đồ Tây, trông lớn và xinh hơn lúc mất…nồi thịt kho.

Gặp nhau cô bé vui ra mặt, nụ cười tươi như một đóa hoa thật đẹp. Tôi phải công nhận lần đầu tiên nhìn thấy người con gái cười đẹp như vậy. Tôi nói với nàng chờ tôi ở đây để cùng đi qua Guam. Tôi về lều gọi anh em, khi ra lại không thấy cô bé vì dòng người rất đông lũ lượt tiến về hướng phi đạo.

Đến Guam tất cả anh em 94 cùng ở chung một lều, mỗi ngày sắp hàng đi ăn nhà ăn gần bên lều. Một hôm, tôi nói với anh em là đếm xem cả khu trại có bao nhiêu nhà ăn rồi chia nhau ra xếp hàng hết các nhà ăn. Thằng Nhục lại hỏi:

– Chi mất công vậy thiếu úy!

– Tao tìm người.

Tôi cho biết ý định của tôi là nhờ tất cả anh em đi ăn khắp nơi để tìm cô bé. Hai hôm sau đang ngủ trưa thì Tài đui thức tôi dậy báo tin đã tìm gặp được cô bé và đưa tôi đến gặp.

Gặp lại nhau lần nầy tôi ngỏ ý hỏi nàng có muốn về lều của tôi ở không? Sau một chút do dự nàng trả lời bằng lòng đi, và xách vali theo tôi về lều. Ba ngày sau chúng tôi làm thủ tục để vào các trại định cư trên đất Mỹ.

Khi người làm giấy hỏi tên cô bé trả lời Nguyễn Thu Vinh. Tôi ngạc nhiên tự nhủ cô bé ghẹo tôi vì có lẽ nàng đã nhìn thấy tên tôi trên ngực áo. Nhưng khi đưa thẻ học sinh ra tôi mới hết ngỡ ngàng. Trong đầu tôi lóe lên một ý nghĩ ngày xưa gặp thằng đệ tử tên Nhục để suốt thời gian binh nghiệp vinh nhục có nhau, cuối cùng lãnh cái nhục đau thương đầu hàng trong uất hận, nhục mất nước! Giờ lại gặp người con gái tên Vinh. “Vinh Vinh” không biết tương lai tôi và em có vinh quang, vinh hiển như ý nghĩa của tên gọi? Hay lại phải đắng cay bất hạnh! Đúng là định mệnh đã sắp xếp cho tôi một cuộc đời!

Cuối cùng tôi cũng được vinh phúc trong cuộc sống gia đình. Và chúng tôi đã đến trại Tỵ Nạn England Air Force Base ở tiểu bang Florida. Sau đó được một người Mỹ bảo lãnh chúng tôi ra thành phố Alexandria, Louisiana tháng 6 năm 75. Không ngờ sau nhiều lần ngần ngại chọn người bảo trợ chúng tôi bị rơi vào tình huống bị bảo trợ bỏ rơi (lúc bấy giờ gọi là Pon sô lủng).

Không nơi cư trú, không nơi nương tựa; hai vợ chồng đang lang thang ngoài đường nơi xứ lạ quê người để tìm điện thoại công cộng gọi về cho văn phòng tỵ nạn, tình cờ có một chiếc xe trờ tới dừng lại người phụ nữ Á Châu ngồi ở ghế hành khách hỏi:

– Where you come from?

Tôi trả lời:

– Việt Nam.

– Trời ơi anh Việt Nam hả? Thế rồi chị nói chồng dừng xe lại, anh chàng Mỹ trắng mở cửa bước xuống bắt tay tôi và móc túi áo lấy gói thuốc mời tôi một điếu. Và mở cốp xe bỏ chiếc vali của bà xã và mời chúng tôi lên xe sau khi nghe câu chuyện chúng tôi trao đổi với chị Hoa về chuyện bị bảo trợ bỏ rơi. Thế là chúng tôi về nhà anh King chồng chị Hoa trong phi trường quân sự ở Alexandria tá túc.

Một tuần sau King xin cho tôi cùng đi làm thêm với anh buổi chiều từ 5 đến 11 đêm. King làm việc trong văn phòng, anh là một Quân Nhân binh chủng Không Quân. Tôi theo anh trong toán dọn dẹp đổ rác các văn phòng làm việc của lính KQ trong căn cứ.

Hai tháng sau tôi được nhận làm việc toàn thời gian trong nhà thương Rapid Hospital. Chức vụ “bác sĩ chùi rửa nền nhà và đánh bóng nền nhà”

Sau một năm làm việc tại nhà thương, tôi đã thi đậu bài test của chương trình CETA đi học nghề được lãnh lương chính phủ trợ cấp $2.05 một giờ (lương căn bản lúc năm 75) và tôi học nghề auto mechanic. Lúc ấy vợ mang bầu bịnh ốm nghén không thể đi làm, tôi phải làm thêm ban đêm từ 5 chiều đến 11 giờ khuya, rửa chén trong nhà hàng tàu.

Khi vợ sinh được một tháng thì xin việc làm. Em vừa làm vừa học lại. Năm 83 chúng tôi dọn về Port Arthur TX, mở nhà hàng sinh sống đến năm 93 sang tiệm.

Vợ tôi làm thư ký cho nhà thờ còn tôi làm manager cho một super market của Mỹ. Hơn bốn mươi năm làm việc không ngừng nghỉ có khi phải cày ngày lẫn đêm mười mấy tiếng để trả nợ áo cơm nơi xứ người, giờ đây các con đã trưởng thành. Tôi quyết định nghỉ hưu sớm để ở nhà nấu cơm, kho thịt trả lại món nợ nồi cơm và thịt kho năm xưa!!

Vinh Tấn Nguyễn và Vinh Thu Nguyễn gặp nhau trên biển, vượt ngàn trùng hải lý đến được bến bờ tự do Mỹ quốc và cưới nhau tháng 7 năm 75 tại Mỹ.

Con gái đầu lòng sinh năm 76 tại Mỹ, cháu tên Việt Nam là Nguyễn thị Hải Lý (kỷ niệm chuyện tình ba mẹ vượt ngàn trùng hải lý) tên Mỹ là Hayley Thu Nguyễn.

Cháu đã được nhận vào trường West Point ngay sau khi tốt nghiệp trung học. Nhưng cuối cùng từ chối và theo học ngành y khoa ra trường mở phòng mạch khám toàn khoa.

Thằng con trai thứ nhì sinh năm 81 là Dược Sĩ, cháu gái út sinh năm 93. Đang xin vào trường nha khoa.

Hy vọng nếu được nhận thì có cả bộ ba Sĩ. Xin cảm ơn Trời, cảm ơn em đã cho anh tình yêu, một mái ấm gia đình, cho anh món quà vô giá là ba đứa con thật tuyệt vời !

X-MAS 2017

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E1%BB%87/chuy%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BB%9Di-l%C3%ADnh/14745-ng%C3%A0y-%E1%BA%A5y-m%E1%BB%99t-ch%E1%BA%B7ng-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng?26835=

Vai Trò Của Mỹ Về Cuộc Đảo Chánh Ngày 01.11.1963 – Đào Văn

  • Đào Văn

18/10/2021

TT Kennedy: Tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm về chiến dịch này và hậu quả của nó- ĐS Lodge nói với các Tướng lãnhhọphải chứng minh có thể thực hiện  cuộc đảo chánh thành công.

* Đại sứ Lodge: Các tướng phe đảo chánh có thể loại bỏ Nhu, và để họ quyết định xem họ có muốn giữ Diệm hay không.

* Tướng Đôn gặp  TrT Conein : Ủy ban sẽ sẵn sàng trao cho Lodge xem tất cả các kế hoạch của họ, cả quân sự và chính trị, vào 2 ngày trước khi cuộc đảo chánh diễn ra.

* TT NĐ Diệm: Báo chí không loan tải những gì bà Nhu nói, toàn bộ câu chuyện dối trá  là do Bộ Ngoại giao dàn dựng.

* Tướng Đôn: Báo cáo Mỹ danh sách các đơn vị tham gia cuộc đảo chính.

Dao Van


Cuộc đảo chánh ngày 01.11.1963 tại Việt Nam đã gây ra nhiều tranh cãi, từ việc đưa quân đội Mỹ  vào Việt Nam tham chiến liệu chính phủ NĐ Diệm chống đối hay thuận thảo, cho đến  cuộc đảo chánh ngày 01.11.1963 rằng  liệu KHÔNG hay CÓ sự can thiệp của Mỹ vào cuộc đảo chính này. Sau đây là tóm lược các diễn tiến  trước và  sau ngày 01.11.1963 tại Việt Nam và tại Hoa Thịnh Đốn dựa vào tài liệu giải mật của thư viện Kennedy được công bố trên thư viện Bộ Ngoại giao online (tuy nhiên có một số dòng chữ, hay đoạn văn vẫn chưa được giải mật).

* TT Kennedy gửi điện văn cho ĐS Lodge

29.8.1963 – Tôi đã chấp thuận tất cả các đề nghị mà ông gửi đến  và tôi nhấn mạnh rằng mọi  điều trong điện văn đều có sự hỗ trợ đầy đủ của tôi – I emphasize that everything in these messages has my full support.. Chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để giúp ông  kết thúc chiến dịch này thành công – We will do all that we can to help you conclude this operation successfully. Tuy nhiên, có một điểm về trách nhiệm hiến định của tôi với tư cách là Tổng thống và Tổng tư lệnh mà tôi muốn nêu rõ với ông là điện văn này  hoàn toàn riêng tư, và không được phổ biến  rộng rãi  ngoại trừ  Bộ trưởng Ngoại giao – this entirely private message, which is not being circulated here beyond the Secretary of State.

   Cho đến thời điểm  phía các Tướng lãnh ra hiệu lệnh hành quân,  tôi phải có toàn quyền thay đổi cuộc diện  hoặc đảo ngược hướng dẫn trước đó – right to change course and reverse previous instructions. Trong khi hoàn toàn nhận thức được sự đánh giá của ông  về hậu quả của  cuộc đảo ngược như vậy, theo  kinh nghiệm cho biết sự  thất bại còn tệ hại hơn là sự thiếu quyết đoán – from experience that failure is more destructive than an appearance of indecision.    Tất nhiên, tôi phải  hoàn toàn chịu trách nhiệm về bất kỳ thay đổi nào, vì tôi cũng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về   chiến dịch  này và hậu quả của nó – I must bear also the full responsibility for this operation and its consequences. Chính vì lý do này mà tôi trông cậy vào ông nhằm đánh giá liên tục về triển vọng của sự thành công- I count on you for a continuing assessment of the prospects of success –  và đặc biệt mong muốn đưa ra lời cảnh báo thẳng thắn của ông  nếu cuộc diện  bắt đầu trở nên khó khăn. Đã tiến hành thì nhất định phải thắng, nhưng thà thay đổi đường hướng còn hơn thất bại – When we go, we must go to win, but it will be better to change our minds than fail.. Và nếu lợi ích quốc gia của chúng ta cần phải thay đổi tư duy, chúng ta không được phép sợ hãi về điều đó.

    Điện văn này không yêu cầu trả lời trực tiếp, nhưng nếu ông muốn trả lời, ông không nên đánh số văn thư, và viết nơi tiêu đề “Chỉ dành cho Tổng thống – For President Only…”.[1]

Ghi chúcủa người viết, điện văn trên TT Kennedy  gửi ĐS Lodge  sau phiên họp của HĐANQG ngày 29.8.1963…TT Kennedy  muốn tái xác nhận  một số vấn đề liên quan đã nêu ra trong cuộc họp.  Tóm lược  nội dung về cuộc họp này của HĐANQG sẽ trình bày sau.

* Điện văn Đại sứ Lodge gửi Bộ Ngoại Giao

30.8.1963 -Tôi đồng ý rằng việc loại  Nhu  là mục tiêu hàng đầu vì liên quan đến  “phần lớn của vấn đề ở Việt Nam, trong nội bộ, quốc tế và đối với dư luận Mỹ -“the greater part of the problem in Vietnam, internally, internationally and for American public opinion.”.  Điều này chắc chắn không thể được thực hiện bằng cách làm việc thông qua Diệm.  Nếu tôi kêu ông Diệm loại bỏ Nhu, chắc chắn ông ta sẽ không đồng ý. Nhưng trước khi từ chối tôi, Diệm  sẽ giả vờ cân nhắc và khiến bị trì hoãn, thời gian sẽ kéo dài. Điều này sẽ khiến các Tướng lãnh nghi ngờ chúng ta và thêm vào đó là lực bất tòng tâm. Một cuộc gọi như vậy của tôi sẽ xem Nhu như là một tối hậu thư, kết quả sẽ dẫn đến việc họ phải thực hiện các bước đề phòng hầu ngăn chặn bất kỳ hoạt động nào nhằm đối phó họ. Nếu hoạt động của các tướng lãnh  tiếp tục diễn ra, tôi sẽ không muốn dừng nó lại cho đến khi họ nắm toàn quyền kiểm soát. Sau đó, họ có thể loại bỏ Nhu, và để họ quyết định xem có muốn giữ Diệm hay không-They could then get rid of the Nhus and decide whether they wanted to keep Diem. –  [2]

* Điện văn của cơ quan CIA lưu trên thư viện BNG

 25.10.1963– Theo bức điện của CIA [số tài liệu chưa được giải mật] từ Sài Gòn, ngày 25 tháng 10 năm 1963, Conein và Đôn gặp nhau vào đêm 24 tháng 10. Đôn nói rằng bây giờ ông  ta chưa  thể giao cho Lodge kế hoạch  về tổ chức chính trị của ủy ban đảo chính như ông ta đã hứa trước đó. Ủy ban đảo chính phản đối động thái như vậy vì lý do an ninh, nhưng Đôn tiếp tục, ủy ban sẽ sẵn sàng trao cho Lodge xem tất cả các kế hoạch của họ, cả quân sự và chính trị, vào 2 ngày trước khi cuộc đảo chính diễn ra. Conein nhắc Đôn rằng Chính phủ Hoa Kỳ không thể đưa ra cam kết nào với các nhà lãnh đạo cuộc đảo chính cho đến khi nghiên cứu chi tiết về  kế hoạch của họ. Đôn trả lời rằng cuộc đảo chính được lên kế hoạch không muộn hơn ngày 2 tháng 11 và một lần nữa hứa sẽ thông báo trước ít nhất 2 ngày. Đôn đảm bảo với Conein rằng chính phủ mới của Việt Nam sẽ là dân sự, sẽ trả tự do cho các tù nhân chính trị không cộng sản, sẽ cho phép các cuộc bầu cử trung thực, và sẽ cho phép hoàn toàn tự do tôn giáo.[3]

Đại sứ Lodge gặp  TT  Diệm  –  October 27.

28.10.1963 – Sau bữa tối thịnh soạn kiểu Việt Nam, ông  Diệm đột nhiên ngừng nói về những sự kiện trong quá khứ và nói với giọng điệu bình thường khá hòa nhã, rằng ông ta muốn biết liệu chúng tôi sẽ tạm ngừng  hay ngừng luôn việc  nhập khẩu thương mại.

– Ông ta nói rằng các trường học đã dần dần được mở ra, tất cả đều mở ở Huế, các Phật tử đang được phóng thích và việc thay đổi Nghị định luật số 10 là rất phức tạp và  đưa ra Quốc hội, ông không có thẩm quyền. Sau đó ông ta tấn công và các hoạt động của Mỹ tại Việt Nam.

– Ông  Diệm đặc biệt nói về một người Mỹ [chưa giải mật khoảng 1 dòng] đã nói chuyện với người trong Chính phủ Việt Nam về những lời đe dọa ám sát ông ta và Hạm đội 7 sẽ vào cuộc. Ông ta nói rằng các tài liệu của Cộng sản cũng đã được tìm thấy viết về một cuộc đảo chính vào ngày 23 và 24 tháng 10, và  cũng có sự tham gia của Hạm đội 7. Ông ta nói rằng câu chuyện ám sát đã bắt đầu đầu độc tâm trí ông ta, rằng những tin đồn này liên tục được đưa ra cho ông ta.

– Tôi trả lời  rằng không có cuộc đảo chính nào vào ngày 23 và 24 tháng 10.

– Ông ta nói rằng Mecklin, người đứng đầu USIS, đang in các bản văn  chống lại chính phủ và  rằng CIA đang có âm mưu chống lại Chính phủ Việt Nam. Sau đó ông  ta nói về  Nhu, người mà ông  ta nói là rất tốt và  trầm tính, rất hòa nhã và dễ thỏa hiệp.

– Ông Diệm nói báo chí Hoa Kỳ đầy dối trá. Sau đó, ông ta chuyển chủ đề và nói về sự không phù hợp của việc cho phép cựu Đại sứ Chương được phát biểu.

 – Tôi nói tôi sẽ không tranh luận về điểm này và có thể ông Nhu đã bị đối xử bất công trên báo chí thế giới nhưng sự thật là sự thật và ông bà Nhu đã có những dư luận vô cùng bất lợi. Đây là lý do tại sao tôi đã khuyên cả hai người họ nên im lặng một khoảng thời gian. Tôi vẫn khó hiểu tại sao bà Nhu lại cảm thấy mình phải nói nhiều như vậy.

– Ông ta cho biết báo chí không loan tải những gì bà Nhu nói. Toàn bộ câu chuyện dối trá  do Bộ Ngoại giao dàn dựng – The whole concert of lies is orchestrated by the State Department.

Cuối cuộc trò chuyện, ông ta thở dài nói, nhận ra mình đã mắc sai lầm lớn khi tạo ra khoảng cách với  Washington, nghĩa là nếu ông ta có một loại Đại sứ khác, lẽ ra báo chí và các chính trị gia đã phải được trau dồi để Việt Nam không phải chịu những luồng dư luận bất lợi như vậy –  the press and the politicians could have been cultivated so that Vietnam would not now find itself with such unfavorable public opinion.[4]

Tướng Đôn gặp Trung Tá Conein  vào ngày 28 tháng 10.

29.10.1963 – Bằng sự sắp xếp trước và theo sáng kiến của Tướng Đôn, Trung Tá Conein đã gặp Tướng Đôn vào ngày 28 tháng 10.  [Đoạn văn được đánh số 2 (2 dòng) chưa được giải mật] Đôn nói rằng ông ta đã nói chuyện với ĐS Lodge và Lodge đã xác minh  với Conein.

– Đôn nhấn mạnh rằng ông ta đã nói với ĐS Lodge rằng ông ta và nhóm của ông ta không có tham vọng chính trị, rằng mong muốn duy nhất của họ là giành chiến thắng trong cuộc chiến chống lại VC và tái xây dựng uy tín của Việt Nam và Quân đội.

– Ông ta thẳng thắn tuyên bố cách duy nhất để giành chiến thắng trước khi người Mỹ phải rời đi vào năm 1965 là thay đổi chế độ hiện tại- He stated flatly the only way to win before the Americans leave in 1965 was to change the present regime. Đôn cho biết ông  ta hoàn toàn hài lòng với sự tự tin của Conein cũng như các thành viên khác trong ủy ban đảo chính của các Tướng lĩnh. Đôn nói thêm rằng ông ta và các tướng đồng đội của mình muốn làm mọi thứ có thể để tránh sự can dự của Mỹ vào cuộc đảo chính.     

– Ông ta nhấn mạnh rằng những người Mỹ khác nên ngừng nói chuyện với các cấp Đại tá và Thiếu tướng về cuộc đảo chính,  vì như vậy là chính người Mỹ  tham gia vào mà bất chấp mọi quyết định của các Tướng lĩnh. Conein yêu cầu chi tiết cụ thể về điểm này. Đôn chỉ trả lời rằng ông ta công nhận Conein là người liên lạc thích hợp với phía Mỹ và người Mỹ nên công nhận ông ta là người liên lạc thích hợp với phía Việt Nam.

– Conein cho Đôn biết rằng  vào ngày 31 tháng 10, đại sứ  sẽ về Mỹ trong thời gian ngắn, điều này chứng tỏ sự quan trọng đối với cả người Việt Nam và người Mỹ, nên Đại sứ Lodge cần nắm được đầy đủ kế hoạch cuộc đảo chánh của các Tướng lãnh trước khi ông ta ra đi. Đôn trả lời rằng ĐS Lodge sẽ có trước các kế hoạch về  cuộc đảo chính. Đôn hỏi Conein kỹ càng  ngày giờ đại sứ sẽ đi. Đôn nói thêm rằng ông ta hy vọng Đại sứ  sẽ không thay đổi lịch trình của ông ta, vì bất kỳ thay đổi nào có thể bị nghi ngờ. Đôn tuyên bố sẽ không có gì xảy ra trong vòng 48 giờ tới và rằng, nếu có lý do chính đáng để Đại sứ thay đổi kế hoạch của mình, Đại sứ sẽ được thông báo kịp thời để đưa ra quyết định của riêng mình- if there was a good reason for the Amb to change his planning, the Amb would be informed in time to make his own decision. Ông Đôn nói thêm rằng ông ta sẽ lên đường vào sáng ngày 29 tháng 10 để gặp Tướng Đỗ Cao Trí và Tướng Nguyễn Khánh. Thực ra, Đôn nói chuyện với Trí và Khánh để hoàn thiện kế hoạch. Đôn yêu cầu Conein ở nhà từ tối thứ Tư  trở đi.

– [Đoạn văn được đánh số 6 (6 dòng) chưa được giải mật]. Conein nhắc lại cho Đôn những lời đề cập trước đây của Trung tá Phạm Ngọc Thảo. Đôn nói hãy cẩn thận với Thảo vì Thảo là người được bảo trợ bởi Ngô Đình Thục và Nhu, và Thảo đang bị Đại tá Đỗ Mậu,  Chỉ huy  An Ninh Quân Đội nghi ngờ. Đôn nói thêm rằng ngay cả Tướng Khánh cũng bị Tổng thống nghi ngờ là không hoàn toàn trung thành.

– Tướng Đôn lại bị hỏi về sự tham gia của Tướng Tôn Thất Đính trong kế hoạch đảo chính. Đôn nhắc lại rằng Đính không tham gia vào kế hoạch, rằng Đính đang bị Ngô Đình Nhu nghi ngờ. Đôn nhắc lại rằng Tướng Đính liên tục bị bao vây bởi những người có cảm tình với ủy ban đảo chính, và những người này đã được lệnh loại bỏ Đính nếu ông ta có dấu hiệu thỏa hiệp về cuộc đảo chính.

– Đôn buộc phải tiết lộ thông tin chi tiết về các đơn vị tham gia cuộc đảo chính. Đôn nói rằng đây không phải là chức năng cụ thể của ông ta trong ủy ban đảo chính và do đó ông không thể trả lời câu hỏi một cách chính xác. Đôn đã vạch rõ chức năng của mình là người liên lạc với người Mỹ, với các tướng lĩnh khác và các tư lệnh sư đoàn. Tướng Lê Văn Kim đang soạn kế hoạch về chính trị và kế hoạch quân sự nằm trong tay người khác (Nhận xét: có lẽ là chính ông “ Big Minh ”). Trong số những đơn vị mà ông ta biết, ông ta  đã liệt kê:

-A. Một nửa của lữ đoàn Dù (đơn vị cụ thể ông ta không được biết)   

-B. Hai tiểu đoàn TQLC (không rõ đơn vị cụ thể). Đại Tá Nguyên Khang, sẽ dẫn toàn bộ Thủy Quân Lục Chiến vào cuộc đảo chính nếu ông có thể yên tâm [về] an ninh của gia đình trong trường hợp ông bị giết.

-C. Tất cả Lực lượng Không quân, ngoại trừ chỉ huy trưởng, Đại tá Nguyễn Hữu Hiền.

-D. Một số đơn vị của Lực lượng Bảo vệ Tổng thống cộng với ít nhất bốn xe tăng.

-E. Toàn bộ Sư đoàn 5.

-F. Sư đoàn 9 (Nhận xét: nay hiện vẫn còn ở Đồng bằng) sau khi cuộc đảo chính bắt đầu.

-G. Toàn bộ Sư đoàn 21.

-H. Một nửa của Sư đoàn 23 (không rõ các trung đoàn cụ thể).[5]

Ghi chú của người viết: 

a-Về lời tuyên bố của tướng Đôn ghi trên:” cách duy nhất để giành chiến thắng trước khi người Mỹ phải rời đi vào năm 1965 là thay đổi chế độ hiện tại.” Nhưng tại sao “người Mỹ phải rời đi vào năm 1965″, vấn đề đã gây nhiều tranh cãi trong quá khứ, để rộng đường dư luận người viết xin ghi lại như sau :

  -Theo bản văn  của CIA  thiết lập ngày 11 tháng 3 năm 1963 (phổ biến ngày 14.12.2016), về lời  tuyên bó của ông Nhu: “vì số lượng lớn người Mỹ ở miền Nam Việt Nam và đất nước lệ thuộc vào viện trợ của Mỹ-and the country’s dependence on American aid đã tạo cho Cộng sản một lợi thế tuyên truyền-provided the Communists a propaganda advantage, cho nên tất cả những người Mỹ không cần thiết phải được rút đi all Americans not absolutely essential should be withdrawn. <Việt Báo ngày 29.6.20213 >
   – Theo bản văn của  MACV ngày 12.04.63:” Về sự hiện diện của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, Nhu lặp lại quan điểm của mình rằng sẽ hữu ích nếu giảm số lượng người Mỹ  xuống khoảng từ 500 đến 3.000 hoặc 4.000“. Việt Báo ngày 13.7.20213 >

  – Theo tài liệu Ngũ Giác Đài giải mật 2011,  lưu trên Văn Khố Quốc gia:”  MACV và Diệm xem xét những thay đổi cần thiết để … vào năm 1965: rằng một chương trình huấn luyện được thiết lập để cho phép Quân Lực VNCH tiếp quản các chức năng quân sự từ Hoa Kỳ vào cuối năm 1965 khi phần lớn quân nhân Hoa Kỳ có thể được rút đi– MACV and Diem review changes necessary to…training program be established to enable RVNAF to take over military functions from the US by the end of 1965 when the bulk of US personnel could be withdrawn.Đoạn văn nàytrích đoạn trong  The Pentagon Papers – Counterinsurgency: The Kennedy Commitments,1961-1963 (5 Vols.) 4.Phased Withdrawal of U.S.Forces  in  Vietnam,1962-64, Trang  d/65.

   Tuy nhiên theo sách báo hải ngoại:” Sự kiện trên đây cũng cho thấy ông Diệm đã hoảng sợ, phải yêu cầu Mỹ tăng viện, kể cả việc đem quân chiến đấu ngoại quốc vào miền Nam (sự thật lịch sử này đã bị nhóm Công Giáo Cần Lao bóp méo với luận điệu cho rằng ông Diệm bị Mỹ giết vì không chịu cho quân đội ngoại quốc đóng trên đất nước mình)“. Trích đoạn theo :  VNMLQHT- Chương 16-Từ Đồng Minh Với Mỹ-Đến Thỏa Hiệp Với Cộng <Sách Hiếm net>.

b Về phân đoạn F ” The 9th Division (Comment: now in the Delta) after the coup begins.” Lý do về việc ” now in the Delta” sẽ trình bày sau.

* Viên chức tình báo cơ quan CAS gặp ông Trần Trung Dung

29.10.1963 – Tối 25/10, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trần Trung Dung, nói với sĩ quan tình báo CAS rằng ông ta đã biết các tướng lãnh lên kế hoạch tiến hành cuộc đảo chính trong vòng mười ngày. Cuộc đảo chính do Tướng Đôn, “Big Minh”, và Tướng Lê Văn Kim đã tham gia ở cấp cao nhất. Dung nói rõ ràng các Tướng lãnh đã lên kế hoạch nhằm xóa bỏ hoàn toàn gia đình họ Ngô.

Ông Dung nói rằng theo hiểu biết của mình, các tướng lãnh vẫn chưa tiếp cận được với các lãnh đạo dân sự. Như đã nói trước đó, ông Dung bày tỏ một số băn khoăn về khả năng và ý định của các Tướng. Ông ta  đưa ra nhận xét về đa số các Tướng lãnh rằng khả năng không khá hơn các trung sĩ được đào tạo của Pháp trong bộ quân phục của  hàng  Tướng lãnh- He considers majority of Generals no more than French trained sergeants in Generals’ uniforms . Ông Dung lưu ý ba trường hợp ngoại lệ trong đánh giá này: “Big Minh”, Kim, và Phạm Xuân Chiểu. Ông Dung cho biết mối quan tâm của ông đối với các tướng lãnh là phát triển quân đội và mặc dù phải thay thế chế độ, các tướng lãnh thiếu kinh nghiệm chính trị cần thiết để điều hành chính phủ.

    Bản thân Dung cho biết sẽ không từ chối phục vụ trong chính quyền mới, nhưng thực tế ông  ta kết hôn với cháu gái Diệm có thể gây thiệt hại cho nhóm mới. Trong suốt buổi tối, Dung chỉ trích nhiều hơn so với trước đây đối với Diệm, Nhu, Bà Nhu, và toàn bộ tùy tùng của Ngô và các cấp trong chính phủ.

   Bất chấp tuyên bố từ chối trái ngược, có thể Dung liên quan đến kế hoạch đảo chính hiện tại thuộc phe dân sự. Điều này dựa trên cơ sở sau: Tuyên bố ban đầu của Dung là Đôn và “Big Minh” lập kế hoạch đảo chính, dường như không chắc chắn với vai trò của Kim, cùng với tuyên bố sau đó khi ông đưa  nhận xét về “Big Minh”, Kim và Chiểu vào hàng tướng lãnh có khả năng. Mặt khác, Dung không có gì  chứng minh rằng cá nhân ông ta có liên quan hoặc đã được tiếp cận, đặc biệt về những gì anh ta nói khi chia sẻ  các gợi ý.[6]

*  HĐANQG đề xuất các phương án dự phòng về cuộc đảo chánh tại Việt Nam 

29.10.1963 – Các vấn đề cần xem xét  tại cuộc họp ngày 29.10.1963

1. Lodge có nên tiếp tục kế hoạch trở về Hoa Kỳ không?

    – Khuyến nghị: Có, trừ khi cuộc đảo chính xảy ra trước khi anh ta khởi hành theo lịch trình.

2. Những quan chức Mỹ nào khác ở Sài Gòn sẽ  giữ bí mật về thông tin đảo chính để giúp họ có thể hành động khi Lodge vắng mặt?  

     – Khuyến nghị: a- Ông Trueheart, Phó Đặc Vụ, người sẽ trở thành người phụ trách thay thế và do đó là đại diện cấp cao của Hoa Kỳ tại Việt Nam.

      b- Tướng Harkins, người sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người Mỹ tại Việt Nam.

      c- Quyền trưởng Trạm tình báo  CAS [khoảng 1 dòng chưa được giải mật] cần biết trước thông tin đảo chính.

3. Hoa Kỳ có nên ngăn chặn cuộc đảo chính của các Tướng lãnh không?

    – Khuyến nghị: Vì Hoa Kỳ có thể không nhận được kế hoạch đảo chánh cho đến 4 giờ trước khi sự kiện diễn ra, nên có thể không có đủ thời gian để Hoa Kỳ đưa ra quyết định. Trong mọi trường hợp, chúng tôi không tin rằng Hoa Kỳ nên cố gắng ngăn chặn một cuộc đảo chính ở giai đoạn cuối này vì những lý do sau:

     a- Lodge đã nhiều lần nói với nhóm đảo chính, trực tiếp hoặc thông qua Conein, rằng chúng tôi sẽ không ngăn cản một cuộc đảo chính.

     b- Đây là cơ hội tốt nhất cho một cuộc đảo chính thành công mà chúng tôi có thể có được.

     c- Bất kỳ nỗ lực nào nhằm ngăn cản  sẽ để lại một di sản lớn là sự cay đắng và mất lòng tin của các Tướng lĩnh đối với Hoa Kỳ.

     d- Tất nhiên, mặc dù có rủi ro đáng kể liên quan đến một cuộc đảo chính và không có đảm bảo tuyệt đối cho sự thành công, bất kỳ hành động hoặc không hành động nào khác đều có rủi ro tương đương hoặc lớn hơn.

4. Có nên di chuyển các đơn vị quân đội Hoa Kỳ ở Biển Đông và Okinawa vào vị trí sẵn sàng như họ đã làm vào tháng 8?

   Đề xuất: Nên  tìm kiếm quan điểm của Lodge. Có thể cần sử dụng các lực lượng Hoa Kỳ từ bên ngoài Việt Nam để bảo vệ người Mỹ trong tiến trình di tản. Mặt khác, sự di chuyển của các lực lượng này sẽ cho thấy có sự chuẩn bị trước của Hoa Kỳ về kế hoạch đảo chính.

5. Những hành động nào khác có thể được thực hiện vì sự an toàn của nhân viên Hoa Kỳ tại Việt Nam?

   Khuyến nghị: Không có hành động nào khác có vẻ cần thiết hoặc khả thi. Xem xét kế hoạch di tản cho thấy rằng kế hoạch đã sẵn sàng hành động, nhưng hoạt động của nó có thể bị cản trở bởi bất kỳ động thái chống đối nào từ phía chính phủ.

6. Chúng tôi nên thực hiện hành động gì khi một trong hai bên yêu cầu hỗ trợ sau khi cuộc đảo chính bắt đầu?

   Khuyến nghị: Vì chúng ta đã nói với nhóm đảo chính rằng chúng ta sẽ không ngăn cản một cuộc đảo chính, chúng ta nên từ chối bất kỳ yêu cầu nào của Chính phủ Việt Nam về sự hỗ trợ của chúng ta.  Nếu nhóm đảo chính đưa ra yêu cầu hỗ trợ, chúng ta nên chuẩn bị sẵn sàng nếu có đề xuất vào thời điểm đó.

7. Sự cân bằng của các lực lượng đối với cuộc đảo chính là gì?   

    Trả lời: Bối cảnh không rõ ràng lắm vì có nhiều lỗ hổng trong thông tin của chúng ta. Lodge giải thích những lỗ hổng này trên cơ sở an ninh. Tuy nhiên, trên cơ sở các đơn vị được báo cáo để hình thành cuộc đảo chính, nhóm đảo chính dường như có ưu thế hơn về lực lượng. Vì không nhất thiết tất cả các đơn vị khác đều chống đảo chính, nhóm đảo chính có thể có ưu thế lớn về lực lượng.

8. Chúng ta áp dụng tư thế công khai nào ngay sau khi biết rằng cuộc đảo chính đang diễn ra?

   Khuyến nghị: Chúng tôi tuyên bố, cả ở đây và tại hiện trường, rằng chúng tôi đang theo dõi chặt chẽ các báo cáo và theo dõi diễn biến. Nếu được hỏi về việc liệu đã biết trước cuộc đảo chánh, chúng tôi trả lời rằng chúng tôi không biết trước – If asked about foreknowledge, we reply we had none. Nếu được hỏi liệu chúng tôi có tiếp tục công nhận Chính phủ Diệm hay không, chúng tôi nên trả lời rằng không có hành động nào được thực hiện về vấn đề này. Nếu được hỏi liệu chúng tôi có tiếp tục viện trợ cho Chính phủ Diệm hay không, chúng tôi nên trả lời rằng chúng tôi tiếp tục hỗ trợ nhân dân Việt Nam trong nỗ lực đánh bại kẻ thù Cộng sản và xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Qua đây, chúng tôi xin chúc tất cả  mọi người thành công – In this, we wish them all success. [7]

TT Kennedy lo  ngại nếu đảo chánh thất bại thời sẽ mất toàn bộ vị thế của Mỹ tại vùng Đông Nam Á

29.10.1963 – Khi duyệt  xét yêu cầu đánh giá  về tình hình của nhóm đảo chính, Tổng thống yêu cầu chúng tôi nói rõ với Lodge những quan tâm có liên quan đến khả năng quân sự của các Tướng phe đảo chánh, và yêu cầu đại sứ  hỏi các Tướng phe đảo chánh kế hoạch đối phó với tình hình một khi sức mạnh quân sự của họ thua kém chế độ Diệm. Tổng thống nhắc lại đề nghị rằng, Lodge nên nói với các Tướng lãnh là  họ phải chứng minh có thể thực hiện  cuộc đảo chánh thành công – Lodge should tell the Generals that they must prove they can pull off a successful coup. Nếu tính toán sai, chúng ta có thể mất toàn bộ vị thế của mình ở Đông Nam Á trong một sớm một chiều – if we miscalculated, we could lose our entire position in Southeast Asia overnight.[8]

* Điện tín về cuộc đảo chánh bắt đầu hồi  13 giờ 45.

 01.11.1963 – Được báo cáo thông qua các băng tần riêng biệt,  cuộc đảo chính bắt đầu vào khoảng 13 giờ 45. Các diễn biến nổi bật tính đến  1500 giờ như sau:

1. Tướng Đôn đã xác nhận trong hai thông điệp riêng biệt với chúng tôi rằng cuộc đảo chính đang được tiến hành.

2. Trung tâm viễn thông của Bộ Nội vụ bị lực lượng đảo chính chiếm giữ bởi  Thủy quân lục chiến.

3. Ít bắn nhau trên đường phố.

4. Đại tá Tung Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt Việt Nam bị bắt

5. Lực lượng Bảo vệ Tổng thống được triển khai đầy đủ xung quanh Dinh nhưng không nổ súng khu vực này.

6. Bộ trưởng Thuần, Bộ trưởng Kinh tế Thanh, Bộ trưởng Bộ Tài chính Lương đều tá túc tại  nhà của Đại sứ Ý.

7. 103 xe vận tải chở quân nhân từ Biên Hòa tiến vào cầu vượt Sài Gòn.

8. Đại tá Tung, Ủy viên Cảnh sát, Chỉ huy trưởng Không quân, Tư lệnh Lực lượng Không quân, Tư lệnh Cảnh vệ Dân sự, tất cả những người này đều bị giam giữ tại Bộ Tổng tham mưu. Tư lệnh Hải quân báo cáo đã thiệt mạng trong cuộc xung đột  sáng nay.

9. Các Tướng đảo chính đã  đến Phủ Tổng Thống để trao  tối hậu thư cho ông Diệm, bảo đảm việc di cư ra khỏi đất nước an toàn cho ông Diệm và ông Nhu, nếu họ đầu hàng trong vòng một giờ. Nếu không, tướng Đôn nói rằng, ông ta sẽ đưa ra tuyên bố liên quan đến cuộc đảo chính qua đài phát thanh trong vòng một giờ tới.

10. Tình hình màu xám được báo động và người Mỹ được cảnh báo qua radio AFRS được yêu cầu ở trong nhà. [9]

Về vấn đề người Mỹ KHÔNG  hay CÓ tham gia vào cuộc đảo chánh năm 1963 đã là đề tài gây nhiều tranh cãi, thí dụ:

     “Quy luật chính trị và những đòi hỏi của tình thế rõ ràng như thế, nhưng những kẻ muốn bôi nhọ ý nghĩa lịch sử và giá trị cách mạng của ngày 1/11/63 sau này đã cố tình bóp méo lịch sử bằng hai sự kiện hoàn toàn không có thật: thứ nhất là họ cho rằng nếu Mỹ không “bật đèn xanh” thì quân đội và nhân dân miền Nam không đủ sức và không dám làm cuộc cách mạng lật đổ chế độ Diệm, thứ hai là họ cho rằng chính chính quyền Kennedy là kẻ chủ xướng và điều động cuộc cách mạng 1/11/63.”  Trích đoạn theo  VNMLQHT, Chương 17-Cuộc cách mạng 1-11-63. < Sách Hiếm net>

     Tuy nhiên, theo tài liệu Ngũ Giác Đài -The Pentagon Papers phổ biến năm 2011 trên Văn Khố Quốc Gia online:

” Về  cuộc  đảo  chánh  lật  đổ  Ngô  Đình  Diệm,  chính phủ  Mỹ phải  hoàn  toàn chịu  trách nhiệm- For  the military  coup d’etat  against  Ngo  Dinh  Diem,  the   U.S.  must  accept  its  full  share  of  responsibility.”
 
Câu văn trên người viết trích  trong Tài Liệu Ngũ Giác Đài, phần “Tóm tắt và phân tích- Summary and Analysis <The Pentagon Papers> ” về cuộc đảo chánh 01.11.1963,  toàn đoạn văn tóm lược như sau:
 ” Về  cuộc  đảo  chánh  lật  đổ  Ngô  Đình  Diệm,  chính phủ  Mỹ phải  hoàn  toàn chịu  trách nhiệm… Chúng  ta  kín đáo  duy  trì  liên lạc  với  phe  đảo  chánh  xuyên  suốt quá  trình  từ  lúc  lên  kế hoạch  cho đến khi  tiến  hành  cuộc  đảo  chánh,  chúng  ta  đã  duyệt  kế  hoạch  hành  động  của  họ  và  đề  ra  thành  phần tân  chính  phủ- We maintained  clandestine  contact  with  them  throughout the  planning and  execution  of  the  coup  and  sought  to  review  their  operational plans  and  proposed  new government. .  Cho  nên,  sau  9  năm  cầm quyền  của Chính phủ  Diệm  đã  bị chấm  dứt bằng  sự  đổ  máu-Thus,  as the  nine­ year rule  of Diem  came  to a bloody end. Vì thế, sự đồng  lõa  của  chúng  ta  trong  việc  lật  đổ  Chính  phủ  Diệm  đã  làm  tăng trách  nhiệm  của  chúng  ta  là  đã  can  dự  vào  sự hình  thành nên một nước Việt   Nam  mà  thực  chất  là  không  có  người  lãnh  đạo – our  complicity in  his  overthrow  heightened  our  responsibilities  and  our  commitment  in  an  essentially leaderless  Vietnam.”  Theo  tài liệu Ngũ Giác Đài <Declassified per Executive  Order 13526, By: NWD Date: 2011- Pentagon papers- Part IV.BCounter-Insurgency:The Kennedy Commitments,1961-1963 (5 Vols.)-5.The Overthrow of Ngo Dinh Diem>.[10]

Phần trên theo điện tín của TT Kennedy gửi ĐS Lodge ngày 29.8.1963:” Chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để giúp ông  kết thúc chiến dịch này thành công …tôi cũng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về chiến dịch  này và hậu quả của nó … Đã tiến hành thì nhất định phải thắng,..”  Còn theo VNMLQHT phủ   nhận việc: chính quyền Kennedy là kẻ chủ xướng và điều động cuộc cách mạng 1/11/63″.  Như thường lệ, người viết lại xin nhường bạn đọc tự đưa ra nhận xét và phê bình về vấn đề này .

 Còn tiếp.

Đào Văn

Về quyết  định của  HĐANQG họp  sáng ngày 29.8.1963, và về hàng chữ chú thích liên quan đến ” mệnh lệnh…” –“Diem’s handwritten proclamation to the Army on the day of the coup, November 1, 1963 ” có đúng là ” mệnh lệnh viết  tay của TT Diệm – Diem’s handwritten proclamation…” ? Sẽ trình bày tại bài viết sau.

Nguồn:

 [1]- Thư viện BNG 29.8.63: Message From the President to the Ambassador in Vietnam (Lodge)…..

[2]- Thư v. BNG     30.8.63: Telegram From the Embassy in Vietnam to the Department of State  

[3]- Thư v. BNG    25.10.63:CIA telegram  from Saigon,   

[4]-Thư v. BNG    28.10.63:Telegram From the Embassy in Vietnam to the Department of State
[5]-Thư v. BNG 29.10.63:Telegram From the Ambassador in Vietnam (Lodge) to the Department of State
[6]-Thư v. BNG – SG,19:38pm  29.10.63:Telegram From the Ambassador in Vietnam (Lodge) to the Department of State
[7]- Thư v. BNG, US time –   29.10.63: Briefing Paper in Washington,
[8]- Thư v. BNG, US time-18pm 29.10.63: Memorandum of a Conference With President Kennedy
[9]- Thư v. BNG, SaiGon 3pm  01.11.63: Telegram From the Embassy in Vietnam to the Department of State  [Department of State 
[10]-Văn Khố Quốc Gia,The Pentagon Papers,Part-IV-B-5 -The Overthrow of Ngo Dinh Diem.pdf

Nguồn: https://vietbao.com/p301436a309897/vai-tro-cua-my-ve-cuoc-dao-chanh-ngay-01-11-1963

Què Chân, Gẫy, Lủng Ruột – Nguyễn Trùng Khánh (Y sĩ Trung úy TQLC)

  • Nguyễn Trùng Khánh (Y sĩ Trung úy TQLC)

Thật như một tiếng sét đánh ngang tai. Tôi ngán ngẫm cho số phận hẩm hiu của mình, chưa được nghỉ ngày nào đã phải đi lội. Thật ra đây không phải là lần đầu tiên y sĩ Thủy Quân Lục Chiến bị thương vong. Trước đó đã có Trương Bá Hân, Lê Hữu Sanh.

Chiều hôm sau trực thăng chở tôi đến chỗ đóng quân của Tiểu đoàn 1. Tôi trình diện Đại tá Trí, Tiểu đoàn trưởng. Ông ta cho tôi hay là Long – tên người y sĩ bị thương – hôm trước mò lên đánh cờ tướng với ông rồi ngủ lại. Ban đêm Việt cộng pháo kích, Long bị mảnh đạn trúng xương sống, thương tích khá nặng có thể bị tàn phế cả đời. Hiện Long đã được đưa về Sài Gòn chữa trị. Vài tuần sau tôi có gặp Long tại bệnh viện Huê Kỳ ở Long Thành, anh nằm xấp trên chiếc giường quay, cô vợ trẻ xinh xắn săn sóc anh tận tình.

Ngày kế, Tiểu đoàn lên đường. Một ngày bình thường, không có gì báo hiệu những biến cố sẽ làm xáo trộn cuộc đời của tôi.

Tôi còn nhớ rõ đó là một ngày đẹp trời, đoàn quân hăng hái lội qua đồng ruộng, thỉnh thoảng được ngồi nghỉ dưới gốc dừa bên một con đường đất rộng. Hai người cố vấn Mỹ vui vẻ bắt chuyện với tôi. Tôi cảm thấy hình như họ có cảm tình riêng với tôi, pha lẫn chút kính nể, tôi cũng không rõ tại sao hay có thật như thế không.

Xế chiều vào khoảng 4 giờ thì dừng quân ở một bãi trống. Bộ Chỉ Huy đóng tại một mô đất có vài cây thấp lè tè, xung quanh là đồng ruộng. Tôi đứng ngắm địa thế, và để ý thấy một đám lính tranh giành nhau một lùm cây nhỏ để lấy chỗ mắc võng. Bỗng nghe một tiếng nổ chát chúa. Tôi cảm thấy bàn chân trái bỗng như bị điện giựt, và một sức mạnh vô hình quật tôi té vật xuống đất. Chung quanh tôi mọi người nhốn nháo. Một người la lớn: “Cẩn thận. Tụi nó gài mìn Claymore”.

Anh y tá trưởng lại gần giúp tôi xem xét vết thương. Kéo quần xuống, tôi thấy một vết thương nhỏ ở bẹn bên phải. Tôi nghĩ thầm:

– Bỏ mẹ rồi ! Đạn vào bên phải mà lại đau chân bên trái, như thế là nó đi xuyên chéo qua bụng dưới. Bọng đái và ruột già chắc nát như tương. Tuy nhiên mình vẫn cử động hai chân được, như vậy chứng tỏ các giây thần kinh còn tốt, không đến nỗi bị què quặt.

Tôi nhớ tới quan ba Tiền, hồi bị thương ở Long Khánh cũng chỉ lo ngay ngáy bị cưa giò. Anh chàng nằm trên cáng dặn đi dặn lại:

– Cậu nhớ bảo tụi nó đừng cưa nhé. Đi nhẩy đầm với chân gỗ thì xấu lắm !

Anh chàng bị bắn gẫy chân xương ống quyển, vài tháng sau thì lành, không bị tàn tật gì hết. Giờ đây đến phiên tôi bị “ghẻ”. Từ khi đi hành quân, tôi luôn đeo bên người một khẩu Beretta nhỏ. Nếu thương tích đưa đến một tương lai vất vưởng sống lây lất nhờ vào kẻ khác thì tôi sẽ không ngần ngại gì mà không đưa một phát vào màng tang cho rãnh nợ đời. Do vậy tôi thẩm định thương tích của mình rất thận trọng. Tôi thấy bụng dưới từ từ phình lên một màu hồng hồng, chứng tỏ đang xuất huyết, cơn đau kéo đến làm tôi toát mồ hôi hột. Tôi ra lệnh cho y tá chuyền nước biển, chích một mũi Démérol cho đỡ đau và một phát Pénicillin để ngăn nhiễm trùng. Tôi nghe thấy cố vấn Mỹ gọi máy 25 xin trực thăng đến, người ta vội vã khiêng các thương binh lên. Có 3 người kể cả tôi, ông Đại tá Trí cho một y tá đi theo để săn sóc.

Độ nửa tiếng sau thì trực thăng đáp xuống. Tôi nhận ra đây là phi trường Cần Thơ, người ta bắt đầu chuyển các thương binh xuống. Đến phiên tôi thì thấy hai người lính Mỹ ngăn lại, họ lôi anh y tá đi theo tôi lên, rồi trực thăng lại cất cánh. Tôi đoán có lẽ họ đưa tôi về Sài Gòn, nhưng chỉ độ 10 phút sau thì trực thăng lại đáp xuống. Tôi nhìn ra và không biết chỗ này là chỗ nào, tôi thấy mấy người chạy lại đều là lính Mỹ. Họ khiêng tôi vào một phòng có máy lạnh chạy ào ào làm tôi rét run cầm cập. Tôi nhờ một anh y tá Mỹ thông bọng đái và đưa nước tiểu cho tôi xem. Anh làm theo ý tôi. Khi thấy nước tiểu của mình trong vắt không có máu, tôi mừng quá xỉu luôn. Tôi biết bể bọng đái ở Việt Nam hồi đó thật khó mà chữa trị.

Giới Quân y ở Sài Gòn sững sốt vì tin hai y sĩ bị trọng thương trong hai ngày liên tiếp. Nhưng quái đản nhất là trong ngày đầu, không ai biết tôi nằm ở đâu. Bộ Tư lệnh Sư đoàn đánh điện hỏi các Quân y viện đều không thấy tên tôi đâu hết. Có người đoán là Mỹ đưa tôi ra ngoài Hạm đội 7 và không chừng tôi đang nằm trong bụng cá mập rồi. Sau cùng người ta nhờ cố vấn Mỹ liên lạc với người lái trực thăng tản thương hôm trước, hỏi xem hắn đã đưa tôi về chỗ nào. Hắn trả lời là theo lệnh – của ai tôi không rõ – hắn đã đưa tôi về Bệnh viện Dã Chiến của Hoa Kỳ ở Bình Thủy.

Khi tôi tỉnh dậy, thấy mình nằm trong phòng lạnh, dây ống chạy tùm lum từ lỗ mũi, cánh tay, bọng đái. Một khuôn mặt có đôi mắt nâu hiền từ đang nhìn tôi mỉm cười. Người này tự giới thiệu:

– Tôi là Thiếu tá y sĩ Boese. Tôi đã giải phẩu cho ông. Ông thấy trong người như thế nào ?

Tôi ngắm nhìn vị ân nhân của mình, trạc 30 tuổi, tóc nâu đậm thưa thớt, đầu hơi hói, đeo kính cận. Dáng người vừa vặn, không to lớn kềnh càng như những người Hoa Kỳ khác. Ông khuyên tôi nằm nghĩ, rồi sáng mai ông sẽ lại thăm tôi nữa.

Tôi nửa tỉnh nửa mê thêm một ngày. Hôm sau thấy sảng khoái hơn. Bác sĩ Boese đến thăm bệnh tình của tôi rồi nói:

– Tôi đã phải cắt gần nửa thước ruột non của ông. Mảnh đạn đi xuyên qua ruột, cắt đứt mất một mạch máu nhỏ, nhưng các bộ phận khác đều không bị gì cả. Tôi đã mất rất nhiều thì giờ để nhặt những hạt cơm văng vãi tung tóe trong bụng của ông.

Ông vừa cười vừa nói câu sau. Tôi cũng nhếch mép mỉm cười theo. Cũng may hôm bị thương mãi tới hai giờ chiều mới ăn trưa, và tôi lại ăn rất ít. Bác sĩ Boese hỏi tôi:

– Có phải anh đang nhức ba ngón chân phía trái không ?

Tôi gật đầu. Ông ta giảng tiếp:

– Ấy là bởi vì mảnh mìn chạm vào dây thần kinh. Hiện giờ còn nằm đó, chưa lấy ra được. Ông cứ nằm ở đây mấy ngày để tôi săn sóc vết thương bụng của ông. Sau đó sẽ chuyển ông về Sài Gòn mới tính chuyện lấy mảnh đạn ra được.

Vài ngày sau mẹ tôi lặn lội xuống thăm. Tôi nhìn mái tóc bạc trắng của bà mà nước mắt chạy quanh. Tôi biết đã làm bà buồn lòng rất nhiều vì cái tính hoang tàng của tôi. Tôi ngầm tự nhủ nếu qua khỏi tai nạn này, tôi sẽ sống có chừng mực hơn, tôi sẽ lấy vợ đẻ con để bà có cháu bế, tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để vui lòng bà. Gia đình tôi ngoài mẹ tôi ra không ai thăm viếng tôi cả. Một phần có lẽ vì bận đi làm ăn, một phần vì họ hàng tôi từ trước tới giờ vẫn coi tôi là đứa ăn chơi lêu lổng, có chết cũng đáng đời. Tôi thì coi họ hàng như “pha” đã từ lâu, nên cũng chẳng trách ai được.

Tôi nằm ? phòng hậu giải phẫu cả tuần lễ, suốt ngày đọc sách báo. Vết thương bụng từ từ lành nhưng ngược lại chân trái ngày càng nhức nhối khó chịu. Anh y tá đi theo săn sóc tôi ngày ngày vào thăm nói chuyện vẫn vơ nên tôi cũng đỡ buồn.

Một hôm bác sĩ Boese đến thăm tôi, dẫn theo một thiếu nữ Việt Nam khoảng 19 – 20 tuổi. Cô này người nhỏ nhắn, không đẹp nhưng trông thùy mị có duyên. Ông Boese giới thiệu cô này là thư ký và thông ngôn tại bệnh viện. Ông ngập ngừng ngỏ ý nhờ tôi một việc. Số là cô này có làm đơn xin đi du học Hoa Kỳ, giấy tờ đã nộp hết mà lâu không thấy kết quả.

– Ngày mai có máy bay đưa ông về Sài Gòn. Tôi rất cảm kích nếu ông có thể giúp cô ta sang du học tại nước tôi càng sớm càng tốt.

Tôi ngạc nhiên sửng sốt. Mấy người này hình như tưởng rằng tôi có quyền lực rất lớn ở Sài Gòn. Tôi thú thực với ông ta:

– Rất tiếc là tôi không có quyền hành chi trong một việc như thế này. Tuy nhiên tôi sẽ cố gắng hết khả năng của tôi để giúp cô ta như ông muốn. Tôi cũng xin cám ơn ông đã tận tụy chữa chạy cho tôi.

Ngày hôm sau có máy bay Caribou chở tôi về Sài Gòn. Khi đã lành tôi có liên lạc với mấy người bạn làm việc ở Bộ Ngoại Giao và Bộ Nội Vụ, nhờ họ kiếm xem giấy tờ của cô thơ ký đang nằm ở đâu. Vì thời cuộc nên tôi không theo dõi việc này đến nơi đến chốn, đó là một điều tôi ân hận mãi. Không biết bây giờ bác sĩ Boese và cô thư ký xinh xắn kia ở phương trời nào ? Cầu chúc cho họ những chuổi ngày hạnh phúc.

* Người ta đưa tôi vào bệnh xá Lê Hữu Sanh ở Thị Nghè. Những ngày nằm ở đây là những ngày đen tối nhất trong đời tôi. Tôi không ăn uống gì được, đi tiêu chảy hoài hoài. Khổ hơn nữa là cái chân trái càng ngày càng nhức nhối khó chịu, phải chống gậy mới đi lại được. Tôi xin chích Démérol hàng ngày, sau khi chích thì cái đau không ở trong người mà lâng lâng ở bên ngoài. Nhiều đêm không nhắm mắt được phải xin chuyền Penthotal mới ngủ nổi. Cứ như thế tới hai tuần lễ, người tôi rạc hẳn đi, trông như một anh Do Thái trong trại giam của Đức quốc xã hồi đệ nhị thế chiến. Một hôm tôi tự nhủ:

– Mình đã bị thương gần như què cẳng, nay lại thêm chích choác nữa thì không khá được. Nhất định phải chống lại.

Hôm đó tôi quyết định bỏ chích Démérol. Khi cữ ghiền lên, chân tay tôi co quắp lại, người lạnh run lên. Tôi nhớ tới lời nói của ông chú ruột:

– Hồi tao đi kháng chiến, bị sốt rét mà không có thuốc chữa. Mỗi lần cơn sốt nó hành tao nằm sấp xuống đất dang hai tay chân ra nhất định không cho cơ thể nó run. Ấy thế mà vài ba ngày sau bệnh biến tiệt, chẳng thuốc men mẹ gì hết.

Tôi ra sức chống đối với cơn ghiền, và tôi đã thắng. Từ đó tôi không bao giờ chích Démérol nữa. Khi bỏ thuốc lá cũng vậy, tôi bỏ cái rụp. Những dân ghiền bây giờ – ghiền xì ke, ghiền rượu, ghiền thuốc lá – tìm những xảo thuật để từ bỏ cái ghiền của mình… Tôi cho là láo khoét hết. Muốn thành công chỉ cần có ý chí cương quyết mà thôi.

Căn cứ Long Bình

Người ta lại đưa tôi vào Bệnh viện Dã chiến của Hoa Kỳ ở Long Bình. Họ muốn tìm cách lấy mảnh đạn còn nằm trong cơ thể của tôi, họ chụp hình và thử nghiệm tùm lum. Ở Long Bình, tôi gặp lại anh Long, người y sĩ bị thương trước tôi. Tôi nhìn anh, hai đứa nhìn nhau, một thằng lủng ruột, một thằng gẫy lưng, nghẹn ngào không nói nên lời. Thấy cô vợ trẻ săn sóc anh, tôi tủi thân, nhưng nhiều khi thương hại chị ta khôn tả. Đôi khi tôi thấy chị thẩn thờ ngơ ngác, như xua đuổi một cơn ác mộng. Tôi lại mừng thầm là mình chưa lập gia đình.

Người Mỹ nhận chữa trị cho một số dân sự trong chương trình dân sự vụ của họ. Phần đông là dân quê từ xa đưa về. Có những bà già đi theo chăm sóc cho con em, ăn trầu bỏm bẻm nhổ vung tàn tán. Có người nhảy tót hai chân lên bồn cầu ngồi chồm hổm, làm mấy chú lính Mỹ quét dọn nhà cầu ngẩn ngơ:

– Quái lạ ! Rõ ràng tao biết nó ngồi trong nhà cầu mà không thấy hai chân nó đâu.

– Lại còn có mấy cố nội rửa mặt trong bồn đi tiểu.

Tôi vừa ngượng vừa buồn cười, cố gắng giàn xếp cho êm đẹp và chỉ dẫn đồng hương cách xử dụng những đồ quỷ quái mà trong đời họ chưa bao giờ nhìn thấy.

Độ một tuần thì có hai y sĩ đến bàn bạc với tôi. Họ bảo tôi là họ có thể lấy mảnh đạn ra được, nhưng cuộc giải phẫu có thể gặp khó khăn. Tôi ngẫm nghĩ:

– Hiện giờ vết thương sắp lành, khi thành sẹo chắc chân cũng hết đau. Lấy mảnh đạn ra, mổ xẻ lại đau nhức một thời gian nữa. Vô phúc mấy ông xê lô cố này đưa lưỡi dao cắt đứt dây thần kinh thì mình tàn một đời cô Lựu. Thôi dẹp!

Thế là tôi quyết định không giải phẫu nữa. Tôi xin xuất viện và báo cho Tiền đến đón. Tiền lúc bấy giờ làm Chỉ huy Hậu cứ, vẫn thường liên lạc và nâng đỡ tôi luôn luôn.

Tối hôm đó, hai thằng kéo nhau đi Queen Bee, Tiền mang theo một chai Courvoisier. Tôi ngồi nghe hát, nhưng thật ra là để uống rượu. Quất quá nửa chai Cognac, khuya về nhà lăn ra ngủ li bì. Sáng hôm sau tỉnh dậy chân trái không thấy đau đớn gì, đi lại như thường, từ đấy vứt luôn cả ba toong gậy gộc.

Ôi Courvoisier mi là thần dược ! Hiện nay sau khi ăn cơm tối, tôi vẫn nhấm nháp một ly nhỏ cho nhẹ bụng.

Y sĩ Trung úy Nguyễn Trùng Khánh

31 Tháng Tám 2015

Nguồn: Thủy Quân Lục Chiến-https://hung-viet.org/p18a21316/que-chan-gay-lung-ruot

Bia và làm Bia ? Các loại bia – Trần Minh Quân

                                              Trần Minh Quân

   Sau những câu chuyện về Bia Úc, bia Canada, bia Ta và bia Tàu, các thân hữu ‘bụng bia’ nhắc Trần Minh Quân về vụ làm bia! Uống bia thì dốt nhưng làm bia thì TMQ có làm qua (!): làm bia ‘trái cây’ XHCN, kiếm tiền uống.. cà phê gạo rang của thời “Ba lợi ích.. bốn lợi dụng” tại Thành phố ‘bị đổi tên’   Năm 1981, TMQ có dịp được làm ‘chuyên viên’ ngoài biên chế (vì có.. vết vượt biên) tại Trung Tâm Sinh Học Thực Nghiệm TPHCM (thuộc Viện Khoa Học VN, nơi tập trung các Nhà Khoa Học XHCNVN từ nhiều nguồn đào tạo). Trung Tâm có một ‘Ban’ “Cấy men và nhân giống men.. làm kinh tế cho cơ quan. Men sản xụất là ‘men bánh mì’ cung cấp cho các xưởng bánh mì quốc doanh. Đây là loại ‘men nước’ (vì ..không có hệ thống làm khô!) bán từng can (bán chui cho các lò bánh.. tư doanh; và men này là ..men dùng làm bia trái cây ..

A- Nguyên liệu làm bia

Để làm bia, xin bắt đầu bằng nguyên liệu ;

    Nguyên liệu đóng vai trò, dĩ nhiên là quan trọng trong việc ‘chế bia’, vì tạo ra nhiều ‘gam’ hương, vị và tạo cả ’ấn tượng’ (impression) cho bia..Tất cả mọi loại bia đều chỉ có 4 nguyên liệu căn bản : orge brassicole (lúa mạch dùng làm bia), houblon, men và .. nước.   Bia ngày nay, tiến bộ xa hơn, được pha trộn thêm vô số (plethore) chất liệu để tạo ra hàng ngàn loại bia khác nhau. Muốn tạo ra một loại ‘bia’ toàn hảo cần đến sự sáng tạo.. nghệ thuật, và tài ứng dụng khoa học vào quy trình sản xuất.

1- Orge = barley = lúa mạch   Khung sườn căn bản của bia là hợp chất tạo ra từ hạt ngũ cốc được mạch nha hóa (malté). Sự ‘tạo mạch nha’ (maltage) là một tiến trình trong đó các phần quý giá của hạt lúa mạch được biến đổi để tạo ra vị, màu và cảm giác trong miệng khi uống bia. Tiến trình maltage bắt đầu bằng ngâm (trempage) hạt trong nước, trong nhiều ngày. Trempage có mục đích thay thế diễn biến tự nhiên cung cấp nước và oxygene cần thiết để hạt tăng trưởng..sau nhiều ngày để hạt mọc mầm (germination) theo các điều kiện nhiệt độ và ẩm độ. Giai đoạn sau cùng của ‘maltage’ là đun nóng hạt để làm bớt độ ẩm, tạo ra một màu riêng,  vị và làm mạch nha ổn định.
Image en ligne
Lúa mạch A và B

    Các nhà làm bia thường chọn lúa mạch để chế tạo bia. Lúa mạch có những đặc tính riêng để được chọn trong số nhiều hạt ngũ cốc khác, đây là nguồn amidon thiên nhiên dễ tan cần thiết cho sự biến đổi thành chất đường, sẽ dùng trong tiến trình lên men. Vỏ cứng bên ngoài của hạt lúa mạch là lý tưởng để tạo ra ‘lưới’ lọc bia sau này (danh từ chế bia gọi là brassage pour clarification), các mức protein trong hạt giúp tạo sự ổn định cho ‘bọt bia’ và tạo cả cảm giác trong miệng khi nhấp bia. Nguồn gốc của lúa mạch, trồng tại một địa phương cũng là một yếu tố quan trọng cho ‘hương vị’ của bia !

   Các hạt ngũ cốc khác cũng có thể dùng để làm bia như : lúa mì (blé=wheat), lúa mạch đen (seigle), lúa yến-mạch (avoine) và lúa miến (sorghum) (Việt Nam và Tàu dùng thêm gạo và bắp..) Mỗi loại hạt ngũ cốc có thể có các ưu điểm khác biệt, nhưng lúa mạch vẫn hiện là hạt được chọn trong việc chế tạo bia (khoảng 80% các loại bia).. Và trong bia làm từ pha trộn các hạt ngũ cốc , tỷ lệ lúa mạch cũng chiếm ít nhất là 50%.. Lý do là các ngũ cốc khác khi tạo mạch nha vì không có nhân hạt (glumelle) nên khi lọc sẽ khó khăn hơn. (không tự lọc được)   Mạch nha giúp tạo cho bia một ‘gam’ màu đi từ vàng nhạt, trong sáng đến đen. Mạch nha màu nhạt thường cho màu bia trong và tạo ra các vị nhẹ nhàng (trong đa số bia làm từ lúa mạch), trong khi đó mạch nha đậm màu làm màu sắc ‘rực rỡ’ hơn, cùng vị đậm đà thường gặp trong các bia loại porter và stout. Loại mạch nha màu caramel cũng được dùng để tạo màu và vị..cùng hương của nhiều loại bia ‘thủ công nghiệp’ (craft beer).

2- Nước   Nguyên liệu, tưởng như tầm thường này, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong bia thành phẩm, lại là một yếu tố rất quan trọng cho phẩm chất của bia! Các ‘bậc thầy’ trong ngành chế bia phân loại nước trong công nghiệp bia thành hai loại.. mỗi loại đều có ảnh hưởng riêng trên các nguyên liệu khác trong công thức bia và cũng có thể làm thay đổi nhận thức của người uống trong việc chọn bia !

  • Nước ‘cứng’ = dure, có hàm lượng muối khoáng cao (thường là calcium và magnesium). Nước cứng có thể làm tăng hương vị đặc biệt của houblon, đem theo vị chua nhẹ rõ và bay khỏi miệng nhanh chóng.
  • Nước ‘mềm’ =douce, thường không có muối khoáng., tạo ra vị nhẹ nhàng trong miệng khi uống bia đồng thời vị bia kéo dài hơn.

   Vùng Burton-upon-Trent tại Anh, nổi tiếng trong ‘nghề làm bia’ thế giới vì có loại nước làm bia ‘cứng’ nhất thế giới, và là điểm chính để họ tạo ra các loại bia nâu và India Pale Ales. Họ tạo ra một ‘danh từ riêng’ để mô tả việc ‘tái tạo khoáng chất’ (remineralisation) ; burtonisation và danh từ này trong nghề bia sẽ là  pha thêm sulfate de calcium và sulfate de magnesium vào nước dùng làm bia..   Các nhà làm bia  còn lọc nước trước khi đưa vào sử dụng để loại chlore, fluorure và các chất khác có thể ảnh hưởng đến vị của bia.

3- Houblon   Hoa của cây Humulus Lupulus (Việt Nam còn gọi là cây hương bia), đóng vai trò quan trọng trong việc tạo mùi hương của bia, thêm vào đó là vài vị riêng và cả vị đắng của bia. Houblon là nguyên liệu chính để tạo sự cân bằng cho bia. Vị đắng rất cần thiết để giảm cái ngọt của mạch nha. Cây houblon sống lâu năm và mọc nhanh .. mỗi ngày dài thêm 30cm, mỗi năm đến 6m. Houblon được tuyển chọn, loại dùng làm bia thường được trồng riêng tại Hoa Kỳ, Đức và nhiều quốc gia khác như Tiệp và cả Canada..
                           Houblon

    Vị đắng và các đặc tính tạo mùi thơm của houblon là do các dầu và nhựa (resine, acides alpha) trong hoa cái của cây. Các loài houblon chứa ít acid alpha thường dùng để tạo các hương vị ‘tế nhị’ và chỉ được thêm vào ở giai đoạn cuối của quy trình chế bia. Các loài chứa nhiều acid alpha được gọi là ‘houblon đắng’ được thêm vào hệ thống nấu, vào nồi ngay khi bắt đầu chưng cất chế tạo bia..

    Các Công ty làm bia ngày nay  dùng đơn vị IBU để đo vị đắng của bia . International Bittering Unit (IBU) đo các acid alpha còn lại sau khi nấu bốc hơi. Thang cấp đo được đánh số từ 0 đến 100. Các loại bia nhẹ  thường có độ  IBU trong khoảng 6 đến 17, nhưng các loại bia IPA tại Bắc Mỹ có khi có IBU đến trên 60.

   Tuy các con số IBU thật sự dựa theo khoa học nhưng chưa hẳn là vị đắng mà người uống cảm nhận được ? Như, một loại bia có lượng mạch nha  cao, có thể có IBU=80 nhưng người uống có khi chỉ cho là.. 40, vì cảm nhận được sự cân bằng giữa mạch nha và houblon !  Mùi và Vị của houblon tùy thuộc rất nhiều vào các điều kiện thổ nhưỡng nơi cây được trồng (đất, nước tưới, khí hậu, ánh nắng..) Các nhà làm bia chọn loài thích hợp cho từng loại bia được sản xuất..và cũng tùy thuộc vào ý thích của người uống..

4- Men    Men , vi sinh vật này là ‘bộ máy’ chế tạo bia. Khi thêm men vào một dịch lỏng có chứa nhiều đường (danh từ làm bia là mout), các ‘thầy bia’ có khả năng làm chuyển biến các chất đường (có thể lên men) thành alcohol.. và điểm tối quan trọng là các thầy cần cung cấp cho men, khí oxygene cần tinh khiết . Men cần đường để tiêu hóa và oxygene để thở ..trước khi sinh sản và tạo ra alcohol..Image en ligne
Men saccharomyces

    Đa số các chủng men dùng làm bia đều thuộc gia đình men Saccharomyces (về men xin đọc trong các bài về ‘Thực phẩm và Thức uống lên men). Các chủng men tinh khiết là ‘chìa khóa’ để bia có phẩm chất ổn định. Trong công nghiệp làm bia có hàng trăm chủng men và mỗi chủng đều có các đặc tính riêng, giúp tạo vị và mùi thơm đặc biệt cho mỗi loại bia. Hương vị ‘tế nhị’ của các loại trái cây như lê, táo.. khi thêm vào giai đoạn lên men cũng tạo cho bia các mùi vị riêng..

    Men ‘nổi’ (levure haute) hoạt động tốt, khi ở nhiệt độ nóng, nên thời gian lên men kéo dài. Men ‘chìm’ hay lager (tiếng Đức nghĩa là : già đi), tốt hơn, khi nhiệt độ lạnh và thời gian lên men có thể kéo dài gấp đôi so với khi dùng men ‘nổi’    Các nhà sản xuất bia nhỏ thường mua men từ các nhà cung cấp ‘quen biết từ lâu đời’, có danh tiếng, nhưng các Công ty bia phải tự sản xuất men và cất giấu chủng men gốc  như một bí mật ‘độc quyền’ được bảo vệ rất kỹ.

5- Vài nguyên liệu phụ :

    Ngoài 4 nguyên liệu ‘chính’ trên, các Nhà sản xuất bia ngày nay còn thêm rất nhiều ‘phụ liệu’ vào bia của họ để tạo ra các hương vị ‘riêng’..

  Các chất ‘glucid’ (không phải là mạch nha) đều được xếp vào ‘phụ gia’ (adjuvant) (tiếng lóng của giới làm bia), và có thể gọi là các chất thêm vào.. không chính thống ?

Các phụ liệu như trái cây khô và gia vị đã được dùng từ hàng thế kỷ trước để tạo thêm vị và mùi thơm cho bia, ví dụ như cam, ngò tây, lúa mì nguyên vẹn (không làm thành mạch nha), Có những loại bia dùng các hạt ngũ cốc khác như gạo và bắp (bia Tàu, bia Ta..), pha trộn vào mạch nha (lúa mạch), việc pha trộn này có mục đích dùng ngũ cốc có hương vị nhẹ giúp tạo ra bia nhẹ hơn và vị dịu hơn (?), để bia có thể.. dễ uống hơn ?B- Cách.. làm biaSau phần nguyên liệu, xin trình bày tiếp sơ lược về cách làm bia..

1- Khởi đầu từ lúa mạch ?

   Hầu như mọi loại bia đều làm từ lúa mạch là loại ngũ cốc có nhiều enzym, tinh bột và vị riêng để tạo ra bia ngon (?).

  Trước khi lúa mạch đến Nhà làm bia, hạt lúa phải qua Cơ sở chế biến (malterie), tại đây nhờ một tiến trình cổ truyền và đặc biệt, hạt được chuyển thành ‘lúa mạch có khả năng tạo nha (orge maltée). Các thầy ‘phù thủy chế bia’ tại cơ sở có thể.. phù phép, biến hóa thành rất nhiều dạng hạt mang theo vị và màu sắc.. khác nhau !

2- Qua nhà máy ..làm bia :

   Mỗi Nhà máy làm bia có một vị chuyên viên chịu trách nhiệm tiến trình sản xuất được gọi là maitre-brasseur, có tài năng cao, kinh nghiệm và đặc sắc nhất là ‘nhận định’ được phẩm chất của bia. Ông xếp này  tạo ‘công thức’, quyết định việc pha trộn mạch nha, chọn houblon và men; xác định nhiệt độ, và thời gian lên men..

   Mỗi giai đoạn trong tiến trình chế tạo bia đều được “Maitre’ theo dõi, kiểm soát và sửa đổi khi cần để giữ phẩm chất của thành phẩm..   Trên căn bản, tiến trình ‘làm bia’ trãi qua một loạt biến đổi tự nhiên kế tiếp nhau một cách liên tục : lúa mạch cho ra tinh bột và enzym; dưới tác dụng của nước và nhiệt, tinh bột chuyển thành đường; Khi thêm men vào, đường được biến đổi thành alcohol và khí carbonic tạo bọt hơi (effervescent). Và trong quá trình chế biến kéo dài này, hương và vị được tạo ra để có thành phẩm sau cùng là bia…

  • 1- Tinh bột biến thành đường (trong maische).

Để bắt đầu, các nhà làm bia sàng và đập vỡ các hạt lúa mạch tạo ra một mouture, rồi nhào trộn với nước nóng tạo thành khối nhão và đặc (tên trong nghề là maische)Các enzym tự nhiên của lúa mạch (đã mọc mầm) biến đổi tinh bột thành đường. Ở giai đoạn này, các nhà làm bia có thể thêm gạo hay bắp để thay đổi dạng thức của bia..Sau khi sự biến đổi kết thúc, maische được tách ra và qua giai đoạn ‘lọc lấy mout’ : phần nước trong có màu vàng được tách khỏi khối đặc còn lại (khối này được dùng làm thực phẩm gia súc). Phần nước lỏng này là mout dùng làm bia..

  • 2- Nấu và thêm houblon

Mout được đưa vào nồi (chaudìere) nấu bia, và được đun đến sôi. Đây là giai đoạn thêm houblon : số lượng và loại, và lúc thêm đều có ảnh hưởng đến vị và mùi thơm của bia, và mout  (đã thêm houblon) được đưa sang bể lắng (decantation), các cặn sẽ xuống đáy và mout trong bên trên sẽ được đưa qua giai đoạn tiếp, biến đổi sau cùng.

Lắng cặn

  • 3- Tạo alcohol và khí carbonic trong bia.

Ở giai đoạn này, mout được đưa sang các thùng lên men, và nhiều loại men được thêm vào thùng ; mỗi loại men được lựa chọn tùy theo vị và dạng bia muốn có.. tất cả đều có một mục đích quan trọng là chuyển biến đường thành alcohol và dioxide carbon trong quá trình gọi chung là lên men (fermentation).

                                    Sơ đồ chưng cất

Men được chia thành 2 nhóm căn bản :

  • Men tạo ra bia loại lager, chìm dưới đáy thùng lên men.
  • Men tạo bia ale nổi lên trên mặt.

  Mout được giữ trong thùng lên men trong từ 3 đến 12 ngày, đây là lúc các chuyên viên theo dõi thật kỹ và điều chỉnh nhiệt độ theo nhu cầu. Men sẽ tiêu thụ hầu như hết lượng đường, và đem thêm vào các vị rất đặc trưng trong lúc phóng thích alcohol. Dioxid carbon, khí bốc hơi trong bia tạo cho bia đặc tính giải khát tuyệt ngon.. Sau khi tiến trình lên men hoàn tất, men thừa được lấy ra và dung dịch bia được làm lạnh.. Bia !

   Bia  còn được.. ủ thêm trong các bồn chứa có nhiệt độ kiểm soát kỹ chờ cho hương vị ‘chín mùi’, và có thể được lọc lại.. trước khi vào lon, đóng chai..

C- Các loại Bia Với cả chục ngàn nhãn bia trên thế giới hiện nay, việc phân loại Bia rất khó khăn. Tiêu chuẩn của Beer Judge Certification Program (được tạm chấp nhận tại nhiều quốc gia), dùng để cho điểm các nhãn bia trong các cuộc thi, chia bia thành trên 30 hạng (!), tuy nhiên Chuyên viên nổi tiếng về Bia  Roger Mittag tạm chia Bia thành 8 loại theo một số  tiêu chuẩn (đơn giản hóa).

1- Bia ‘dễ uống’ (facile à boire)   Xếp vào nhóm này là các loại bia thường màu nâu, vàng nhạt (màu rơm?) ; độ alcohol (ABV) thấp (dưới 5% ); Mùi thơm tạo ra do men, gia vị, trái cây.. Nhiệt độ khi uốngSerious Beer: Hefeweizen from Germany nên ở 2-5 độ C. IBU (độ đắng) từ 8 đến 15. Các loại bia trong nhóm như Witbier Bỉ; Hefeweizen Đức; Dunkelweizen..

Bia nhẹ tạo cảm giác mát nên uống khi bắt đầu bữa ăn..khai vị với các món salad..

   Uống ‘bắt cặp” (thích hợp với các món ăn).

   Witbier rất hợp với Tôm-Cua.   Hefeweizen hợp với các món ăn nhiều gia vị, các món xúc-xích Đức, choucroutes..Image en ligne
Witbier | Local Beer Style From Belgium

Image en ligne
Serious Beer: Hefeweizen from Germany

Dunkelweizen – Strasbourg Bière

2- Bia ‘làm dịu cơn khát’ (desaltérant) Bia nhóm này màu vàng tươi/trong đến màu hổ phách xẫm ; có độ alcohol (ABV) từ 5% trở lên; mức mạch nha hơi cao, và mức houblon cũng cao nhẹ. Uống ở nhiệt độ thích hợp nhất là 2-5 độ C. Độ đắng (IBU) từ 16 đến 28

  Bia trong nhóm này gồm : Các lager thông thường, Helles, Pils (Đức); Kolsch và Cream ales’Nên uống khi ăn các món ăn gốc Mỹ châu nhiều gia vị, món vùng Đông Nam Á. bia lager sẽ giúp bớt vị cay và giải khát; có thể nhấp lager khi nếm phó-mát..

Image en ligne
Box de Biere Pils – Belgian

The Best Kolsch Beer

3- Bia” mịn màng” ( lisse)

  Thường màu từ vàng đến đen; Độ ABV từ 5% trở lên; Vị malt và mức houblon rất rõ. Nên uống ở 4-7 độ C; IBU từ 20 đến 38.

Các loại bia trong nhóm gồm : Pilsner (Tiệp) ; Vienna/Amber Lagers; Marzen; Oktoberfest; Dunken; Schwarzbier..  Nhóm bia này thường uống thích hợp với các món thịt nướng, các món tráng miệng có chocolat..Image en ligneImage en ligne

PilsnerUrquell   Vienna/Amber Lagers
Image en ligneImage en ligne

 Marzen                                      Dunken

       Schwarzbier

4- Bia thêm gia vị  (corsé) :

  Màu sắc của bia giống nhóm trên; ABV từ 5% trở lên ; Độ houblon cao, tạo cảm giác ‘ tráng=enduite’ trong miệng. Uống tốt ở nhiệt độ 4-10 độ C; IBU từ 20 đến 45. Bia trong nhóm : Các loại Bitters; Pale Ale; Honey/Maple Barrel Aged; Spice beers; Extra Special Bitter; Altbier..  Uống thích hợp khi ăn các món gà và cá, kèm với khoai chiên.

Bitters                                            Spice beers  

     ESB (Extra Special Bitter)                      Altbier

5- Bia mạnh, bia cứng (robuste) :

  Màu thường nâu đậm đến đen; ABV trên 5%; Mùi thơm của hạt rang cháy (chocolat, cafe..); rất ít houblon; Nên uống ở 7-12 độ C. Độ đắng cao (IBU 30-70) nhưng cân bằng.

  Các loại bia trong nhóm : Brown Ales, Porters; Stouts; Rauchbier..

Uống khi ăn các món thịt chín, nướng  hay nướng.. cháy cạnh, cùng hành, tỏi chiên..Bia stouts rất.. ‘cặp đôi’ với hàu tươi (huitres)  Các món tráng miệng rất hợp với nhóm bia này như bánh biscuit có chocolat.Image en ligneImage en ligne

Brown Ales of Belgium                                             Porters    

              Stouts                                        Rauchbier

6- Bia đậm (audacieux) :

  Màu giống nhóm trên; ABV từ 5.6% trở lên; mùi thơm gia vị mạnh, vị houblon rất rõ, trong khi vị malt lại nhẹ bớt; Vị đắng được cân bằng (IBU từ 35-90); Nhiệt độ uống bia tốt nhất : 5-14 độ C.

   Bia trong nhóm như : American Pale Ale ; India Pale Ale = IPA; Black IPA’s  Bia rất hợp với các loại phó mát như Blue Cheese, Camembert.. vị đắng có thể cân bằng cho các món cay nhiều gia vị.Image en ligneImage en ligne

American Pale Ale                                 India Pale Ale                        

7- Bia phức tạp (complex) :  Màu giống nhóm trên; độ ABV cao : từ 7% trở lên; Mùi vị Malt thay đổi, hầu như không có houblon. Các hương vị của phụ gia và men khá rõ ; Nên uống ở 7-17 độ C ; IBU từ 15 đến 40.

  Bia trong nhóm : Abbey blondes; Dubbel; Tripel; Barley wine; Bock; Scottish Ales. Abbey Blondes hợp với các món cá trắng; Bock đi chung với thịt ướp, đút lò, gà nướng, khô bò..Barley wine hợp với Blue Cheese..Image en ligneImage en ligne

Belgian Tripel                                                     Barley wine

8- Bia .. có vị trái cây (fruité) :

  Màu vàng cam ngả sang màu đỏ (đồng) ; bia nhẹ : dưới 5 % ABV. Do tên bia.. trái cây nên hương vị tùy loại trái cây thêm vào khi chưng cất bia, có thể có vị.. chua?). Rất ít houblon và malt. Vị đắng nhẹ IBU 6-15 . Uống lạnh ở 2-7 độ C

Xếp vào nhóm này.. các loại bia trái cây, uống cặp tùy ý thích !

                                                                          Trần Minh Quân (10/2021)

    (Xin mời đọc tiếp : Bia và Sức khỏe , uống bia hay ăn bánh mì ?)

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Nam Lộc: Thư Ngỏ kính gởi quý ân nhân bảo trợ Thương Phế Binh VNCH

Nam Lộc

Chúng tôi vô cùng cảm động và khích lệ khi được sự đáp ứng nhanh chóng và đông đảo của toàn thể quý vị đã gởi email trực tiếp về để hưởng ứng chương trình “Mỗi Gia Đình, Một Thương Phế Binh”. Mới chỉ trong vài ngày mà số ân nhân bảo trợ đã lên đến hơn 200 vị. Rất tiếc là không thể hồi âm riêng đến từng người, nên xin cho phép chúng tôi được trả lời chung qua lá Thư Ngỏ này, và kính nhờ quý cơ quan truyền thông cũng như diễn đàn xã hội giúp chuyển đến toàn thể quý vị những chi tiết mà nhiều người muốn biết dưới đây:

1.Nếu QV nào đã gởi email ngỏ ý muốn bảo trợ, nhưng chưa đề cập đến số người, thì xin vui lòng email lại cho chúng tôi biết là QV dự định nhận bảo trợ BAO NHIÊU TPB?1 hay 2, 5 hay 10 v..v.., để chúng tôi soạn danh sách gởi đến quý vị.

2.Như đã nói rõ trong thư kêu gọi. Chúng tôi không nhận tiền, xin QV vui lòng liên lạc với các dịch vụ chuyển tiền để gởi trực tiếp về VNqua các địa chỉ TPB mà chúng tôi sẽ cung cấp. (Lệ phí cho mỗi US$100 là khoảng $2 dollars). Những địa chỉ và lý lịch TPB/VNCH đều đã được kiểm nhận qua chính quý vị cựu sĩ quan QLVNCH cùng các đại diện TPB ở trong nước.

3.Vì không có nhân sự làm việc, ngoài vài thiện nguyện viên, nên xin vui lòng cho chúng tôi một thời gian để soạn danh sách gởi đến QV. Chúng tôi xin hứa là tất cả quý vị ân nhân đều sẽ nhận được hồi âm với danh sách TPB mà quý vị muốn bảo trợ. Hiện chúng tôi chỉ mới vừa gởi danh sách được cho khoảng 100 vị ân nhân đầu tiên, và may mắn thay một số TPB cũng đã nhận được tiền cứu trợ.

4.Chúng tôi tự nguyện thực hiện việc làm này theo lời yêu cầu của một số nhỏ TPB ở quê nhà đã từng biết đến hoạt động cứu trợ TPB của chúng tôi từ 16 năm qua. Tuy nhiên bên cạnh đó còn rất nhiều tổ chức khác mà quý vị có thể liên lạc để tiếp tay như: Hội HO Cứu Trợ TPB & QP VNCH, Hội Mũ Đỏ ở nhiều quốc gia, tổ chức Thương Phế Binh Ngày Nay, nhóm Hoa Tình Thương, nhóm cựu học sinh Liên Trường, nhóm thiện nguyện Chiến Sĩ Vô Danh VNCH v..v…

Một lần nữa, thay mặt các anh TPB/VNCH đang mong chờ quà của QV, tôi xin chân thành gởi lời cám ơn và kính chúc toàn thể QV cùng gia quyến bình an và hạnh phúc.

Nam Lộc

October 18, 2021

email: namlocnguyen@yahoo.com

PS: Kể từ khi các dịch vụ chuyển ngân làm việc trở lại, kề từ ngày 12 tháng Mười, 2021 đến nay, ÔB Nguyễn Võ Long và quý vị ân nhân đã gởi tiền về VN cho hơn 900 TPB/QLVNCH trong số gần 3000 người trong danh sách mà quý vị đó xin cứu trợ. Và vẫn tiếp tục mỗi ngày cho đến khi hoàn tất.

Kính xin chia sẻ cùng QV đôi dòng trong các email mà chúng tôi đã nhận được:

– Chúng tôi xin bảo trợ trọn đời năm 5 gia đình thương binh VNCH. Mỗi năm gửi tặng hai trăm ($US200) cho đến khi anh và chị mất. (Tinh Van)

– Xin đừng gọi họ là TPB, mà phải nói: họ là “những anh hùng”, đã anh dũng chiến đấu để bảo vệ cho tự do, và dân chủ. (Pham Ngoc Cuong)

– Cháu xin trọn đời mang ơn sự hy sinh của các chú bác TPB/VNCH. Nếu không có sự hy sinh đó, cháu và gia đình không có được ngày hôm nay (Dr. Andrew Nguyễn)

Nguồn: http://t-van.net/?p=51729

Cầu Nguyện Cho Một Người Hiền Vừa Ra Đi

  • Kiều Mỹ Duyên
blank

Phu nhân Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu.

Bà Christine Nguyễn Thị Mai Anh

Mơ ước của tôi nhỏ bé lắm, mơ ước mỗi tuần đừng nghe tin một người quen nào của mình vĩnh viễn ra đi, nhưng lớn tuổi lại làm nghề truyền thông làm sao khỏi nghe một người quen ra đi hàng tuần. Tuần này, một phụ nữ với nụ cười rất hiền vừa ra đi.

Tôi nhớ nụ cười của chị, hiền hậu, chị nói năng nhỏ nhẹ, dáng đi thật chậm rãi, nói năng từ tốn, tôi nghĩ chắc suốt cuộc đời chị không làm mất lòng ai?

Có một lần tôi hỏi chị:

– Duyên sẽ đến thăm chị, chị có cần gì không? Ở Little Saigon thứ gì cũng có giống như ở Việt Nam.

Chị nói:

– Mua dùm mình mấy gói khô bò ướp nước tương ở Bolsa.

Chị còn chỉ tôi tới tiệm bán khô bò, có lẽ chị biết tôi ăn chay nên không có biết tiệm nào bán khô bò ướp nước tương?

Nhà của chị ở Dana Point, tôi tưởng chắc nhà chị sẽ lớn lắm vì người Việt Nam mà ở gần biển bao giờ nhà cũng thật to, nhà giàu ở gần biển nhưng khi tôi đến, ngừng trước nhà chị lại là căn nhà nho nhỏ. Xe ngừng thì chị đã hiện ra, cửa nhà đã mở sẵn, chị đang đợi chúng tôi. Ngôi nhà nhỏ nhưng trong nhà sạch sẽ và ngăn nắp, bếp nhỏ, phòng khách nhỏ, vườn sau nhỏ, bếp bóng láng hình như không nấu ăn nhiều. Tôi hỏi:

– Ai lau chùi bếp cho chị mà sạch quá vậy?

Chị trả lời:

– Mình làm lấy.

Gặp người quen, chuyện cũ được nhắc nhiều nhất, đủ thứ chuyện, chuyện làm việc xã hội ở bệnh viện Vì Dân, thăm bệnh nhân, và nhắc lại những người quen cùng làm việc xã hội với chị bây giờ đã tứ tán khắp nơi và một số người đã vĩnh viễn ra đi.

blank

Cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu cùng phu nhân Christine Nguyễn Thị Mai Anh cắt băng khánh thành bệnh viện Vì Dân do bà vận động quyên tiền từ thiện xây nên.

Nhìn trước, nhìn sau không thấy bóng dáng của ai. Tôi hỏi:

– Chị ở một mình sao?

– Mình ở một mình Duyên à. Cuối tuần vợ chồng Lộc đem các cháu về thăm, vui lắm.

blank

Cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu và phu nhân Christine Nguyễn Thị Mai Anh cùng con gái Nguyễn Thị Tuấn Anh và con trai Nguyễn Quang Lộc.

Chợt thấy bức tranh dựng dựa vào tường, màu sắc sặc sỡ, thêu đã xong mà không đóng vào khung, tôi hỏi chị:

– Nếu chị tin Duyên, Duyên sẽ đem bức tranh này về rồi cho vào khung.

Chị nói với giọng nói nhỏ nhẹ và hiền lành:

– Hồi ở Luân Đôn, ông già (chồng của chị) đi phố mua cho mình một quyển sách dạy thêu, về nhà mình thêu hơn 1 năm, vừa xong thì ông già mất. Mình buồn quá nên không mua khung đóng vào, cứ để thế.

Thế rồi, tôi đem bức tranh đó về nhà, đem đến tiệm cho vào khung. Khi đưa chúng tôi ra cửa, chị còn dặn tới dặn lui:

– Duyên lựa cái khung rẻ rẻ, để mình gởi tiền lại cho Duyên nhé.

Khi xe chạy, chị đứng ở sân trước nhìn theo xe cho đến khi xe chúng tôi khuất ở góc đường. Tôi rất cảm động vì đôi mắt chân thành của chị.

Chị là người sùng đạo. Chị đi nhà thờ mỗi ngày, nhà thờ cách nhà chị chừng 200 mét. Về chưa tới nhà, tôi gọi dặn chị:

– Mỗi ngày chị đi nhà thờ, chị nhớ băng qua đường cẩn thận nhé. Tốt nhất đừng đi nhà thờ vào buổi tối, rủi xe chạy không thấy người đi bộ, nếu có chuyện gì xảy ra thì phiền lắm.

Xung quanh nhà chị không có người Việt Nam, chị có vẻ cô độc. Chị thường tâm sự mỗi lần tôi gọi điện thoại hỏi thăm:

– Cuối tuần này chị có đi nhà thờ Chúa Cứu Thế ở Long Beach có cha Nguyễn Trường Luân làm lễ?

Chị nói:

– Mình thích đi nhà thờ của cha Luân lắm, nhưng bao giờ có anh chị xui (nhạc phụ, nhạc mẫu của Nguyễn Quang Lộc) cho quá giang thì mới đi vì sợ phiền người khác.

Có lần tôi nói:

– Chị cần gì thì cứ gọi Duyên, Duyên sẽ đón chị đi.

– Không làm phiền Duyên.

Chị kể:

– Bao giờ chú Hoàng Đức Nhã đến thăm đều đưa chị đến Bolsa.

Những lần nhắc đến ông Nhã thì giọng nói của chị rất vui.

Chị kể tôi nghe những chuyện ngày xưa nho nhỏ, vui vui:

– Duyên ơi, có việc nho nhỏ mình mơ ước mà không thực hiện được. Hồi đó, mình đứng trên lầu của dinh Độc Lập, nhìn thấy nhà thờ Đức Bà, muốn đi nhà thờ Đức Bà mà không đi được. Một hôm, mình mặc áo bà ba, đội nón lá, mình đi bằng cổng sau, trong lòng rất vui vì sẽ được đi nhà thờ một mình, nhưng đi chừng vài trăm thước thì nghe tiếng tu huýt thổi lên, một đại đội lính vây xung quanh mình. 

Đại đội trưởng nói:

– Bà ơi, bà ơi, bà làm ơn đi vào nhà, nếu không tụi con ở tù hết.

Thế rồi mơ ước đi nhà thờ Đức Bà một mình cũng không thực hiện được.

Phu quân của chị nói:

– Lính làm việc cho chính phủ chứ không phải bảo vệ cho bà đi nhà thờ. Ở trong dinh Độc Lập có linh mục làm lễ cuối tuần.

Có nhiều chuyện chị kể tôi nghe, tôi thấy làm vợ của người quyền cao chức trọng sao khổ quá?

Gia đình chị định cư ở Luân Đôn vì có con học ở Anh, sau đó định cư ở Mỹ. Chị nói gia đình chị sống ở Boston lặng lẽ lắm, hàng xóm không biết phu quân chị là ai cho đến khi phu quân chị qua đời. Đài truyền hình, đài phát thanh và báo Mỹ đến làm phóng sự, họ mới biết.

blank

Cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu (1923- 2001)

Ở miền Nam California, mỗi lần đồng hương tổ chức giỗ phu quân chị, lúc nào cũng có sự hiện diện của chị. Bao giờ chị cũng đến trước giờ, Lộc chở chị đi đến nơi hành lễ. Lộc giống bố thật. Có lần tổ chức ở chùa Bát Nhã, đường First thành phố Santa Ana, chị đến rất sớm, đông người đến chỗ chị ngồi hỏi thăm, chị vui vẻ tiếp chuyện từng người. Chị hạnh phúc khi có nhiều người còn nhớ đến phu quân của chị.

Khi rời Dana Point, chị mướn một condo ở gần đại học UCI, hàng tuần cha Vũ Thế Toàn đến đưa chị đi nhà thờ. Chị rất mộ đạo, chị đi lễ nhà thờ thường xuyên. 

Chị kể về nhân duyên của mình, khi chị đưa anh của chị ra phi trường để du học ở Pháp, chị đã gặp bạn của anh chị. Mấy tháng sau, bạn của anh chị, lúc đó là Trung Úy, viết thư về nói với chị đợi anh ấy về sẽ cưới chị. Chị cũng ngạc nhiên nhưng rất cảm động.

blank

Cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu và phu nhân Christine Nguyễn Thị Mai Anh trong ngày thành hôn vào năm 1951. Năm 1958, Tổng Thống Thiệu rửa tội theo đạo Công Giáo.

Chị thường kể cho tôi nghe những chuyện nho nhỏ như ăn trộm vào nhà chị ở Irvine trong lúc chị đi nhà thờ và cháu của chị đi làm. Chị kể một cách bình tĩnh:

– Nhà chị đâu có gì quý giá để lấy, ăn trộm chỉ lấy mấy thứ để trên bàn thờ. 

Chị hay kể cho tôi nghe về gia đình Lộc và cô con gái ở Boston. Chị nói chị lớn tuổi vẫn còn thích lái xe. Ở Boston, chị tự lái xe đi nhà thờ, không muốn làm phiền các con. Một hôm chị đợi con gái tới rồi chị bị ngất xỉu, nếu con gái đến chậm một chút thì chị qua đời, nhưng con gái đến kịp đưa chị vào nhà thương. Chị thường đi nhà thờ cầu nguyện cho gia đình và người thân. Chị kể về con trai của Lộc giống hệt ông nội, chị cưng cháu nội này nhiều nhất. Chị là người Mỹ Tho. Mỹ Tho với trái ngọt cây lành cho nên chị cũng hiền lành như cây trái Mỹ Tho vậy.

Chị thường nhắc với tôi về cha Vũ Thế Toàn. Chị nói cha Toàn giúp chị nhiều lắm. Cha Toàn tốt lắm. Cuối tuần cha làm lễ ở nhà thờ UCI, cha thường dừng trước nhà đón chị đến nhà thờ. Mỗi lần nói chuyện với chị qua điện thoại, gặp chị ở nhà thờ, thăm chị ở nhà của chị, chị đều kể cho tôi nghe về cha Toàn một cách trang trọng và biết ơn. Tôi nghe chuyện rồi thôi, lúc đó tôi không hỏi họ tên của cha Toàn, bây giờ khi chị về với Chúa, tôi nhớ lại những chuyện chị kể, tôi muốn liên lạc với cha Toàn để biết thêm về chị. Ở Orange County có hơn 50 linh mục, tôi không biết tìm cha ở đâu? May mắn, tôi nhớ đến ông bà cố Quân- Yến có con trai là linh mục Martin. Tôi gọi điện thoại cho Yến và hỏi:

– Yến ơi, Yến nhớ có khi nào cha Toàn kể cho Yến nghe về phu nhân của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không?

Giọng nói của Yến trẻ, ca hát hay, trí nhớ rất tốt, Yến nói ngay:

– Đúng, em đi lễ ở nhà thờ Irvine, cha Toàn giới thiệu phu nhân Tổng Thống Thiệu với chúng em. Bà cũng đi nhà thờ của cha Toàn.

– Em còn nhớ gì lúc em gặp phu nhân của Tổng Thống Thiệu không?

– Bà Thiệu rất lặng lẽ, âm thầm, không muốn người ta biết mình nhiều.

Sở dĩ tôi phải hỏi thật kỹ vì viết về một linh mục mà viết sai họ tên thì phiền lắm, là điên cái đầu, vì sẽ có nhiều người gọi lại phiền trách. Tôi gặp cha Toàn ở nhà dì sáu khi Khâm Sai sứ thần tòa thánh Vatican Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Tốt về thăm dì, nhà ở Westminster, lúc đó tôi có gặp cha Vũ Thế Toàn, được giới thiệu làm ở nhà thờ Irvine, làm việc cho giới trẻ. Tôi cũng được ông bà cụ cố Quân- Yến đưa đi nhà thờ đẹp này một lần, mà tôi đã viết một bài phóng sự về sinh hoạt của nhà thờ hôm đó.

Khi liên lạc được cha Vũ Thế Toàn, tôi hỏi cha về những điều gì cha nhớ về phu nhân của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Cha nói:

– Bà là người phúc hậu, không thù hằn ai, không để trong lòng, mặc dù có những lúc bà rất khổ. Bà sống âm thầm, trầm lặng, thương các con, thương hết lòng, làm việc xã hội và đi nhà thờ.

Khi hai ông bà sang Fatima thỉnh bức tượng Đức Mẹ về, bức tượng cao nửa mét, đi đâu bà cũng đem bức tượng này theo. Mỗi ngày bà cầu nguyện trước Đức Mẹ Fatima, phu nhân rất mộ đạo, cầu nguyện thường xuyên.

– Thưa cha, bà Thiệu có nói nói với chúng tôi hàng tuần cha cho đi nhờ xe đến nhà thờ khi bà ở Irvine?

– Đúng rồi, bao giờ tôi cũng đến nhà thờ trước giờ lễ, tôi đến đón bà, thật ra tôi không biết phu nhân trước đây. Một hôm sau khi xong lễ, bà đến gặp tôi vì bà biết tôi là người Việt Nam, từ đó chúng tôi quen nhau. Bà đi lễ hàng tuần ở nhà thờ mà hôm trước chị đến đó.

– Trong nhiều lần bà Thiệu đi lễ nhà thờ của cha và cha giúp bà cũng nhiều, chắc cha có nhiều kỷ niệm đáng nhớ?

Linh mục Vũ Thế Toàn trả lời ngay không một chút do dự:

– Phu nhân là người ý tứ, nhân hậu, can đảm, hy sinh cho chồng con, không tham gia vào chính trị, chỉ thích làm việc xã hội. Tôi nhớ tôi đưa bà đi xem mộ, mua đất, bà đi một vòng, sau đó bà chọn một nơi yên nghĩ rất đẹp, nhìn vào nhà thờ. Đất này đã có người mua nhưng sau đó họ đổi ý định nên bà may mắn mua được. Bà rất ưng ý miếng đất này để làm nơi an nghỉ cuối cùng.

Linh mục Vũ Thế Toàn cũng cho biết thêm cha âm thầm dâng lễ cho bà vì cha là cha linh hướng của bà. Nhiều đồng hương đang cầu nguyện cho phu nhân của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Bà sẽ được an nghỉ trong một ngôi mộ rất đẹp nhìn vào nhà thờ Orange County.

Cha Toàn cũng kể cho tôi nghe về phu nhân, về chị vú nuôi cậu con trai út là Nguyễn Thiệu Long, người đạo Cao Đài, phu nhân thương chị này lắm. Khi sang Mỹ vẫn ở chung nhà, chị này không lập gia đình. Gia đình phu nhân và cậu con út thương chị vú lắm.

Chị cũng thường nhắc với tôi về cha Nguyễn Trường Luân, cha chữa bệnh cho nhiều người. Có lần chị bị té, thời gian đó chị không đi nhà thờ Chúa Cứu Thế chị rất buồn. Một lần chị nói với tôi, tuần tới chị sẽ đi nhà thờ Chúa Cứu Thế, tôi nói để tôi đón chị, chị nói cảm ơn vì có cháu của chị ở San Diego đón chị.

Khi gặp chị ở nhà thờ, chị chỉ vào đầu gối của chị và nói:

– Đầu gối của mình sau khi té bước đi vẫn còn đau lắm.

Tôi nói tôi sẽ cầu nguyện cho chị. Vì tôi không phải là bác sĩ nhưng tôi có niềm tin mãnh liệt vào tôn giáo nên chỉ biết cầu nguyện mà thôi.

Linh mục Anthony Đào thì cho rằng phu nhân của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có công giúp cho ông Thiệu trở lại đạo Công Giáo, sống theo tin mừng, trong thời gian ông làm Tổng Thống cũng như sau này sống ở Boston, ông vẫn giữ đạo, thế là đủ rồi.

Linh mục Phạm Ngọc Tuấn, nhà thờ Saint Barbara, Santa Ana nói:

– Bà Thiệu là người phụ nữ gương mẫu, tôi rất phục dù tôi chỉ gặp bà trong buổi lễ ở nhà thờ và một bữa cơm. Bà không nói nhiều, im lặng nhiều hơn nói. Bà là người Công Giáo tốt, bà hiền lành và điềm đạm.

Chị thường nhắc với tôi về chú Hoàng Đức Nhã. Hoàng Đức Nhã là em bà con của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ông là Tổng trưởng Dân vận và Chiêu hồi (từ tháng 4/1973). Dù ở xa nhưng mỗi lần đến California họp hội, chú Nhã đều ghé thăm chị, và hay ghé Bolsa mua cho chị khô bò ướp nước tương, món chị yêu thích.

Chị cũng kể về những ngày sống ở Đài Loan, nơi anh chồng của chị là ông Nguyễn Văn Kiểu, là đại sứ của Việt Nam Cộng Hòa ở đó. Tôi cũng đã từng được đại sứ Nguyễn Văn Kiểu đón tiếp khi phái đoàn của bộ Chiêu Hồi thăm viếng Đài Loan năm 1967 một cách nồng nhiệt, và mời chúng tôi ăn cơm tối ở tòa đại sứ. Chúng tôi được nghe thuyết trình về tình hình chính trị ở Đài Loan, cũng như chính phủ Đài Loan giúp cho Việt Nam Cộng Hòa về quân sự, kinh tế, v.v.

blank

Cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu và phu nhân Christine Nguyễn Thị Mai Anh

Người phụ nữ hiền lành mà tôi đã gặp vừa về với Chúa là phu nhân của cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu (1923- 2001). Quý danh của chị là Christine Nguyễn Thị Mai Anh, chị thường kể mối tình đẹp của chị với Trung Úy Nguyễn Văn Thiệu là lúc chị tiễn người anh sang Pháp du học. Lúc đó chị gặp Trung Úy Thiệu ở phi trường mà sau này thành duyên vợ chồng. Chị có 3 người con: con gái Nguyễn Thị Tuấn Anh, 2 con trai là Nguyễn Quang Lộc và Nguyễn Thiệu Long. Chị có một cô con gái nuôi đang làm việc ở Hồng Kông.

Ở Việt Nam, tôi cũng đã phỏng vấn đệ nhất phu nhân này nhiều lần cho nhật báo Hòa Bình trong lúc thăm bệnh viện Vì Dân và thăm phái đoàn của chị viếng bệnh viện ở Thủ Đức, thăm những chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến từ chiến trường trở về bằng băng ca, nhưng không nói chuyện nhiều bằng khi định cư ở California trong những ngày lưu vong. Chúng tôi ngồi ăn cơm chung rất thoải mái, trong cuộc đàm thoại nào cũng vui, có tiếng cười. Chị cho tôi xem một số hình của gia đình chị, hình ảnh trắng đen, lúc đó cô con gái đầu lòng nhỏ xíu, cô con gái nuôi, Lộc, cháu nội đi chập chững, anh chị xui gia cựu Thiếu Tá Không Quân Lục Sĩ Đức. Rất tiếc tôi đã xơi cơm của chị mà tôi chưa từng mời chị một lần. Gặp nhau ở nhà thờ Chúa Cứu Thế, Long Beach rồi ai về nhà nấy, vì vào buổi tối, đường thì xa nên tôi không làm phiền chị.

Tiến sĩ Hải Nguyễn, đang làm việc ở đại học Harvard, nhờ tôi xin dùm một cái hẹn để Hải Nguyễn và phái đoàn của trường đến phỏng vấn chị. Tôi nói với Hải bao giờ tìm được chị, nếu chị nhận lời thì tôi sẽ cho Hải hay, nhưng ngày giỗ của phu quân chị vừa qua chị không đến, tôi biết sức khỏe của chị không tốt. Mấy ngày sau, tôi được tin chị qua đời. Tôi cầu nguyện cho chị, cầu nguyện rất chân thành, xin Chúa cho chị về nước Chúa. Chị là người mộ đạo, cầu nguyện mỗi ngày. Vào nhà thờ bao giờ chị cũng quỳ dù đầu gối của chị không tốt.

Một phụ nữ đôn hậu, đoan trang, ý tứ, mộ đạo, suốt đời làm việc từ thiện, ai cũng có nỗi buồn riêng mình nhưng riêng đệ nhất phu nhân này không nói cho ai nghe. Tôi được gặp chị nhiều lần nhưng chỉ được nghe những chuyện vui vẻ về con gái, con trai, con gái nuôi và cháu nội. Không bao giờ tôi nghe chị kể chuyện buồn mà ở đời này nỗi buồn nhiều lắm. 

Chị qua đời ngày 15/10/2021 tại San Diego, hưởng thọ 91 tuổi. 

Chị đem nụ cười hiền lành của chị gặp lại chồng, và được hưởng nhan Thánh Chúa. Xin chúc chị hạnh phúc ở cõi Thiên Đàng. Xin Chúa đưa vị phu nhân phúc hậu này về nước Chúa và cầu xin cho gia đình ở lại bình yên.   

Orange County, 25/10/2021

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)

Nguồn: https://vietbao.com/a309942/cau-nguyen-cho-mot-nguoi-hien-vua-ra-di

Căn cứ Thiện Ngôn và Tiểu Đoàn 87 Biệt Động Quân – Trần Lý

Posted by bienxua on 

Trần Lý

Vietnamese Rangers - Wikipedia
https://dongsongxua.files.wordpress.com/2019/05/tieu-doan-67-biet-dong-quan.jpg?w=175&h=56

05-15-2019, 10:50 PM (Trong số những Trại Dân Sự Chiến Đấu do Lực lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ thiết lập tại Việt Nam trong những năm 60-70, có những Trại đã trở thành rất nổi tiếng với các trận đánh khốc liệt như Pleime, Tống Lê Chơn, Đức Huệ … Căn cứ Thiện Ngôn, tuy ít được biết đến, nhưng cũng cũng là một vị trí khá quan trọng .. Bài này xin được viết về Căn cứ này cùng Tiểu đoàn 87 BĐQ Biên Phòng là đơn vị đã được thành lập từ các dân sự chiến đấu tại Thiện Ngôn chuyển sang )

Căn cứ Thiện Ngôn hay tên ban đầu là Trại Dân Sự Chiến Đấu Thiện Ngôn là một trại DSCD được xây dựng từ Trại Bi , Trại đầu tiên mà LLĐB Hoa Kỳ (SF), toán A-323, thiết lập trong khu vực Chiến khu C của CQ (25 tháng 6 năm 1966). Trại Bi nằm sâu khoảng 6 cây số bên trong CK C ,, phía Tây núi Bà Đen, và từng là nơi xẩy ra các cuộc đụng độ giữa CQ và TĐ 35 BĐQ, mỗi khi TĐ tăng viện cho Trại. Trại Bi nằm trên QL 22 cách Tây Ninh khoảng 23 km về phía Bắc Tây-Bắc và 20 km phía Tây-Bắc núi Bà Đen , chặn đường chuyển vận của CQ trong khu vực.. Trại liên tục bị pháo kích và tấn công phá rối trong suốt năm 1967. SF đã quyết định xây dựng một Căn cứ mới vững chắc và rộng rãi hơn tại Thiện Ngôn. Trại mới này do TĐ 588 Công Binh HK xây cất và CQ đã tấn công khu vực này nhiều lần ngay khi trại chưa hoàn thành ! Trại Thiện Ngôn hoàn tất và chính thức hoạt động ngày 22 tháng 2 năm 1968 với nhân sự từ Trại Bi chuyển sang Thiện Ngôn trở thành một khu vực chiến lược bao gồm một trại SF, một trại DSCĐ có sân bay trực thăng bên trong trại, một sân bay bay nhỏ ngoài trại và một căn cứ hỏa lực riêng biệt.

Trại DSCĐ cách trại SF khoảng 1 km và cả hai cách Tây Ninh chừng 34-35 km về phía Bắc Tây-Bắc , cách Katum 25 km về phía Tây Tây-Nam , cách biên giới Việt-Miên 7 km về phía Nam. Phi trường có phi đạo đắp đất cách Trại chửng 5 km và dài chừng 900 m đủ để phi cơ Caribou C-7 và C-123 có thể lên-xuống..

Về phương diện hành chánh , Thiện Ngôn nằm trong Quận Phước Ninh, Tỉnh Tây Ninh Trại được xây dựng khá kiên cố, hình ngôi sao 5 cánh do Toán A-323 SF và một toán A LLĐB VN điều hành. Trại có một lực lượng DSCĐ khoảng 350 người chia thành 5 đại đội ( 3 Thượng và 2 Miên) trú đóng, trang bị thêm 2 khẩu cối 81 và 2 khẩu 4 inch 2 (do SF sử dụng). Các trận đụng độ giữa CIDG và CQ tại Thiện Ngôn. Căn cứ Thiện Ngôn gây trở ngại khá nhiều cho việc di chuyển của CQ nên họ thường tấn công và pháo kích vào Căn cứ….
Sau đây là vài trận đánh tiêu biểu (dựa theo quân sử của 5th SF và tập sách Green Beret at War của Shelby Stanton ):

– 1 tháng 9 năm 1968 : CQ pháo kích Trại bằng 20 quả 122 và 60 quả 82 . Trại phản pháo bằng súng nặng cơ hữu và có Spooky không yểm. 6 CIDG tử trận.

– 27 tháng 9 năm 1968 : Hai TĐ của SĐ9 BV đã mở cuộc tấn công vào Căn cứ . Trại bị pháo kích bằng hỏa tiễn và súng cối, mức độ gia tăng cho đến 10 giờ đêm. Sau đó CQ mở 3 đợt tấn kích , từ nửa đêm đến sáng, sau mỗi đợt pháo kích là đặc công tiến đánh dùng bộc lôi phá rào, nhưng đều bị đẩy lui do sự chống cự của lực lượng trú phòng được pháo binh và không quân yểm trợ. Trong trận này 5 DSCĐ tử trận, 4 LLĐB và 8 DSCĐ bị thương. CQ để lại 140 xác và 3 bị bắt.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/8/86/Thien_Ngon_SF_Camp%2C_March_1968.png

– 9 tháng 11 năm 1968 : Hai đại đội DSCĐ đã mở cuộc hành quân vào một khu vực cách Căn cứ khoảng 10 km về hướng Tây-Bắc, có 4 LLĐB VN và 4 SF cùng tham dự. Toán quân đi đầu bị phục kích, các toán sau rút chạy bỏ lại 10 quân gốc Miên..Các SF cố quay lại và nhờ sự có mặt của Trung tá Harry Hillings, chỉ huy trưởng B-32 (Toán chỉ huy của A-323) và Sĩ quan LLĐB VN đối tác là Thiếu tá Lê văn Hạnh , trên trực thăng chỉ huy bay trên khu vực nên đã giúp thay đổi tình thế : một đơn vị tăng viện đã được đưa ngay vào vùng để giúp giải cứu được 6 quân còn sống và đem 4 xác tử trận về căn cứ. Sau đó trong các tháng 1 và 6 năm 1969, tuy Trại có tổ chức thêm vài cuộc hành quân nhưng hầu như không đạt hiệu quả , phần lớn do tinh thần chiến đấu rất thụ động và khả năng yếu kém của CIDG. Các cuộc hành quân chỉ dự trù kéo dài tối đa 3 ngày và CQ qua nội tuyến biết khá rõ về kế hoạch nên thường tránh đụng độ.
Căn cứ Thiện Ngôn đóng vai trò quan trọng trong cuộc Hành quân Vượt biên của Liên quân Việt-Mỹ sang Miên tháng 4-1970. Thiện Ngôn đã là điểm tập trung quân để tiền theo QL 22 vả tiến đến Kà Tum và từ đây tấn công vào đất Miên. Trong kế hoạch rút quân của Mỹ, Căn cứ Thiện Ngôn được chuyển giao cho VNCH vào ngày 1 tháng 7 năm 1970 (theo tài liệu của BĐQ VN, nhưng tài liệu tổ chức của Mỹ lại ghi 30 tháng 9 , 1970) . Quân số lúc bàn giao được ghi là 333 người và được chuyển thành TĐ 73 BĐQ Biên Phòng.
Trên nguyên tắc TĐ 73 BĐQ BP sẽ là đơn vị trú đóng tại Thiện Ngôn như TĐ 92 tại Tống Lê Chơn, 62 tại Lệ Khánh, 90 tại Dak Seang … nhưng theo nhu cầu chiến trường Thiện Ngôn đã được giao cho Trung đoàn 49 SĐ 25 BB VNCH trấn giữ. Phòng tuyến Tân Biên-Thiện Ngôn-Xa mát đã bị CQ tấn công nghi binh cầm chân SĐ 25 trong trận An Lộc..
Khu vực Thiện Ngôn-Xa mát có vai trò rất quan trọng với CQ nên họ đã biến đổi khu vực thành một căn cứ địa chính trị và kinh tế lâu dài; Trung Ương Cục Miền Nam của CQ đang đặt tại vùng đất Miên đối diện. Qua năm thứ nhì của Hiệp định Paris , khu vực Lò Gò- Thiện Ngôn -Xa mát và Katum đã trở thành một vùng chiến lược nơi CQ tập trung các bộ chỉ huy quân sự và tiếp vận Trong thời gian này CQ vẫn tiếp tục vây hãm Căn cứ Tống Lê Chơn , phản ứng của VNCH chỉ là những cuộc không kích của KQVN, tập trung vào Xa mát :
Báo cáo của DAO ghi lại :
Hoạt động của KQVNCH trong thời gian các tháng 10-12 năm 1973 :
– Cuối tháng 10 : Oanh kích Xa mát; phá hủy 60 cơ sở, kho hàng gây tử thương cho 60 người (các con số do nguồn tình báo cung cấp)
– 8-10 tháng 11 : Oanh kích Lò Gò : phá hủy nhiều cơ sở hậu cần, kho gạo, kho xăng dầu .. gây tử thương cho nhiều cán binh và chuyên viên tiếp vận.. KQVNCH đã dùng 34 phi cơ trong các cuộc không kích.
– 12 tháng 11 : Oanh kích Thiện Ngôn. KQVN dùng 53 phi cơ tấn công các cấu trúc quân sự, ổ phòng không, pháo binh.. kết quả phối kiểm bằng không ảnh.
-23 tháng 11 : KQVN dùng 68 Skyraiders và 44 F-5 tấn công tập trung phá hủy 69 cấu trúc, 5 tụ điểm nhiên liệu, xe cộ, 6 vị trí phòng không, 17 pháo đài nổi..

Pin on vietnam


* TĐ 73 BĐQ Biên Phòng :
Sau khi được chuyển thành BĐQ BP , các quân nhân DSCĐ được tự quyết định, nếu chọn ở lại BĐQ sẽ được gửi đi huấn luyện tại các Trung tâm huấn luyện của BĐQ, các nhân viên đại đội trưởng sẻ có cấp bực chuẩn úy nếu đủ điểm khi mãn khóa huấn luyện. BĐQ Nguyễn Phát (sĩ quan TĐ 73) ghi lại : ” vào thời điểm 1972 BĐQ Quân đoàn 3 gồm 2 Liên đoàn tiếp ứng 3 và 5 cùng 9 TĐ Biên phòng trong đó có 73.. Tây Ninh là nơi có nhiều TĐ BP nhất 65, 73, 84 và 91 nhưng lúc đó 3 TĐ 65, 73 và 84 đã tập trung thành Chiến đoàn Sông Bé tham chiến tại An Lộc. Các TĐ 65 và 84 quân số hao hụt nhiều phải đưa ra Dục Mỹ tái bổ xung và trở thành lưu động đi tăng phái cho các quân khu như 73 . Tây Ninh không còn 87 nữa..’

TĐ 73 sau khi huấn luyện đã về căn cứ Trảng Sụp vì Thiện Ngôn đã bị lấn chiềm, TĐ trở thành lưu động..TĐ lúc này do Th tá Nguyễn Công Triệu chỉ huy (Th tá Triệu sau đó thăng Tr tá và chỉ huy Biệt đoàn 222 Cảnh sát Dã chiến). Năm 1974 , khi LĐ 8 BĐQ được thành lập , gồm 3 TĐ 84, 86 và 87. LĐ Trưởng lúc thành lập là Đ Tá Vũ Phi Hùng và TĐ trưởng 87 là Th tá Nguyễn Hữu Mạnh. Sau đó Đ/tá Hùng về lảm TMT SĐ 106 BĐQ (tân lập), LĐ 8 được giao cho Tr tá Nguyễn Thanh Tòng.. Trong những ngày cuối của cuộc chiến TĐ 87 được giao nhiệm vụ trấn giữ khu vườn thơm Lý văn Mạnh và Kinh Xáng. 9 giờ sáng 30 tháng 4 TĐ vẫn chiến đấu và trước áp lực của CQ đã phải lùi dần về Sài Gòn và cuối cùng tan hàng sau lệnh buông súng của DVM..

Trần Lý (2019)

Tài liệu sử dụng :

– Green Berets at War (Shelby Stanton)
– VietNam : From Cease fire to Capitulation (William LeGro)
– Các bài về An Lộc của nhiều tác giả Việt-Mỹ
– Các tài liệu về BĐQ của Mũ nâu Vũ Đình Hiếu
– Các tài liệu về TĐ 87 BĐQ của các Mũ nâu Đỗ Như Quyên, Thiên Nga..
đặc biệt là các email của BĐQ Nguyễn Hữu Phát (Belgique)

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1/s%C6%B0u-t%E1%BA%A7m-bi%C3%AAn-kh%E1%BA%A3o/16332-c%C4%83n-c%E1%BB%A9-thi%E1%BB%87n-ng%C3%B4n-v%C3%A0-ti%E1%BB%83u-%C4%91o%C3%A0n-87-b%C4%91q-_-tr%E1%BA%A7n-l%C3%BD?28366=

Những người lính cũ – Bé Dương

  • Bé Dương
Nhân bản là hành trang căn bản của Chiến Sĩ Quân Lực VNCH – dòng sông cũ

Tất cả tên của những người lính VNCH và ba câu chuyện trong bài đều là tên thật, chuyện thật.

Trong bài thơ “Dưới chân đồi Chu Pao” của nhà thơ Lâm Hảo Dũng, viết về trận đánh trên Quốc Lộ 14 dẫn vào Kontum trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, có hai câu:

“Chu Pao ai oán hờn trong gió

Mỗi chiếc khăn tang một tấc đường”

Chỉ hai câu thơ này thôi cũng đủ nói lên sự tổn thất to lớn của những người lính cũ thi hành sứ mạng bảo quốc an dân.

Những người lính cũ? Họ là ai?

Họ là Lưu Trọng Kiệt, Lê Hằng Minh, Nguyễn Đình Bảo, Lương Quế Vượng, Mã Thành Cương, Lê Văn Khoắng, Nguyễn Viết Thanh, Nguyễn Viết Cần, Hoàng Ưng, Cao Hoàng Tuấn, Nguyễn Bá Tòng, Đỗ Cao Trí, Nguyễn Mạnh Dũng, Dương Hữu Trí, Mai Gia Thược… đã nằm xuống trên những chiến trường miền Nam hay trong các trại tù cải tạo điểm đầy trên quê hương sau ngày tàn cuộc chiến. Họ là những người lính cho nổ lựu đạn tự sát, người sĩ quan Cảnh Sát đã tuẩn tiết dưới chân tượng Thủy Quân Lục Chiến, là Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai… Họ là Nguyễn Hữu Luyện, Lê Tuấn Ngô, Nguyễn Trung Chính, Nguyễn Tấn Sang, Huỳnh Văn Của, Trần Văn Nam, Nguyễn Văn Cầu… ngày nay đã xa cố quốc nhưng lòng vẫn luôn nhớ về các đồng đội ngày xưa. Họ chỉ là một con số rất nhỏ, trong số bao nhiêu người lính Việt Nam Cộng Hòa, đã từng hy sinh trọn thời thanh niên chiến đấu để bảo vệ tự do, để cho người dân miền Nam được hưởng 21 năm tự do ngắn ngủi.

Bao nhiêu người lính VNCH đã nằm xuống để đổi lấy từng hơi thở tự do cho người dân. Họ và đồng đội đã hứng chịu bao gian nan khốn khổ cho hậu phương được những ngày bình yên. Mưa gió tầm tã miền tuyến lửa Đông Hà, nắng cháy rát mặt nơi Cao Nguyên, đất sình đen vùng Đồng Tháp dính nặng đôi giày sô không làm cho người lính sờn lòng. Họ vẫn luôn giữ vững tay súng bảo vệ từng phần đất tự do. Họ là những người lính Không Quân, Hải Quân. Họ là những người lính mũ đỏ, mũ xanh, mũ nâu… Họ là những người lính “bùn lầy còn pha sắc áo xanh” của Sư Đoàn 1, Sư Đoàn 5, Sư Đoàn 18, Sư Đoàn 21, Sư Đoàn 22, Sư Đoàn 25… Họ là những người lính Thiết Giáp, Pháo Binh, Truyền Tin, Quân Cảnh, Biệt Kích, Nha Kỹ Thuật, Biệt Đội Người Nhái, Công Binh, Nữ Quân Nhân, Quân Y… Họ là những người lính dân quê của Địa Phương Quân, Nghĩa Quân. Còn nhiều nữa, họ còn là những thương phế binh Nguyễn Văn Nhạn, Bùi Văn Bon… với tấm thân tàn phế, vẫn còn lê lết chuỗi ngày tàn trong một tương lai đầy ảm đạm. 

Tướng Douglas MacArthur đã nói: “Old soldiers never die, they just fade away.” Nhưng riêng với chúng ta, người lính Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ bị phai nhạt và không thể bị phai nhạt. Vì họ là cha, là mẹ, là anh, là chị, là em, là bạn bè, là người láng giềng cùng xóm. Họ chính là chúng ta.

Vì vậy Nhớ Người Lính Cũ là điều chúng ta đã làm và phải làm hằng ngày, không phải chỉ qua một vài bài viết. Số báo nhỏ nhoi này chỉ là một nhắc nhở đến mọi người về nguồn cội của chúng ta, những người đang chịu ơn các vị anh hùng đó.

*****
Người sĩ quan Quân Lực VNCH đó là một người lính dân quê, từng là Tiểu đoàn trưởng của một tiểu đoàn xuất sắc nhất của Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Trong một trận đánh vào đầu năm 1968 ông bị trúng thương nặng nhưng vẫn cố gắng chỉ huy binh sĩ cho đến khi tàn trận. Vết thương thập tử nhất sanh trên ngực buộc ông phải nằm trong phòng Hồi Sinh gần một tuần lễ. Sau một thời gian dưỡng thương ông được đưa trở lại nắm đơn vị cũ. Vết thương vẫn không bao giờ hoàn toàn lành lặn, thỉnh thoảng vẫn rỉ máu, và nhiều lần ông phải dùng thuốc cầm máu. Ông đã có thể từ chối thượng lệnh nhưng tinh thần trách nhiệm của người lính VNCH với đồng đội đã buộc ông chấp nhận không một lời kêu ca. Một thời gian sau ông được thăng cấp và chuyển đi nhận nhiệm vụ mới. Ngày ông rời đơn vị, trong buổi lễ bàn giao, nhiều người lính đã rơi nước mắt từ giã vị chỉ huy cũ. Ông là lính tác chiến trọn đời binh nghiệp nhưng ông phải hứng chịu nhiều bất công, và ông đã cắn răng không than van chỉ vì “còn nhiều người lính khổ hơn mình.”

Được giải ngũ vào đầu năm 1975, một người mà trọn đời binh nghiệp là lính tác chiến, tưởng đã có thể sống một đời yên ổn bên gia đình sau bao năm chinh chiến thì biến cố 30/4/1975 ập đến. Ông được mời di tản nhưng chỉ có chổ cho một mình ông và ông đã từ chối vì không thể bỏ lại vợ con.

Sau khi trình diện học tập cải tạo ông bị đưa ra miền Bắc như nhiều sĩ quan khác của Quân Lực VNCH. Trước khi đưa mọi người lên xe lửa ra Bắc, bọn người thắng trận đã ra lệnh tịch thu tất cả những gì họ xem là có thể giúp tù cải tạo trong việc đào thoát, trốn trại. Thuốc men của ông mang theo để dùng cho vết thương cũ bị tịch thu dù đã có lý do chánh đáng.

Trong trại tại vùng Hoàng Liên Sơn, người tù cải tạo phải chịu những hành hạ lao lực. Mỗi ngày người tù phải kéo gổ từ dưới sông về trại trong những ngày rét buốc. Sức khoẻ của ông ngày càng suy yếu vì lao lực quá độ. Một ngày kia ông vấp ngã, bị thân cây đè và vết thương cũ vỡ ra. Ông xin ban quản giáo trại cho lại số thuốc men đã bị tịch thu. Họ từ chối. Sau nhiều lần nài nỉ của ông và các bạn cùng trại, ông được phát cho vài viên APC (một loại aspirin của quân đội cũ). Vài ngày sau ông chết đi. Thi hài ông được bó bằng tấm chăn vãi dù đã theo ông suốt cuộc đời chinh chiến và đem chôn ở một ngọn đồi gần trại.

Một điều tàn nhẫn cuối cùng, gia đình của ông không được thông báo về cái chết của ông, và giấy báo tử được Trưởng trại ký 18 tháng sau ngày ông mất. Mười sáu năm sau ngày ông mất, di cốt của ông đã được gia đình đem về an táng tại quê nhà.

*****
Người lính già kể câu chuyện này thuộc một gia đình nông dân ở gần Phụng Hiệp. Thời trai trẻ, chỉ được học hành ít ỏi nhưng ông vui sống đời cày cấy bên thửa ruộng, con trâu như bao nhiêu người dân miền Nam chất phác khác. Lệnh Tổng động viên được ban ra, ông và người anh lớn sang Vĩnh Long đăng lính Nghĩa Quân, phục vụ dưới quyền của một người anh họ đang là Thiếu tá Quận trưởng của một quận tại đây.

Hai anh em ông tham gia vào mọi cuộc hành quân tuần tiểu, công tác bình định trong quận và được tiếng là gan dạ, dũng cảm. Trong một trận Việt Cộng tấn công vào quận lỵ, hai người đã đẫy lui nhiều cuộc xung phong và bảo vệ cho người anh họ Quận trưởng khi địch chen vào được phòng tuyến quận đường.

Chiến tranh chấm dứt hai anh em trở về làng cũ. Dù chỉ là những người lính thường, không chức tước nhưng tại quê hương cả hai đều bị trả thù tàn khốc. Con cái bị cấm đến trường học, vợ bị cấm buôn bán tại chợ. Gia đình túng quẩn chỉ còn trông cậy vào mấy công ruộng nhà. Nhưng đám người chiến thắng vẫn không để yên cho họ. Hai người bị kêu trình diện mỗi đêm tại trụ sở công an.

“Tụi nó không làm gì mình hết, chỉ bắt mình ngồi đó độ mươi, mười lăm phút hay một vài tiếng đồng hồ rồi cho về. Vừa đến nhà nằm xuống, chưa kịp ngủ thì nó lại xuống gọi lên. Có đêm tụi nó làm như vậy vài lần. Ngày lễ của tụi nó thì mình phải lên ngồi cả ngày ở đó. Riết rồi không còn sức lực làm lụng gì được. Bị hành hà quá đến nỗi chú nói: “Mấy ông có muốn bắn muốn giết tụi tui thì cứ làm chớ đày đọa làm chi như vầy”. Nhưng tụi nó cũng không tha. Ruộng vườn cứ bán dần mà sống. Buồn quá, nhìn vợ con nheo nhóc mà không làm gì được chú chỉ còn biết mượn rượu giải sầu đến khi vướng phải bệnh ghiền lúc nào cũng không biết. Thấy anh em chú thân tàn ma dại, không làm gì được nữa tụi nó mới chịu tha.”

“Cuộc đời của thằng lính thua trận như vậy đó con ơi!” Người lính già nấc lên, nước mắt chảy ra, nói với người cháu trong một cơn tỉnh ngắn. Mắt đứa cháu cũng cay xè, ươn ướt.

*****
Có một gia đình, cả hai vợ chồng đều là sĩ quan Quân Lực VNCH. Sau ngày 30/4/1975 cả hai người đều phải đi học tập cải tạo như bao nhiêu người lính khác của quân đội bại trận. Người chổng trình diện đi trước, người vợ chờ đi sau. Trong khi chờ đợi chị xin những người chiến thắng cho được ở lại để chăm sóc ba đứa con còn nhỏ vì không có người gởi gấm. Thật ra vào thời điểm lúc đó cũng chưa chắc đã người dám nhận. Lời khẩn cầu bị bác bỏ ngay, không được chấp nhận. Cũng vì “Với chánh sách khoan hồng của cách mạng chị chỉ đi học tập vài ngày rồi về thì có gì mà lo.” Cả bốn mẹ con phải nhập trại vào Thành Ông Năm ở Hóc Môn.

Trại này được chia làm hai phía: bên dành cho những người lính VNCH nam, bên dành cho các nữ quân nhân VNCH, ngăn cách nhau bằng một hàng rào kẽm gai. Khẩu phần ăn dù đã ít ỏi nhưng chỉ được phát cho người mẹ vì các con không phải là thành viên chánh thức của trại. Biết được hoàn cảnh thương tâm đó, nhiều người bên trại nam đã cố gắng ném các vắt cơm nhỏ qua để nuôi các cháu. Về sau được tin là người mẹ qua đời vì lao lực, và các cháu cũng không biết trôi giạt về đâu. Người cha vẫn biệt vô âm tín.

Người kể chuyện này là một trong những người đã từng ném vắt cơm tình nghĩa nuôi các cháu.

Bé Dương

14 Tháng Mười Hai 2011

Nguồn: https://hung-viet.org/p24a8449/nhung-nguoi-linh-cu

NHỮNG CÁI… KHÔNG BAO GIỜ QUÊN – CUA-ĐINH

CUA-ĐINH

Giử lời hứa với Yankee Caribou tôi có tìm bài viết về H34 đã đăng trong Lý Tưởng KQ của CUA ĐINH . Đọc cũng vui vui , nên tôi xin repost lại . Mong anh CUA ĐINH “xính xái “bỏ qua vì không liên lạc được để hỏi ý của anh trước . NGHỊCH NHĨ

Tưởng nhớ đến: Lâm Đế, Trọng Khẹt, Hảo Caribou…

Tôi xin th

File:Sikorsky H-34s VNAF at Tan Son Nhut AB.jpg - Wikimedia Commons

ưa ngay để quý huynh đài hiểu ngay cho chữ …”những cái” ở đây có nghĩa là những cái sự việc, những cái kỷ niệm, những cái tên, những cái cảm giác v.v… đã xảy ra với tôi chứ không phải là những ..cái gì..gì khác mà tổn thọ. Bởi mới đây có một anh bạn trẻ chuyển cho xem vài bài viết khá lâu của anh ấy về bay bổng ngày xưa, nhắc đến tôi vài chuyện và gợi ý tôi nên kể lại vài vụ viêc..40 năm qua cho các bằng hữu nghe chơi trong lúc trà dư tửu hậu.

Chà cũng khó đây! Trước 75 tay cầm cần lái, sau 75 được mấy anh Ba cho hưởng vinh quang… cầm cuốc; chứ có dịp nào cầm viết đâu mà viết với lách! Nhưng mình có học gồng và mới làm một viên… thuốc liều, nên:

“Cũng đành nhắm mắt …múa tay

Thử xem chữ nghĩa độ rày đến đâu “

Tôi xin kể lại chuyện thật, người thật đến 99%: còn 0,5% vì viết về mình nên hơi chủ quan và có lẽ hơi… .”nổ” hoặc vẽ vời một xí, cho trẻ trung vui vẻ âu đó cũng là cái máu con nhà “nòi “ KQ mình mà, thông cảm hỉ! Còn 0,5% là chi tiết như ngày giờ không được chính xác, thì quý huynh cũng hiểu cho đệ cũng ngoài sáu bó rồi, nên bộ nhớ nó cũng ..early retire chút đỉnh! Tự an ủi rằng có nhiều bậc vĩ nhân, những bộ óc siêu việt mà về già cũng còn bệnh lú lẫn (Alzheimer); sá gì mình thuộc loại bất tài vô tướng, dân ngu khu ..vàng thì đâu có nhằm nhò gì. Không phải khu… đen mà là khu vàng vì đang sống trên xứ MỸ mà mình thuộc giống dân da vàng, nên phải dùng chữ cho nó đúng… phong thổ! Lại một nỗi khổ nữa là khi đánh máy bài viết nầy chỉ xử dụng ”nhất dương chỉ” làm cò mổ từng chữ một với sự chú tâm cao độ nên…“văn” (vốn đã hiếm) nó không có ra!

Xin bộc bạch vài hàng…phi lộ. Bây giờ để: “.tôi kể người nghe”…:

Cái tên …cũng có ảnh hưởng

… Tôi và một số bạn Chuẩn uý “nhô con” về trình diện Phi Đoàn 211,Trực Thăng (H34) đóng tại Tân Sơn Nhất khoảng giữa năm 1964. Vị trí Phi Đoàn nằm sát cổng Sư Đoàn Dù. Đi từ cổng PHI LONG vào, cứ đi thẳng đến gần sát cổng trại Hoàng Hoa Thám, quẹo phải vào cổng nhỏ có đề chữ HELIPORT, đó là PĐ 211.

Bộ Chỉ Huy gồm có:

  • Chỉ Huy Trưởng: Thiếu Tá Nguyễn Huy Ánh
  • Chỉ Huy Phó: Đại Uý Nguyễn Hữu Hậu
  • Trưởng Phòng Hành Quân: Thiếu Uý Nguyễn Văn Lân
  • Trưởng Phòng Huấn Luyện: Thiếu Uý Phạm Huy Lạng
  • Trưỏng Phòng An Phi: Thiếu Uý Bùi Hân

Trực thuộc Phi Đoàn còn có Sĩ Quan Hành Chánh Tài Chánh: Thiếu Uý Nguyễn Long Nhan và Sĩ Quan Kỹ Thuật Phi Đạo Thiếu Uý Phan Võ Viên.

Hai pilot chuyên bay thử là: Trần Xuân Quang và Hồng Văn Tý; anhTý thời gian ngắn sau qua PĐ217 và sau đó lại chuyển nghề qua An Ninh.

Thời kỳ đó, KQ không có qui chế rõ ràng! Hơn nữa có một Vị cho rằng KQ chỉ để…đuổi gà (!!?) nên lon–lá kẹt lắm. Quan Ba Tàu bay..cũng hiếm thấy và …” bự” lắm rồi. Còn quý vị tuy mang lon…thấp Thiếu Uý, nhưng võ công ..phi hành thì…cao và đã vào hạng sư phụ hoặc sư thúc rồi như: T/U Lê Phước Điền, Nguyễn Thanh Cảnh, Đặng Trần Dưỡng, Nguyễn Kim Bông, T/u Trương Văn Vinh, Nguyễn Văn Vui, Nguyễn Văn Lắm, Đặng Bình Minh.v.v…còn các đàn anh gần lên Thiếu Uý thì…nội-công cũng đã đạt 12 thành công lực và thuật.. phi hành cũng ở bậc cao thủ trong giới võ lâm bay bổng như các anh: Phạm Bính,Trần Xuân Quang, Đinh Hữu Hiệp, Nguyễn Hữu Lộc, Phan Ngọc Huệ, Đặng Kim Quy, Nguyễn Hữu Nhàn, Cao Văn Tư, Bùi Văn Be, Châu Lương Can, Nguyễn Văn Minh (con), Lê Quỳnh (tài -tử)…vv..

Quý vị sư phu, sư huynh kể trên hơn một năm sau được thăng cấp …hồi tố, có vị chưa kịp rửa lon vừa mới lên lại phải lo mua lon mới! Bọn tôi mới về được bay huấn luyện thêm để tái xác nhận làm hoa tiêu phụ đi hành quân, làm sĩ quan trực phi đoàn, và bị bắt học, soạn để thuyết trình địa huấn (kỹ thuật) cho nhau nghe với sự chứng giám của vài xếp. Cái món này tôi không ưa vì đã chán học nên đi lính mà cứ bắt học hoài; cho nên phải thú thật rằng kỹ thuật thì tôi quá dốt.

Thuở đó, chiến trường còn lắng dịu nên nhiệm vụ của Trực thăng thường là đi tải thương và tiếp tế; rất ít khi bay đổ bộ. Vì thế pilot nào trong tháng mà bay được cở 60 giờ là coi như xuất sắc, thường là cở 20 giờ. Nói chung đây là thời kỳ vàng son và nhàn hạ, nếu có một vài lần đổ quân thì cũng cở 7, 8 chiếc H34 bay hợp đoàn theo đám UH cuả Mỹ như trận Ấp Bắc và Bình Giả. Mãi đến năm 1967 và nhất là từ năm 1968 trở về sau nầy việc đổ quân mới là …cơm bữa…

Vừa mới về PĐ cở nửa tháng là được T/U Lắm (U-NU) đặt cho tôi cái tên là “Cua- Đinh”, xin đọc rõ là Cua Đinh; phải chi mà đừng có chữ “a” thì ra lại hay và đâm ra mình còn có giá trị …ngầm.! Biết đâu chừng giờ đây ăn nên làm ra vì các hãng bào chế thuốc mượn tên mình làm quảng-cáo để ganh

đua, cạnh tranh với loại thuốc Viagra của hảng Pfizer! Sở dĩ có biệt danh đó vì mặt tôi luôn luôn đỏ nên anh cho rằng tôi bị nổi “đơn” sắp bị ….cùi ; hễ ăn vịt xiêm lai hay cua đinh vào là…rụng móng liền! Cái tên nghe kỳ cục và cũng rất là…. độc!

Cũng vì vậy mà mấy năm sau trong nghiệp bay bổng của tui cũng xảy ra lắm chuyện độc… đáo ,không giống ai!! Thời gian hơn một năm sau tôi được sắp xếp bay huấn luyện xuyên huấn để ra hoa tiêu chánh, tôi thường

được mấy ông thầy huấn luyện cho là T/U Lạng,Thiếu Tá Nguyễn Huy Ánh và bay nhiều nhất với Chỉ Huy Phó Phi Đoàn Đ/U Nguyễn Hữu Hậu. Nói đến Ông Ánh thì ai cũng nghe danh là bay trực thăng rất giỏi và những cái xuất sắc khác nữa như: giỏi võ và tài thiện xạ súng colt . Tóm lại cái nào Ông cũng thuộc hạng sư cả.

Bây giờ nhắc đến tên Nguyễn Huy Ánh tôi không khỏi ngậm ngùi tưởng nhớ đến một vì sao rực sáng; một vị lãnh đạo tài ba Chuẩn Tướng Nguyễn Huy Ánh, cựu Tư lệnh Sư Đoàn 4 KQ! với tất cả sự ngưỡng mộ và kính mến!

Sau mấy tháng bay huấn luyện xuyên huấn tại PĐ tôi được Đ/U Hậu check out ra Hoa tiêu chánh. Một thời gian sau PĐ trực thuộc Không Đoàn 33 và dời qua nằm kế bên PĐ 415 Vận Tải. Bãi đậu phi cơ H34 và hangar cũng nằm kế bên bãi đậu C47, gần taxiway; phía cuối phi đạo, hướng trại Sư Đoàn Dù. Phi Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Hữu Hậu; như đã nói trên, có lẽ vì .. đeo cái tên kỳ cục nên tôi cũng gặp những chuyện …lạ đời

Mất Đại Liên 30

Mới nghe, ai cũng tưởng đâu tôi là xạ thủ đại liên của một đơn vị tác chiến bộ binh, chứ pilot sao lại không mất súng cá nhân ru lô mà lại mất súng cộng đồng đại liên?? À! Đầu đuôi như thế nầy: chắc chư liệt vị còn nhớ những năm 1965, 66, 67, tình hình chính trị ở Sài gòn thật bất ổn, cứ chỉnh lý rồi biểu dương lực lượng, rồi đảo chánh liên miên, lại thêm biểu tình liền..liền… Lệnh bên phòng Hành quân chiến cuộc gọi sang là PĐ phải có một chiếc H34 sẵn sàng ứng trực cho bên Bộ Tổng Tham Mưu. Hôm đó tôi làm Sĩ Quan Trực PĐ và được lệnh phải gắn đại liên 30 cho chiếc ứng trực. Tôi xuống kho vũ khí ký nhận mượn và đồng thời báo phi đạo gắn giá súng cho đại lien 30 mà trước đây trực thăng H34 không có. Bẳng đi cở 10 hôm sau, kho vũ khí gọi lên PĐ đòi cây đại liên, tôi xuống phi đạo định gở cây đại liên đem trả về kho. Nhưng quái lạ đại liên không cánh mà ..bay đi đâu mất.!! Thế là tôi lãnh thẹo! Vì khi xuống ca sĩ quan trực, tôi chỉ bàn giao sổ sách thôi, chứ có ai ngờ cớ sự như vầy đâu mà bàn giao cây đai liên! Cũng là tại tôi ỷ y và thiếu kinh nghiệm nên không ghi thêm vào sổ trực cho anh SQ trực kế ôm cây đại liên đó.!. Tôi phải làm tờ phúc trình sự việc và xách xe pick- up đi tìm khắp các phi đạo mấy ngày liền mà vẫn bặt vô âm tín. Rốt cuôc sau khi quân cảnh Tư Pháp kết thúc điều tra, PĐ Trưởng Nguyễn Hữu Hậu và tôi lên gặp Không đoàn trưởng Không đoàn 33 Trung tá Lưu Kim Cương quyết định: Tôi phải đền cây đại liên bằng tiền 16,000 đồng, hơn 2 tháng lương, bằng cách trừ lương nhiều kỳ; tính theo hối xuất đô-la giá chính thức (1đô =33đồngVN). Sau được PĐ thương tình xuất quỹ bù cho tôi số tiền đó. Một lần nữa xin cám ơn PĐ.

Đè .. Taxi và kẹt tay ga!

Hồi mới về PĐ tôi thường nghe kể dường như là Tr/U Bá hay Đ/U Ông Lợi Hồng hay vị nào đó mà tôi không nhớ tên…khi bay hành quân ngoài Vùng 2, máy bay lâm nạn tắt máy và vị đó đã làm forced landing, đã …”.thảy lỗ“ xuống một lỗ trống trên cánh rừng già! Phi hành đoàn an toàn và cánh quạt chỉ cách những cây cao xung quanh chừng 2 mét. Tôi thật khẩu phục tâm phục; một cái lỗ nhỏ thật là …”bót”. Như vậy đáp bình thường cũng đã căng rồi chứ nói gì đến làm autorotation đáp ép buộc xuống ngay chóc chỗ đó! Tôi xin giải thích thêm về chữ autorotation (tự động quay) mà dân trực thăng gọi tắt là Auto để quý huynh khác ngành biết rõ. Làm auto (tự động quay) là coi như máy đã tắt, máy bay là một khối sắt nặng thay vì rớt thẳng nhưng nhờ vào cánh quạt (rotor) vẫn còn quay cho nên nó nâng cho máy bay rớt xuống theo một góc độ lài 45 độ. Chính cái độ cao và giây phút quyết tử đó pilot phải lèo lái, điều khiển làm sao cho máy bay an vị trên mảnh đất trống, êm ái ngon lành thay vì lật chổng gọng, hoặc nằm …trên ngọn cây! Cũng nói thêm trong tích tắc đó pilot vừa tìm chỗ đáp, vừa phải kiểm soát control cái cánh quạt đừng đểquay quá chậm thì máy bay rớt lẹ ,hoặc quá nhanh thì cánh quạt sẽ văng mất . Cả hai trường hợp đó thì máy bay đụng đất nghe một cái…ầm và phi hành đoàn chỉ còn là một đống thịt như… thịt bầm hamburger.!

Dân Trực Thăng đi hành quân đến những chỗ …” hot” thay vì tà tà đáp xuống như thuở thái bình, rất dễ làm bia cho các loại súng của bọn Vẹm, thì làm Auto, cúp ga cho động cơ vẫn còn nổ ở ra –len –ti để máy bay rớt xuống thật nhanh khi gần đến đất thì rồ ga lại (recovery) và đáp bình thường! Tóm lại đây là kiểu đáp tránh đạn, động cơ còn nổ và mình cũng yên chí lớn là sẽ đáp như thường thôi, nên nếu có lỡ bộ, hơi quá bãi đáp hoăc thiếu một chút chưa đến bãi đáp thì mình củng đáp được, chứ còn máy tắt thiệt như đã nói ở trên thì… căng lắm. Mọi thứ phải chính xác, không có chuyện xin lỗi làm lại, một là an toàn huy hoàng, hai là điêu tàn từ chết tới bị thương. Nhớ có lần chở mấy ông Dân Biểu về thăm lại đơn vị ứng cử ở Rạch Giá; có một ông nghe lõm bõm sao đó mà nói rằng mấy anh đừng làm Xe hơi ..Xe hơi (mấy ổng dịch chử Auto) gì đó nó lộn ruột quá!! Lúc ông Ánh còn làm PHI ĐOÀN TRƯỞNG, trong mỗi buổi họp hằng tuần thường hay nhắc nhở anh em trước khi về đáp nên dợt làm vài cái Auto cho nó quen!

Từ lúc ra Hoa tiêu chánh mỗi lần trực đêm, chiều vào tôi thường quay máy và xách máy bay ra vùng Phú -Lâm để bay thử xem máy bay có ngon lành cho đêm trực không. Khoảng nửa giờ bay thử đó tôi củng tự dợt làm được ít cái AUTO hoặc những hôm đi bay tải thương về gần đến traffic của Tân Sơn Nhất tôi cũng xuống thấp cao độ bằng cách làm auto. Không ngờ những việc mình thích, mình khoái làm như vậy mà sau đó nó lại cứu mình.

Tôi nhớ đâu cuối tháng 11 năm 1967, tôi nhận một phi vụ chở VIP, qua sân Cửu Long bên Thị Nghè chở Tư Lệnh Hải Quân ra VũngTàu họp. Phi hành đoàn gồm có tôi, Trưởng phi cơ, anh Nguyễn thanh Tùng (Tùng Lỏi), Hoa Tiêu Phó, anh Thạch (quên họ) là cơ phi. Lúc đó trên trực thăng H34 chưa có xạ thủ. Sáng hôm ấy trời trong, nắng nhẹ, khoảng 10 giờ sáng, tôi cất cánh ở Tân Sơn Nhất bay qua sân Cửu Long với cao độ 600 , 700 bộ(feet) đúng theo lộ trình và traffic của TSN. Đang bay ngon lành đến khoảng đường Hiền Vương gần đến rạp ciné Casino Đa Kao bỗng dưng máy bay nổ to và liên tục giống như bắn đại liên. Thân tàu rung giật mạnh, kim đồng hồ RPM nhảy lên xuống không ngừng, rồi động cơ tắt hẳn, máy bay rớt. Nhìn xuống bên phải tôi thấy nhà lầu cao san- sát, ý tưởng lóe ngay trong đầu là chắc phen nầy mình vào nằm ở bịnh viện Grall rồi vì bị phỏng (xin nói thêm thời đó pilot bị nạn là đem về Grall, chứ không có đưa qua bệnh viện Cộng Hòa như sau nầy )tôi chỉ kịp la lên:

Anh TÙNG chỉ làm dấu bằng 2 bàn tay quẹo trái, tôi quẹo 90 độ qua trái ngay, và thấy ngay trước mặt là con đường, tôi nhắm ngay con đường đó làm auto xuống, khi gần đến đất tôi flare lại (kéo cần lái cho máy bay đứng lại) thấy cánh quạt cuốn dây điện và điện thoại 2 bên đường; máy bay chạm đất và một càng bánh phía phải đè trên đầu máy xe taxi, có lẽ vì vậy mà vô-lăng đập vào ngực làm bác tài xế bị thương và thiệt mạng sau đó trong bịnh viện. Máy bay nằm trên đường Lê văn Duyệt ( Gia Định) và dưới dốc Cầu Bông, cách trại hòm Tobia cở 100 mét .. Sau khi tắt điện xăng xong tôi và anhTùng leo xuống khỏi phi cơ và nhờ một chiếc xe jeep của Cảnh Sát chở đến Tiểu Khu Gia Định, mượn điện thoại gọi về Phi Đoàn. Gặp sĩ quan trực PĐ là anh Minh (con) hay anh Thảo tôi quên mất:

-Tao báo cho mầy biết, tao bị rớt trên đường Lê văn Duyệt (Gia Định) tại dốc cầu Bông! Phi hành đoàn vô sự!

Tôi nghe đầu dây bên kia la lên :

Chúng tôi lên xe Jeep trở lại phi cơ và lấy túi xách helmet, cở 15 phút sau, chiếc trực thăng rescue ở nhà đáp xuống sân vận đông trường Nữ Trung học Lê vVn Duyệt cách đó khoảng 400 mét, bốc chúng tôi về.

Sĩ quan an phi làm việc: điều tra xem có bay đúng lộ trình không? Và có phải máy bay bị hư thật sự không? Phi hành đoàn qua trung tâm giám định y khoa để check sức khoẻ xem đầu cổ có bị va chạm gì không? Và bác sĩ không quên hỏi và check xem đêm qua có uống rượu không?

Kết quả mọi chuyện êm xuôi, Phi hành đoàn không phạm lỗi gì cả, mà về sau biết được lỗi là do thằng …starter, mấy cục than bên trong để dẫn điện tự nhiên nó sút ra vì vậy có xăng mà lửa tự dưng mất, nên mới ngộp xăng mà phát ra tiếng nổ. Nghe nói trên đài Phát thanh Saigon và Quân đội có loan tin về việc máy bay bị nạn và có nói trước khi rớt Phi công đã bình tĩnh bắn súng chỉ thiên để dân chúng tránh xa… À! Cái nầy đúng là “của người phúc ta”.

Cám ơn ông anh, bà chị phóng viên đài phát thanh nói tốt cho! Vì nghe tiếng nổ mà suy luận như vậy thôi, nghe cũng hợp lý quá đi chớ! Sự thật thì sự việc xảy ra quá nhanh đến độ chưa kịp …sợ nữa, chớ có huởn đâu mà nghĩ hay làm chuyện gì khác; cũng may nếu gặp anh phóng viên báo trang kịch trường dám cho tôi xuống 6 câu vọng cổ, rồi máy bay mới chịu rớt lắm!

Phi hành đoàn được nghỉ ít hôm để lấy lại bình tĩnh! Ngày hôm sau chúng tôi được anh Đ/U Đỗ Minh Đức, Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của PĐ, hướng dẩn đến thăm viếng gia đình Bác taì xế bị nạn ở trong đường hẻm Phan Đình Phùng, Khu Nguyễn Thiện Thuật. Tôi và anh Tùng mặc đồ kaki vàng đội kết bi, và nhớ tháo cánh bay ra (vì sợ gia đình biết mình là thủ phạm.) Anh Đức ngỏ lời là Đại diện KQ đến phân ưu cùng gia đình và có hứa chính phủ sẽ bồi thường vì tai nạn chiến tranh! Rồi đột nhiên anh chỉ tôi :

Tôi cùng anh Tùng đứng trước quan tài và khung ảnh của anh tài xế cở ngoàì 40 tuổi, lâm râm khấn vái.

-“Tôi xin lỗi anh vì tai nạn xảy ra ngoài ý muốn và cầu nguyện anh sớm siêu thoát, được về nơi cõi an lạc!

Trước đây khi cúng vái Trời Phật hoặc Ông Bà, sau khi kể lể cầu nguyện điều gì xong câu chót là xin Trời Phật hoặc Ông Bà phù hộ cho con, được mạnh giỏi..v..v. Nhưng lần nầy tôi tự nhớ và không quen miệng xin phò hộ nữa vì dù sao mình cũng làm cho người ta chết thì đâu có ai có tấm lòng Bồ Tát đâu mà phù hộ mình, đã không… “níu giò” là may rồi !

Ra ngoàì đường tôi cự anh Đức liền:

-Hồi nảy mình đi cả đám, anh không thắp nhang tự dưng kêu ngay mình tôi vào, ”cha” làm như vậy rủi gia đình người ta nghi ngờ tôi là người gây ra tai nạn, họ chém tôi sao “cha nội”?

Ngày hôm sau phi hành đoàn chúng tôi cũng đến tiễn đưa linh cữu đi an táng. Chúng tôi đẩy xe gắn máy đi bộ phía sau từ đường Phan Đình Phùng ra Lý Thái Tổ; đi cùng hàng có anh lính thiết giáp, mặc đồ rằn-ri, mặt và cổ có vết thẹo bị cháy, hỏi tôi:

-Còn mấy ông phi công đó bây giờ ra sao? Hôm nay có đi đưa đám ma không,Trung úy?

Tôi lẹ làng:

-À! Mấy ông đó đang bị nhốt để điều tra; chúng tôi đại diện KQ đi tiễn đưa hôm nay.

Khi đến bồn binh Ngã Bảy, tất cả lên xe để đưa quan tài đến nghỉa trang ở Phú Thọ Hòa. Tôi nháy mắt ra dấu anh Tùng “ lỏi”, cả hai vọt mất; vì trong bụng cũng ngán gia đình họ biết!

Mấy hôm sau về nhà nằm nghĩ lại mới thấy sợ mà cũng hên, nếu không xuống đường mà rớt trên mấy cái nhà lầu, hay đám nhà lá chắc chắn kết quả thảm khốc hơn nhiều! Bởi vậy cả tháng sau, tôi được người quen nói lại, có vài Bà tính hỏi xem thằng pilot đó có vợ con gì chưa để gả con gái cho, vì nếu nó không khéo mà rớt trên đám nhà lá thì hỏa hoạn và chết nhiều lắm!

Mà tôi thấy cũng xui, phải chi nó đợi nửa giờ sau chờ chở Ông Tư Lệnh HQ trên đường đi ra khỏi thành phố rồi hãy sanh chứng, lúc đó có đủ cao độ và ngoài đồng trống chắc chắn là không sao cả. Và Ông Tư Lệnh có dịp …hú hồn thế nào Ổng củng thưởng cho một chiếc mề đay,đằng nầy vì rớt gần trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt nên sau khi được rescue về vừa vào đến phi đoàn gặp ngay xếp Đại Uý Nguyễn Kim Bông, Phi Đoàn Phó (?):

-Tao hỏi thiệt mầy nghe Cua Đinh, có phải mầy “múc” ở Trường Nữ nên bị rớt phải không??

Tôi quăng helmet lên bàn và xì -nẹt:

-Tôi bị rớt về ông không hỏi thăm gì cả mà tối ngày cứ nghi ngờ người ta múc không hè!

Tội nghiệp Đ/U Bông hiền lành, thấy tôi đổ quạu nên ôn tồn:

-Thì tao hỏi vậy, mầy không có múc thì thôi chứ làm gì dữ vậy mậy!

Đúng như vậy, lần nầy không có múc! Nhớ lại thời trẻ, tâm tư như tờ giấy trắng, tính tình bộc trực ngay thẳng, bay bổng không nề hà tránh né, không hề tính toán, nhiều lúc ăn nói quá đốp chát, không biết “cách khéo léo và tế nhị” nên với bạn bè và đàn em thì xà –va, ok, dui dẻ; còn đối với cấp trên chắc phiền lòng không ít, nếu không bị.. ghét là phúc rồi, gẫm lại cũng bởi tại ta mọi đàng; nên đừng hỏi cớ sao trời mây rộng thênh thang bay… mệt nghỉ; mà hoạn lộ lại quanh co, lắm …ổ gà !

Mà ổng nghi ngờ cũng phải vì trước đó tôi có tiếng là bay cao bồi và khi nào có dịp bay tuần phòng trên thành phố là tôi hay múc lắm! Trực thăng mà bay cao cở 1000 feet, kéo cần lái lại cho máy bay gần đứng lại; xong chúi đầu xuống lấy tốc độ lúc đó nhìn thấy cũng giống như khu trục nhào xuống bỏ bom vậy; rồi khi xuống dưới khoảng thấp hơn 500 bộ kéo ngược cần lái, nó vọt lên trông cũng.. ác gà lắm, chứ chơi sao!

Là pilot mà lúc còn trẻ, lúc còn hăng “tiết vịt” thì ai củng có “múc”, kẻ nhiều người ít, mọi loại máy bay. Ngoại trừ mấy anh chàng vận tải có lẽ vì kềnh càng, tay chân (thân cánh) khều –khào nếu múc khó khăn và chẳng giống ai nên mấy anh nầy mới tha cho!

Xin nhắc lại những năm1966, 67 mọi biến động chính trị thường xảy ra trên thành phố Sài Gòn như đã nói trên.. nên trực thăng được điều động bay quan sát. Đấy là cái dịp, là cái duyên may được dạo trên …không phận Sàigòn. Ngoài cái duyên còn có cái cớ để múc nữa! Chư vị thử nghĩ coi ở dưới đường người xe xuôi ngược, trong khi ta đang trên cao thánh- thoát, trời êm nắng nhẹ, tinh thần hưng phấn nên cũng muốn làm cho bà con để ý chút chơi.

Lại nữa có nhiều khi trên thượng tầng các cao ốc ở Quận Nhất, Quận Nhì Saigon có nhiều mỹ nữ đang phơi mình tắm nắng, mà tắm nắng thì có ai mà chơi… bộ đồ bà ba và khăn rằn quấn cổ như chị Ba Nguyễn Thị Định đâu; phải để cho nó mát chứ, đã vậy còn rất lịch sự vẩy tay, ngoắc- ngoắc thì mình chẳng lẽ lại làm ngơ sao đành, mình vốn là kẻ thương người không mảnh vãi… che thân !

Và củng có điều vui vui nầy nữa: rằng… thì.. là ..ở thành phố có rất nhiều nhà tắm cũng giống như xe xì-po nắp trần, không mui, trưa hè thấy ẩn hiện dáng tiên nữ trong đó đang tẩy bụi hổng- trần, nên cũng là một liều thuốc kích thích mạnh cho những ai dù không có máu hay vi vu lạn- lách, múc miết đi nữa!

Hoặc nhà em là mục tiêu và thiếu điều tróc nóc khi anh cần báo cho em biết là có chàng đang ở trên…nầy đây! Có lần nhằm ngày cuối tuần xong phi vụ, trưóc khi về đáp tôi tạt ngang qua khu Tân Định múc trên nhà một em mới quen, đâu có múc nhiều ,chỉ có… năm sáu cái, vậy mà làm cho ông Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn ở gần vùng đó hết hồn, tưởng đâu có chuyện gì xảy ra, vội chạy vào Phi Đoàn vì đã thấy rõ số đuôi phi cơ, nên tôi hết chối cãi…và mang tiếng bay cao bồi từ đó; tuy vậy mấy ông xếp cũng thương tình và thông cảm cho tuổi trẻ nên chỉ cảnh cáo và…” ngầy ngà” chút đỉnh chứ cũng không phạt vạ gì! Công tình là thế mà của đáng tội, hôm sau gặp; nàng nghe qua cười cười, tỉnh queo:

Sẵn cũng nói luôn là tôi thường bayvới cao độ ..” liếm ngọn cây ,khều ngọn cỏ”lắm nếu ở trên vùng hành quân, ở những bãi đáp hot, thì đây là kiểu tránh đạn hoặc phòng không địch đã đành!; đằng nầy vì lợi dụng traffic của TSN nên về gần đến là tôi xuống thật, thật là thấp, nhiều khi có mấy lùm cây trước mặt, nhưng cứ đăm đăm bay ngay tới coi như không thấy, đợi đến thật sát mới khều nhẹ cần lái để né hoặc lướt nhẹ qua nó mới …đã! Chơi dại như vậy nhưng có lẽ nhờ “Cô cho, Bà độ” nên chưa bị gì! Chứ với cao độ đó mà máy bay chỉ cần ..ho.nhẹ một tiếng thôi, thì tất cả chun tuốt xuống đất rồi chứ làm sao mà đở kịp! Tôi còn nhớ lời của Ông ÁNH từ khi còn là PĐT rồi sau nầy lên Không Đoàn và Sư Đòan Trưởng vì thâý đám trẻ bay bổng vung vít quá, nên thường hay nói câu: ” Pilot giỏi là Pilot già!” ( ý nói ai cũng hiểu là bay bổng làm sao mà được sống đến ..già). Theo nghiệm chứng và thống kê, Pilot có khoảng 1000 giờ bay là hay.. nghỉ chơi lắm, vì với số giờ đó dù cũng hơi cứng và khá quen với tàu bay rồi, nên cứ tưởng là mình hay, coi trời bằng vung, ỷ tài, bất cẩn và kết quả sớm ….biệt phái cho Diêm Vương!

Hồi tưởng lại thấy mình củng y chang như vậy! Nhưng cái số vẫn còn may. Được cái là hồi còn trẻ nên rất hăng say bay bổng, không hề đắn đo hơn thiệt hay tị nạnh với bạn bè. Mỗi khi đi tải thương tại quận lỵ hay tại sân vận động tỉnh; cảm thấy đáp và cất cánh tà tà chán phèo, còn tại mặt trận, có súng nổ lóc chóc có luồn lách nó mới vui! Đúng là “người hùng tim lạnh” có nhiều khi bay đến địa điểm hot mà nghe ông anh leader nói tự nhiên tay ga của tao sao nó cứng quá …hay liên lạc với quân bạn nó nói gì tao nghe không rõ.. tôi báo để tôi xuống cho, và nhào xuống liền thay vì bay vòng vòng chờ đợi, chỉ tổ làm bia cho VC và giúp chúng có thời giờ chuẩn bị. Tôi và đám bạn thường nói tụi nó bắn chắc gì trúng, mà trúng chắc gì chết, nên ba cái AK và đại liên tụi tôi coi như nơ – pa. Chừng nàoTrời kêu.. mới dạ, chứ bọn VC đâu có rớ được tới mình nổi!

Sau tai nạn được nghỉ ngơi cho tỉnh táo, rồi trở lại ngày ngày đi bay bổng như thường. Cở hơn nửa tháng sau có chuyện xảy ra mà hể nhớ lại là ớn xương sống, sáng hôm nọ có anh trực rescue nên đi quay máy (warm up) sớm, máy nổ bình thường và đến khi cánh quạt bắt đầu quay, bỗng dưng có một cánh quạt bị sút ốc hay sao mà xụ xuống 90 độ. Đó là chiếc mà tôi mới bay về đáp tối ngày hôm trước.! Đúng là số còn lớn, nếu hôm trước mà phi vụ đó chỉ dài hơn 3,4 phút là Bà …hú rồi! Không có ai và tài thánh cũng không đở nổi. Lổi kỹ thuật và lỗi của pilot làm chết nhiều hơn đạn thù!

Bẳng đi vài tháng sau cở tháng 4 /1968, một buỗi xế chiều ngày thứ bảy chúng tôi đi tải thương ở Bến Tranh (tỉnh Long An ) chiếc leader là anh Đặng Kim Quy; còn chiếc số 2 do tôi lái, anh Nguyễn Ngọc Nhuận làm co- pilot cho tôi, cơ phi và y tá cho ở nhà thay vào đó là anh Thúy, pilot trong PĐ đi theo quá giang, xuống Mỹ Tho để sau đó về thăm nhà ở BếnTre.

Chiếc của tôi đang quần ở trên chờ anh Quy bốc thương binh lên xong là tôi sẽ đưa Thúy đi Mỹ Tho. Anh Nhuận đang lái bỗng phát hiện:

Tôi chụp cần lái và vặn ga thử; kim RPM của rotor và của engine dính chặt nhau không nhúc nhích; đè cần throttle xuống thì máy bay có xuống, giảm cao độ, nhưng kim RPM lại từ từ tăng lên, laị phải kéo cần throttle lên để giảm RPM nằm ở mức cho phép, thì máy bay lại tăng cao độ! Tôi và anh Nhuận hoảng quá. Trời Đất ơi, cái kiểu như vầy thì làm sao mà xuống . Chúng tôi báo cho chiếc leader biết tình trạng và viết giấy cho anh Thúy ngồi ở dưới biết (vì anh không đội helmet) và không quên nhắc anh ấy thắt giây an toàn (safety harness, không biết sẽ ra sao!

Trên đường trở về TSN với cao độ đang ở 1500 feet, tôi và anh Nhuận thay nhau bay ráng từ từ xuống thấp định về tới Phú Lâm cở 500 feet như lệ thường, nhưng cứ đè cần tay ga xuống cho cao độ giảm thì RPM tăng, mà kéo cần ga lên để giảm RPM thì cao độ lại tăng, cứ thế mà khi về gần đến TSN thì máy bay lên đến 4000 feet. Chúng tôi sợ quá, cứ hỏi lẫn nhau, như vầy thì làm sao mà xuống! Cá nhân tôi, kỳ trước rớt ở cầu Bông, Lê văn Duyệt, nó xẩy ra quá nhanh, chưa kịp sợ, còn lần nầy trong vòng 15 phút không kiểm soát được máy bay như ý nên phải nói là tôi kinh hoàng mới đúng! Mà trường hợp này từ trước đến nay chưa từng nghe ai nói đến bao giờ nên chúng tôi quá hoang mang! Tôi lâm râm khấn vái; cầu xinTrời Phật, Ông, Bà về đây cứu con…cú nầy! Ngày xưa Ngủ Tử Tư thời Chiến quốc thức trắng đêm vì lo sợ và mưu tính vượt qua cửa ải nên sáng ra đầu bạc trắng! Còn tôi nỗi sợ càng ngày càng tăng trong vòng mười mấy phút chắc cũng trắng bạc đầu!

Về đến đầu phi đạo 25, hướng hãng dệt Vinatexco (?) thì máy bay tôi lên đến 5, 6 ngàn bộ rồi. Làm sao bây giờ? Tôi bàn với anh Nhuận:

-Cứ cái kiểu nầy một chút nữa hết xăng thì cũng rớt, hay là mình cúp xăng tắt máy cho nó rớt, tao sẽ làm auto xuống!

Nhưng cả hai cứ phân vân bàn cãi không biết khi cúp xăng tắt máy, thì kim RPM của engine nó sẽ rớt về zero là đương nhiên rồi, nhưng nó có split (tách ra) khỏi kim rotor không hay nó lại lôi theo kim của cánh quạt về zero, nếu cánh quạt đứng lại, thì máy bay chỉ là một khối sắt rớt tự do! Nhuận còn chần chừ. Tôi tiếp :

-Tao lái, mầy cúp tắt máy, nếu thấy 2 kim tách ra là OK, còn không thì mầy đẩy cần mixture trả lại ngay cho máy nổ lạ, rồi mình tính tiếp, tìm cách khác…

Dù gì thì chúng tôi cũng phải lấy quyết định nầy. Tôi báo cho anh leader, Đặng Kim Quy biết tôi sẽ tắt máy và làm forced landing xuống phi đạo và nhờ anh liên lac với đài Air traffic control, để clear mấy máy bay khác, cũng như kêu xe chửa lửa và cứu thương sẵn sàng cho emergency landing, vì cái radio của chiếc nầy ..cà giựt quá, nói và nghe cứ rột rẹt và đứt đoạn dù xài cả hai tần số UHF và VHF, tôi chỉ liên lac với anh Quy qua tần số FM. Ít phút sau anh Quy cho biết tất cả đã sẵn sàng … Trực thăng với cao độ gần 6000 bộ cảm thấy nó lỏng lẻo, và lạnh quá! Anh Nhuận từ từ kéo cần mixture, từ full về vị trí midle và dừng lại ở đó, và chỉ cần kéo từ middle về off tắt máy, Nhuận chầm chậm kéo thêm một chút nữa … căng thẳng quá, tôi có cảm giác như mình cầm con dao nhọn từ từ đâm vào cổ mình vậy. Bổng nhiên, “Ầm -Ầm “ 2 tiếng nổ như cà- nông bắn! Máy bay giật mạnh và đầu quay ngang gần 90 độ vì Nhuận đã kéo cần mixture về Off và đẩy lại liền, tiếng nổ đầu là máy tắt, và tiếng nổ thứ nhì là máy nổ trở lại. Nhìn thấy hai cây kim RPM tách ra,tôi mừng quá .!

-OK, nó split rồi, mầy cúp luôn đi!

Lần nầy đã biết và chuẩn bị đạp pedal nên Nhuận cúp máy chỉ nghe tiếng nổ chứ máy bay không bị quay đầu nữa! Phẻ quá! Hết chết rồi Tôi mừng quá và tin chắc như vậy. Máy bay bắt đầu rớt nhanh, tay lái nặng vì không có thuỷ- điều (hydraulic) vận hành; nhưng không sao, tôi điều khiển máy bay như ý, tôi vừa xuống vừa quẹo một vòng 360 độ, vẫn còn cao tôi làm một vòng 360 độ nữa, bị Nhuận la không chịu lo vô phi đạo đi cứ quẹo ở ngoài hoài, rủi nó rớt ở ngoài vòng đai phi trường thì sao. Tôi bảo :

-Mầy an tâm, yên chí lớn đi!

Xuống gần, thấy runway rộng rãi, dài thênh thang, bằng phẳng quá!. Tôi cho touch down ở đầu phi đạo một cách nhẹ nhàng êm ái. Và máy bay chỉ lăn bánh cở 5 mét. Xe chửa lửa và cứu thương cũng chớp đèn chạy ra đến nơi, phi hành đoàn an toàn lên xe pick up của phi đạo chở vào, tôi quên hỏi Thuý (sau làm sĩ quan ALO, hơn 1năm sau cũng đi theo trực thăng bị nạn rớt chết) coi teo bu -gi cở nào, mà lo “ca”với Nhuận:

Nhuận cũng phải cười và công nhận. Sau nầy tôi được Phi Dũng bội tinh cánh chim vàng vì người và tàu đáp an toàn trong vụ nầy. Cũng xin ” nổ” thêm là cở gần tháng sau, tôi bay chung với Hảo Caribou, hắn nói:

-Tôi nghe đám cơ phi xì xầm với nhau, là đi bay chung với ông chỉ khi nào bị bắn cháy trên trời thì chịu thôi, chớ tắt máy cũng không sợ chết . Để xem có phải là chó ngáp phải ruồi không? Đâu hôm nay về đáp ông thử làm một cái auto touch down luôn trên taxiway xem sao!

Tôi thầm nghĩ..chuyện nhỏ! Cơm sườn! Lấy ăn! Tôi còn thêm:

May mắn, tôi làm đúng như lời nói, lúc đó chắc tôi “hỉnh mủi “ lắm vì thấy Hảo cười cười có vẻ tâm phục! Sự thật văn ôn, võ luyện mà! Vì tôi thích và thường dợt hoài mỗi khi bay về hoặc thử máy cho phiên trực đêm. Tôi nhớ đến chuyện của anh thợ săn và anh bán dầu; anh thợ săn tay cầm con chim se -sẽ tí xíu bị mũi tên ghim trên đầu, hiu hiu tự đắc đi vào chợ, anh bán dầu thấy vậy nói có khó khăn gì, và anh biểu diễn rót dầu xuyên qua lỗ đồng xu để trên miệng chai, mà đồng xu không bị dính một giọt dầu nào! Trăm hay không bằng tay quen mà, chứ tôi cũng chẳng tài cán gì! Thật tình là vậy! Tóm lại, chắc là năm vận tháng hạn hay sao mà chỉ trong vòng 6,7 tháng thôi ,mà tôi gặp mấy cú điến hồn !!……………

( Còn tiếp )

CUA ĐINH

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1196010926&first=1680&last=1739

ÔNG HỒ CHÍ MINH YÊU CÁI GÌ? – ĐIỆP MỸ LINH

Tạp ghi

ĐIỆP MỸ LINH

Báo Anh đăng lại hình ảnh về cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Chú thích của báo Dân Trí

Vừa “bấm” vào BBC tiếng Việt, thấy tựa đề Thảm Kịch 39 Người Việt được BBC Làm Phim Tài Liệu, tôi lặng người, cảm thấy tức giận, nhưng không biết giận ai và giận cái gì!

Sự việc “thùng nhân” của 39 người Việt chết trong xe tải đông lạnh ở Essex, Anh quốc, ngày 23/10/2019, tưởng đã chìm vào quên lãng để linh hồn của những nạn nhân khốn khổ này được yên nghỉ; nay bỗng được BBC khơi dậy.

Sự khơi dậy một cách cố tình của BBC là một vết đâm sâu hút vào nỗi đau thương vô tận của cả một dân tộc và cũng là một cái tát “nẩy lửa” vào mặt nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (csVN)!

Dân tộc Việt, từ thời cổ đại, đã có nhiều Tiền Nhân vĩ đại như Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, v.v… oai hùng đánh đuổi quân Tàu Ô xâm lược.

Trong thời gian ngắn ngủi – từ 1954 đến 1975 – nền độc lập non trẻ của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) luôn luôn bị csVN dùng mọi thủ đoạn để dánh phá và tiêu diệt. Thế mà, ngày 19 tháng 01 năm 1974, Hải Quân VNCH cũng đã anh dũng chống lại – nhưng không đuổi được – quân Tàu Ô khi quân Tàu Ô cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Thế thì, tại sao, sau khi ông Hồ Chí Minh thành lập đảng csVN rồi gieo không biết bao nhiêu đau thương và tang tóc cho dân Việt thì người Việt chỉ biết…chạy?

Thời Việt Minh – tay sai rất đắc lực của đảng csVN – kháng chiến, Ba tôi theo kháng chiến chống Tây. Tôi vẫn nhớ từng nhóm người rách rưới, “đùm túm” nhau, chạy hết làng này qua làng khác, làng kia qua làng nọ; vì Việt Minh đốt nhà, phá hoại toàn diện để thi hành chính sách “tiêu thổ kháng chiến” và “bần cùng hóa nhân dân”. Thế nhưng, ngay sau khi bộ đội cụ Hồ đốt phá nhà dân, Việt Minh lại giăng khẩu hiệu “Đả đảo thực dân Pháp tàn phá quê hương ta”.

Năm 1954, Hiệp Định Genève chia đôi nước Việt được ký kết, ngày 20-07-1954 – csVN phía Bắc, Quốc Gia VNCH phía Nam – cả triệu người Bắc đã rời miền Bắc, trốn chạy khỏi xã hội chủ nghĩa cộng sản để vượt sóng vào Nam.

Tại miền Nam, suốt cuộc chiến tương tàn gần 21 năm, hễ nghe hoặc thấy bóng dáng của Việt cộng – người miền Nam gọi Việt Minh là Việt cộng, do rút gọn hai danh từ kép Việt Minh cộng sản – ở đâu thì người dân ở đó cũng vội vàng chạy về phía VNCH.

Điễn hình cho các cuộc trốn chạy khỏi csVN là năm Mậu Thân, 1968, khi csVN tấn công Huế; năm 1972 csVN tấn công Quảng Trị, lưu lại nhóm chữ hãi hùng “Mùa Hè đỏ lửa”; năm 1975 csVN tấn công Cao Nguyên Trung phần, tạo nên “suối máu” trên liên tỉnh lộ 7; khi csVN dốc tất cả lực lượng tấn công toàn cõi miền Nam Việt Nam thì danh từ kép “Ngày Quốc Hận” ra đời!

Trong Ngày Quốc Hận, 1975, Hạm Đội Hải Quân VNCH phải lìa biển Mẹ, đưa cả mấy mươi ngàn người Việt thoát khỏi gông cùm của csVN.

Sau khi đài BBC loan báo số người Việt do Hải Quân VNCH giúp vượt thoát đã và đang được các nước Tự Do cứu trợ thì không biết bao nhiêu ngàn người Việt khác đã liều chết vượt biển – được gọi là “thuyền nhân” – hoặc vượt biên bằng đường bộ, qua ngã Cam-bốt, để xa lìa sự cai trị sắt máu của người csVN.

Theo bài của giáo sư Lê Xuân Khoa đăng trên BBC ngày 17/04/20, thì: “…Chính sách bóc lột và trả thù tàn ác của csVN đối với nhân dân miền Nam là nguyên nhân chính đã khiến trên hai triệu dân phải bỏ hết tài sản và sự nghiệp {…} Theo các con số của Liên Hiệp Quốc, cho tới khi quốc tế chính thức chấm dứt chương trình tị nạn Việt Nam, năm 1995, tổng số người ra đi được liệt kê như sau:

Đợt I.- Cuối tháng Tư 1975: 140.00 người

Đợt II.- 1975-1979: 327.000 người

Đợt III.- 1980-1989:450.00 người

Đợt IV.- 1990-1995: 63.000 người

Chương trình ODP.- 1979-1995: 624.000 người

Số người chết hoặc mất tích trên đường vượt thoát: 300.000 người. (Hết trích)

Ai cũng tưởng rằng, sau khi quốc tế chính thức chấm dứt chương trình tị nạn thì người Việt không còn chạy được nữa!

Không ngờ, sau đó, người Việt lại chạy khỏi Việt Nam bằng đủ mọi phương tiện, mọi hình thức, như: Xuất khẩu lao động để phụ nữ làm điếm, ăn cắp, đàn ông trồng cần sa; kết hôn với người “nước ngoài” rồi “òn ỉ” để người hôn phối “nước ngoài” mua bảo hiểm nhân thọ thật cao cho chính người hôn phối “nước ngoài”. Chỉ có Trời mới hiểu được ý đồ thâm độc của người hôn phối từ Việt Nam sang! Cán bộ hoặc sĩ quan cao cấp, như Bùi Tín, đi công tác rồi không về; du học “nước ngoài” rồi ở lại, v.v… chứ người Việt  không dám chống lại sự dã man, tàn ác của người csVN?

Những sự kiện cả triệu triệu người tháo chạy khỏi chế độ csVN – cũng như 39 “thùng nhân” người Việt chết ngộp trong xe tải, tại Anh – đã cho thế giới thấy rõ bộ mặt thật của nhà cẩm quyền csVN.

Khi phim tài liệu về 39 “thùng nhân” người Việt được trình chiếu thì dư luận thế giới sẽ nghĩ gì về một thể chế dã man và tàn độc như nhà cầm quyền csVN mà vẫn còn tồn tại cho đến hôm nay? Người ta cũng có thể đặc câu hỏi: Tại sao dưới thời cai trị của thực dân Pháp cũng như dưới sự “xâm lăng” của “đế quốc” Mỹ mà không một người Việt Nam nào phải rơi nước mắt để lìa bỏ Quê Hương? Và dư luận thế giới sẽ nhìn những thế hệ hậu duệ của Đức Thánh Trần Hưng Đạo, của Hai Bà Trưng, của Ngô Quyền như thế nào khi mà đa số thanh niên Việt Nam chỉ biết dong ruổi bằng xe gắn máy hoặc giết thì giờ trong quán cà-phê mùng, bia ôm, quán vĩa hè; thiếu nữ Việt chỉ dành dụm tiền để độn mông, độn ngực, mong “vớ” được chàng Tây, chàng Mỹ để chạy khỏi Việt Nam một cách an toàn?

Ngày xưa, ông Hồ Chí Minh và đảng csVN lập ra chiêu bài chống Tây chống Mỹ để đưa cả mấy triệu người Việt – cả Nam và Bắc Việt Nam – vào chỗ chết! Với phương thức bưng bít thông tin của csVN và phương tiện thông tin yếu kém, người dân Việt cứ nhầm, tưởng “bác Hồ cổ xúy chống Tây chống Mỹ là vì lòng yêu nước”.

Thời đại “a còng” – @ – ngày nay, dù dư luận viên csVN cố tình chỉnh sửa, thay đổi hoặc xóa mờ lịch sử và hình ảnh thì người nào tinh ý cũng vẫn có thể nhận ra những điểm quan trọng trên vài phương tiện truyền thông quốc tế.

Nhờ truyền thông quốc tế, lý do ông Hồ Chí Minh chống Tây chống Mỹ để đưa cả một dân tộc vào hai cuộc chiến đầy kinh hoàng và  thảm khốc đã được phơi bày.

Kính mời quý vị đọc vài đoạn trích dẫn và link sau đây:

“In 1911, Hồ Chí Minh went to the South to Gia Dinh (Saigon) and joined a ship en route to Marseille, France as a cabin-boy. Hồ Chí Minh’s first time abroad was not easy; he worked hard as a cleaner, waiter, cook’s helper

Hồ Chí Minh applied for a course at the French ‘Colonial Administrative School’ immediately after he arrived in Marseille. However, his application was rejected…”

“… travelled to the United States, first arriving in New York in 1912 during a stop-over while working as an on-board cook on a ship…

“Following World War I, as Nguyễn Ái Quốc (Nguyen the Patriot), on behalf of the ‘Group of Vietnamese Patriots’ he petitioned the great powers at the Versailles peace talks for equal rights in French Indochina but was ignored. He asked sitting U.S President Woodrow Wilson for help to remove the French by any means possible in Vietnam, for a new nationalist movement and new government, but this idea was ignored…”

“…He returned to Vietnam in 1941 to lead the Việt Minh {…} At one point he was captured by the Japanese but escaped. However he suffered under their torture and was nursed back to health by American doctors…” Link:

https://www.cs.mcgill.ca/~rwest/wikispeedia/wpcd/wp/h/Ho_Chi_Minh.htm

Qua vài phân đoạn trích dẫn bên trên, chúng ta thấy: Ông Hồ Chí Minh làm bồi phòng, lau dọn, phụ bếp trên một thương thuyền của Tây. Sau khi đến Marseille,  Ông Hồ Chí Minh xin học trường Colonial Administrative School – mà không được chấp thuận.

Ông Hồ Chí Minh ôm hận với Tây.

Ông Hồ Chí Minh đến Hoa Kỳ, cũng trong vai trò phụ bếp. Ông thỉnh cầu U.S President Woodrow Wilson giúp đánh đuổi Pháp khỏi Việt Nam – nhưng bị “phớt lờ”!

Ông Hồ Chí Minh ôm hận với Mỹ! Nhưng ông Hồ Chí Minh đã “phủi” ơn các bác sĩ Mỹ đã cứu mạng sống của ông sau khi ông bị người Nhật bắt và hành hạ!

Qua ba sự kiện kể trên, người đọc thấy rõ – chứ người viết không hề “đánh tráo khái niệm” – ông Hồ Chí Minh là một người vong ơn, chỉ biết yêu “cái tôi” của ông ấy, đã biến sự tự ti mặc cảm nặng nề của cá nhân ông ấy thành hận thù đối với Pháp và Mỹ. Từ đó, ông Hồ Chí Minh khởi động hai cuộc chiến chống Tây và chống Mỹ, gây nên không biết bao nhiêu tang tóc, chia lìa cho người dân Việt suốt hơn 90 năm!

Nỗi đau âm thầm và dai dẳng của người dân Việt, dưới sự cai trị dã man và tàn bạo của người csVN, sắp được BBC phơi bày. Một lần nữa, nhân loại được nhận thức một cách sâu sắc hơn về cộng sản; rồi nhân loại sẽ hiểu rằng những tệ trạng trong xã hội cũng như trong tâm hồn người Việt Nam – trong nước – hôm nay xuất phát từ sự cai trị mong muội của đảng và người csVN chứ dân tộc Việt Nam tính bổn thiện!

ĐIỆP MỸ LINH

https://www.diepmylinh.com/

Nguồn: Cảm ơn Mrs. ĐML chuyển bài.

Trung Đoàn 10, 11, 12 Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Các Trận Đánh Lớn Ở Tiền Giang – Vương Hồng Anh

  • Vương Hồng Anh

* Tổng lược chiến sự tại Miền Tây trong cuộc chiến Mùa Hè năm 1972:
Như đã trình bày trong số trước, trong cuộc chiến Mùa Hè 1972, Sư đoàn 3 Bộ binh đã nỗ lực chính của Quân đoàn 4 trong các cuộc hành quân lớn dọc theo biên giới Việt-Căm Bốt (thuộc địa phận hai tỉnh Kiến Tường và Kiến Phong) và các hành quân tiếp cứu quân đội Cộng hòa Căm Bốt bị CSBV và Khmer đỏ tấn công. Một trong những chiến công của Sư đoàn 7 Bộ binh là đánh bại 2 trung đoàn của CT 5 CSBV ra khỏi khu Chân Tượng ở phía Bắc tỉnh Kiến Tường vào tháng 6/1972, và cuộc hành quân biên kia biên giới Việt-Căm Bốt để giải tỏa áp lực của Cộng quân từ Mỏ Vẹt đến Ponpong Trabek vào tháng 7/1972.
Vào giữa tháng 8/1972, khi tình hình chiến trường Bình Long ở Miền Đông Nam phần (Quân khu 3) đã tạm lắng dịu, các đại đơn vị của Quân đoàn 4 tăng viện cho Quân đoàn 3 được trở về vùng hoạt động cũ. Theo đó, Sư đoàn 21 Bộ binh tiếp nhận lại vùng Hậu Giang, các thành phần của Sư đoàn 9 BB thay Sư đoàn 21 hoạt động tại đây từ tháng 5/1972 được điều động về vùng Tiền Giang mà trọng điểm là tỉnh Định Tường. Nhờ sự tái phối trí này, lực lượng bộ chiến Sư đoàn 9 Bộ binh có thể tập trung các nổ lực vào khu vực tỉnh Kiến Tường ở phía Bắc và khu vực biên giới, nhất là địa giới hai tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường. Trong khi đó, Biệt khu 44 được ủy nhiệm phụ trách khu vực hướng Tây, hữu ngạn sông Cửu Long và khu vực Tây Nam biên giới Việt Nam-Căm Bốt.
Để điều hợp các hoạt động tại mặt trận Tiền Giang, thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đã cho thành lập một bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 4 tại căn cứ Đồng Tâm-hậu cứ và bản doanh chính của Sư đoàn 7 Bộ binh, ủy nhiệm cho chuẩn tướng Nguyễn Thanh Sằng, tư lệnh phó Hành quân Quân đoàn 4 trách nhiệm chỉ huy tổng quát.

Trong thời gian tái phối trí các đơn vị theo tình hình mới của chiến trường, các trung đoàn 10 và 12/Sư đoàn 7 BB cùng với lực lượng Biệt động quân và Sư đoàn 9 Bộ binh đã khởi động nhiều cuộc hành quân trên tỉnh Định Tường và căn cứ địa Đồng Tháp của Cộng quân.
Vào hạ tuần tháng 8 và thượng tuần tháng 9, Quân đoàn 4 chuyển nỗ lực về khu vực Thất Sơn nơi ghi nhận là nhiều thành phần của Công trường 1 Cộng quân xâm nhập và lập các cụm điểm kháng cự quanh vùng này. Trước diễn biến mới về hoạt động địch, bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 đã điều động lực lượng trừ bị của Quân đoàn về phía Tây tỉnh Châu Đốc và tung quân qua khu vực biên giới hướng Tây vùng Thất Sơn. Cùng với sự điều hợp này, Sư đoàn 7 Bộ binh tiếp nhận khu vực tỉnh Kiến Phong do bộ Tư lệnh Biệt khu 44 bàn giao. Bộ tư lệnh Hành quân của Biệt khu này di chuyển về Chi Lăng với nhiệm vụ chỉ huy các lực lượng Biệt động quân thống thuộc để truy kích các đơn vị của Công trường 1 CSBV.

* Sư đoàn 7 BB tại mặt trận Kiến Phong và Định Tường:
Vào tháng 8/1972, tại Tiền Giang, Cộng quân đã gia tăng áp lực tại hai tỉnh biên giới Kiến Tường, Kiến Phong và tỉnh Định Tường. Tại tỉnh Kiến Phong, trung đoàn 10/Sư đoàn 7 Bộ binh đã khởi động cuộc hành quân truy kích các đơn vị CSBV dọc theo ranh giới của hai tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường. Tại Định Tường, Cộng quân đã chiếm giữ khu vực Hậu Mỹ ở Tây-Tây Bắc Mỹ Tho. Để giải tỏa áp lực địch, bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 đã tổ chức một cuộc hành quân lớn với lực lượng tham dự gồm một thành phần của Sư đoàn 7 Bộ binh, lực lượng Sư đoàn 9 Bộ binh và Biệt động quân Quân khu 4 khởi động cuộc tiến quân truy kích 2 trung đoàn Cộng quân ở khu vực nói trên.

Trận chiến kéo dài trong 1 tuần lễ, trước sức tấn công mạnh mẽ của lực lượng bộ chiến Quân đoàn 4, Cộng quân đã bị đánh ra khỏi khu Tây-Tây Bắc Định Tường. Sau cuộc hành quân này, bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 đã cho tiến hành kế hoạch tái xây dựng hệ thống tiền đồn nằm dọc theo Kinh Tháp Mười và tái lập chính quyền tại các xã đã bị Cộng quân chiếm giữ khi cuộc chiến Mùa Hè 1972 bùng nổ. Vào cuối tháng 8/1972, hoạt động của Cộng quân trên toàn tỉnh Định Tường đã bị ngăn chận bởi phản ứng kịp thời của lực lượng bộ chiến VNCH và các trận oanh kích liên tục của các phi đoàn Không quân chiến thuật và Pháo đài bay B 52. Sự phối hợp nhịp nhàng và nhanh nhẹn giữa các đơn vị bộ chiến và Không quân đã vô hiệu hóa kế hoạch của Cộng quân tại tỉnh trọng điểm này.
Vào tháng 9/1972, tình hình chiến sự tại Miền Tây vẫn còn sôi động. Trong chiều hướng gia tăng hoạt động quấy rối, công trường 1 CSBV tung về hai trung đoàn 42 và 101 D vào tỉnh An Giang và đồng thời về hướng Tây để xâm nhập vùng Hà Tiên. Tại khu chiến Tiền Giang, thành phần của trung đoàn 207 và E 2 CSBV, đang hoạt động tại vùng Kongpong Trabek và vùng Bắc quận lỵ Cái Cái, cùng điều động xâm nhập vào tỉnh Kiến Phong. Tại vùng Hậu Giang, lực lượng Cộng quân gồm có hai trung đoàn 18 B, 95 A, D1, D2 liên tục di chuyển về hướng Đông, tổ chức nhiều vị trí án ngữ dọc theo các trục giao thông và vùng đông đúc dân cư. Với sự điều động này, các chuyên viên tình báo VNCH đã đưa ra nhận định là Cộng quân muốn mở rộng địa bàn hoạt động của các đơn vị CSBV trên toàn miền Tây.

* Trung đoàn 10, 11, 12 kịch chiến với Cộng quân ở Kiến Phong:
Cuối tháng 10 và đầu tháng 11/1972, Cộng quân đã gia tăng áp lực tại Kiến Phong, lực lượng bộ chiến Sư đoàn 7 Bộ binh đã khởi động cuộc hành quân truy kích địch. Tại Hồng Ngự, gần biên giới, một thành phần của Sư đoàn 7 Bộ binh phối hợp với lực lượng Địa phương, đánh tan 1 tiểu đoàn của trung đoàn 207 CSBV, sau 8 ngày kịch chiến. Tại trận này, lực lượng VNCH đã bắt giữ 73 tù binh CSBV. Đây là toán tù binh CSBV đông nhất bị bắt giữ tại chiến trường Miền Tây từ 1947 đến 1975. Phần đông các tù binh CSBV này còn ở tuổi vị thành niên, tất cả thiếu ăn. Họ phát giác là bị bỏ rơi khi các cán binh CSBV chỉ huy họ đã bỏ chạy trước sự tấn công mạnh mẽ của lực lượng VNCH.
Vào thời gian này, dọc theo ranh giới tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường, trung đoàn 10/Sư đoàn 7 Bộ binh đã khởi động cuộc hành quân quy mô truy kích ba tiểu đoàn thuộc trung đoàn E 2/Công trường 5 CSBV. Cộng quân đã chiếm giữ một số vị trí trọng yếu và tổ chức các cụm kháng cự liên hoàn để ngăn cản các cuộc truy kích của trung đoàn 7 Bộ binh. Được sự yểm trợ mạnh mẽ của nhiều phi đoàn Kỵ binh Không vận Hoa Kỳ, lực lượng bộ chiến trung đoàn 7 Bộ binh đã tung các trận đánh quyết định đánh bật đối phương ra khỏi các cụm tuyến trọng điểm.

Giữa tháng 11/1972, tin tức tình báo ghi nhận Cộng quân điều động 1 trung đoàn cơ động và 2 tiểu đoàn đặc công di chuyển về hướng Cao Lãnh, tỉnh lỵ tỉnh Kiến Phong, với âm mưu tấn công cường tập chớp nhoáng đánh úp tỉnh lỵ này. Tuy nhiên kế hoạch của địch bị thất bại vì bộ Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh đã khẩn cấp điều động trung đoàn 11 và trung đoàn 12 tiến quân vào khu vực vòng đai tỉnh lỵ, bố trí lực lượng án ngữ các yết hầu trọng điểm ra vào tỉnh lỵ. Thành phần mở đường của Cộng quân đã bị lực lượng VNCH chận đánh khi còn cách tỉnh lỵ khoảng 5 km. Giao tranh diễn ra rất quyết liệt, Cộng quân cố chọc thủng tuyến án ngữ của lực lượng Sư đoàn 7 Bộ binh nhưng đã bị đánh bật và phải rút lui, tiếp đó, Không quân chiến thuật Việt-Mỹ đã xuất trận oanh kích vào đội hình của địch. Có ít nhất hơn 200 Cộng quân bị loại trong trận đánh này.
Vào tháng 12/1972, tình hình chiến sự tại Miền Tây tương đối lắng dịu. Trước cuộc diện mới của chiến trường, bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 đã cho tái phối trí lực lượng, Theo đó, khu trách nhiệm chiến thuật của Sư đoàn 7 Bộ binh bao gồm các tỉnh Tiền Giang như trước 1972, trong đó có Định Tường và Gò Công. Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 8/1972, do Sư đoàn 7 Bộ binh bận hành quân ở biên giới, bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 đã điều động Sư đoàn 9 Bộ binh phụ trách hai tỉnh nói trên.
Thời gian yên tĩnh chỉ kéo dài trong hai tuần cuối của tháng 12/1972. Đầu năm 1973, Cộng quân đã gia tăng áp lực tại Tiền Giang. Tính đến tháng 1/1973, lực lượng Cộng quân trong khu vực trách nhiệm của Sư đoàn 7 Bộ binh gồm có 7 trung đoàn: trung đoàn Z15, E1, E2, E3, Đồng Tháp 1, Z 24 và Z26.

03/06/1999

Kỳ sau: Các cuộc hành quân phối hợp giữa Sư đoàn 7 BB và Biệt động quân Quân khu 4 tại Tiền Giang.

Nguồn: https://vietbao.com/a23640/trung-doan-10-11-12-bo-binh-cac-tran-danh-lon-o-tien-giang0

Quân sử Không Quân VNCH: KQVN 1956-1963 – Gman



KQVN 1956-1963
Gman

Thử viết lại theo trí nhớ những gì xảy ra trong thời gian này là một việc làm khó khăn trong tuổi 70, nên xin các bạn bổ túc những thiếu sót nếu cần. Sở dĩ chọn cái khung thời gian này vì dựa trên nền tảng lịch sử của nền Đệ Nhất Cộng Hòa của miền Nam tự do, chứ không dựa trên những chương trình phát triển KQVN của Phái Bộ Cố Vấn Hoa Kỳ mà người viết không hề biết. Việc này có thể sưu tầm thêm trên các web site VNAF, nhưng các dữ kiện trên web site có thể chỉ đúng về phần tiếp liệu chiến cụ mà thôi, chứ về tổ chức thì người soạn web site cũng đoán lờ mờ, có nhiều điểm sai mà họ cũng chẳng biết do đâu mà ra.

T-6G.

Giai đoạn từ năm 1956 đến năm 1963
KQVN tăng quân số từ khoảng trên dưới 3,000 người lên đến con số vào khoảng 7,000 người vào năm 1960, và lên đến khoảng 16,000 người vào cuối năm 1963.
Cấu trúc lực lượng không có gì thay đỗi, so với tổ chức do Pháp để lại, nghĩa là theo lối Căn Cứ Trợ Lực Không Quân và Phi Đoàn hay Liên Phi Đoàn chiến đấu. Các cơ sở trung ương cũng không thay đổi mấy. Điều khác biệt chính yếu là Mỹ đã manh nha đưa quân vào Việt Nam để thực hiện công cuộc ngăn chận sự bành trướng của khối cộng, mà phía cộng sản thường gọi là “be bờ”(containment). Do đó, Mỹ đã đưa vào Việt Nam một số đơn vị huấn luyện chiến đấu cho VNCH, như 34 th Air Force Group ở phi trường Biên Hòa với máy bay B-26 và T-28. Lục Quân Không Binh Hoa Kỳ cũng có H-21 để tập hành quân trực thăng vận và tải thương ở khắp các vùng chiến thuật. Mỹ đặt tại Tân Sơn Nhất các loại vận tải cơ C-123 để thả dù tiếp tế và xịt thuốc khai quang và một số ít C-47 để dùng liên lạc nội địa Việt Nam. Lục Quân Không Binh cũng có các loại vận tải cơ như Caribou có thể tiếp tế đáp được trên các phi trường đất nện của các đồn điền của người Pháp. Để điều hành hành quân trên không một cách tổng quát, hệ thống điều kiểm chiến thuật (TACS=Tactical Air Control System) cũng được mở mang, như thành lập Trung Tâm Hành Quân Không Quân ở TSN (TACC=Tactical Air Control Center) thay thế Trung Tâm Kiểm Soát Không Chiến, và các Trung Tâm Hành Quân Không Trợ (ASOC=Air Support Operation Center, sau này đổi lại thành DASC=Direct Air Support Center) nằm cạnh các Trung Tâm Hành Quân Quân Đoàn ở Đà Nẳng, Pleiku, Biên Hòa và Cần Thơ. Riêng TTHQKT3 ở Biên Hòa được thành lập sau các nơi khác vì trước đó nhiệm vụ này do TTHQKQ tại TSN phụ trách. Các phi trường được sửa lại hay xây cất phi trường mới. Phi trường Tân Sơn Nhứt có hai phi đạo 24 song song nhau và dài 10,000 bộ (tức 3,000m), còn phi đạo cũ Bắc Nam vẫn duy trì nhưng ít hoạt động khi hoàn tất hai phi đạo 24. Phi đạo Đông Tây ở Biên Hòa cũng được làm mới hoàn toàn, nằm ở đầu phi đạo 33 vỉ sắt cũ về phía Bắc. Trong lúc các phi trường này được nới dài hoặc xây cất mới thì hoạt động hành quân các nơi đó phải được dời nơi khác. Phi trường Cù Hanh ở Pleiku cũng được xây mới, thay thế phi trường đất đỏ lót vỉ sắt đen của Pháp để lại. Các phi trường Nha Trang và Đà Nẳng cũng được mở rộng và nới dài để sau này đón nhận phản lực cơ.

The Republic of Vietnam Historical Society Blog: December 2016

H-19.

Song song với việc xây dựng phi trường, một số bộ chỉ huy đơn vị cũng được xây cất mới. Và công tác của hãng thầu xây cất kéo dài qua thời kỳ thứ ba, sau 1963, như các nhà sở của Bộ Tư Lệnh Không Quân sau này, các Bộ Tư Lệnh của 2 nd ADVON (Second Air Division) mà sau này nhường chỗ cho 7 th Air Force, và sau cùng chúng ta đặt Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân ở đó, thêm Trường Chỉ Huy & Tham Mưu Trung Cấp Không Quân. Các đài radar trong hệ thống điều kiểm chiến thuật của Mỹ đều giao cho KQVN điều hành song song với một lực lượng cố vấn hùng hậu, coi như Không Quân Hoa Kỳ có đủ nhân vật lực để hoạt động song song với KQVN. Có tất cả năm đài cố định đặt tại Đà Nẵng, Pleiku, Ban Me Thuot, Tân Sơn Nhất và Cần Thơ. Nhiệm vụ các đài này là điều kiểm chiến thuật chứ không chính xác dùng vào việc phòng không. (So với miền Bắc Việt Nam lúc đánh nhau nhiều, miền Bắc có đến 600 đài GCI [Ground Control Intercept] phối trí khắp nơi và có tính cách di động hoàn toàn.) Nhờ vậy, hệ thống truyền tin tinh vi của Hoa Kỳ đã giúp KQVN hoạt động suôn sẻ và nhanh chóng hơn hệ thống chỉ huy hành quân của Lục Quân Việt Nam, nhờ các đường dây nóng (hot line), cứ dở lên là nói thẳng với nơi mình muốn, chứ không còn dùng truyền tin dã chiến hét la ồn ào như trước kia. Những đóng góp của Hoa Kỳ trong thời gian này thật là vĩ đại, đầu tư rất nhiều tiền, vì họ đã chuẩn bị sẵn sàng đưa đại quân vào Việt Nam. Sau này, chúng ta thấy rõ những chuyển biến quan trọng hơn khi Hoa Kỳ tham chiến thật sự, và KQVN cũng nhờ vậy mà học hỏi thêm nhiều để trưởng thành nhanh chóng.

F8F Bearcat post-WWII service – wwiiafterwwii

F-8F.

Trong khi đó thì KQVN phải chịu đựng quay cuồng trong chiến tranh một ngày một gia tăng. Lại phải gánh vác nhọc nhằn huấn luyện chuyển tiếp trên nhiều loại phi cơ như từ F-8F qua A-1H, từ H-19 qua H-34. Phải gửi người du học Mỹ về lái máy bay, về kỹ thuật và tiếp liệu, về chỉ huy & tham mưu, nên có thể nói là con người phải chia năm xẻ bảy mới hoàn tất được trách nhiệm của mình.

Trong ngành khu trục, Phi Đoàn 1 Khu Trục và Trinh Sát có một lúc ba loại máy bay dưới sự điều hành kỹ thuật của các anh như Dương Xuân Nhơn, Bùi Quang Đài, Bồ Đại Kỳ, Nguyễn Minh Tiên, Quảng Đức Phết, Phan Đàm Liệu. Rất là khó khăn cho quân số chung của Phi Đoàn vào khoảng 450 người mà cấp chỉ huy kỹ thuật & tiếp vận chỉ có Trung Úy mà thôi. Thật là một cố gắng vượt bực để có thể duy trì một hoạt động bay không nguy hiểm cho hoa tiêu, chứ đừng nói gì tiêu chuẩn này nọ. Tuy vậy, thành tích hoạt động bảo trì và tiếp liệu rất tốt. Các phi cơ F-8F tuy gặp nhiều tai nạn hiểm nghèo cho người bay, nhưng rất ít do lỗi kỹ thuật mà chỉ vì máy bay quá cũ không còn chịu sức kéo mạnh cần thiết khi hành quân. Vì thế, anh Lưu Văn Đức đã tử nạn trên chiến trường.

This image has an empty alt attribute; its file name is phi-co-huan-luyen-t-6-kqvnch-tai-nha-trang..png

T-6G.

Ngoài số Bearcat khoảng 20 chiếc, Phi Đoàn còn có 9 chiếc T-6G đưa từ Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang về để dạy các khóa sinh tốt nghiệp trên L-19A trở thành hoa tiêu khu trục.
Bắt đầu năm 1960, Phi Đoàn tiếp nhận thêm mỗi đợt 6 chiếc A-1H cho đủ số 25 theo cấp số phi cơ. Do đó, số sĩ quan lưu lại Phi Đoàn này để huấn luyện từ 1960 trở về sau lên rất cao, làm tổng số sĩ quan lên gần 50 người mà số hoa tiêu hành quân được chỉ có 20 người, kể cả cấp chỉ huy đơn vị. Chỉ huy trưởng phi đoàn lúc ấy, trước tiên là NT Huỳnh Hữu Hiền cho đến 1958, sau đó, NT Hà Xuân Vịnh một thời gian ngắn, sau đó là anh Lưu Văn Đức từ 1958 đến 1960. Sau năm 1960 thì người viết bài này thay thế anh Lưu Văn Đức chỉ huy phi đoàn đổi tên thành Phi Đoàn 514 cho đến cuối năm 1963 là thuyền chuyển về Trung Tâm Hành Quân Không Quân trực thuộc BTLKQ.

Khi thay Đại Úy Đức, chúng tôi chỉ mang cấp bậc Trung Úy, được thăng Đại Úy giả định, sau đó lên dần Đại Úy Nhiệm Chức, rồi Đại Úy Tạm Thời, rồi Đại Úy Thực Thụ, và thăng Thiếu Tá sau khi đảo chính ngày 1-1-1963. Thiếu Tá Võ Xuân Lành từ Trung Tâm Huấn Luyện về thay chúng tôi kể từ 1-1-1964.
Trong ba năm ngắn ngủi phục vụ tại Phi Đoàn 514, Phi Đoàn có cơ hội hành quân khắp nơi, có thể nói là một mình một chợ, có khi biệt phái một lượt hai nơi như vừa ở Pleiku, vừa ở Đà Nẵng, hoặc Đà Nẵng và Sóc Trăng. Anh em chuyên viên không còn tiền để ăn mà cũng không có thêm phụ cấp di chuyển hành quân tương xứng cho những người “một cảnh hai quê”. Họ bám víu vào các sĩ quan để vay một ít tiền ăn “cơm tay cầm” mà chỉ có bánh mì và nước tương mà thôi. Đến lúc sau cùng thì sĩ quan hoa tiêu hay chuyên viên cơ khí gì cũng rách túi, nhưng họ vẫn hành quân cực nhọc và thương lẫn nhau, chia cơm sẻ áo. Những món nợ đó không khi nào được trả, vì phi đoàn cũng chẳng có một quỹ nào gọi là “quỹ đen” cả.


Sau này, vào năm 1962 thì Phi Đoàn 516 ra đời tại Nha Trang dưới sự chỉ huy đầu tiên là Đại Úy Phạm Long Sửu. Phi Đoàn 516 gánh vác số phi vụ hành quân tại hai quân khu 1 và 2 từ Phan Thiết trở ra, nên Phi Đoàn 514 cũng nhẹ nhõm phần nào. Tuy vậy, trong hai vùng chiến thuật 3 và 4 thì mức độ hành quân gia tăng nhiều, nhất là nhu cầu giải vây đồn bót ban đêm. Do đó Phi Đoàn 514 đã phải bay từ sớm đến tối và còn trực đêm hai phi tuần nhẹ. Khả năng bay đêm của Phi Đoàn 514 có thể nói vượt trội các đơn vị, kể cả Mỹ, vì Mỹ không thể hành quân khi không có Điều Không Tiền Tuyến (FAC=Forward Air Control).

South Vietnam Air Force wiki | TheReaderWiki

T-28.

Một phi đoàn T-28 khác được thành lập tại Tân Sơn Nhứt do Đại Úy Hà Xuân Vịnh chỉ huy, dường như đã đặt tên Phi Đoàn 716 vì đơn vị này có khả năng không ảnh. Phi đoàn này đã tham gia tích cực trong cuộc đảo chính ngày 1-11-1963.

Đến lúc tôi rời Phi Đoàn 514 thì hoa tiêu của PĐ 514 đều có khả năng tác chiến cao, và ba năm liên tiếp đều nhận Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu, do đó cả đơn vị đã mang biểu chương màu ADBT (vàng).

Đầu năm 1964 thì anh Phạm Phú Quốc ra khỏi nhà giam, về lại Biên Hòa chỉ huy Phi Đoàn 518. Phạm Phú Quốc là Trưởng Phòng Hành Quân của PĐ 514 đã dẫn anh Nguyễn Văn Cử từ Nha Trang về chưa đầy một tháng đi thả bom Dinh Độc Lập trọng tháng 2 năm 1962. Có thể vì sự kiện chính trị này mà vị Tư Lênh Không Quân của chúng ta là Đại Tá Nguyễn Xuân Vinh đã từ chức cùng lúc với Bộ Trưởng Quốc Phòng là ông Trần Trung Dung. Sự kiện xảy ra vào tháng 2-1962, trong khi TLKQ Nguyễn Xuân Vinh đang công du tại Nhật Bản, và từ đó Đại Tá Huỳnh Hữu Hiền thay thế TLKQ cho đến 1-11-1963.

Đại Tá Hiền giải ngũ sau đó và được bay trên máy bay hàng không dân sự. (Trong quân đội Pháp, không được có hành vi chính trị, trong khi đó, Mỹ chủ trương nuôi dưỡng các quân đội các nước nhược tiểu để dùng quân nhân làm áp lực chính trị đối với chính phủ của họ).

Song song, các phi đoàn trực thăng đầu tiên cũng được thành lập như Phi Đoàn 211 và Phi Đoàn 213, sử dụng máy bay H-34, đặt tại TSN.
Một số L-19A cũng được bổ sung cho Phi Đoàn 1 và 2 Quan Sát đổi tên là Phi Đoàn 110 ở Đà Nẵng và Phi Đoàn 112 ở TSN. Sau cùng trong giai đoạn này còn thành lập thêm Phi Đoàn 114 (L-19A)tại Nha Trang và Phi Đoàn 116 (U-17A) tại Cần Thơ.
Lực lượng vận tải chưa có gì thay đổi, nhưng có thêm nhiệm vụ soi sáng ban đêm cho hai vùng chiến thuật 3 và 4.

CHIẾN CÔNG CUỐI CÙNG – KQ Nguyễn Viết Trường – dòng sông cũ

L-19A.

Nói về các hoạt động hành chánh trong thời gian này, phải kể nổi bật nhất là thành lập hệ thống văn kiện lập quy(VKLQ), là quy củ trong các văn thư quân đội mà chỉ có trong KQVN mà thôi. Như các kế hoạch nhân viên cho ra cách sắp xếp các đơn vị cũng có quy củ hơn. Các CCTLKQ đều được đánh số theo thời gian thành lập, như CC1TLKQ ở Nha Trang là đơn vị đầu tiên của KQVN với TTHLKQ. CC2TLKQ tại Biên Hòa, CC3TLKQ tại TSN, CC4TLKQ tại Đà Nẵng.
Các đơn vị chiến đấu có số đầu là loại nhiệm vụ của đơn vị, như số 1 cho ngành quan sát, số 2 cho ngành trực thăng, số 3 cho ngành liên lạc, số 4 cho ngành vận tải, số 5 cho ngành khu trục. Và trong giai đoạn kế tiếp, ta thấy có số 6 cho ngành oanh tạc, số 7 cho ngành không thám.
Thường, các đơn vị có số lẻ ở đầu thì hai số sau là số chẵn từ 10 trở lên, trái lại, nếu số đầu là số chẵn thì hai số sau là số lẻ từ 11 trở lên. Do đó ta thấy:

Quan Sát có PĐ 110, PĐ 112, PĐ 114, PĐ 116 vv…
Trực Thăng có PĐ 211, PĐ 213, PĐ 217 (không hiểu lúc thành lập PĐ 217 ông chỉ huy trưởng có xích mích gì với Nhân Viên của BTLKQ mà họ nhảy số 215 là 8 nút thành 217 là số bù).
Liên Lạc có PĐ 312 Vận Tải có PĐ 413 và PĐ 415
Khu Trục có các PĐ 514 , PĐ 516, PĐ 518
Không Thám có PĐ 716
Nói là nói như vậy thôi chứ coi bộ sự đánh số cũng tùy hứng của BTLKQ/NV chứ không theo một quy củ đã định, cứ nhảy số lung tung. Người viết bài này có tham khảo với một Trung Tá KQ làm ở Phòng Kế Hoạch Nhân Viên từ đầu và sau đó làm tại Phòng Tổ Chức & Nhân Lực thuộc Văn Phòng Tham Mưu Phó Hành Quân của BTLKQ, nhưng ông ta cũng không nhớ được lý do tại sao lại nhảy số như trên.

C-47.

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA GIAI ĐOẠN:


Thứ nhất, có thể đề cập đến cơ hội thăng quan tiến chức của các đàn anh kỳ cựu của KQVN trong thời kỳ mới thành lập. Ai mà được thượng cấp quan tâm tới là nhanh như chớp, có chức vụ và có cấp bậc. Điển hình nhất là các ông từ trước đã có cấp bậc sĩ quan, tốt nghiệp từ các trường Bộ Binh Thủ Đức hay Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, sau được chuyển sang KQ. Trường lớp lúc đó chỉ kéo dài 6 tháng tại Thủ Đức và một năm tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Mang cấp Thiếu Úy hai năm thì thăng Trung Úy đương nhiên. Khi có chức vụ tùy cao thấp sẽ tăng thêm từ một đến hai cấp.
Nhưng đừng nghe thế mà tưởng bở. Lên nhanh mà chầu rìa cũng nhanh. Như vị TLKQ đầu tiên mà trong nhiều bài đã nói rõ, từ Đại Úy lên Trung Tá, và chẳng bao lâu sau, thăng Đại Tá. Không cần biết thành quả hoạt động như thế nào, phải được lòng thượng cấp, và rất khó mà biết được thượng cấp muốn gì. Từ đâu thượng cấp đánh giá về mình. Thật là vì lúc đó chúng tôi chỉ là tép riu nên không rõ lắm, nhưng thấy cũng kỳ. Chỉ tội là mình phải chào như điên, vì anh nào cũng chỉ lớn hơn mình vài ba tuổi mà cấp bậc của họ xa mình quá cỡ thợ mộc. Nhưng biết làm sao bây giờ, họ phải mang lon cho xứng với chức vụ, để còn giao dịch với bên ngoài. Chắc để cho ta đảm nhận chức tước như họ(điều đó chẳng khi nào có), thì ta cũng thấy nên có cấp tương xứng.
Nói tới đây, tôi mới nhớ một dịp ngồi trên máy bay Pan Am từ Mỹ về Saigon, cô chiêu đãi viên hàng không hỏi tôi, tại sao ba ông lại quá trẻ mà mang cấp hiệu giống y như ba ông ngồi ở hàng ghế sau, có thể nói như cha con vậy, thế là thế nào? Nhìn ra phía sau thì là ba Đại Tá của Không Quân Tưởng Giới Thạch, họ mang đúng ba mai vàng y chang. Thế mới biết là khi ta làm cấp hiệu quân đội, cần nên nghiên cứu xem trong vùng chúng ta, và có thể trên khắp thế giới, có chỗ nào trùng dụng với chúng ta không?
Trên đây nói về cơ hội đã đến với một số ít người, ngay lúc đầu đã có cơ may thăng cấp nhanh, và chính sau này họ vẫn khó bị vượt qua được. Nhưng có một số đông khác thì do một sự chuyển đổi không ai ngờ.
Đó là số hạ sĩ quan hoa tiêu tốt nghiệp từ các trường Pháp như Marrakech và Aulnat. Có người về còn chưa có cấp bậc trung sĩ như khóa sinh Pháp, mà chỉ mang Hạ Sĩ Nhất hay Hạ sĩ mà thôi, vì số điểm tốt nghiệp của họ quá kém. Khi Mỹ bao thầu cho VNCH về viện trợ quân sự thì theo quy chế của Mỹ, hoa tiêu phải là sĩ quan, thành thử họ trả lương sĩ quan. Vậy thì mọi hoa tiêu trước dù là hàng binh đi nữa cũng thăng một mạch lên Chuẩn Úy mà không cần phải qua trường lớp nào để điều chỉnh cả. Số này trên dưới 50 người từ các trường Marrakech và Aulnat. Một số người khác như NT Phan Văn Mạnh (tự Le Fort), và nhiều người nữa mà tôi không nhớ tên lại giữ cấp Thượng Sĩ rất lâu sau đó, vì tốt nghiệp trong nước, tại TTHLKQ/Nha Trang. Trong khi đó, các hoa tiêu tốt nghiệp từ Mỹ về cũng đều mang Chuẩn Úy nếu họ đã nhập ngũ thẳng vào KQ; nếu đã qua các trường Võ Bị Đà Lạt hay Bộ Binh Thủ Đức thì họ có cấp bậc tối thiểu Trung Úy. Trường hợp đi Mỹ để học lái nhưng bị loại thì họ được chuyển sang một ngành phụ dưới đất, như weapons controller, maintenance officer, supply officer, training officer,…Nên biết là phần đông sĩ quan Mỹ đều có Bachelor Degree, nên khi họ hỏng bay thì làm việc dưới đất, kiến thức căn bản và văn hóa, ta khó sánh kịp. Có nhiều sĩ quan phi hành lại giữ chức vụ bảo trì, tiếp liệu, hay quân báo, an ninh. Những ngành họ đang hành nghề là chỉ số phụ (second skill), chứ không có ý gì khác. Do đó, khó mà so sánh với Mỹ, là một nước giàu tiềm năng, kể cả học thức. Các sĩ quan lên cấp tá, họ đều qua những trường gọi là post graduate, để lấy bằng Command & Staff, hay War College, và luận văn kết khóa của họ có giá trị tương đương với Master Degree. Còn chúng ta thì cũng có Master nhưng là Master Jump, đây là bằng dành riêng cho các chiến sĩ mũ đỏ của chúng ta.
Nói đến thăng cấp nhanh thì cũng nói đến có người bị quên lãng như NT Nguyễn Đức Khánh, phải giữ cấp bậc Chuẩn Úy 6 năm sau khi tốt nghiệp Trường Võ Bị Không Quân Pháp vào tháng 10 năm 1957. Mãi cho đến sau khi đảo chính ông Diệm, Khánh mới lên được Thiếu Úy.
Về huy chương trong thời buổi này thật hiếm hoi. Chỉ có bốn loại huy chương:
– Bảo Quốc Huân Chương (mà KQVN chỉ hưởng lần đầu tiên vào 26 tháng 10 năm 1963)
– Quân Công Bội Tinh
-Anh Dũng Bội Tinh
– Chiến Thương Bội Tinh.
Do đó, các nhân viên không phi hành không có gì để tưởng thưởng họ. Có một điều ta không nên phủ nhận là tiền lương trong thời kỳ này rất tốt vì đồng bạc có giá.
Tôi nhớ khi chưa lãnh được tiền bay, gọi là Không Quân Vụ số 1, tôi chỉ lãnh 4,800 đồng bạc Việt Nam với cấp Trung Úy. Nhưng chỉ tiêu xài có 1,800 đồng một cách phủ phê, còn để dành được 3,000 đồng, lúc đó là giá của một lạng vàng. Khi lãnh được tiền bay trễ mất một năm rưỡi, nghĩa là 18 tháng, tôi lănh một số tiền khổng lồ lúc c̣n mang trung úy, đủ để mua một chiếc Lambretta 150cc, một máy may cho bà xã, và còn cho cô em 10,000 đồng để làm lễ cưới. Cái gì cũng bết, chỉ có lương, đối với tôi, là rất tốt trong suốt đời binh nghiệp.
Ấy vậy mà nếu cứ đi xa nhà biệt phái hoài hoài thì có lắm kẻ thiếu tiền xài, vì ra ngoài thì KQ vốn lả lướt từ khuya, chi cho các em rất ngọt. Dù sao, các bậc tiền bối của chúng ta chắc đã phải vất vả khi nắm chức vụ chỉ huy. Đúng là đứng mũi chịu sào, như Mệ có trình bày nhiều phen, phải đấu với các ông bên Lục Quân, cứ lấy thịt đè người.
Phương tiện lại eo hẹp. Tôi nhớ có lần ra Đà Nẵng biệt phái hành quân, ngủ ngoài sân mái hiên của câu lạc bộ sĩ quan. Xe thì cấp cho đơn vị chỉ có thứ chuyên chở nhẹ (Dodge 4) có tài xế của quân xa lái. Ai lái bậy bị củ. Còn kỳ xuống Sóc Trăng biệt phái hành quân yểm trợ cho chiến dịch Bình Tây vùng Năm Căn phía Nam U Minh, phải ở Bungalo, sĩ quan được nằm giường, một giường ngủ hai người, làm anh đại úy cố vấn của tôi phải cùng tôi ôm ấp cả mấy đêm liền. Còn bên ngoài thì anh em hạ sĩ quan binh sĩ nằm ở hành lang, chịu đựng mưa gió, bảo vô phòng cùng ngủ, các anh không nghe. Sáng lại, họ rên rằng, tối nào các thị mẹt cũng đến gạ gẫm, mà không thằng này thì thằng khác nhẹ dạ nghe theo, cả đêm không ngủ được. Anh “Long Chà” thì đạo hồi, mà đại táo của bộ chỉ huy chiến dịch toàn là thịt heo, nên đi bay anh mang theo một nải chuối. Chính anh Long Chà, tên thật là Ali, đã chạy ra khỏi vòng rào phi trường Sóc Trăng và cán chết một chị đang câu ngoài ruộng gần đó. Phi đạo chỉ có 1,000m, nhưng ở gần cuối phi đạo có một ổ gà, do đó chỉ hữu dụng 750m. Vì cố đáp thật ngắn nên anh chạm đất ờ ngoài phi đạo, chỗ đó có đất trơn nên anh không giữ được trục đáp. Sau này, anh Long Chà chết trên vùng chiến khu D trong một phi vụ hành quân.
Một phi trường khác mà chúng tôi phải hành quân là Pleiku. Chỉ dài 750m, lót vỉ sắt trên đất nện màu đỏ. Do phi đạo có dốc, nên đáp thì lên dốc, cất cánh thì xuống dốc. Có lần dưới đất tôi nhìn xem, khi cất cánh, chạy qua một chỗ trũng sâu, sức nặng máy bay đè vỉ sắt xuống làm lòi lên cỡ hai tấc một cọc cày vĩ sắt, làm cho máy bay mất đà và mất trục cất cánh, chân đáp vướng vào hàng rào kẽm gai có trụ bê tông, anh mang cái của nợ đó lên cao cho đến khi vào chân đáp thì trụ bê tông rơi xuống đất. Thật là không có an phi chút nào. Máy bay biệt phái một tuần lễ ở phi trường Pleiku này phải mang về Biên Hòa để tấm rửa, vì đất đỏ bám vào thân máy bay trộn với dầu chảy từ máy ra, là máy bay càng nặng thêm và dễ bị rỉ sét. Chính cái ông Hà Xuân Vịnh đàn anh của chúng tôi thám sát phi trường này, khi anh về làm việc tại BTLKQ. Đúng như anh nói, vùng cao nguyên chỉ có phi trường này là miễn cưỡng dùng được cho khu trục. May là bay A-1H chứ nếu còn bay F-8F thì 100% toi mạng. Những cái vớ vẩn thời đó, có ai mà hiểu được.
Có ngày chúng tôi biệt phái ra Nha Trang để tập tác xạ không/không. Ra Nha Trang rồi mới biết chẳng có anh nào rành cái việc này cả. Cả đám vừa làm vừa học. May cho chúng tôi, vì lúc đó mình là nhóc con, chắc sẽ bị chỉ định làm mồi cho người ta bắn, Tây gọi là plastron, nghĩa là kéo bia ra ngoài khơi trên Bearcat để các đàn anh bắn vào bia. Nếu lỡ mà các anh mê tít, vào ở sáu giờ của tôi mà thổi thì chết chắc. Thế mà may, không anh nào bắn trúng tôi cả, vì đàn anh chưa ai cho cái bia lên trời được thì đời nào đến tôi. Nhưng cũng hú vía vì cái anh đài kiểm soát không lưu Nha Trang. Chưa biết điều hành khu trục cơ mà chỉ quen với máy bay bà già của Mệ, nên anh ta thấy chiếc sau chạy tới nhanh mà chiếc trước chưa rời đường bay kịp, anh la hoảng “roulez, roulez, roulez” mà không chỉ cho tôi rẻ chỗ nào, nên tôi phải ra cát chúi mũi làm trò hề “ngựa go” cho thiên hạ. Nói chung là lúc không biết nhiều về an phi là gì cả. Tây gọi là “sécurité de vol” và Mỹ thì các anh biết rồi “flying safety”. Chính cái ngành này làm hại nhiều anh khi đi tù. VC chúng nó nghe chữ An cứ tưởng là an ninh mà Tây gọi là “Sureté Militaire”. Thế mới chết. An phi gì đâu mà không có một hướng dẫn nào.
Các biện pháp cấp cứu cũng sơ sài qua loa. Tôi nghe Lưu Văn Đức nhảy dù ở Dầu Tiếng trên Bearcat, tôi không ngại, vì anh đã học nhảy dù. Khi gặp anh ta, anh nói tao “trim noze down maxi, rồi khi đang gở nịch ra thì tay trái không thuận nên chuyển tay lái vào tay trái để dùng tay phải mở dây nịch, đúng lúc đang chuyển tay và giật được khóa dây nịt thì máy bay chúi mũi nhanh đến độ bắn tao ra ngoài”. Còn các anh cá nhau ăn phở để đáp xuống bụng ở các phi trường như Trảng Bom, hay đáp xuống sông Nhà Bè như anh Nguyễn Thế Long để tử nạn. Đây cũng là những chuyện mà sau này không thể xảy ra. Nhưng có chuyện lại tái diễn. Như anh Xuân rớt bên khu vực Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở Biên Hòa, anh còn sống và phi cơ chưa phát hỏa. Nhưng xe cứu hỏa chạy tới hàng rào bên nay phi trường, rồi đứng đó không qua bên kia rào được, vì có hàng rào và đường mương ngăn chận lại. Chỉ một lúc sau, số lượng xăng chảy ra nhiều đã bốc hơi khi máy còn nóng nên phát hỏa. Anh Xuân chết cháy trong máy bay, vì nhân viên cứu hỏa còn thấy anh ngoắc nhiều lần. Vì vậy, khi papa Sửu lật úp trên phi đạo 33 tại Biên Hòa, anh hô to “Đừng cha nội nào hút thuốc nghe không!” Tôi hỏi nhanh,”anh kiểm tắt hết contact chưa?” Anh la vang, “rồi, các cha giúp dỡ máy bay lên cho tôi ra chứ”. “Cần trục tới rồi, anh đừng lo”. Anh Sửu được cứu kịp thời. Nhưng sau này, một vụ tương tự lại xảy ra cũng tại Biên Hòa làm chết anh Nguyễn Văn Long và anh Nguyễn Thế Anh. Chỉ vì máy bay hỏng thắng, rời phi đạo, rồi lật úp trên một vũng nước. Khi cần trục đến nơi thì bị lún khi nâng máy bay lên, do đó hai người đã chết ngộp dưới nước. Thật không có thầy bói nào biết trước như vậy.
Những khó khăn lúc ban đầu thật vô số kể. Chúng ta phải phục những vị đã đứng mũi chịu sào cho KQVN chúng ta mạnh tiến sau này. Đừng vội chỉ trích những người đi trước. Bạn cứ hồi tưởng lại hồi bạn còn ở cấp thấp hơn sau này, lúc chưa kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề và kinh nghiệm chỉ huy, bạn thấy có phải tại sao lúc trước mình dại thế không. Vì vậy cho nên, chưa qua cầu thì chưa biết đá biết vàng. Phê phán cấp trên cũng giống như vậy. Nếu ta đã làm TLKQ một lần thì mới có ý kiến về vị TLKQ của mình. Nhất là nói xấu cấp trên với những người kém lon lá hơn mình càng mang tội lớn, là chính ta khuyến khích đàn em nói xấu ta vậy. Dù KQVN không còn nữa nhưng con người của KQVN vẫn còn đây, và chúng ta luôn hãnh diện về những gì những bậc lão thành đã vun đấp cơ sở cho chúng ta bay nhảy sau đó. Mộng bay như vẫn còn đâu đây.
Gman

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1/qu%C3%A2n-s%E1%BB%AD-kh%C3%B4ng-qu%C3%A2n/4081-qu%C3%A2n-s%E1%BB%AD-kh%C3%B4ng-qu%C3%A2n?9189-Qu%C3%A2n-s%E1%BB%AD-Kh%C3%B4ng-Qu%C3%A2n=&viewfull=1#post24509

TỪ VÙNG PHI CHIẾN ĐẾN VÙNG HỎA TUYẾN! – Trịnh Khánh Tuấn

Trịnh Khánh Tuấn tổng hợp 23.8.2014 (Được bổ túc thêm ngày 11/7/2016) Trước 1975 người miền nam thường nghe được bản nhạc: Vùng Hỏa Tuyến”, một sáng tác của cố nhạc sĩ Anh Bằng, do danh ca Thanh Tuyền trình bày trên các làn sóng điện của các đài phát thanh quân đội hay truyền hình Sài Gòn. Đó là hình ảnh của một vùng phi quân sự được hình thành từ khi chia đôi đất nước bởi hiệp định Genève 1954. 

Có ai qua vùng hỏa tuyến
Nhắn cho tôi một vài lời
Mái tranh thân yêu còn đâu
Lũy tre xanh tươi còn đâu
Đổi thay giờ đây lửa máu

Xóm thôn hoang tàn đổ nát
Luống khoai nương cà nghẹn ngào
Tiếng chuông vang không còn nữa
Vắng trâu ăn trên đồng sâu
Trẻ thơ đi tìm Mẹ hiền

https://www.youtube.com/embed/NGCIm3r-4FQ?feature=player_embedded&wmode=opaque Trung Lương ơi !
Đây vùng phi chiến
Nay thành khu chiến
Từ khi giặc tràn về
Bao người dân trắng tay
Mà vui ước hẹn đi theo lời thề
Toàn dân thương Trung Lương
Toàn quốc thương Gio Linh
Thương Bến Hải, thương cầu Hiền Lương

Có ai qua vùng hỏa tuyến
Nhắn cho tôi một vài lời
Oán xâm lăng gây lửa khói
Để cho bao nhiêu lệ rơi
Để cho sầu héo lòng tôi .
 (Sáng tác Anh Bằng)

Nhân viên thuộc Uỷ Ban Quốc Tế tại cầu Bến Hải nơi vùng Phi Quân Sự

Cầu Bến Hải  nơi vùng Phi Quân Sự với cảnh sát của Bắc và Nam VN

Cầu Bến Hải bờ Nam, nằm trong vùng Phi Quân Sự

 Trung Lương trong bài hát nầy là một quận của tỉnh Quảng Trị, địa danh này chỉ tồn tại từ tháng 8/1954 đến tháng 12/1967. Về vị trí địa lý, quận Trung Lương nằm ở phía Bắc Gio Linh, tức là sát với vĩ tuyến 17.
Trung Lương ơi !Đây vùng  phi chiến……
Địa danh nầy khác với địa danh Ngã ba Trung Lương , là nơi 1 đường rẽ phải theo quốc lộ 1 về Cần Thơ, 1 đường đi thẳng vào thành phố Mỹ Tho; Hoặc Xã Trung Lương, Định Hoá, Thái Nguyên. Tại hai nơi kể trên không có vùng phi chiến! 

Đêm nơi vùng hoả tuyến với ánh sáng hoả châu Vùng phi chiến còn gọi là “Khu phi quân sự” nằm trên vĩ tuyến 17 (được biết nhiều trên quốc tế với tên gọi Khu phi quân sự Việt Nam, tiếng Anh: Vietnamese Demilitarized Zone – V-DMZ) là một khu phi quân sự được lập ra theo Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954, với mục đích ban đầu là một giới tuyến quân sự tạm thời ngăn cắt vùng tập kết giữa một bên là các lực lượng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với quân đội Pháp và các lực lượng đồng minh. Về nguyên tắc, khu phi quân sự này rộng 1,6 km (một dặm Anh) về mỗi phía tính từ bờ sông Bến Hải, bắt đầu từ biên giới Việt Nam – Lào cho đến bờ biển Đông. 
Tất cả địa danh được ghi trong bài hát đều là những địa danh chung quanh vĩ tuyến 17, ranh giới chia 2 VN năm 1954.
Đây vùng phi chiến
Nay thành khu chiếnTừ khi giặc tràn về Bao người dân trắng tay Mà vui ước hẹn đi theo lời thề Toàn dân thương Trung Lương Toàn quốc thương Gio Linh
                                             
VÙNG PHI CHIẾN= KHU PHI QUÂN SỰ ( K.P.Q.S)

Hình bên là vị trí của vùng phi chiến hay còn gọi là “khu phi quân sự” (Demilitarized Zone – DMZ) vùng có gạch sọc nghiêng.
Ngày 18 tháng 8 năm 1954, Ủy ban liên hợp Trung ương ra quyết định số 06/QĐ quy định về việc vạch giới hạn thực tế của khu phi quân sự (Demilitarized Zone – DMZ), về số lượng an ninh mỗi bên trong DMZ cũng như việc ra vào DMZ.

Ở đoạn giới tuyến quân sự trùng với sông Hiền Lương, mỗi bên sẽ chịu trách nhiệm đặt ở các địa điểm qua lại những tấm biển ghi bằng hai thứ tiếng Việt – Pháp: “Giới tuyến quân sự tạm thời Ligne de démarcation militaire provisoire”.                      

Vùng phi chiến ( cầu Bến Hải bờ nam)
Trên đoạn giới tuyến lên đến biên giới Việt – Lào, cứ độ một cây số lại có một dấu hiệu như trên, đặt ở những chỗ dễ thấy.

Ranh giới phía Bắc DMZ được giới hạn bởi:

– Một đường từ Đông sang Tây nối liền cửa sông phía Bắc sông Cửa Tùng tới làng Yên Du Bắc chạy thẳng qua làng Tân Trại Thượng và Liêm Công Tây đến mỏm 46. – Một đường ngăn đôi làng Liêm Công Tây và làng Đơn Thầm đi vượt qua quốc lộ số I ở chỗ chiếc cầu nhỏ cách 2,5km Đông Nam Đơn Duệ.  – Một đường đi theo đường ranh giới phân chia các làng Quảng Xá – Tiên Lai – Tiên Trạo ở phía Tây và các làng Phan Xá – Lê Xá ở phía Đông. Đường này vượt qua đường xe lửa rồi men theo phía Tây làng Thủy Ba Hạ, đi qua các mỏm 16 – 15 rồi gặp dòng sông Ngọn Đan, đi theo con sông đó đến tận nguồn, đi sâu vào miền núi qua các mỏm 52, 84, 145, 414, 776, 1023, 1254, 917, 1250, 700.
Ranh giới phía Nam DMZ được giới hạn bởi:
– Một đường đi từ bờ biển ở chỗ 281, 771 qua các mỏm 10, 5 và 23 đến sông Tân Yên. Từ sông Tân Yên chạy thẳng đến sông Cao Xá. – Đường ranh giới giữa các làng Trung Sơn, Gia Bình ở phía Nam và làng Đông Thị, Kinh Môn ở phía Bắc. – Dòng sông Kinh Môn giữa các chỗ 154 – 750 và 110 – 731. – Một đường nối liền chỗ 110 – 731 với con sông Khe Mước ở chỗ 189 – 715 bao  gồm các con sông Thanh Hương và Thanh Khê. – Dòng sông Khe Mước đến chỗ 050 – 690. – Một đường đi qua các mỏm 330, 360, 415, 370, 624, 705, 628, 815, 895, 808, 1028, 422.
Đường ranh giới phía Bắc và phía Nam của DMZ sẽ được đánh dấu trên địa hình bằng những cọc gỗ, đặt ở những địa điểm dễ nhận thấy, có ghi những chữ “K.P.Q.S” ở một mặt. 
Những chữ đó, chữ nọ đặt dưới chữ kia, viết bằng sơn xanh hoặc đen trên nền trắng. Cọc cao 1,7m, cắm cách nhau xa hay gần tùy theo địa hình (tối thiểu là 50m, tối đa là 300m). Ở những ngã ba đường quan trọng, các cọc đó sẽ được thay thế bằng những biển ghi những chữ “Khu phi quân sự”. Bắt đầu đến vùng rừng núi, phía Bắc từ Thủy Ba Hạ, phía Nam từ Thanh Khê trở lên đến biên giới Việt – Lào thì mỗi cọc cắm cách nhau chừng 1km.
Ở trên biển, DMZ là vùng giới hạn bởi hai đường ranh giới DMZ Bắc và Nam trên đất liền kéo dài và nghiêng 450 so với bờ biển.
Từ ngày 27 tháng 8 năm 1954, hai bên phải rút tất cả lực lượng, vật liệu, dụng cụ quân sự ra khỏi DMZ.

Trừ nhân viên của Ủy ban Quốc tế, các đội thị sát của Ủy ban quốc tế, Ủy ban liên hợp Trung ương, Ban liên hợp Bình Trị Thiên, các tổ liên hợp, nhân viên dân chính cứu tế và những người được phép riêng của Ban liên hợp Bình Trị Thiên, không một người nào dù quân nhân hay thường dân được vào DMZ cũng như vượt giới tuyến quân sự.
Trừ vật liệu dụng cụ quân sự cần thiết riêng cho lực lượng an ninh, không một thứ vật liệu, dụng cụ quân sự nào được mang vào DMZ.
Hai bên đều không được gây nên bất cứ một hành động xung đột nào trong DMZ, hoặc từ trong DMZ ra, hoặc từ ngoài vào DMZ và phải tránh mọi thái độ hay hoạt động có thể đưa đến xung đột
Toàn thể những người từ 17 đến 60 tuổi (trừ những người tàn phế) vẫn sinh sống hoặc được tạm thời ra vào trong DMZ phía Nam và phía Bắc giới tuyến quân sự đều phải có giấy chứng minh của chính quyền mỗi bên trong DMZ cấp cho, trong đó ghi rõ tên tuổi, nam hoặc nữ, địa chỉ và dấu tích đặc biệt, nếu có thể thì sẽ có ảnh. Những người có giấy chứng minh ấy mới được phép ra vào tự do DMZ.

Cũng theo quyết định này, việc bảo vệ Giới tuyến quân sự và DMZ sẽ do lực lượng công an và cảnh sát của hai bên đảm nhiệm. Mỗi bên có nhiều nhất là 100 người, kể cả cán bộ. Trang bị cho mỗi đội có 50% mang súng ngắn; số còn lại, 1/3 mang carbin, 2/3 mang tiểu liên, không có lựu đạn. Mỗi khẩu carbin hoặc tiểu liên có 200 viên đạn, mỗi súng ngắn 50 viên.

Để tạo thuận lợi cho kiểm soát Giới tuyến quân sự, quyết định trên còn quy định rõ 10 địa điểm nhân dân được phép qua lại, gồm có cầu Hiền Lương và 9 bến đò nối đôi bờ sông. Tại những nơi này, mỗi bên sẽ đặt các đồn hay trạm gác của mình để kiểm soát và những ai muốn ra vào DMZ phải có giấy thông hành do Ban liên hợp DMZ cấp, gồm ba loại:

a. Giấy thông hành vĩnh viễn để đi lại trong DMZ mỗi miền do cơ quan hành chính cấp cho dân trong DMZ của mình, tuổi từ 17 đến 60.
b. Giấy thông hành tạm thời để vào DMZ do Tiểu ban hỗn hợp DMZ cấp cho những người ở ngoài muốn vào DMZ trong một thời hạn nhất định.
c. Giấy thông hành đặc biệt để vượt tuyến do Tiểu ban hỗn hợp DMZ cấp.

Việc kiểm soát hoạt động ở DMZ sẽ do Tổ Quốc tế 76 thuộc Ủy ban quốc tế, gồm có đại diện 3 nước Ấn Độ, Ba Lan và Canađa phụ trách. Tổ có nhiệm vụ kiểm tra việc thi hành Hiệp định ở DMZ, có thể triệu tập Ban liên hợp DMZ họp nếu thấy cần thiết. Mỗi lần Tổ muốn đi kiểm tra ở đâu phải báo trước với Ban liên hợp DMZ và phải có đại diện Ban liên hợp đi theo để cùng giải quyết tại chỗ những việc xảy ra trong khu vực phụ trách.


Do thực tế trên nên ranh giới DMZ có độ rộng hẹp khác nhau. Chẳng hạn, cột ranh giới DMZ Bắc trên quốc lộ I chỉ cách cầu Hiền Lương 2,5km, ranh giới DMZ Nam ở Cao Xá (cũng trên quốc lộ I) cách cầu 4,5km và ranh giới phía sau làng Tân Trại cách sông hơn 6km.
.  Sau khi phân chia, DMZ Nam có xã Vĩnh Liêm (11 thôn, dân số 10.406 người) và một nửa xã Vĩnh Sơn (có những thôn: Tân Xuân, Võ Kinh Đồng, Tân Kinh Đồng, Tân Lập; dân số 2.861 người). DMZ Bắc có xã Vĩnh Giang hoàn toàn phi quân sự (8 thôn, dân số toàn xã: 4.557 người), một nửa xã Vĩnh Sơn (có các thôn: Cổ Hiền, Phan Xá, Lê Xá, Huỳnh  Thượng, Huỳnh Hạ, Tiên Cụ, Phước Sơn, Minh Đức; dân số 3.070 người), một số thôn của xã Vĩnh Tùng (Vĩnh An, Xóm Trăn, Xóm Chùa, Xóm Dâu, Tân Lý, An Bằng, An Ngãi, HọTây; dân số 3.607 người)
Những khu phi quân sự nổi tiếng trong lịch sử

1.Vùng Rhineland của Đức là khu phi quân sự sau Thế chiến thứ nhất theo Hiệp ước Versailles năm 1919. Rhineland bị nước Đức phát xít chiếm lại và bỏ tình trạng phi quân sự năm 1936.
2.Khu phi quân sự giữa Trung Hoa Dân Quốc và Mãn Châu: Quân đội Nhật Bản bắt đầu chiếm Mãn Châu từ tháng 9 năm 1931 đến tháng 2 năm 1932 và thành lập chính phủ bù nhìn cho vùng đất này. Tháng 5 năm 1933, Hiệp ước Tanggu giữa Trung Hoa và Nhật Bản xác định ranh giới giữa Mãn Châu với phần còn lại của lãnh thổ Trung Quốc là khu phi quân sự.
3.Các khu phi quân sự giữa Israel với Syria (ba vùng), giữa Israel với Ai Cập và giữa Israel với Jordan sau cuộc chiến tranh Ả rập – Israel, 1948.
4.Khu phi quân sự Vĩ tuyến 38 trên bán đảo Triều Tiên , nay vẫn còn tồn tại và luôn trong trạng thái chiến tranh .
5.Khu phi quân sự vĩ tuyến 17 trong Chiến tranh Việt Nam, lập ra theo Hiệp định Genève về Đông Dương năm 1954. Khu phi quân sự này rộng 1,6 km (một dặm Anh) về mỗi phía tính từ bờ sông Bến Hải, bắt đầu từ biên giới Việt Nam – Lào cho đến bờ biển Đông. 
Vùng phi chiến này bị cộng sản Bắc Việt chiếm đóng từ sau mùa hè đỏ lửa 1972. Lằn ranh mới giửa Bắc Việt và Nam VN được dời đến bờ bắc của sông Thạch Hản thuộc tỉnh Quảng trị. Tại đây có Uỷ Hội Quốc Tế đóng 2 bên bờ sông Thạch hản và cuộc trao trả tù binh vào năm 1973 được thực hiện tại hai bên bờ sông Thạch Hản. Người viết cũng từng có mặt trong ngày trao trả tù binh này. 
https://www.youtube.com/embed/McLr3up2Q1M?feature=player_embedded&wmode=opaque

Hình ảnh được người viết sưu tầm trên internet.
Trịnh Khánh Tuấn tổng hợp 23.8.2014 (Được bổ túc thêm ngày 11/7/2016)

Nguồn: http://vothilinh.blogspot.com/2016/07/tu-vung-phi-chien-vung-hoa-tuyen-co-ai.html?fbclid=IwAR2ffAJ__3ecg8u9QD0EVlb3GkRC0iX2QlFcfwjArz96AVuQz5VIFuvzDa4

Đối diện chiến xa địch – MX Văn Tấn Thạch

MX Văn Tấn Thạch

https://i1.wp.com/tqlcvn.org/images/td3-TQLC%20TRANS.gif

Sau khi Quảng Trị rơi vào tay địch, phòng tuyến Mỹ Chánh trở thành làn ranh tạm phân chia Nam Bắc, địch đã mở nhiều cuộc tấn công thăm dò vào vị trí của quân ta. Tôi còn nhớ một trong những trận đánh thăm dò lớn nhất của Cộng quân bằng chiến xa.

Chiều ngày 22/5/72 các tổ tiền đồn đã nhìn thấy thiết giáp địch ẩn hiện ở ven làng mạc về hướng Bắc của Mỹ Chánh. Trời càng về chiều chiến xa địch càng xuất hiện nhiều hơn, Pháo binh và phi cơ được gọi tăng cường tối đa, tuy nhiên có lẽ vì tấn công toàn diện nên hỏa lực yểm trợ của ta cũng bị giới hạn đáng kể. Mặt trời vừa sụp xuống là những chiếc T.54 đã vượt qua khỏi cánh B của Tiểu đoàn 3. Đại đội 3 hầu như tan rã, một số chạy dọc theo bờ sông về hướng phá Tam Giang, một số lội sông qua bờ hướng Tây với hy vọng gặp được cánh A, nơi Bộ chỉ huy đang bố trí ở làng Cổ Lũy cách dòng sông chừng một cây số. Ở đây, lực lượng chủ lực chính của Đại đội chỉ huy là Trung đội vũ khí nặng 81 ly mà lúc ấy tôi là Trung đội trưởng. Tôi lãnh phần trách nhiệm bố trí ở hướng Bắc và hướng Đông, phần còn lại là do các ban sở đảm trách, gồm có Quân y, Truyền tin, An ninh, các ban 1-5 cũng như Tiểu đội Biệt kích để bảo vệ Tiểu đoàn trưởng. Từ 9 giờ tối, không lúc nào tôi rời máy truyền tin, tôi liên tục điều chỉnh Pháo binh cũng như phi cơ quan sát.

Tiểu đoàn 3 TQLC và trận xa chiến dọc bờ sông Đông Hà hè 1972 – dòng sông cũ

Tiếng động cơ Thiết giáp ngày càng gần và hướng về phía chúng tôi. Tôi yêu cầu Trung tá Bình cho tiếp tục pháo dọc theo con đường mòn mà tôi đoán là chiến xa địch đang dùng để tiến quân. Địch áp dụng chiến thuật khá hiệu nghiệm là cho xe chạy chừng vài phút rồi ngừng lại, tất cả đều tắt đèn. Cứ mỗi lần nghe tiếng máy nổ tôi lại kêu Pháo binh, sau những loạt pháo như vậy chúng ngừng và sau đó lại tiếp tục. Càng về khuya tiếng động cơ càng gần và tôi lại yêu cầu Pháo binh. Đến 4 giờ sáng, chiến xa địch bắt đầu đi ngang qua tuyến của tôi. (Ngay từ buổi chiều tôi đã trang bị cho tất cả binh sĩ, mỗi người 2 quả M.72 chống chiến xa, riêng tôi có một cây 2O2, loại súng có 4 viên đạn mà chúng tôi được trang bị từ ngày ở Hạ Lào về). Chúng tôi đợi chiếc thứ nhất, nhì… rồi đến thứ năm thì bắt đầu khai hỏa. Quả đầu tiên tôi bắn ra đúng ngay vào pháo tháp của chiếc T.54 thứ ba, xe ngừng lại lửa bốc cháy rắc rắc. Liền sau đó tất cả binh sĩ đều hành động, những vệt sáng vụt bay ra, trái trúng trái trật. Tôi cũng hứng thú bắn thêm hai quả nữa, 3 chiếc T.54 nằm ụ tại chỗ, anh em lên tinh thần lắm nhưng giây phút vui mừng đó lại tan nhanh vì mỗi anh chỉ có 2 quả và đã xài hết rồi ! Về phía Cộng quân, có 2 chiếc không bị trúng đạn quay đầu vào tuyến đóng quân, mười mấy chiếc chạy sau cũng chuyển hướng dàn hàng ngang ủi đại vào vị trí của ta. Lựu đạn nổ vang rền, những tràng đại liên từ trên pháo tháp của tăng địch…sáng rợp trời đêm có lẽ cũng làm khiếp sợ một ít binh sĩ không có kinh nghiệm. Hai tăng địch đã vào đến Bộ chỉ huy Tiểu đòan, ủi sập các hầm hố cá nhân, cày nát lều chõng, mọi người đều chạy thoát thân. Phần tôi và các binh sĩ vẫn nằm yên tại chỗ, lúc này đã có hơn 1O chiếc tăng khác tràn vào tuyến. Đến đây lính tôi thực sự tan hàng, keœ chạy ra người chạy vô, tôi không còn kiểm soát được ai cả. Cầm máy truyền tin trong tay, tôi áp sát vào tai nghe lệnh Đại bàng Bắc Giang (Tiểu đoàn trưởng):

– Thạch Thảo, Thạch Thảo, nghe rõ trả lời.

– Thạch Thảo tôi nghe đây.

– Bây giờ anh ở đâu ? Phải cho con cái cố thủ.

Tôi vội vàng trình Bắc Giang là tôi vẫn cố thủ ở đây. Bắc Giang tiếp:

– Bây giờ anh cần gì ?

– Xin Đại bàng cho T.O.T vào ngay trên đầu tôi.

T.O.T là danh từ mà chúng tôi thường dùng để gọi Pháo binh bắn tiêu diệt một vị trí nào đó. ở bên kia đầu máy Bắc Giang la lớn:

– Không được, không được, như vậy mình sẽ chết cả lũ !

Tôi đáp gọn:

– Không còn cách gì khác hơn, bọn nó đã tràn ngập cả rồi.

Sau đó tôi nghe tiếng xè xè trong máy rồi im bặt. Trong khoảnh khắc đó, một chiếc T.54 lù lù bò đến cách tôi chừng 1O thước. Cầm cây 2O2 trong tay với viên đạn cuối cùng, tôi từ từ đưa súng lên vai định bóp cò. Tôi biết đây là giây phút cuối cùng của đời mình, vài phút ngắn ngủi nữa tôi sẽ ra sao, hồn tôi sẽ về đâu, ôi cuộc đời của một người lính chiến… Một ý nghĩ thoáng qua đầu tôi rất nhanh, tôi tự biết rằng với khoảng cách quá gần như thế này, khi quả đạn được bắn ra cho dù địch không bắn lại, mình cũng bị sức dội của trái đạn làm cho mất mạng. Những tràng đại liên sáng ngời nhả từ xe tăng địch đã vô tình làm cho tôi hủy bỏ ý định trên. Tôi vội vàng cúi người xuống ẩn mình vào bức tường đổ nát. Trời hãy còn quá tối, bởi vậy mà bọn chúng không nhìn thấy tôi. Những tiếng chưœi thề từ trên xe tăng lẫn tiếng xích sắt nghiền trên nhà, và chiếc T.54 từ từ chạy ngang chỗ tôi nấp không đầy 2 mét. Sau khi chiếc tăng đã qua, tôi để cây 2O2 xuống rồi đi bọc ra sau, tại đây tôi gặp Trung sĩ nhất Hạnh đang loay hoay không biết chạy hướng nào. Tôi bảo anh theo tôi, hai thầy trò men theo bờ tre, đi một đoạn chúng tôi đã ra khỏi làng. Tôi ngồi sát xuống đất quan sát thì thấy một dọc dài, định thần nhìn kỹ hơn thì ra cả Tiểu đoàn đều có mặt tại đây. Tôi đi nhanh về phía trước và gặp Tiểu đoàn trưởng, cố vấn Mỹ, ban 3, cùng các sĩ quan các ban khác… có tiếng máy xì xào của anh cố vấn Mỹ có lẽ để xin cứu nạn. Tôi nói với Trung tá Bình: “Đại bàng phải tìm cách chứ ngồi đây là bị bắt cả đám, tụi nó sắp ra tới nơi rồi !”. Đại úy Bằng nhanh miệng bảo tôi mở đường lẹ lên. Mọi người bắt đầu di chuyển, theo sát tôi có Đại úy Bằng ban 3, Thiếu úy Chánh ban 5, Trung úy Hào ban 2. Phần còn lại đi chung với Tiểu đoàn trưởng, trong đó có anh Các, Trung đội trưởng Trung đội truyền tin, người bạn chí thân của tôi. Đi được một khúc, tôi lủi vào bụi tre trải vội tấm bản đồ, ba bốn anh em khác ngồi lại che khuất ánh đèn Pin.

Tôi quyết định mở đường đi ngược về hướng Bắc để trở ra đồng trống, và may mắn thay tôi đã tính đúng đường nếu không là chúng tôi đã bị bắt sạch vì ngoài Thiết giáp địch còn bố trí Bộ binh cùng khắp các lũy tre quanh làng. Đoàn người nối đuôi theo sau, tôi chợt nghe tiếng AK nổ dòn, Bộ binh địch đã cắt đứt Tiểu đoàn ra làm hai. Trên 5O người theo tôi tiếp tục di chuyển, phần còn lại bị đánh ngược qua một bên, sau đó tôi không liên lạc được với họ nữa. Những loạt AK vừa rồi đã lấy đi sinh mạng của anh Các bạn tôi, (anh xuất thân từ Hạ sĩ quan Hải quân, được đi học khóa Sĩ quan Thủ Đức đặc biệt. Các về Tiểu đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến làm sĩ quan Truyền tin sau một thời gian thụ huấn tại trường Truyền tin Vũng Tàu. Tôi và Các xem nhau như anh em ruột thịt, nhớ lại những ngày đơn vị cắm trại 1OO% mà tôi và Các vẫn ung dung ở Sài Gòn vì chúng tôi tìm đủ mọi mánh khóe để có thể ra khỏi trại mà ít ai trong bạn bè làm được). Theo lời kể lại, anh Các chỉ la được hai tiếng “chết tôi” rồi ngã quÿ, mọi người chạy tán loạn. Sáng hôm sau, Tiểu đoàn trở lại vị trí cũ nhưng không tìm thấy xác anh đâu cả. Sau này mỗi lần về thăm gia đình anh Các, vợ anh cứ nài nỉ tôi nói cho chị biết là anh Các còn sống hay đã chết, tôi chỉ biết xoa đầu đứa con gái anh mà nước mắt như muốn tuôn ra.

Trở lại câu chuyện tôi dẫn đầu toán 5O anh em gồm đủ mọi thành phần của Đại đội Chỉ huy, trời lúc đó đã bắt đầu sáng hẳn, chúng tôi nhìn thấy rõ chiến xa địch bao quanh làng cùng lính bộ đội đông nghẹt. Bên ta kiểm điểm lại quân số có 52 người, trên phân nửa không có súng hoặc có súng mà không còn đạn. Tôi chia ra từng toán nhỏ, kẻ có súng bảo vệ người tay không rồi bắt đầu đổi hướng về phía Phá Tam Giang. Nhờ còn vững tinh thần nên trên đường đi chúng tôi đã đẩy lui được nhiều tổ đóng chốt của quân Bắc Việt. Đến 3 giờ chiều cả toán quân đều mệt lã vì di chuyển chậm chạp và địa thế khó khăn, toàn đồng ruộng sình lầy. Toán đi đầu phát hiện ở trước mặt có một đoàn quân đang di chuyển về hướng chúng tôi và phỏng đoán cở trên 1OO người, một số anh em tưởng đó là đơn vị bạn ra tiếp viện cho chúng tôi, nhưng tôi dè dặt bảo anh em nên cẩn thận. Lúc này hệ thống truyền tin coi như không có, vì sau một thời gian cố gắng liên lạc với Tiểu đoàn mà vô vọng, anh lính truyền tin đã xin được ném máy xuống nước cho đỡ nặng. Hai toán quân ngày càng gần nhau , tôi ra hiệu cho tất cả dừng lại, quan sát kỹ thì đó là quân chính quy Bắc Việt. Một màn đánh giặc mồm xảy ra thật là ngoạn mục, chúng tôi la lớn: “Đứng lại ! tất cả bỏ súng xuống, đầu hàng thì sống chống lại thì chết !”. Bọn Việt cộng bắt đầu nhả đạn về phía chúng tôi, những trái B.4O, B.41 không có công hiệu gì cho một trận đánh như thế này, đạn rơi xuống nước nổ nghe xèo xèo. Đổi lại ta cũng tặng cho chúng mấy quả M.79 nổ vang trời, cả đoàn quân của chúng nhào xuống mé sông cố thủ. Đại uý Bằng dẫn đám lính tay không vừa hô xô phong vừa rút lui, hai bên chửi nhau inh ỏi. Sau đó mạnh ai nấy đi, sau này mỗi lần nghĩ lại trận đánh giặc mồm đó, tôi cứ cười thầm một mình. Mãi đến gần 7 giờ tối chúng tôi mới về được đơn vị, và đến lúc này tôi mới hay tin người bạn thân thiết của mình đã ra người thiên cổ.

Nguồn: http://tqlcvn.org/chiensu/cs-td3-doidien-chienxa-dich.htm

Bom bê, Tóc thề và Trái Ô Môi – Bùi Huyền Trân

Bùi Huyền Trân

Ô môi rụng cánh ngoài sân

Mấy mùa hoa nở mấy năm đợi chờ

Ô môi rụng cánh tơi bời

Chuông tắt lâu rồi, rồi còn đứng mong ai ?(Viễn Châu-Vọng cổ : Bông Ô môi)
Cây ô môi  (Cassia grandis)

  • Ô môi và tuổi thơ

   Cô bé Bom bê, học trường Tiểu học “Đồ Chiểu’ nhớ lại những ngày mặc quần.. phồng tập thể dục tại Ngôi trường nhỏ tuy trên đường Nguyễn đình Chiểu Tân Định nhưng hai cổng vào lại trên đường Hai bà Trưng  (qua một ngõ hẻm lớn) và Huỳnh Tịnh Của, kể lại  (riêng cho Bùi Huyền Trân) về.. Ô môi :

“..trên con đường đi học về, Bé thường ngắm hoa ô môi ở trong sân ngôi biệt thự đối diện với Cô Nhi viện An Lạc. Hoa ô môi có màu hồng đẹp lắm! Sau khi hoa tàn thì có trái ô môi màu đen treo lủng lẳng đầy cành..Phía sau trường Đồ Chiểu và ngay bên hông sân trường có bán trái ô môi, chặt thành khúc khoảng một gang tay, người bán chặt hai bên mặt trái ô môi, chừa hai bên hông để giữ những miếng ruột của trái ô môi lại.. Khi mua khúc ô môi, muốn lấy khoanh ruột ô môi ra ăn Bé phải lấy tay bóp chặt vào hai phần vỏ bên hông làm những khoanh ruột lệch xéo đi cho dễ lấy bỏ vào miệng..”

“.. con nít mà cái gì cũng gặm cũng ăn được. Ruột trái ô môi có chút vị ngọt, nhai rồi nhả xác, mùi vị như thuốc bắc, đâu có ngon lành gì..vậy mà lúc bé, thời Tiểu học..Bom bê cũng từng nếm qua”..

   Bé Bom bê sau thời Tiểu học trở thành Nhỏ Gia Long rồi Nhỏ GL trở thành cô giáo.. Cô giáo may mắn được trở lại trường xưa. Nhưng rồi dòng đời đưa đẩy, cô giáo trở thành dân tỵ nạn và hiện cô bé Bom Bê ngày xưa ấy đang sống bên trời Âu..              Bùi Huyền Trân  gửi bài này tặng Bé Cưng..

Trái ô môi 

  • Ô môi .. vài nét văn hóa ..

  “Nếu làng quê miền Bắc với hình ảnh cây đa-giếng nước-mái đình đã trở thành biểu tượng thì..cây ô môi và bến sông mênh mông cũng trở thành một phần của miền Tây, nhắc nhở những người con tha phương không quên nổi ký ức của mình.”

  Một điểm khá thú vị là Cây Ô môi được xem là cây hoa “anh đào’ miền Tây vì cây trổ những chùm hoa màu hồng tím chen kín các cành cây.. đẹp tựa anh đào Nhật đã được gây trồng tại Cố đô Huế : trên đường Phan Chu Trinh dọc bờ sông An cựu và tại Cồn Dã Viên và rải rác trong các công viên Huế..Ô môi miền Nam chắc chắn sẽ không gây hại tại Huế như hoa Sữa Hà Nội gây thảm họa cho người.. Đà Nẵng năm nào !

Hoa Ô môi ..mang một vẻ đẹp bình dị mà sâu sắc.. là loài hoa dân dã, hoa Ô môi dịu dàng, e ấp; đằm thắm như thôn nữ, nên ai ngắm nhìn cũng say mê..(Phan Bá Lương)

Theo ‘ngôn ngữ’ của Hoa thì :“Hoa ô môi được mệnh danh là Hoa tình yêucủa người con gái thủy chung son sắt. Những chùm hoa ô môi hống thắm được ví như nét đẹp tinh khôi, nhẹ nhàng của người con gái. Họ có một tâm hồn vô cùng thuần khiết và khi yêu thì yêu hết mình, luôn lo lắng và muốn dành những điều tốt đẹp nhất cho người mình yêu “ (hoatuoi9x.com).

  Miền Tây (thường dùng để gọi vùng đồng bằng sông Cửu Long) có những trái cây bình dị  đi vào văn hóa dân gian, tạo chủ đề cho các bài hát, câu hò, cải lương như bình bát, trâm bầu, cà na..và đặc biệt là.. ô môi.

Tên gọi Ô môi cũng thật lý thú:

    Dân gian giải thích : Ô là đen và môi.. là môi nơi miệng : Khi ăn quả ô môi, môi người từ hồng đỏ chuyển sang đen thẫm .. nên gọi là Ô môi,  vì “làm đen cái môi” ? Người khác (?) lại cho rằng : trái ô môi cả tấc, cong  bên trong chứa nhiều ô, mỗi ô là những miếng ‘môi cơm’.. vậy phải gọi là.. ô môi ? (ô chứa cơm)

   Có  khá nhiều bài thơ, bài văn và những bài hát về Ô môi nhưng đặc sắc nhất vẫn là những bài Vọng cổ, Tân cổ ‘giao duyên’

 Bài tân nhạc “Bông Ô Môi “của Nhạc sĩ Sơn Hạ có những lời khá thấm thía , tha thiết.

  “Bông ô môi rơi đầy trước ngõ / Bao kỷ niệm về tiềm thức trong tim

   Mới Hôm nào ta dìu chung lối hẹn /Bông ô môi tình ta khắc đậm tên nhau..”

Nhưng.. Hoa Ô môi tuy làm chứng lời hẹn nhưng cũng nhìn cảnh.. ly biệt

   “Bông ô môi rơi đầy trước ngõ / Theo gió chiều trôi cuốn tình ta

    Bông ô môi còn đây bao nỗi nhớ / Với cơn mưa chiều se buốt lạnh hồn tôi”Nhiều Nhà Thơ cũng có nguồn cảm hứng khi ngắm Hoa Ô môi :

  • Nhà thơ Phú Sĩ (Chuyện tình Hoa Ô Môi ) :

Nụ hôn đầu đời /Ai bảo nó chẳng say

Thắm mùi Ô Môi những ngày hoa khoe sắc..”và:  “Mỗi mùa Ô môi .. có một người thương nhớ ?”

  • Nhà thơ Nguyễn văn Kỷ  (Bông Ô Môi)

“Ô môi hồng một góc trờiLong lanh đôi mắt ai ngồi bên song “  Song cửa trời Âu, và balcon căn apartment chỉ thấy hoa tilia vàng ? chợt nhớ Mộng dưới hoa ..

  • Vài điều về Ô môi
  • Nguồn gốc

Ô môi có nguồn gốc tại Trung, Nam Mỹ Châu từ Mexico xuống Brazil, có mặt cả trong vùng Caribbean, tại các hải đảo như Cuba, Hispaniola và Puerto Rico. Cây có lẽ phát xuất từ lưu vực sông, trong các khu rừng có thổ nhưỡng khô, vùng Amazon , tại ven sông và các vùng thường bị lụt..Cây sau đó được du nhập vào nhiều quốc gia nhiệt đới Á châu (bao gồm Đông Dương), Indonesia và Mã Lai..

  • Đặc điểm thực vật

Tên khoa học : Cassia grandis, họ thực vật Fabiaceae

Tên địa phương : Anh-Mỹ : Pink shower ; Pháp : Casse, casse espagnole

Thái : kanpaphruek Lào : brai xiem, may khoum ; Khmer : Sac phle

 Cây theo Viện Dược liệu VN còn được gọi là Canh ki na Việt Nam; Cốt khí, Bò cạp đỏ..Mô tả cây : Xin dùng tài liệu chính thức của các Nhà Khoa học VN (Viện Dược liệu CHXHCNVN) trong Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam”; Tập II, trang 495.“ Cây gỗ to, cao 10-12m. Cành non có lông màu gỉ sắt, cành già nhẵn màu đen. Lá kép lông chim chẵn mọc so le, gồm 11-13 đôi lá chét mọc đối.   Cụm hoa mọc ở kẽ lá đã rụng, thành một chùm dài, hoa màu hồng tươi.   Quả hình trụ, cong như lưỡi liềm, dài 40-60cm. đường kính 3-4cm; vỏ ngoài màu nâu đen, có ngấn ngang chằng chịt, bên trong có 50-60 ô, mỗi ô chứa một hạt dẹt, quanh hạt có một lớp cơm màu nâu đỏ hay nâu đen, mềm, vị ngọt, mùi hắc, ăn được..”Xin ghi thêm các nhận xét dân gian :

  • Hoa ô môi được mệnh danh là hoa đào của Việt Nam :

“Khi gió bấc về lành lạnh cũng là lúc cây ô môi rụng hết lá và bắt đầu trổ bông. Từng hàng cây sẽ trút hết lá và bắt đẩu đơm thành những chùm hoa hồng phấn tạo thành cả vùng trời đẹp ngất ngây.” (Phan Thùy Linh).

Mỗi chùm hoa dài 10-25 cm, mang 20 đến 40 hoa. Hoa to chừng 3cm, có 5 lá đài (sepal lớn màu hồng-lavender nhạt và 5 cánh hoa (petal) hơi tròn, màu hồng đào. Hoa khi mới nở màu đỏ, nhạt dần sang màu hồng và sau đó chuyển sang cam.. Hoa có 3 nhị hoa (stamen) lớn, bao bọc quanh bên hông bằng các nhụy hoa (pistils) cong..

  • Trái được thu hoạch bằng cách dùng câu liêm (loại sào tre dài khoảng 5m trên có gắn lưỡi hái)
  • Vị trái ô môi ngọt, chát chát, khăm khẳm như mùi nước mắm (?)
  • Mùi của trái được cảm nhận khác nhau: từ thơm tới hôi rất khó xác nhận : mùi có thể bị cho khó ngửi như mùi hôi của chân (stinky toes), thơm thoảng xô cô la (?).
  • Trong ô môi có gì ?

    Tài liệu Việt Nam ghi Ô môi có thành phần hóa học đa dạng và phong phú :

Cơm quả có đường glucose, fructose, tanin, saponin, chất nhày, cancium oxalate, anthraglucoside, tinh dầu, chất nhựa, sáp..

Hạt : chất béo, còn có flavonoids, polysaccharide..

 : anthraglucoside và flavonoid

Vỏ cây : tanin   Nhiều hợp chất loại Anthraquinones đã được phân lập từ trái ô môi gốm catechin, myristicin cùng các hợp chất phức tạp như kokusaginin, fabioline..

 Lá cây ô môi 

                                                   Trái ô môi xanh

                                                    Trái ô môi khi chín

Hạt ô môi
   Các nhà nghiên cứu Trung Mỹ ghi :

  • Trong trái ô môi có các triterpen và steroid, tinh dầu căn bản, đường ‘khử’ (reducing sugars), amino-acid, amines, saponins, polysaccharides và glycosides.
  • Các khoáng chất :  potassium, magnesium, cobalt, nickel..

     (Trong sách của Viện Dược liệu VN có ghi ‘công thức hóa học’ của các hợp chất.. ) 

  • Công dụng :

Ô môi làm.. thuốc ?Ô Môi được dùng phổ biến làm thuốc dân gian tại các vùng Nam Mỹ , và khi du nhập vào Đông Nam Á (Việt, Cambodia) cũng dùng làm thuốc Nam. Tuy nhiên , chỉ nên xem ô môi như ..thực phẩm ăn ‘thêm’ (thức ăn bổ túc có lợi ‘chung’ cho sức khỏe).

  • Thuốc dân gian Nam Mỹ;

– Nước sắc từ  dùng làm thuốc sổ và trị đau lưng, trị chảy máu cam, bệnh gan, bệnh đường tiểu..

– Nước ép  lá tươi dùng thoa ngoài trị hắc lào (ringworm), herpes, giòi ăn..

– Lá tươi giã nát, trộn mỡ heo thắng, thành thuốc mỡ thoa trị các bệnh ghẻ, lở chóc ngoài da.

–  Nước sắc từ rễ dùng rửa trị lở loét, vết thương lâu lành

– Ô môi, được ‘tin ‘theo cha truyền con nối’ là.. trị thiếu máu (nhưng phân chất lại không thấy có chứa Sắt ?)

  • Thuốc dân tộc Việt

  Vì Ô môi là cây du nhập từ Trung Mỹ, người Tàu theo Thuốc Cổ truyền không có vị thuốc này, nên các cách dùng ô môi trị bệnh hoàn toàn là thuốc Nam.

      Theo Viện Dược liệu VN :

– Quả ô môi được dùng sống chữa táo bón, liều 4-6g, có tác dụng nhuận tràng và liều cao hơn.. gây tẩy sổ- Cơm trái ô môi ngâm rượu làm thuốc bổ, kích thích tiêu hóa, chữa đau lưng nhức mỏi, hiệu quả tốt đối với người cao tuổi và phụ nữ mới sanh.- Lá ô môi tươi, rửa sạch, giã nát..chà xát nơi bị hắc lào, lở ngứa.

    Sách Cây có vị thuốc ở Việt Nam của GS Phạm Hoàng Hộ ghi :“Cơ quan khí sinh chứa emodin, centaureidin, catechin, myristicin, b-sitosterol..Lá, nạc quanh hột (có mùi nước mắm), hượt hay xổ” (trang 204).

  • Thuốc dân gian Á châu :

– Ấn và Indonesia dùng nước sắc thân trị bệnh ngoài da, rễ trị nóng sốt

– Philippines dùng lá đắp trị nấm lác

– Cambodia, vỏ thân được giả nát, đắp trị rắn và bò cạp cắn.

  •  Ô môi thuốc chính thức tại Cuba :

  Tại Cuba, Ô môi hay can~andonga là một cây thuốc chính thức ghi trong Formulario Nacional de Fito y Apifármacos (FNFA 2010) của Bộ Y Tế Cuba. Bộ Y tế Cuba cũng ghi công thức pha chế một loại sirô thuốc ô rô, nhưng bị dân chê là không uống nổi (tuy dựa theo công thức dân gian).

  • Tác dụng trị nấm gây bệnh : Dịch chiết bằng methanol từ lá và vỏ có hoạt tính (in vitro) trị các nấm Epidermophyton floccosum, Microsporum gypseum và Trichophyton rubrum//
  • Giúp hạ đường trong máu : Thử nghiệm dùng nước chiết chồi cây (stem) bằng ethanol ghi nhận các kết quả tốt trên các thử nghiệm dung nạp glucose (thử trên chuột); thử nghiệm trên chuột bị gây bệnh tiểu đường bằng alloxan cho kết quả giúp hạ đường rõ rệt.
  • Chống sưng và giúp giảm đau. Nước chiết từ lá bằng methanol cho các kết quả tốt khi thử trên chuột bằng các thử nghiệm căn bản như để chuột trên dĩa nóng,  đo độ vặn mình của chuột khi chích cho chuột acid acetic..

             (Theo Revista Cubana de Plantas Medicinales 2014; 19 (1): 21-28 )Ô môi trong  nông-công nghiệp (theo Agroforestry)

Gỗ thân Gỗ ô môi có thể dùng trong xây dựng : cột, kèo nhà, vật dụng mộc nội thất..Gỗ màu nâu-vàng, khá cứng và nặng, thớ thô, nhưng không bền..

Chất đốt : gỗ làm than và củi đốt rất đượm lửa.Thức ăn độn cho gia súc.Trâu bò ăn được quả khô.
Nhựa (Gum) và resin : Hạt cung cấp chất gôm có thể dùng làm chất ‘kết dính’ (binder ) làm thuốc viên nén (tablet) trong kỹ nghệ dược phẩm. Hạt chứa khoảng 50% một chất gôm (nội bào=endosperm) [ô môi thu hoạch tại Ấn chứa khoảng 34% gôm] có thể trở thành một nguồn nguyên liệu về các loại gôm lấy từ hạt thực vật. Galactomannan này ( sau khi tinh khiết hóa có tỷ lệ mannose/galactose là 3:15, phân tử lượng 80,200 Da, có độ nhớt (viscosity) 848mL/g) thích hợp cho các công nghiệp thực phẩm, thuốc và mỹ phẩm và phổ biến hơn là công nghiệp giấy, vải sợi.

  Ô môi được dùng làm cây trang trí nhờ hoa đẹp ven đường  như tại An giang (Vĩnh Trạch), Cần Thơ..; Có thể  trồng như hàng rào thiên nhiên ; Cây được trồng giúp tái tạo các vùng bị lụt vì mọc khá nhanh, tạo rừng

  • Ô môi làm món ăn
  • Vùng Trung-Nam Mỹ :

Ô môi làm nước giải khát : Tại Belize (Trung Mỹ) Ô môi hay Carao được chế biến thành món uống rất thông dụng . Cơm trái ô môi (pulp) và hạt được nấu trong 20 phút, tạo một dạng nước sắc, màu nâu sệt như kem, gọi là ‘sữa’, sau đó làm đông lạnh và uống giải khát. Carao milk (leche con carao)  có mùi giống pho-mát và vị.. thuốc cây cỏ rất rõ.

  • Miền quê  Nam bộ :

– Chè hạt Ô môi :

Theo Phan Thùy Linh (Hương sắc Miền Tây) :“Hạt ô môi màu hồng nhạt, cỡ đầu ngón tay, thường đính kèm bên trong múi ô môi. Sau khi ngâm nước cho vỏ mềm rồi lột sạch thì cứ cho vào nấu cùng dừa.. Món chè này rất thơm và có độ bùi béo nhai ‘đã miệng”.Xin ghi một ‘recipe’ nấu chè .. hạt ô môi (của Ông Hai Miệt Vườn (Dân Việt).

“Khi ăn ô môi, hạt lấy ra rửa sạch, để ráo nước, cho khô..lúc nấu chè, ngâm lại hạt trong nước nóng. Để cả đêm cho hạt mềm. Dùng mũi dao nhọn tách bỏ vỏ hột và cả nhụy bên trong. Cơm hột có màu trắng đục rửa qua nước lã cho sạch.. Để ráo..Đậu xanh nguyên hạt cho vào cối, xay bể đôi, rồi ngâm hơi lâu với nước lạnh cho tróc vỏ..Bắc nồi lên bếp, bỏ ít lá dứa vào nấu cho ra nước vừa lấy màu xanh, vừa tạo mùi thơm. Sau đó vớt lá dứa ra, cho đậu xanh vào nấu đến nhừ, trút cơm ô môi vào.. dùng vá đảo đều.. Cuối cùng thêm mấy thẻ đường thốt nốt, nước cốt dừa xiêm vừa đủ .. độ ngọt béo. Thế là.. xong ?

Chè hột ô môi đậu xanh

                                                               Bùi Huyền Trân (10/2021

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Chuyện một Phu nhân Tổng thống từng là dân Ông Tạ vừa ra đi và “Bệnh viện Bà Thiệu”

  • Cù Mai Công
    18 tháng 10, 2021

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và phu nhân cắt băng khánh thành bệnh viện Vì Dân – Ảnh tư liệu

Bà Nguyễn Thị Mai Anh, Đệ Nhất phu nhân của nền Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975) Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu vừa qua đời bên Mỹ ngày 15 Tháng Mười 2021, tại nhà người con trai lớn Nguyễn Quang Lộc ở miền Nam California. Đúng 20 năm sau khi ông Thiệu ra đi (29-9-2001). Bà sanh năm 1931, mất 2021. 90 tuổi, kể cũng đại thọ.

Bà Mai Anh dân Mỹ Tho, Tiền Giang, vùng đất ít nhất đã có hai Hoàng hậu (Từ Dũ, Nam Phương – cùng ở Gò Công) vợ ông cựu chủ tịch nước Tôn Đức Thắng là Đoàn Thị Giàu (Châu Thành), cũng là dân Tiền Giang.

Vợ chồng ông Thiệu từng có lúc là dân vùng ven Ông Tạ trước 1963, khi ông ở cấp tá. Nhà ông bà trong khu cư xá sĩ quan Trần Hưng Đạo gần đầu đường Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai). Đây là khu cư xá sĩ quan đặc biệt, cấp tướng tá; đi bằng cổng riêng đối diện đường Trương Quốc Dung (nay là cổng vào khu tiêm chủng VNVC). Khu cư xá mini này có hai khu nhỏ: Sát hàng rào song song Võ Tánh (nay là Hoàng Văn Thụ) là khu cấp tá (bây giờ là khu khai thác các dịch vụ). Sâu chút xíu, xéo một chút, đối diện khu cấp tá bên ngoài là khu dành cho cấp tướng.

Hồi Mậu Thân 1968, lực lượng biệt động thành từ đường Trương Quốc Dung đã tấn công vào Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa theo cổng vô khu cư xá này, nhưng bị chặn từ vòng ngoài.

Khu cư xá này chỉ vài chục căn xây dựng từ thời Pháp, không rộng lớn như cư xá sĩ quan Chí Hòa (nay là cư xá Bắc Hải). Một số tướng tá nổi tiếng của Việt Nam Cộng Hòa ở đây trước 1963. Trong đó có tướng Trần Thiện Khiêm. Nhà Đại tá Thiệu gần nhà tướng Khiêm; hai người khá thân nhau từ đó cho đến khi cùng chung một chuyến bay rời Sài Gòn sang Đài Bắc (Đài Loan) đêm 25 rạng 26 Tháng Tư 1975. Khi đó, ông Khiêm là Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa.

Khu vực Bảy Hiền năm 1966/1967 với chú thích hiện nay – Ảnh tư liệu CMC.

Hai ông chồng thân nhau thì hai bà vợ cũng cặp kè nhau. Khi còn ở khu vực “ngoại ô” Ông Tạ, hai bà thường mặc áo bà ba hơi bó, ngồi chung một xích lô đạp đi chợ Ông Tạ, ngang qua nhà tôi.

Hai bà thân thiết đến mức năm 1972, một người Mỹ làm việc tại Việt Nam đã xin phép lấy tên bà Nguyễn Thị Mai Anh đặt cho một giống lan: Brassolaeliocattleya Mai Anh. Còn bà Đinh Thúy Yến (phu nhân Thủ tướng Trần Thiện Khiêm): Brassolaeliocattleya Dinh Thuy Yen.

Sau cuộc đảo chính 1 Tháng Mười Một 1963, lật đổ nền Đệ nhất Cộng Hòa, hạ sát Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu, một số tướng tá không ở đây nữa mà tản đi khắp nơi. Chẳng hạn gia đình ông Khiêm mua một khu đất gần nhà thờ Ba Chuông (Đa Minh) xây một hơi mấy căn nhà lầu liền nhau.

Vợ ông Khiêm tên Đinh Thùy Yến. Chị ruột là Đinh Thùy Thanh cũng ở đó (sau 1975 là trụ sở Công an quận Phú Nhuận, hiện là một cao ốc), có lẽ cho tiện việc làm giám thị trường trung tiểu học Tân Sơn Hòa trước 1975 (nay là trường Ngô Sĩ Liên, Tân Bình). Con gái lớn của cô Thanh là Thanh Loan cũng là giáo viên Ngô Sĩ Liên đến lúc đi định cư ở Mỹ.

Gia đình ông Hoàng Đức Nhã, em hay cháu ông Thiệu gì đó ở cư xá Ngân hàng, đối diện trường Ngô Sĩ Liên cho đến tận 1975. Năm 1968, ông Nhã Bí thư kiêm Tham vụ Báo chí (Press Secretary) cho ông Thiệu. Từ Tháng Tư 1973 đến 1975, ông làm Tổng trưởng Dân vận và Chiêu hồi.

Từng là cư dân khu “ngoại ô” Ông Tạ nên có lẽ đây là một trong những lý do mà sau này bà Thiệu nhận đỡ đầu trường Quốc gia Nghĩa tử trên đường Võ Tánh (nay là trường cao đẳng Lý Tự Trọng trên đường Hoàng Văn Thụ, Tân Bình).

Một Hiệu trưởng trường Quốc gia Nghĩa tử là dân Ông Tạ 100%. Đó là ông giáo Cảnh, giáo dân xứ Sao Mai; nhà ở và mở trường Fatima trên trục đường Thánh Mẫu (nay là Bành Văn Trân). Ông giáo cùng quê Sơn Tây với ông Nguyễn Cao Kỳ. Khi làm chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung Ương của Việt Nam Cộng Hòa năm 1965, ông Kỳ đã bổ nhiệm ông giáo Cảnh làm Hiệu trưởng Quốc gia Nghĩa tử.

Bà Thiệu khi cắt băng khánh thành bệnh viện Vì Dân đang trò chuyện với một bà Bắc 54 (vấn khăn) trong khu vực – Ảnh tư liệu, chú thích của tác giả.

Năm 1971, 1972, hai bà Thiệu và Khiêm lại nắm tay nhau xây dựng cùng lúc hai công trình: Bệnh viện Vì Dân (nay là bệnh viện Thống Nhất, ngã tư Bảy Hiền) và dãy nhà ba tầng trường Tân Sơn Hòa.

Dãy nhà ba tầng ở trường Ngô Sĩ Liên mới tháo dỡ xây mới hồi Tháng Chín 2020. Còn bệnh viện Vì Dân tới giờ vẫn là bệnh viện hiện đại dành cho cán bộ trung cao cấp, dân các tỉnh phía Nam và khu vực lân cận; đồng thời làm nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe Trung ương.

Bệnh viện này xây hầu như cùng lúc với trường Tân Bình (nay là Nguyễn Thượng Hiền) tôi học trước và sau 1975. Hai công trình đối diện nhau hai bên ngã tư Bảy Hiền, đều rất rộng rãi. Trước đó, khu vực xây dựng bệnh viện Vì Dân là nơi đóng quân của tiểu đoàn Nhảy dù Phạm Công Quân, rộng 3 hecta; còn phía sau khu vực xây dựng trường Nguyễn Thượng Hiền là nơi đóng quân của lính Đại Hàn.

Năm 1969, tôi chữa bịnh nám phổi cả tháng ở nhà thương Đại Hàn bên hông nơi đóng quân này, nhìn ra đường Võ Tánh (nay bệnh viện này vẫn còn, bên hông trường Nguyễn Thượng Hiền). Và tôi đều từng là học sinh của hai ngôi trường Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Sĩ Liên.

Khi tổ chức xây bệnh viện Vì Dân, bà Thiệu là Chủ tịch Hội Phụ nữ Phụng sự xã hội; xây bằng tiền quyên góp, mở hội chợ từ 1970… Nên bà con Ông Tạ gọi là bệnh viện “Bà Thiệu”. Xây xong, danh nghĩa là bệnh viện công nhưng chữa bịnh miễn phí cho dân; ưu tiên cho học sinh Quốc gia Nghĩa tử được đào tạo thành y tá và tá viên điều dưỡng tùy theo học sinh có bằng tú tài hay chưa, làm ở Vì Dân.

Khu vực Bảy Hiền khoảng năm 1969. Khu vực (màu đỏ) trường Nguyễn Thượng Hiền hiện nay đang san đất xây trường; còn khu cỏ xanh sau này là bệnh viện Vì Dân chưa có gì – Ảnh: George Lane (Chú thích của tác giả)

Theo Hammer, Ellen Joy (1987) trong cuốn “ A Death in November: America in Vietnam, 1963” (Một cái chết Tháng Mười Một 1963), năm 1971, khi chính phủ Nguyễn Văn Thiệu lần đầu tiên chấp thuận các lễ tưởng niệm công khai cho cố Tổng thống Ngô Đình Diệm này nhân dịp kỷ niệm tám năm ngày mất của ông (1963-1971), Đệ Nhất phu nhân Nguyễn Thị Mai Anh được nhìn thấy là đã khóc trong một lễ cầu nguyện cho cố Tổng thống Ngô Đình Diệm ở Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn.

… Chắc chắn khu Bảy Hiền trước 1975 thuộc phạm vi bao trùm của khu Ông Tạ. Thậm chí khu này không có ngôi chợ nào mang tên Bảy Hiền của riêng mình (sau nay có chợ Chăn nuôi trong khu Chăn nuôi sau trường Nguyễn Thượng Hiền, một khu chợ nhỏ thôi, quá nhỏ so “ông khổng lồ” chợ Ông Tạ).

Học sinh Nguyễn Thượng Hiền (đối diện Vì Dân) toàn con em Ông Tạ. Đến trước 1975, khu Bảy Hiền vẫn còn vắng vẻ lắm, toàn đường đất, không sầm uất như khu Ông Tạ. Trường Nguyễn Thượng Hiền trước khi có trại lính Đại Hàn là khu Thực nhiệm chăn nuôi từ thời Pháp, toàn cây cổ thụ, hầu như không có dân. Đi chợ nào, học trường nào là dân khu đó.

Cô Đinh Thủy Thanh, chị bà Khiêm vừa qua đời năm ngoái 2020. Ngày 24 Tháng Sáu 2021 vừa rồi, ông Khiêm theo chị vợ mình. Giờ 17 Tháng Mười, bà Thiệu cũng ra đi…

Nguồn: https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/chuyen-mot-phu-nhan-tong-thong-tu-la-dan-ong-ta-vua-ra-di-va-benh-vien-ba-thieu/

Trung Đoàn 3 Bộ Binh & Đại Đội Hắc Báo Hành Quân Đột Kích Mật Khu Của Cộng Quân

  • Vương Hồng Anh

Trung đoàn 3 Bộ binh và cuộc hành quân đột kích mật khu Cộng quân ở Tây Thừa Thiên:
Là một trong những trung đoàn thiện chiến trên chiến trường Quân khu 1, trung đoàn 3 Bộ binh đã nhiều lần được bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh điều động tiếp cứu đơn vị bạn khi tình hình sôi động. Trong thời gian từ giữa năm 1966 đến giữa năm 1968, trung đoàn 3 BB là lực lượng Bộ binh lưu động tại chiến trường Thừa Thiên; các tiểu đoàn 1/3, 2/3, 3/3 của trung đoàn đã tham dự nhiều cuộc hành quân đột kích vào mật khu địch ở thâm sơn Thừa Thiên. Trong cuộc chiến Mùa Hè 1972, trung đoàn 3 Bộ binh là lực lượng trừ bị phản ứng cấp thời. Vào tháng 7/1972, khi Cộng quân gia tăng áp lực ở Tây Nam Huế, 2 tiểu đoàn của trung đoàn 3 Bộ binh, phối hợp với liên đại đội Hắc Báo, đơn vị xung kích của Sư đoàn 1 Bộ binh, đã hành quân tấn kích vào binh trạm hậu cần thuộc căn cứ địa của sư đoàn 324 CSBV ở trong vùng thâm sơn Thừa Thiên, cách Huế hơn 20 km đường chim bay.

Sư Đoàn 1 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Theo kế hoạch, các đơn vị Bộ binh được trực thăng vận vào phía Tây và Tây Nam của căn cứ Hoàng Đế. Ngay khi nhảy xuống khu vực hành quân, hai cánh quân Bộ binh đã nhanh chóng khai triển đội hình, tấn công các cụm điểm tiền tiêu quanh binh trạm hậu cần của Cộng quân. Cùng lúc đó, với sự yểm trợ của trực thăng võ trang Cobras, liên đại đội Hắc Báo đã hành quân trực thăng vận nhảy xuống phía Đông của binh trạm nói trên và đồng loạt tấn công chớp nhoáng vào đơn vị Cộng quân bảo vệ khu vực này. Bị những chiến binh Hắc Báo tinh nhuệ tất công bất ngờ, địch quân bị rối loạn, tuyến phòng ngự bị chọc thủng. Bằng lối đánh tốc chiến, liên đại đội Hắc Báo đã tiến vào khu vực trung tâm, phá hủy kho quân lương của địch, sau đó bung rộng đội hình để cùng với trung đoàn 3 Bộ binh hành quân về hướng Nam, bắt tay với các đơn vị của trung đoàn 1 Bộ Binh.

* Liên đại đội Hắc Báo: đơn vị xung kích ngoài bảng cấp số
Liên đại đội Hắc Báo, được thành lập vào tháng 11/1964 theo sáng kiến của chuẩn tướng Nguyễn Văn Chuân-tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh (tướng Chuân được thăng thiếu tướng vào tháng 11/1965). Đây là một lực lượng kết hợp quân số của 2 đại đội Trinh sát thuộc 2 trung đoàn Bộ binh, được tổ chức ngoài bảng cấp số. Một trong hai đại đội trưởng trinh sát được bộ Tư lệnh Sư đoàn chọn làm liên đại đội trưởng, đại đội trưởng trinh sát còn lại là liên đại đội phó. Về quản trị hành chánh và tiếp liệu, quân sĩ trong đơn vị Hắc Báo sẽ do trung đoàn gốc quản trị; về chỉ huy, liên đại đội Hắc Báo thuộc quyền điều động trực tiếp của bộ Tư lệnh sư đoàn thông qua phòng 3. Theo tổ chức, tại mỗi sư đoàn Bộ binh, các đại đội Trinh sát được tổ chức như sau: 1 đại đội mang danh hiệu đại đội Trinh sát Sư đoàn và đặt thuộc quyền điều động của bộ Tư lệnh Sư đoàn, mỗi trung đoàn lại có 1 đại đội trinh sát trực thuộc bộ chỉ huy trung đoàn. Trong số 4 trung đoàn của sư đoàn 1 Bộ binh, chỉ có 2 trung đoàn có đại đội Trinh sát cơ hữu, 2 trung đoàn còn lại tuy cũng có đại đội Trinh sát nhưng đã tăng phái cho sư đoàn để thành lập liên đại đội Hắc Báo.

Sư Đoàn 1 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

* Hắc Báo và chương trình huấn luyện đặc biệt tại căn cứ Hòa Mỹ
Vào năm 1969, liên đại đội Hắc Báo với 6 trung đội chiến đấu được luân phiên đi thụ huấn Chương trình đặc biệt với thời gian 8 ngày tại căn cứ Evans (Hòa Mỹ), cách Huế hơn 20 km đường chim bay về hướng Bắc. Chương trình này do các huấn luyện viên thuộc ban Huấn luyện của Sư đoàn 101 Nhảy Dù, và một số sĩ quan, hạ sĩ quan thuộc trung đoàn 75 Biệt động quân Hoa Kỳ phụ trách. Theo lời của trung úy Michel P. Grim-một trong những huấn luyện viên của chương trình, nói với các chiến binh Hắc Báo trong buổi huấn luyện đầu tiên, mục đích của khóa huấn luyện này nhằm phát triển khả năng chiến đấu của các chiến binh trong đội hình trung đội tiến hành các cuộc tấn công chớp nhoáng trên lãnh thổ của chiến trường Quân khu 1. Để có được mục đích đó, các chiến binh Hắc Báo sẽ được huấn luyện các phương thức chiến đấu áp dụng trong Lục quân Hoa Kỳ và sau đó họ được tập làm quen với kỹ thuật không vận của Sư đoàn 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ.
Nhận xét về đơn vị này, một huấn luyện viên Hoa Kỳ tên là James E. Moran phát biểu như sau: Các Hắc Báo chiến đấu rất giỏi ở trong rừng, họ rất rành về địa bàn và bản đồ, họ không cần bản đồ để biết họ đi đâu. Họ biết là họ đi đâu. Rừng núi ở đây là quê hương của họ. Vị huấn luyện viên này nói thêm: Chúng tôi không khùng để phải chỉ cho họ cách chiến đấu mà họ rất quen thuộc. Tuy nhiên trước đây họ chỉ chiến đấu ở cấp đại đội do đó họ có mặt nơi đây để theo học khóa huấn luyện về phương thức chiến đấu ở cấp trung đội.
Trong 8 ngày thụ huấn, trung đội Hắc Báo trải qua một chương trình huấn luyện đặc biệt được tóm lược như sau: Ngày đầu tiên, họ tham dự buổi thuyết giảng (qua thông dịch viên) về cách xử dụng không ảnh, địa bàn và bản đồ và phần lý thuyết về phương thức chiến đấu cấp trung đội. Buổi huấn luyện thứ hai, các Hắc Báo được xem Không quân và Pháo binh Hoa Kỳ diễn tập: Phần không pháo yểm trợ do các trực thăng võ trang Cobras biểu diễn sự hiệu quả của hỏa lực từ trực thăng võ trang đối với các mục tiêu ở dưới đất. Các binh sĩ Hắc Báo ngồi xem phi công trực thăng bắn hỏa tiễn xuống mục tiêu giả trên sườn đồi, sau đó cho khai hỏa khẩu đại liên mini-gun bắn như mưa xuống mục tiêu. Trên trận địa, các trung đội Hắc Báo có thể yêu cầu không pháo yểm này bất cứ khi nào cần.
Rạng đông ngày thứ ba, trung đội Hắc Báo được đưa ra bãi tập về chất nổ. Tại đây, huấn luyện viên chia buổi học ra làm hai, học lý thuyết về chất nổ trong lớp học và sau đó thực tập ngoài bãi. Ngày thứ tư trung đội được hướng dẫn về cách sử dụng dây Thụy Sĩ. Cả quân nhân Hắc Báo nhìn lên một đài cao 40 bộ (feet) để xem huấn luyện viên biểu diễn, sau đó từng chiến binh thực tập. Đeo bao tay da, vòng chữ D (khóa an toàn để giữ thân người vào thang dây trường hợp bị đuối sức hoặc bị chóng mặt trong tình trạng khẩn cấp), từng Hắc Báo leo thang dây lên đài cao.
Buổi chiều ngày thứ tư, các Hắc Báo ra bãi đáp trực thăng để thực tập kỹ thuật tuột trực thăng bằng dây. Theo khẩu lệnh của trung đội trưởng, các quân nhân móc vào “dây Thụy sĩ” khi trực thăng cất cánh. Một huấn luyện viên làm nhân viên an toàn, nắm đầu dây ở dưới đất để trong trường hợp một quân nhân bị vuột tay hoặc mất bình tĩnh rơi xuống, ông ta sẽ cầm đầu dây chạy thật xa, quân nhân này sẽ rơi xuống theo một góc độ chứ không bị rơi tự do. Khi hẩu lệnh “bắt đầu” được ban ra, các quân nhân Hắc Báo bước ra càng trực thăng, từ từ tuột xuống đất từ cao độ 80 bộ một cách an toàn.
Vào ngày thứ năm, các chiến sĩ Hắc Báo được thực tập về chiến thuật tuần tiểu và phục kích, về sự khác biệt cũng như hiệu quả của nhiệm vụ trinh sát và đột kích. Sau đó các Hắc Báo được hướng dẫn chi tiết về phương thức hành quân cấp trung đội trong vùng rừng núi. Ngày thứ sáu, trung đội Hắc Báo hành quân thực tập, họ được thả vào vùng địch quân kiểm soát gần biên giới Lào Việt. Sau đây là câu chuyện về cuộc hành quân của một trung đội Hắc Báo qua lời kể của huấn luyện viên Buchmann, được phổ biến trong KBC số 21:

Kế hoạch hành quân đã được soạn thảo luận kỹ lưỡng, được chuẩn bị từ sáng sớm trong ngày thứ sáu của thời biểu huấn luyện, đến trưa các quân nhân Hắc Báo với đầy đủ trang bị đã chờ sẵn tại bãi đáp chờ các trực thăng Hoa Kỳ thuộc phi đoàn 2 Không vận, để đưa họ vào vùng hành quân. Chuyến bay ngắn ngủi đã đưa trung đội Hắc Báo đến trận địa, các chiến binh của trung đội này nhảy ra khỏi máy bay, bố trí ngay tức khắc, thiết lập an ninh cho bãi đáp. Trung úy Minh trung đội trưởng gọi trung sĩ nhất trung đội phó tên Kỳ và bốn cố vấn Hoa Kỳ: Moran, Fobert, Bouck, Jones đến để hội ý. Moran nói: Ông là người chỉ huy ở đây, chúng tôi chỉ đi theo thôi. Sau đó, trung úy Minh ra lệnh cho trung đội di chuyển bắt đầu cho một ngày rưỡi hành quân. Chiều hôm đó, trung đội Hắc Báo chạm súng với một toán quân nhỏ của CSBV. Sau khi đàn áp hỏa lực đối phương, các chiến binh hô tô khẩu hiệu “Hắc Báo” để uy hiếp tinh thần địch. Sau khi lục soát chiến trường, trung đội tìm thấy dấu máu địch quân để lại và khám phá gần đó có hầm hố và vị trí đặt súng cối của địch. Trong thời gian theo sát trung đội Hắc Báo hành quân, bốn huấn luyện viên Hoa Kỳ được các Hắc Báo lo chu đáo, họ xem những người này như khách. Huấn luyện viên Jones nói: Chúng tôi nhiều lúc thấm mệt để theo kịp với họ. Trung úy Minh lúc nào cũng bắt trung đội di chuyển.
Sau 36 giờ hành quân trong rừng sâu, trung đội Hắc Báo được trực thăng đem trở lại căn cứ Evans vào trưa hôm sau, các quân nhân được tắm rửa và nghỉ ngơi sau một tuần huấn luyện mệt nhọc. Ngày thứ tám là lễ mãn khóa, có sự hiện diện của chuẩn tướng Sidney B. Berry-tư lệnh phó Sư đoàn 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ. Vị tướng Hoa Kỳ đã ngợi khen các chiến binh Hắc Báo mà theo ông là những quân nhân ưu tú của chiến trường…

08/05/1999
Kỳ sau: Sư đoàn 22 Bộ binh/Quân đoàn 2 trên chiến trường Dakto và Bình Định.
* Xin lưu ý bạn đọc: Như đã giới thiệu trong bài viết mở đầu, mỗi tuần, VB sẽ giới thiệu 1 sư đoàn thuộc 1 quân đoàn, và 1 đơn vị xung kích trừ bị, tổng trừ bị).

Nguồn: https://vietbao.com/a29710/hanh-quan-dot-kich-mat-khu-cq-cua-trung-doan-3-bb-hac-bao

Quân Lực Hoàng Gia Úc Đại Lợi và cuộc chiến Việt Nam.

Nguyễn Hữu Thiện

Military history of Australia during the Vietnam War - Wikipedia

Lời nói đầu: Khởi đầu vào tháng 8 năm 1962 và chấm dứt vào tháng 12 năm 1972, cuộc tham chiến của Lực lượng Úc Đại Lợi tại miền Nam Việt Nam đã được ghi nhận là “cuộc tham chiến dài nhất trong Lịch sử Quân Lực Hoàng Gia Úc Đại Lợi”. Không chỉ dài nhất mà còn gây tranh luận gay gắt nhất, và gây chia rẻ trầm trọng nhất tại quốc gia này.
Vào thời gian của cao trào phản chiến, những năm đầu thập niên 1970, mỗi khi có phi cơ chở các lực lượng Úc rút quân về nước đáp xuống Căn cứ Không Quân Fairbairn ở gần Thủ đô Canberra, cho dù đã phải đáp trong đêm tối, đã luôn luôn bị các lực lượng phản chiến thiên tả “dàn chào” ở ngoài cổng để nhục mạ.
Nhưng cuối cùng, chính nghĩa luôn luôn thắng, cho dù không thắng ngoài chiến địa cũng thắn trên chính trường, trong lòng người. Giữa thập niên 1990, cùng với phong trào “Welcome Home” ở Hoa Kỳ để vinh danh các Cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam, danh dự của các chiến sĩ đồng minh Úc cũng được phục hồi, mà cao điểm là cuộc tuần hành vĩ đại vào ngày 3 tháng 10 năm 1997 tại Sydney thành phố lớn nhất nước Úc, với sự góp mắt của trên 25,000 Cựu chiến binh Úc từng tham chiến tại Việt Nam, dẫn đầu bởi thân nhân ruột thịt của trên 500 chiến binh đã hy sinh, trên tay mỗi người cầm một lá Quốc kỳ Úc “thay mặt cho người đã chết”, trước sự hoan hô nồng nhiệt của hàng trăm nghìn người dân Úc xuống đường để chào đón. Tiếp theo là các cuộc tuần hành tương tự tại Thủ đô Canberra, tại Thành phố Melbourne, thủ phủ tiểu bang Victoria, và các thủ phủ tiểu bang khác.
Hiện nay, 18 tháng 8 hàng năm, ngày kỷ niệm Chiến thắng Long Tân (Long Tan Day) để đời của lực lượng Úc vào năm 1966, đã trở thành Ngày Cựu Chiến Binh Úc tham chiến tại Việt Nam (Vietnam Veterans Day).
Tháng 9 năm 2012, kỷ niệm 50 năm (1962-2012 ngày Quân lực Hoàng Gia Úc Đại Lợi tham chiến tại Việt Nam, người Việt Quốc Gia tại Úc đã tổ chức nhiều sinh hoạt đặc biệt, để vinh danh và tri ân các lực lượng Úc, đã góp phần mồ hôi, xương máu trong công cuộc chiến đấu bảo vệ lý tưởng Tự Do tại miền Nam Việt Nam, chống lại cuộc xâm lược của Cộng sản Bắc Việt.
Qua bài viết dưới đây, chúng tôi mời độc giả cùng điểm lại cuộc tham chiến đầy chính nghĩa ấy.

*****

Tiền đồn của Thế Giới Tự Do

Năm 1957, thời gian cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai khối tư bản và cộng sản đã tới giai đoạn gay gắt, Việt Nam Cộng Hòa trở thành tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do. Ông Ngô Đình Diệm, vị Tổng Thống tiên khởi của Việt Nam Cộng Hòa, mở cuộc công du Hoa Kỳ và một số quốc gia đồng minh.
Ngày 2 tháng 9, ông Ngô Đình Diệm tới Úc, đượccả đảng Tự Do của đương kim Thủ tướng Robert Menzies lẫn đảng Lao Động hết lòng ủng hộ. Sau khi đọc diễn văn tại lưỡng viện Quốc Hội, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã được trao tặng Huân chương Danh Dự Knight Grand Cross of the Order of St Michael and St George, là huân chương cao quý nhất dành cho những người không phải là thân nhân của Nữ Hoàng Anh.
Tới năm 1962, sau khi đảng Cộng sản Việt Nam (lúc đó núp dưới danh xưng đảng Lao động Việt Nam) cho thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTDTGPMN), mở màn cho cuộc chiến tranh du kích với âm mưu lật đổ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã chính thức yêu cầu sự trợ giúp của các nước đồng minh trong Thế giới Tự Do. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên đáp ứng qua việc gửi các cố vấn quân sự tới miền Nam Việt Nam. Sau đó là ần lượt 4 thành viên khác trong khối SEATO (Southeast Asia Treaty Organisation – tiếng Việt gọi là Liên Phòng Đông Nam Á, thành lập năm 1955), gồm Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân và Thái Lan. Về phía các đồng minh không nằm trong khối SEATO có Đại Hàn Dân Quốc (Nam Hàn) và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan).
Trong số 7 đồng minh nói trên, chỉ có Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Nam Hàn và Thái Lan gửi các đơn vị tác chiến. Còn Trung Hoa Dân Quố c chỉ gửi một Phái bộ Cố vấn Chiến Tranh Chính Trị, và Phi Luật Tân gửi các toán Dân Sự Vụ.
Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan cũng là hai thành viên thân thiết với Hoa Kỳ, bởi vì trước đó, vào năm 1951, ba quốc gia này đã cùng nhau ký kết Hiệp ước An Ninh Hỗ Tương ANZUS (Australia – New Zealand – United States).
Sự tham dự của Úc Đại Lợi vào cnuộc chiến Việt Nam được thực hiện qua hai lãnh vực: Cố vấn Quân Sự và Tác Chiến.

I- Cố vấn Quân Sự 1962-1972:

Có thể viết mà không sợ bị quá lời, trong cả khối Thế giới Tự Do, không quân đội nước nào có khả năng “chống du kích” chuyên nghiệp và hữu hiệu cho bằng quân đội Úc. Khả năng ấy có được là nhờ truyền thống có sẵn và tích lũy kinh nghiệm trong thời gian tham gia cuộc chiến chống phiến quân Cộng sản tại Mã Lai, từ năm 1955 tới 1960.
Cuộc chiến này được người Anh gọi là “The Malayan Emergency”, khởi sự vào năm 1948. Lực lượng địch là “giải phóng Quân” của đản Cộng sản Mã Lai. Tên gọi “giải phóng Quân” đã cho thấy có bàn tay của Trung Cộng nhúng vào. Trên thực tế, lãnh tụ Chin Peng va đa số “giải phóng Quân” cùng những người ủng hộ đều là người gốc Hoa.
Thời gian mấy năm đầu, tình hình ngày càng trở nên tệ hại với các cuộc tấn công của quân phiến loạn nhắm vào lực lượng Anh – Mã Lai, cùng với các cuộc khủng bố, ám sát (trong số người bị ám sát có cả Cao Ủy Anh tại Mã Lai).
Nhưng từ khi quân Úc được đưa sang thì gió bắt đầu xoay chiều. Lợi thế của hình thái chiến tranh du kích dựa vào yếu tố “ta thấy địch mà địch không thấy ta”. Từ đó, người Úc nhận định: Nếu cứ giữ thế thủ, sẽ không bao giờ đánh bại được du kích quân cộng sản, mà phải săn lùng địch và chủ động tấn công. Những gì xảy ra tại miền Nam Việt Nam sau này đã chứng minh khả năng chống du kích “thần sầu quỷ khốc” của quân Úc; qua đó, yếu tố “ta thấy địch mà địch không thấy ta” thay vì là sở trường của “du kích quân” Việt Cộng đã trở thành ưu điểm của “phản du kích quân” Úc! Theo cuốn “Vietnam” của sử gia quân đội Paul Ham, trong một cuộc hội thảo giữa hai phía Hoa Kỳ và Úc diền ra tại Canberra vào tháng 5 năm 1962, chính Ngoại trưởng Mỹ, Dean Rusk, đã phải nhìn nhận “lực lượng quân sự Mỹ biết rất ít về chiến thuật chống du kích trong rừng núi”, và yêu cầu sự trợ giúp của phía Úc.
Kết quả, một đơn vị Cố vấn Úc tại Việt Nam được cấp tốc được thành lập, với danh xưng “Australian Army Training Team in Vietnam – AATTV), thường được người Úc gọi một cách ngắn gọn là “The Team”, do Đại tá Francis Philip “Ted” Serong, một người hùng quân đội (huân chương OBE), chuyên gia chống du kích bậc nhất của Úc cầm đầu.
Ngày 31 tháng 7 năm 1962, Đại tá Serong tới Sài Gòn, và ba ngày sau, toán cố vấn đầu tiên của The Team gồm 30 người (15 sĩ quan và 15 hạ sĩ quan) có nhiều kinh nghiệm chống du kích ở Mã Lai đặt chân tới Việt Nam. Nhiệm vụ chính của The Team là phối hợp với các cố vấn Mỹ (MACV) trong việc huấn luyện quân đội VNCH về chiến thuật chống du kích; vì thế, đa số các thành viên của The Team đã được ưu tiên đưa tới các trại Dân sự Chiến Đấu (CIDG – Civilian Irregular Defense Group – người Việt thường gọi là Biệt kích Mỹ).
Nhìn chung, sự phối hợp giữa The Team và các cố vấn Mỹ được mô tả là tốt đẹp, tuy nhiên cũng không thể tránh khỏi những bất đồng, thậm chí đụng độ, từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất. Hiện nay, tài liệu quân sử của Úc vẫn còn ghi lại cuộc “đụng độ nẩy lửa” (violent challenger) trong một buổi hội thảo về đề tài “chống du kích quân cộng sản”, tổ chức tại Ngũ Giác Đài ngày 23 tháng 5 năm 1963, giữa Đại tá Ted Sarong với Trung tướng Victor “Brute” Krulak – một người hùng của TQLC Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên.
Thế nhưng trên chiến trường, hai phía đồng minh luôn luôn sát cánh. Ngày 6 tháng 7 năm 1964, trong lúc chống trả cuộc tấn công của lực lượng Việt Cộng và quân chính quy Bắc Việt vào trại Biệt kích Nam Động, gần biên giới Lào, Chuẩn úy Kevin Conway của The Team và Thượng sĩ Nhất Gabriel Alamo của Special Forces, tức Green Berets) đã anh dũng hy sinh, xác nằm bên nhau trong một cái hố chiến đấu ở hàng rào phòng thủ.
Chuẩn úy Kevin Conway được ghi nhận là quân nhân Úc đầu tiên hy sinh trong lúc chiến đấu tại Việt Nam
Cũng theo tài liệu của Úc, Thượng sĩ Nhất Gabriel Alamo bị tử thương ngay trong đợt tấn công đầu tiên của qiân cộng sản; còn lại một mình, Chuẩn úy Kevin Conway đã bình tĩnh sử dụng khẩu súng cối để “rót” một cách vô cùng chính xác lên đầu địch quân. Địch quân càng tới gần, tầm đạn càng thu ngắn; cuối cùng khi địch quân tràn vào hàng rào phòng thủ, Kevin Conway đã bắn thẳng lên trời, để đạn cối rớt xuống đầu địch, và xuống cả cái hố của mình. Kết quả, địch quân đã không thể tiến xa hơn và phải rút lui trước sức chiến đấu của lực lượng phòng thủ.
Trước hành động chiến đấu dũng cảm và gương hy sinh anh hùng của cố Chuẩn úy Kevin Conway, Đại tá Ted Sarong đã gửi bản đề nghị về Bộ Quốc Phòng Úc, xin truy tặng Huân chương Victoria Cross – Huân chương cao quý nhất của Úc do vị đại diện Nữ Hoàng quyết định và trao gắn, nhưng đơn đã bị bác.
Theo hồi ký của Đại tá Ted Sarong (sau này lên cấp Chuẩn Tướng), nguyên nhân đơn bị bác là vì trên nguyên tắc, việc người Mỹ sử dụng Lực lượng Dân sự Chiến Đấu (Biệt kích Mỹ) là bất hợp pháp, cho nên họ đã giữ bí mật tới mức tối đa. Vì thế, việc trao tặng huân chương Victoria Cross cho cố Chuẩn úy Kevin Conway cùng với bản tuyên dương công trạng (bắt bộc phải có), chẳng khác nào “vạch áo cho người xem lưng”!
[Viết thêm: Ngày ấy, cũng vì hoạt động bí mật của lực lượng Dân sự Chiến Đấu (Biệt kích Mỹ), cho nên đã không có cơ quan truyền thông nào tường thuật đầy đủ về trận phản công đẫm máu ở trại Biệt kích Nam Động, cách Đà Nẵng 50 cây số về hướng Tây, nằm sát biên giới Lào – Việt. Trong hai ngày 5 và 6 tháng 7 năm 1964, một lực lượng địch khoảng 1,000 tên, gồm quân chính quy Bắc Việt và Việt Cộng địa phương, mở cuộc tấn công Trại, do 300 biệt kích người Kinh, 60 biệt kích người Nùng, 12 quân nhân LLĐB Mỷ và một Cố vấn Úc trấn giữ. Kết quả, sau hai ngày giao tranh đẫm máu, địch vẫn không chiếm được trại, phải rút lui để lại 63 xác chết tại trận (chưa kể số xác chết được mang theo); thiệt hại củ lực lượng bạn gồm 115 biệt kích Việt chết và bị thương, 10 quân nhân đồng minh tử thương – 9 người Mỹ và một người Úc duy nhất có mặt tại trại – Chuẩn úy Kevin Conway]

*****

Trở lại với The Team, tới tháng 9 năm 1964, tổng số lên tới 73 người, rồi 112 người vào tháng 6 năm 1965 và cao nhất là 217 người vào tháng 11 năm 1970.
Nhiệm vụ chính của The Team là cố vấn trực tiếp tại mặt trận – hay viết một cách cụ thể hơn là vừa cố vấn vừa tác chiến – cũng có khi chỉ huy các toán Biệt kích người Thượng. Các thành viên của The Team được phân bố đi khắp nơi, thường hoạt động riêng lẻ (như trong trường hợp Chuẩn úy Kevin Coway), hoặc hai người; chỉ trong trường hợp đặc biệt mới kết hợp thành toán, nhưng cũng không quá 10 người. Lần duy nhất có sự tham dự đông đảo của các thành viên là buổi lễ đón nhận huân chương cao quý US Army Meritorious Unit Commendation của Hoa Kỳ, do Đại tướng Abrams, Tư lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, trao tại Thị xã Vũng Tàu ngày 30 tháng 9 năm 1970.

Horseshoe Hill, South Vietnam. 1969-09. Private (Pte) Nick Hart of Bunbury,  WA, shows South ... | Australian War Memorial

Đầu năm 1971, The Team mở khóa huấn luyện chống du kích đầu tiên cho các quân nhân QLVNCH tại Jungle Warfare Training Centre ở Núi Đất thuộc tỉnh Phước Tuy – một công việc mà lẽ ra phía Hoa Kỳ đã phải nhờ người Úc từ giữa thập niên 1960!
Năm 1972, khi toàn bộ Lực lượng Đặc Nhiệm của Úc đã rút về nước, The Team tiếp tục ở lại Việt Nam, với nhiệm vụ huấn luyện chiến thuật chống du kích cho phía VNCH và Quân đội Quốc Gia Khmer (FANK – Forces Armées Nationale Khmer)
The Team chỉ chấm dứt hoạt động vào ngày 18 tháng 12 năm 1972, được ghi nhận là đơn vị Úc phục vụ tại Việt Nam lâu nhất (trên 10 năm), và cũng là đơn vị có tỷ lệ quân nhân được ân thưởng huy chương cao nhất, trong đó có bốn người được huân chương cao quý Victoria Cross.

II- Lực Lượng Tham Chiến 1965-1972:

Ngày 8 tháng 8 năm 1964, một phi đội vận tải cơ Caribou hạ cánh xuống phi trường Vũng Tàu và đặt căn cứ tại đây, được ghi nhận là đơn vị đầu tiên của Quân lực Hoàng Gia Úc Đại Lợi tới tham chiến tại Việt Nam. Từ đó cho tới cuối năm 1972, hơn 61,000 quân nhân thuộc Hải, Lục, Không Quân Úc đã lần lượt tới phục vụ tại Việt Nam, và trong số ấy, 521 người đã bỏ mình nơi miền đất lạ.

1- Lục Quân:

Ngày 29 tháng 4 năm 1965, Thủ tướng Úc Robert Menzies (đảng Tự Do) loan báo việc chính phủ Úc nhận được yêu cầu từ phía Hoa Kỳ trong việc gia tăng yểm trợ quân sự, và chính phủ Úc quyết định gửi một tiểu đoàn bộ binh sang chiến đấu tại Việt Nam, vì theo lời ông Menzies, “việc Cộng sản chiến thắng tại miền Nam Việt Nam sẽ là một mối đe dọa về mặt quân sự trực tiếp vào nền an ninh của Úc”.
Hơn một tháng sau, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng Gia Úc Đại Lợi (1st Batallion, Royal Australian Regiment – viết tắt là 1 RAR), cùng với một Chi đội Thiết vận xa M-113 và các đơn vị tiếp liệu, đã được mẫu hạm HMAS Sydney vận chuyển sang Việt Nam.
Sau khi tới nơi, 1 RAR hoạt động với tư cách một đơn vị trực thuộc Lữ đoàn 173 Nhảy Dù Hoa Kỳ, địa bàn hoạt động là lãnh thổ tinh Biên Hòa.
Mặc dù 1 RAR cũng đã đánh vài trận với tư cách một đơn vị độc lập, sau đó cả hai phía Mỹ – Úc đã cùng nhau thỏa thuận: Các đơn vị Úc được đưa tới Việt Nam trong tương lai sẽ được trao toàn bộ trách nhiệm lãnh thổ một tỉnh nào đó, để họ có thể “đánh giặc theo kiểu Úc”, không dính dáng gì tới các đơn vị của Hoa Kỳ.

Phuoc Tuy Province, Vietnam. February 1967. Walking beside an M113 armoured  personnel carrier ... | Australian War Memorial

Tháng 4 năm 1966, Lực lượng Đặc Nhiệm 1 Úc Đại Lợi (1st Australian Task Force viết tắc là 1ATF) tới Việt Nam, đặt bản doanh tại Núi Đất, tỉnh Phước Tuy, và 1RAR (Tiểu đoàn 1 Trung đoàn Hoàng Gia) chấm dứt trực thuộc Lữ đoàn 173 Nhảy Dù Hoa Kỳ để trở thành một đơn vị trong Lực lượng Đặc Nhiệm.
Lực lượng Đặc Nhiệm (LLĐN) này tương đương với cấp Lữ Đoàn của Hoa Kỳ, gồm 3 Tiểu đoàn Bộ Binh (gồm các Tiểu đoàn 1RAR, 3RAR, 4RAR, 5RAR, 6RAR, 7RAR và 8RAR luân phiên phục vụ), cộng với một Chi đoàn Thiết vận xa M-113, một Biệt đội Biệt Kích SAS, cùng nhiều đơn vị yểm trợ, đặt dưới sự điều động của Liên đoàn 1 Yểm Trợ Tiếp Vận (1st Australian Logistics Support Group) đặt căn cứ tại Vũng Tàu. Tới cuối năm 1967, LLĐN được tăng cường một Thiết đoàn Chiến xa hạng trung Centurion.
Một cách ngắn gọn, LLĐN Úc được trao toàn bộ trách nhiệm gìn giữ an ninh lãnh thổ tỉnh Phước Tuy, trừ một vài thị trấn lớn do phía VNCH chịu trách nhiệm.

2- Không Quân:

Tính tới năm 1967, Không Lực Hoàng Gia Úc đã có 3 phi đoàn tại Việt Nam gồm:
– Phi đoàn 35 Vận Tải (No.35 Transport Squadron). Tiền thân là phi đội vận tải cơ Caribou đã tới Vũng Tàu vào tháng 8 năm 1964. Do nhu cầu đòi hỏi, ngày 1 tháng 6 năm 1966, phi đội này được nâng cấp với danh xưng No.35 Transport Squadron (Phi đoàn 35 Vận Tải), đồn trú tại Luscombe Field gần Că cứ Núi Đất. Tuy nhiên với đa số quân nhân Úc phục vụ tại Việt Nam, họ thích gọi – và cho tới nay vẫn còn nhớ – phi đoàn này bằng nickname “Wallaby Airline” ( con Wallaby cùng họ “đại thử” với con kangaroo nhưng nhỏ hơn).
Với khả năng đáp và cất cánh trên những phi đạo thô sơ, cực ngắn (STOL: Short Take-off and Landing) của vận tải cơ Caribou, nhiệm vụ chính của Phi đoàn 35 Vận Tải là tiếp tế cho các Trại Biệt Kích Mỹ ở Vùng 2 và Vùng 3 Chiến Thuật, cũng như cho các toán Cố vấn Úc (của The Team) ở vùng Tây Nguyên.

– Phi đoàn 9 Trực Thăng (No.9 Helicopter Squadron). Nhân viên phi đoàn cùng với các trực thăng UH-1 được mẫu hạm HMAS Sydney vận chuyển tới Vũng Tàu ngày 6 tháng 6 năm 1966, và tới cuối tháng, bay tới đồn trú ở Căn cứ Núi Đất.
Nhiệm vụ của Phi đoàn 9 Trực Thăng rất đa dạng, từ đổ quân, vận chuyển thương binh, tới tiếp tế đạn dược cho chiến trường, từ rải truyền đơn kêu gọi hồi chánh cho tới xịt thuốc khai quang tiêu diệt hoa màu trong các mật khu Việt Cộng.
Từ năm 1967, sau khi được trang bị loại UH-1 mới, có trọng tải lớn hơn, Phi đoàn 9 Trực Thăng cò phối hợp với Phi đội Trực Thăng Hải Quân Hoàng Gia Úc tại Việt Nam (Royal Australian Navy Helicopter Flight – Vietnam) và lực lượng trực thăng của Lục Quân Hoa Kỳ, thực hiện những phi vụ cực kỳ nguy hiểm là đổ và bốc những toán tiền sát của VNCH trong lãnh thổ Vùng 3 Chiến Thuật, và sang cả bên kia biên giới Việt – Miên. Trong lúc thi hành nhiệm vụ này, một số phi cơ của Phi đoàn 9 Trực Thăng đã bị hỏa lực địch bắn hạ và bị thiêu hủy hoàn toàn.
Tính tới ngày 17 tháng 12 năm 1971, ngày phi đod65i cuối cùng của Phi đoàn 9 Trực Thăng rời Vũng Tàu, đã có 7 nhân viên phi hành hy sinh.

No. 2 Squadron - The Royal Australian Air Force in Vietnam

– Phi đoàn 2 Oanh Tạc (No.2 Bomber Squadron). Được trang bị oanh tạc cơ tầm trung Canberra (tức B-57 trong Không lực Hoa Kỳ và Không lực VNCH), tới Việt Nam năm 1967, đồn trú tại Căn cứ Không Quân Phan Rang. Hoạt động phối hợp với Không đoàn 35 Chiến Thuật (35th Tactical Fighter Wing) của Không lực Hoa Kỳ trong các nhiệm vụ oanh tạc cơ sở hậu cần, vị trí đóng quân của Việt Cộng và Cộng sản Bắc Việt trong nội địa Việt Nam, đôi khi sang cả bên kia biên giới Việt – Miên, đồng thời oanh kích các lực lượng địch trên chiến trường.
Phi đoàn 2 Oanh Tạc rời Việt Nam ngày 14 tháng 7 năm 1971. Trong thời gian 4 năm phục vụ tại Việt Nam, Phi Đoàn 2 đã mất 5 nhân viên phi hành.

Ngoài 3 phi đoàn đồn trú thường trực tại Việt Nam đã kể trên, Không lực Hoàng Gia Úc còn có những biệt đội vận tải gồm các vận tải cơ C-130 Hercules của hai Phi đoàn 36 và 37 Vận Tải (No.36, No.37 Transport Squadron) đặt hậu cứ ở Úc. Nhiệm vụ chính của Phi đoàn 36 Vận Tải là chuyển vận binh sĩ, vũ khí, tiếp liệu cho các đơn vị Úc và đôi khi vận chuyển quân nhân và thường dân Việt Nam.
Phi đoàn 37 Vận Tải với các phi cơ C-130 được trang bị đặc biệt, có nhiệm vụ chính là cấp cứu, chuyên chở thương binh.

Ngoài ra, Không lực Hoàng Gia Úc còn biệt phái một toán gồm 6 nhân viên phi hành tới bay chung trên phản lực cơ F-4 Phantom (2 chỗ ngồi) của Không lực Hoa Kỳ trong các phi vụ chiến đấu và không thám. Đồng thời, Úc cũng cung cấp những tiền sát viên phi hành (FAC: Forward Air Controlers) bay chung với phía Hoa Kỳ trong các phi vụ hướng dẫn phi cơ oanh kích và chấm tọa độ cho pháo binh.
Cuối cùng, cũng không thể không nhắc tới đoàn Nữ Y tá Phi Hành của Không lực Hoàng Gia Úc (RAAF Nursing Service), đặc trách việc chăm sóc các thương binh trên phi cơ, di chuyển trong nội địa Việt Nam hay trên đường về Úc.
Về lực lượng không phi hành tại Việt Nam, Không lực Hoàng Gia Úc có Phi đoàn 5 Tạo Tác (No.5 Airfield Contruction Squadron) đảm trách công việc xây cất hai căn cứ Vũng Tàu và Phan Rang; và lực lượng phòng thủ căn cứ (Air Defence Guards) tại hai căn cứ nói trên.

*****

Bên cạnh các lực lượng của Không Quân vừa kể, tại Việt Nam ngày ấy còn có hai đơn vị phi hành đặc biệt của Lục Quân và Hải Quân Úc. Đó là Phi đội Quan Sát Độc Lập 161 (161st Independent Reconnaissance Flight) của Lục Quân và Phi đội Trực Thăng Hải Quân Hoàng Gia Úc tại Việt Nam (The Royal Australian Navy Helicopter Flight – Vietnam).

– Phi đội Quan Sát Độc Lập 161:
Sau khi Tiểu Đoàn 1, Trung đoàn Hoàng Gia Úc đại Lợi (1RAR) tới Việt Nam vào tháng 6 năm 1965, mặc dù nằm dưới quyền điều động của Lữ đoàn 173 Nhảy Dù Hoa Kỳ, các giới chức Lục Quân Úc vẫn cho thành lập một phi đội quan sát để yểm trợ hoạt động của 1RAR, lấy danh xưng Phi đội Quan Sát Độc Lập 161 (161st Independent Reconnaissance Flight), bắt đầu hoạt động vào tháng 9 năm đó, đặt căn cứ tại Biên Hòa.
Phi đội này có danh hiệu truyền tin (callsign) là “Possums” (một loại chuột sóc sống ở Úc châu), sử dụng nhiều loại phi cơ khác nhau, từ trực thăng Sioux cổ lỗ sĩ tới Cessna 180 (fixed-wing), từ O-1 Bird Dog (L-19) tới PC-6 Turbo Porter…
Qua năm 1966, cùng với việc 1RAR sát nhập vào Lực lượng Đặc Nhiệm Úc, Phi đội Quan Sát Độc Lập 161 cũng di chuyển về Núi Đất. Bên cạnh nhiệm vụ chính là yểm trợ cho LLĐN Úc, Phi đội còn phối hợp yểm trợ các đơn vị Đồng Minh, như Sư đoàn 9 Đại Hàn, tức Sư đoàn Bạch Mã, đóng tại Tuy Hòa, Phan Rang, Bình Định…
Trong hơn 4 năm hoạt động tại Việt Nam, Phi đội Quan Sát Độc Lập 161 đã mất 12 phi cơ và 3 phi công hy sinh.

– Phi đội Trực Thăng Hải Quân:
Vào thời gian giữa thập niên 1960, Hải Quân Hoàng Gia Úc chỉ có một phi đội trực thăng duy nhất, với nhiệm vụ dò tìm tàu ngầm địch trong vùng lãnh hải của Úc. Họ hoàn toàn xa lạ với nhiệm vụ yểm trợ hoặc phối hợp với các lực lượng trên đất liền. Việc thành lập một phi đội trực thăng của Hải Quân để tham chiến tại Việt Nam do đích thân Thủ tướng Tự Do Harolt Hold quyết định.
Nguyên sau khi xảy ra trận Long Tân, trận đánh đẫm máu nhất của quân Úc trong chiến tranh Việt Nam vào tháng 8 năm 1966, chính phủ Tự Do đã cho tăng cường lực tham chiến. Thời gian này, Hải Quân Úc hầu như vẫn đứng vòng ngoài với những chiến hạm biệt phái cho Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ, vì thế Thủ tướng Harolt Hold đã quyết định Hải uân Úc phải trực tiếp tham chiến bằng phi cơ.
Kết quả, vào tháng 4 năm1967, 46 chàng trai ưu tú nhất trong ngành phi hành của Hải Quân Úc đã được gọivề New South Wales để thành lập Phi đội Trực Thăng Hải Quân Hoàng Gia Úc tại Việt Nam (The Royal Australian Navy Helicopter Flight – Vietnam). Họ gồm 12 phi công, 10 xạ thủ, và 24 cơ phi (cơ khí viên phi hành), hầu hết xuất thân từ Phi đoàn 723 của Hải Quân Hoàng Gia Úc. Tổng số nhân viên của Phi Đội về sau lên tới hàng trăm, tức là một lực lượng tương đương với một Phi Đoàn của Mỹ hay VNCH, cho nên cũng không có gì ngạc nhiên khi Phi đội Trưởng là một vị sĩ quan cao cấp: Hải Quân Đại Tá Neil Ralph.
Sau mấy tháng trời thực tập để làm quen với những phi vụ trên đất liền, Phi đội Trực Thăng Hải Quân Úc được đưa tới Vũng Tàu vào tháng 10 năm 1967. Để tránh bỡ ngỡ trong thời gian đầu, Phi Đội này được Bộ Tư lệnh Đồng Minh tại Việt Nam cho hoạt động chung với Phi đoàn 135 Trực Thăng của Lục Quân Hoa Kỳ tại Vùng 3 Chiến Thuật. Phi đoàn này chuyên về tấn công yểm trợ hơn là chuyển quân, cho nên Phi đội Trực Thăng Hoàng Gia Úc đã rút tỉa được nhiều kinh nghiệm xương máu!
Tháng 12 năm 1967, Phi đội Hải Quân Hoàng Gia Úc di chuyển vế căn cứ Blackhorse ở tỉnh Long Khánh để đặc trách việc yểm trợ Sư đoàn 18 Bộ Binh VNCH. Từ năm 1970, do nhu cầu chiến trường đòi hỏi cũng như do “tiếng thơm” đạt được, Phi Đội còn mở rộng hoạt động xuống tận U Minh ở Vùng 4 Chiến Thuật, và tham dự cuộc hành quân đại quy mô của QLVNCH sang lãnh thổ Cam-bốt, với nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm, là đưa đón các toán trinh sát của Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân.
Qua thời gian 4 năm phục vụ tại Việt Nam, Phi đội Trực Thăng Hải Quân Hoàng Gia Úc đã được ghi nhận là đơn vị tham dự nhiều trận đánh đẫm máu nhất, và có tỷ lệ thương vong cao nhất trong số tất cả mọi đơn vị tham chiến tại Việt Nam.
Phi đội cũng tạo thành tích với hai cái đầu tiên sau đây:

* Ngày 19/11/1967, Hải Quân Trung Úy phi công Cassidio, lái một chiếc trực thăng võ trang UH-1C của phi đội, liều chết đáp xuống tiếp cứu hai chiếc UH-1H của phía Hoa Kỳ bị địch bắn hạ. Trở về, Trung úy Cassidio được Bộ Tư lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Việt Nam ân thưởng Phi Dũng Bội Tinh Hoa Kỳ (American Distinguished Flying Cross) huân chương cao quý mà cho tới lúc đó, chưa một nhân viên phi hành nào của Phi đoàn 135 Trực Thăng Hoa Kỳ được ân thưởng! Điều đáng buồn là 9 tháng sau, ngày 21 tháng 8 năm 1868, trong phi vụ giải cứu một đơn vị VNCH bị lọt ổ phục kích địch ở Bình Tuy, phi cơ bị bắn rớt, Trung úy Cassidio cùng với một người xạ thủ bị chết cháy theo tàu!

* Trước đó, vào ngày 12 tháng 2 năm 1968, trong phi vụ yểm trợ một lực lượng của Sư đoàn 18 Bộ Binh đang giao tranh với địch, chiếc trực thăng võ trang UH-1H của Hải Quân Trung tá Patrick Vicker bị trùng đạn phòng không của đdịch. Mặc dù bị thương nặng, Trung tá Vicker cũng cố gắng lái phi cơ về đáp ở đơn vị bạn gần nhất, để rồi vài tiếng đồng hồ sau đó tắt thở vì thương tích ở ngực và bụng.
Ông được ghi nhận là phi công đầu tiên của Úc tử trận tại Việt Nam.

3- Hải Quân:

So sánh với Lục Quân và Không Quân, sự tham gia của Hải Quân Hoàng Gia Úc vào cuộc chiến Việt Nam được xem là mang tính cách yểm trợ nhiều hơn là tham chiến – trừ Phi đội Trực Thăng Hải Quân đã đề cập ở trên.
Bắt đầu từ năm 1962, năm mà toán cố vấn Úc (The Team) tới phục vụ tại Việt Nam, các khu trục hạm của Hải Quân Úc cũng thay phiên nhau “cập bến Sài Gòn” với mục đích tuyên truyền, thể hiện sự ủng hộ của “Đồng minh Úc” dành cho VNCH.
Tháng 5 năm 1965, “tuyến phà Vũng Tàu” (Vungtau Ferry) được “khai trương” với chuyến cập bến lần đầu tiên của mẫu hạm HMAS Sydney, chuyên chở Tiểu Đoàn 1, Trung đoàn Hoàng Gia Úc (1RAR), cùng với Chi Đội Thiết vận Xa M-113 và các đơn vị tiếp liệu.
HMAS Sydney R-17 nguyên là một trong hai mẫu hạm của Hải Quân Hoàng Gia Úc, mua lại từ Hải Quân Hoàng Gia Anh sau Đệ Nhị Thế Chiến (chiếc kia là HMAS Melbourne R-21).

Naval (RAN) Logistic Support Vietnam War | GUN PLOT

Vì không có khả năng tiếp nhận các loại phi cơ hiện đại, tới đầu thập niên 1960, HMAS Sydney được biến cải thành tàu vận chuyển, và từ năm 1965 tới năm 1972, đã thực hiện 23 cuộc hành trình từ Úc tới Vũng Tàu, vì thế đã được các quân nhân Úc tặng nickname “Vung Tau Express” (tàu Tốc hành Vũng Tàu). Mỗi “chuyến tàu tốc hành” ấy đều được một lực lượng Hải Quân Úc hộ tống, có lần gồm cả mẫu hạm HMAS Melbourne.
Về sau, vào năm 1975, HMAS Sydney được bán cho Nam Hàn và hơn 10 năm sau, tới lượt HMAS Melbourne cũng được bán cho Trung Cộng để lấy sát vụn.

Về chiến hạm, từ năm 1966 tới năm 1971, bốn khu trục hạm của Hải Quâ Úc – gồm các chiếc Hobart, Perth, Brisbane và Vendetta – đã được biệt phái tới Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ. Nhiệm vụ chính của các chiến hạm này là sử dụng hải pháo để yểm trợ lực lượng bạn trên đất liền; và tham gia chiến dịch “Sea Dragon” (tên gọi của hoạt động tấn công lãnh thổ Bắc Việt bằng hải pháo).
Tổng cộng trong thời gian hoạt động ngoài khơi Việt Nam, các khu trục hạm của Hải Quân Úc đã di chuyển 397,484 hải lý và bắn trên 100,000 viên đại bác.
Bên cạnh hoạt động của các chiến hạm và Phi đội Trực Thăng Hải Quân Úc, không thể không nhắc tới hoạt động của các người nhái Úc trong toán CDT3 (Clearance Diving Team 3).
CDT3 được đặc biệt thành lập để hoạt động tại Việt Nam, gồm những người nhái ưu tú tuyển chọn từ CDT1 và CDT2. Nhiệm vụ của CDT3 là kiểm soát tàu thuyền và dò tìm, khám phá, và phá hủy bom mìn của quân cộng sản, không chỉ chung quanh các chiến hạm và hải cảng mà còn cả trên sông ngòi. Chính nhiệm vụ nguy hiểm và khó khăn ấy đã khiến CDT3 được các đồng nghiệp Mỹ nể phục.

III- Khả năng và Thành Tích

Ngày ấy, vì toàn bộ trách nhiệm an ninh lãnh thổ tỉnh Bình Tuy được trao cho Lực lượng Đặc Nhiệm Úc, nên phía VNCH cũng không có nhiều người biết cách thức đánh giặc và tài thiện chiến của quân Úc. Hãy đọc một đoạn trong cuốn Vietnam của Sử gia Quân Đội Paul Ham viết về Tiểu đoàn 1, Trung đoàn Hoàng Gia Úc Đại Lợi (1RAR), khi còn nằm dưới sự điều động của Lữ đoàn 173 Nhảy Dù Hoa Kỳ:
“Tiểu đoàn Úc được mô tả là lực lượng tác chiến an toàn nhất trong chiến tranh Việt Nam… Các chiến binh Úc đã cho thấy họ có khả năng truy lùng địch mà không trở thành mục tiêu của các cuộc phục kích đẫm máu đã khiến nhiều quân nhân Mỹ bỏ mạng…”
“Các toán tuần tiểu của Úc không bao giờ sử dụng các con đường mòn hoặc băng ngang những nơi trống trải, mà họ cẩn thận, âm thầm lần từng bước qua từng bụi tre, hay cành lá rậm rạp… Không có gì bực mình cho bằng đi theo một toán tuần tiểu của Úc băng rừng. Nhiều khi mất 9 tiếng đồng hồ để tiến được một dậm. Họ di chuyển từng bước một, rồi dừng lại, rồi lắng nghe, rồi bước tiếp…”

Cố ký giả Úc Neil Davis, người từng 10 năm làm phóng viên chiến trường ở Việt Nam và Cam-bốt, đã tuyên bố vào năm 1983:
“Tôi vô cùng hãnh diện về quân Úc. Họ rất chuyên nghiệp, được huấn luyện rất kỹ lưỡng, và họ chỉ đánh nhau với những người mà họ được đưa tới để đánh: Việt Cộng. Họ cố gắng không để thường dân bị liên lụy, và thường có tỷ lệ thương vong thấp hơn phía Hoa Kỳ”.
Cựu Đại tá Mỹ, David Hackworth, quân nhân Hoa Kỳ được ân thưởng nhiều huy chương nhất trong chiến tranh Việt Nam (24 huy chương) do lòng dũng cảm, đồng thời cũng là một ký giả quân đội, đã nhận xét như sau:
“Quân Úc chỉ sử dụng những toán nhỏ để tìm địch, sau khi tìm được mới gọi viện binh tới để thanh toán. Họ điều quân với sự tin tưởng: Chỉ cần một trung đội cũng đủ khả năng xoay sở khi đụng trận. “
“Khả năng xoay sở khi đụng trận” ấy đã được chứngminh qua trận Long Tân – một chiến thắng để đời của quân Úc trướcmột lực lượng địch đông hơn gấp 10 lần.
Trận đánh diễn ra trong hai ngày 18 và 19 tháng 8 năm 1966 gần làng Long Tân thuộc tỉnh Phước Tuy, giữa lực lượng Úc lúc ban đầu chì có 108 người và một lực lượng từ 1500 tới 2500 quân cộng sản của Trung đoàn 275 (Sư đoàn 5), Tiểu đoàn D445 Địa phương Cơ Động, với sự tăng cường của ít nhất một tiểu đoàn quân chính quy Bắc Việt.

*****

Vào thời gian này, Lực lượng Đặc Nhiệm Úc đại lợi mới tới đặt bản doanh ở Núi Đất được bốn tháng, công việc xây dựng căn cứ vẫn chưa hoàn tất.
Bắt đầu vào lúc 2 giờ sáng ngày 17 tháng 8 năm 1966, quân cộng sản cho pháo kích như mưa vào căn cứ từ một vị trí cách đó hơn 2 cây số. Sau khi cộng quân ngưng pháo kích, qua ngày 18 tháng 8 năm 1966, Đại đội D của Tiểu đoàn 6 (6RAR) gồm 105 quân nhân Úc và 3 tiền sát viên pháo binh Tân Tây Lan được lệnh tiến quân tới đồn điền cao su Long Tân gần đó. Tới xế chiều thì Trung đội 11 đi đầu bị một lực lượng địch cấp tiểu đoàn bao vây, tấn công bằng súng máy, súng cối và vũ khí cá nhân. Chỉ trong vòng 20 phút, 1/3 quân số của trung đội đã bị tử thương, trong đó có Trung đội Trưởng. Hai trung đội còn lại là Trung đội 10 và Trung đội 12 tiếnlên tiếp cứu thì Trung đội 12 cũng bị l ục lượng áp đảo của địch bao vây, cô lập và tấn công, còn Trung đội 10 thì bị đánh bật trở lại.
Trưóc tình thế tuyệt vọng ấy, quân Úc vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu, bởi vì hơn ai hết, họ hiểu rằng nếu để địch tràn ngập (overun) thì sẽ không còn một mạng người nào.
Một yếu tố không thể bỏ qua là sự yểm trợ với mức độ chính xác gần như tuyệt đối của các pháo đội Úc và Tân Tây Lan (tham chiến trong LLĐN). Nhờ đó, sau 3 giờ kịch chiến, đạn dược sắp cạn, chẳng những quân Úc không bị “overun” mà Trung đội 12 còn mở đường máu bắt tay với Trung đội 11, đưa các thương binh về vị trí của Ban chỉ huy Đại Đội.
Cùng lúc đó, hai chiếc trực thăng UH-1 tiếp tế đạn của Phi đoàn 9 Trực Thăng (của Không quân Úc) tới nơi, rồi Đại đội A tới tăng cường. Sau khi Đại đội B tới nơi cùng với 7 thiết vận xa M-113 thì quân Úc hoàn toàn làm chủ tình hình, và trận đánh kết thúc với một trận mưa pháo trên đầu đoàn quân địch đang rút lui.
Quân Úc không theo truy kích bởi vì mới chân ướt chân ráo tới đóng quân ở Núi Đất, họ chưa am tường địa thế cũng nhũ chưa biết nhiều về lực lượng địch.

Về sau, phối hợp các nguồn tin tình báo, người ta được biết, ngày ấy lực lượng cộng sản tại Bình Tuy dự trù một cuộc đại tấn công nếu không xóa sổ được Lực lượng Đặc Nhiệm Úc thì cũng cho một trận “dằn mặt”, không ngờ kết quả hoàn toàn trái ngược.
Phía Úc có 18 quân nhân thiệt mạng, gồm 17 người của Đại đội D và một người của Chi đoàn Thiết vận xa M-113. Phía cộng sản bỏ xác tại trận 245 tên, chưa kể vô số bị thương hoặc tử thương được đồng bọn mang đi.
Cho tới nay, tỷ lệ thương vong cách biệt nói trên vẫn được website của Bộ Quốc Phòng Úc hãnh diện ghi nhận là “chưa từng có trên thế giới”!
Trước khi xảy ra trận Long Tân, tại tỉnh Phước Tuy lực lượng cộng sản luôn luôn nắm thế chủ động, nhưng từ đó về sau, cho tới khi quân Úc rút đi, phía cộng sản chỉ còn những hoạt động du kích lẻ tẻ.
Về phần quân Úc, cho tới ngày ngưng mọi hoạt động tác chiến và bàn giao Căn cứ Núi Đất cho Quân đội VNCH vào ngày 16 tháng 10 năm 1971, đã tạo thêm nhiều chiến thắng oai hùng khác, tất cả đều với tỷ lệ thương vong (death ratio) 4:1 trở lên – nghĩa là một mạng lính Úc phải đổi được ít nhất 4 mạng Việt Cộng – nhưng vì chiến thắng Long Tân vừa là trận đụng độ quy mô đầu tiên, vừa tạo một kỷ lục khó tin tới mức huyền thoại, cho nên mỗi khi nhắc nhớ tới sự tham dự vào cuộc chiến Việt Nam, người Úc đều liên tưởng ngay tới hai chữ “Long Tân”. Cũng vì thế, Chính phủ Úc đã quyết định lấy ngày 18 tháng 8, ngày kỷ niệm chiến thắng Long Tân (Long Tan Day) hàng năm làm Ngày Cựu Chiến Binh Úc tham chiến tại Việt Nam (Vietnam Veterans Day).

50th Anniversary of the Battle of Long Tan - Commemorative Events - The  Battle of Long Tan
Long Tan anniversary: Services held around Australia to remember victims of  Vietnam War battle - ABC News


*****

Cùng với phong trào phản chiến ở Úc (do tổ chức thiên tả Vietnam Moratoriums sách động) mà đỉnh cao là các cuộc biểu tình, xuống đường của hàng trăm ngàn người trong hai năm 1970 và 1971, trước áp lực của cử tri và ngay trong nội bộ đảng Tự Do, ngày 18 tháng 8 năm 1971, Thủ tướng William McMahon đã quyết định cho bắt đầu rút quân Úc về nước. Ngày 19 tháng 12 năm 1971, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn Hoàng Gia Úc Đại Lợi (4RAR) là đơn vị lục quân cuối cùng lên mẫu hạm HMAS Sydney hồi hương.
Trong khi đó các cố vấn trong The Team vẫn tiếp tục ở lại Việt Nam để huấn luyện chiến thuật chống du kích cho phía VNCH và Quân đội quốc gia Khmer. Nhưng đúng một năm sau, khi Thủ tướng khét tiếng thân Cộng Gough Whitlam lên cầm quyền, “The Team” đã được lệnh chấm dứt hoạt động vào ngày 18 tháng 12 năm 1972 để lên đường về nước.
Ngày 11 tháng 2 năm 1973, nước Úc chính thức tuyên bố chấm dứt hoàn toàn mọi can dự vào cuộc chiến Việt Nam. Thủ tướng Gough Whitlam chính thức công nhận chế độ Cộng sản Hà Nội (ông ta cũng là nhà lãnh đạo phương tây đầu tiên công nhận chế độ Cộng sản Bắc Kinh).
Cho nên cũng là một điều dễ hiểu khi quân cộng sản Bắc Việt chuẩn bị chiếm Sài Gòn, các vận tải cơ C-130 Hercules của Không quân Úc tới Việt Nam với nhiệm vụ di tản các nhân viên sứ quán Úc và 130 người Việt gồm nhân viên sứ quán và thân nhân (như đã hứa trước), Gough Whitlam đã tàn nhẫn ra lệnh cho các phi công Úc không được cho một người Việt Nam nào bước lên phi cơ, với lý do “chính phủ Úc đã quyết định không nhận người tỵ nạn Việt Nam”.
Nhưng cái rủi của người này đôi khi lại là cái may cho người khác, mà trong trường hợp này, “người khác” ấy chính là các em cô nhi trong chương trình nhân đạo “Babylift” (Operation Babylift) do Không lực Hoa Kỳ và Không quân Úc thực hiện, những chỗ trống ấy đã giúp thêm khoảng 100 em được đưa ra khỏi Việt Nam trong những giờ phút hấp hối của Sài Gòn, nâng tổng số được sang Úc lên 281 em, trong đó em nhỏ tuổi nhất mói lọt lòng mẹ được 10 ngày.
Những người may mắn kế tiếp là thuyền nhân Việt Nam. Nguyên vào năm 1975, Lãnh tụ đảng Tự Do kiêm Lãnh tụ Liên Minh Đối Lập Malcolm Fraser đã không tiếc lời chỉ trích quyết định tàn nhẫn của Thủ tướng Lao Động Gough Whitlam. Sau khi đánh bại Lao Động vào cuối năm 1975 và trở thành Thủ Tướng, ông Malcolm Fraser đã “chuộc lỗi” của người tiền nhiệm bằng cách mở rộng vòng tay đón nhận thuyền nhân Việt Nam. Kết quả, chỉ tính thời gian 4 năm cao điểm 1979 – 1982, đã có khoảng 100,000 thuyền nhân Việt Nam được Úc nhận với tư cách tỵ nạn.

Nguyễn Hữu Thiện
Melbourne, tháng 11/2012


Tài liệu tham khảo:
1- Military History of Australia during the Vietnam War, Wikipedia
2- Vietnam – Australia’s Longest War, Vietnam War Veterans Association of Australia
3- The Royal Australian Air Force and the Vietnam War, Ministry of Defense (RAAF)
4- Phi đội Trực Thăng Hải Quân Úc – một phi đội bị quên lãng. Lý Tưởng Úc Châu, Xuân 2000

(nguồn LTUC Xuân Quý Tỵ 2013)

Nguồn: https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1/s%C6%B0u-t%E1%BA%A7m-bi%C3%AAn-kh%E1%BA%A3o/4375-qu%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-ho%C3%A0ng-gia-%C3%BAc-v%C3%A0-cu%E1%BB%99c-chi%E1%BA%BFn-vi%E1%BB%87t-nam?9717=

Anh Đã Chết Bên Cạnh Tôi – Đỗ Đức Kỳ

  • Đỗ Đức Kỳ

A-1 Skyraider VNAF Photo 073

Phi trường Đà Nẵng.

Từ lâu, tôi có ý tưởng muốn viết về một người, một người đã ra đi vĩnh viễn, nhưng hình ảnh còn ám ảnh trong tôi. Người đó tuy xa lạ với mọi người nhưng rất quen thuộc với các bạn ở các Phi đoàn Quan sát. Nhất là Quý vị ở Trường Phi hành. Trung tâm Huấn luyện Không quân Nha trang.

Riêng Không đoàn 41, chẳng ai không biết đó là cố Thiếu tá Nguyễn tuấn Dị, người mà tôi hằng thương mến.

Vào năm 1965, tôi đã gặp và nói chuyện với anh vài lần ở Trung tâm Huấn luyện Không quân. Anh là Huấn luyện viên, sau đó anh du học Hoa kỳ.

Rồi năm 1967, tôi lại được gặp anh, lần gặp gỡ này thật lạ lùng. Sau khi tốt nghiệp Hoa tiêu Khu trục ở Hoa kỳ về, tôi cứ nghĩ anh là người hùng Khu trục AD 6. Nhưng ngờ đâu anh lại về Phi đoàn Quan sát với tôi, một Phi đoàn tiếng tăm, Huy chương nhiều, mà xui xẻo cũng không ít.

Lần gặp gỡ này, tuy không bỡ ngỡ gì, nhưng cảm tình giữa tôi và anh lại tràn đầy. Anh coi tôi như một thằng em, vui buồn đều có nhau. Đáp lại tôi coi anh như một người anh thật sự, tất cả tâm tư, thắc mắc đều nhờ anh chỉ bảo, nhất là về chuyên môn trong ngành. Về địa hạt này anh đúng là ông Thày của tôi, chính vì điểm anh thương tôi, nên anh đã chỉ hết cả những kinh nghiệm trong suốt những năm tháng bay bổng trên vùng trời miền Trung, núi rừng trùng điệp.

Một buổi tối, vào mùa mưa anh đến gõ cửa phòng tôi. Hồi đó chị và bé Hoàng chưa ra Đà nẵng, hãy còn ở Nha trang, anh tâm sự với tôi :

– Kỳ ơi, anh nhớ Chị và cháu quá, anh nằm ngủ không được, mò sang nói chuyện cho đỡ buồn. Kỳ này, anh nói thật đừng buồn nhé, mày với thằng H. hơi tốc kê đấy. Nhưng anh lại thương hai đứa mày nhất đó. Anh coi như em út trong nhà vậy.

Qua sự cởi mở đó, anh và tôi cùng ngồi trên giường tựa lưng vào tường. Sở dĩ có sự ngồi như vậy vì khu Cư xá Sĩ quan độc thân của chúng tôi tại Không đoàn 41 chẳng có bàn ghế gì cả. Một thằng vỏn vẹn một giường sắt và một tủ đựng quần áo.

– Kỳ này, số tao Trời bắt ở Phi đoàn Quan sát. Hồi ở Hoa kỳ về, tao cứ tưởng thoát nợ chứ ?

– Ờ, tại anh có duyên với Phi đoàn Quan sát mà, anh đừng đổ tội cho Trời mà khổ to đó.

Khi nghe tôi nói thế anh chỉ mỉm cười không nói. Lúc này mặt anh thật buồn, có lẽ một phần vì nhớ gia đình, một phần câu chuyện mà anh tâm sự với tôi.

Trời Đông lạnh, gió thổi ào ào, và thêm mưa rả rích trên mái tôn xi măng.

Tôi biết anh đang buồn nên không khơi chuyện gia đình anh và chuyển qua chuyện bay bổng…

Và chính đêm này anh đã kể lại cuộc đời bay bổng của anh cho tôi nghe :

Hồi năm 1961, ra trường anh cũng chỉ là Quan sát viên. Thời gian đầu anh dồn tất cả cho công việc khó khăn này, vì anh nghĩ, một cuộc hành quân, thắng hay bại phần lớn nhờ người Quan sát viên. Mặc dầu những bước đầu đầy bỡ ngỡ như tôi trước đây, rồi dần dần quen đi. Làm Quan sát viên phải phán đoán và nhận xét về vùng hành quân thật mau lẹ cần nhiều sáng kiến, mới mong thắng địch dễ dàng.

Anh kể tiếp :

– Mày biết không ? Chính lần bị thương đó, tình yêu của tao sao nó đẹp thế, nó tràn đầy thương mến, và cũng mang nhiều hy sinh. Nó bao la như biển. Lần bị thương này cũng nhiều nước mắt. Ngày đầu tiên chị đến thăm tao, tao khóc, khóc thật đấy. Khóc vì mừng được nhìn lại người tao yêu sau một năm xa cách. Khóc vì anh chưa cho chị hay, chị đã đến với anh một cách bất ngờ, nhưng đúng lúc. Chị đã an ủi anh lần này thật nhiều.

Tao thương Chị từ khi tao còn là Sinh viên Sĩ quan ở Quân trường. Hồi đó Chị mới 16 tuổi đẹp như mùa Xuân, tuổi của mộng mơ. Tao thường trốn đi phố và cùng rủ chị trốn học. Hai đứa ra ngồi bờ biển nghe sóng vỗ, nói chuyện tâm tình.

Rồi ngày anh bị thương, chị đã được tin qua một người bạn, tức tốc chị xin phép gia đình vào Sài Gòn thăm anh rồi ở luôn đấy săn sóc cho anh. Mặc dù lúc đó anh chị chưa đính hôn, tình yêu cao cả ở chỗ đó.

Nói tới đây anh nhìn đồng hồ :

– Chà 12 giờ rưỡi rồi. Thôi, mày ngủ đi, sáng mai còn đi biệt phái.

Anh đẩy cửa bước ra ngoài. Sau khi đóng cửa và tắt đèn, tôi nằm một mình trong bóng tối, nghĩ đến tình yêu của anh chị Dị, sao mà đẹp thế. Rồi chìm vào giấc ngủ.

Những ngày sống bình thản trôi qua. Chính những ngày này càng làm đậm thêm tình giữa anh và tôi.

Mỗi buổi sáng cũng như tối, những ngày mưa dầm, tôi và anh là những người chỉ thích cà phê đen, uống nhiều đến nỗi, anh em trong Phi đoàn thường trêu : – “Uống cà phê đã đến lúc ngấm ra ngoài da rồi đó !”

Anh có nước da ngăm đen, bánh mật, đúng nghĩa đen dòn, đen một cách duyên dáng, của những người phong sương, nắng cháy.

Anh em trong Phi đoàn cũng thường nói :

– Anh nào chưa biết mùi cà phê cô Dung ra sao cứ việc lại gần anh Dị là biết ngay. Khỏi cần xuống Câu lạc bộ. (Cô Dung là cô bán Câu lạc bộ cho Phi đoàn 110, đó cũng là nơi tôi và anh, giờ rãnh rỗi ngồi uống cà phê )

Sau những ngày nhung nhớ vợ con, anh đã cố gắng thuê một căn nhà nhỏ ở đường Lê đình Dương, cho chị và cháu ra ở cho vui.

Ngày vợ con anh ra, tôi không có nhà, buổi tối đi bay về, tôi thấy gia đình anh đã có mặt tại căn phòng chật hẹp của tôi rồi. Đúng là chiếm nhà bất hợp pháp, vì có vụ chiếm nhà này, tôi đành phải đi ngủ lang thang mấy phòng thằng bạn đã đi biệt phái.

Sau ít lần tiếp xúc, thường vào buổi tối cảm tình đã xâm chiếm trong tôi cũng như lần gặp lại anh Dị vậy – nhất là bé Hoàng.

Nói về chị Dị, tôi không biết phải diễn tả sao cho đúng sự thật khi tiếp xúc, chị là một người vui tính, chính sự vui vẻ này, mà cảm tình của tôi dành cho chị thật nhiều. Chị cũng coi tôi như em chị vậy. Chị đã kể cho tôi nghe những cực khổ cũng như những vui buồn trong thời gian anh chị thương nhau, lấy nhau, rồi bé Hoàng chào đời. Rồi anh đi du học và giờ đây lại theo anh ra vùng hỏa tuyến này, phải bỏ tất cả những công việc đang làm.

Tôi nghĩ chị thật là một người đàn bà can đảm, một người đàn bà theo đúng nghĩa Á đông.

Hôm anh chị dọn ra phố, thật vui. Đồ đạc vỏn vẹn vài xách tay, ít dụng cụ làm bếp và cái giường sắt của Tiếp Liệu cho.

Xe chuyên chở là cái xe Vespa cũ kỹ thời xa xưa của anh, và cái xe Mini Lam của tôi, cái Vespa mà tôi thường nói đùa :

– Xe anh mang vô Viện bảo tàng được rồi đó. Có lẽ được giá anh ạ.

Anh đã vênh mặt lên trả lời với tôi :

– Tao cưng nó sau bà xã, đụng đến nó là bỏ mạng sa trường nghe cưng. Từ nay cưng đừng có ngồi lên đằng sau xe của tao nhé !

Mặc dầu mỗi lần đạp máy, nổ kêu ầm ầm, nhưng mỗi lần đi đâu tôi đều được ưu tiên ngồi đằng sau anh. Còn xe tôi để lại Phi đoàn, vì anh chê xe tôi yếu quá, trông không hùng tráng tí nào. Tới đây tôi xin được tiết lộ bí mật rằng, mặc dầu cũ kỹ nhưng mỗi lần anh đi biệt phái hay công tác, chị ỡ nhà vẫn rửa và lau chùi bóng loáng.

Trở lại vụ dọn nhà của anh Dị và bé Hoàng. Thật thảm hại cho cái xe bé nhỏ. Đằng trước chỗ để chân là cái sắc, chị ngồi phía sau với một mớ xoong chảo, còn xe tôi chở bé Hoàng. Phía trước mặt cũng không được tha, chở một sắc tay chứa đồ lặt vặt. Hai anh em phải di chuyển hai lần mới “Hoàn thành công tác”.

Trưa hôm đó tôi ăn cơm với anh chị tại ngôi nhà mới này. Bữa cơm đạm bạc nhưng vui và thật ngon miệng, gồm cá kho và rau muống luộc.

Trong bữa ăn, chị xin lỗi vì chị mới ra chưa quen chợ, chú ăn đỡ vậy. Bữa nào rỗi, chị mua món Nai đồng quê làm cho hai anh em ăn.

Sở dĩ chị biết tôi thích món này vì anh Dị kể cho chị nghe, những ngày anh mới tới đây, tôi có đưa anh đi ăn món Quốc hồn, Quốc túy này ở Thanh Bình vài lần.

Ăn xong, tôi xin phép về phòng nghỉ, buổi chiều tôi có phi vụ, thả truyền đơn, hơn nữa nhà chật đồ đạc còn tùm lum, tôi có ở lại cũng chẳng có chỗ nào ngả lưng.

Từ ngày anh chị dọn ra phố, tôi ít có dịp gặp chị và cháu, nhưng ngày nào tôi và anh cũng gặp nhau và vẫn sinh hoạt với nhau đều đều. Lâu lâu có ngày nghỉ, tôi mới ra thăm chị và bé Hoàng ít phút cho đỡ buồn. Vì không khí gia đình làm tôi thấy ấm lại, trong những ngày xa nhà. Nhất là bé Hoàng thấy tôi là chạy ra đón liền.

Kỷ niệm êm đẹp làm tôi nhớ mãi trong kiếp bay bổng. Những lần anh và tôi cùng biệt phái tăng cường Huế. Chúng tôi ít đi ăn cơm ở quán. Chúng tôi thường mua bánh mì, nước ngọt và tré, vừa ăn, vừa kể chuyện hành quân, chờ giờ cất cánh, như trận đánh Chợ Gạo ,Thủ Thừa. Anh dạy tôi các mánh khóe đánh lừa địch, buộc địch phải lộ diện.

Trong cuộc hành quân ở Ashau một lần tôi hướng dẫn Khu trục bằng trái khói Pháo binh, anh đã chưởi tôi thậm tệ. Vì tôi lười một phần cũng vì tôi ngại xuống liệng trái khói. Anh nói :

– Mầy sợ Việt cộng nó bắn hả ? Lần sau ở nhà, tao đi một mình. Sao mầy không kêu tao xuống, mầy thả trái khói, nhờ Pháo binh làm chi ? Nguy hiểm cho mình và cả Khu trục nữa ?

Hạ cánh xong, khi còn ngồi trên tàu, anh giảng dạy thêm cho tôi biết về nguy hại của sự dùng Pháo binh. Vì Pháo binh không chính xác, nguy cho cả Phi cơ đang bay cùng quân bạn rất gần mục tiêu.

Phải công nhận trong nghề bay bổng, anh Dị là người rất hăng say. Không bao giờ anh từ chối một phi vụ nào ? Một lần đi tăng cường tại Huế, tôi cùng đi với anh, 5 giờ rưỡi chiều, chúng tôi cất cánh từ Huế về Đà Nẵng, khi về đến đèo Hải vân, chỉ còn 5 phút nữa là hạ cánh. Nhưng nhận được lệnh hành quân qua đài Panama, phải ra Đông hà hướng dẫn Phi tuần vì quân bạn đang bị địch tấn công. Mặc dù đây là Phi vụ từ chối được, vì L.19 phải về đáp trước 6 giờ rưỡi. Hơn nữa L.19 thiếu phi cụ để bay trong những đêm không trăng sao của những ngày cuối tháng.

Anh hỏi tôi :

– Kỳ, có thể đi được không mầy ?

– Tùy anh, tôi sao cũng được.

Mặc dù nói thế nhưng tôi cũng thấy hơi run trong bụng.

Khi hướng dẫn quân bạn chiếm mục tiêu trong bóng tối xong, tôi nhìn đồng hồ đã thấy 9 giờ đêm.

Trên đường về chúng tôi bay thật thấp để nhận địa thế và hướng đi. Anh lái, tôi làm công tác dò đường, chỉ hướng đi và báo cáo vị trí con tàu với đài Panama.

VNAF O-1 Birddog at Da Nang AB 1969 | manhhai | Flickr

Phi trường Đà Nẵng.

Khi hạ cánh ở phi trường Đà Nẵng, tôi thấy nhẹ người, đồng hồ chỉ đúng 10 giờ rưỡi. Có điều an ủi nhất trong phi vụ này là sự lo lắng của Thượng cấp cũng như anh em trong Phi đoàn. Sự đón tiếp nồng nhiệt của Trung tá Tư Lệnh Phó. Đại Úy Chỉ huy trưởng Phi đoàn và anh em ngay ngoài bến đậu phi cơ làm chúng tôi cảm thấy hãnh diện.

Đối với anh em trong Phi đoàn, anh luôn luôn bênh vực và bảo vệ quyền lợi cho anh em Phi hành, chính vì cảm tình đó, toàn thể Sĩ quan đều đồng lòng bầu anh là Chiến sĩ CTCT đầu tiên của Phi đoàn.

Khi đã là Chiến sĩ CTCT, đáng lý anh sẽ ít bay bổng, để lo công việc cho anh em, nhưng anh luôn luôn đi bay và bay bất cứ phi vụ nào. Anh vừa bay vừa tranh đấu cho quyền lợi anh em trong Phi đoàn.

Đặc biệt từ khi là Chiến sĩ CTCT anh hay đi tăng cường các Biệt đội, để biết các khó khăn về tinh thần cũng như vật chất để giúp đỡ kịp thời

Từ khi tôi về Phi đoàn Quan sát, tôi nhận xét trong những người bạn hiền lành vui vẽ và dễ thương thì anh là người được anh em trong Phi đoàn quý mến nhất, cũng có những người rời bỏ Phi đoàn ra đi, cũng không quên được anh. Riêng cái chết của anh Dị làm tôi xúc động. Đến phút cuối cùng anh vẫn còn hy sinh để cứu mạng sống của tôi. Trước khi từ giã cõi đời anh còn nói với tôi :

– Kỳ ơi, tao bị trúng đạn rồi…

Rồi anh gục trên cần lái !

Anh đã bị tử thương trong phi vụ hành quân ở Điện Bàn – Hội An. Sau khi chúng tôi gây tổn thất nặng nề cho Cộng quân, anh đã bị trúng đạn phòng không trong lúc hướng dẫn quân bạn chiếm mục tiêu.

Anh mất đi, để lại cho anh em một sự tiếc thương vô vàn.

Phi đoàn 110 nói riêng. Không Quân nói chung, mất đi một Chiến hữu gan dạ, một người Chỉ huy tư cách và Can trường.
Đỗ Đức Kỳ

Nguyệt San Lý Tưởng 1970

Nguồn: https://hung-viet.org/p18a17593/anh-da-chet-ben-canh-toi

PHƯỢNG – Vũ Lâm

“𝘉𝘢̆̀𝘯𝘨 𝘵𝘢̂́𝘵 𝘤𝘢̉ 𝘵𝘳𝘢𝘯𝘨 𝘵𝘳𝘰̣𝘯𝘨 𝘷𝘢̀ 𝘬𝘪́𝘯𝘩 𝘮𝘦̂́𝘯 𝘨𝘶̛̉𝘪 đ𝘦̂́𝘯 𝘯𝘩𝘢̀ 𝘷𝘢̆𝘯 𝘋𝘰𝘢̃𝘯 𝘘𝘶𝘰̂́𝘤 𝘚𝘪̃, 𝘬𝘩𝘪 𝘮𝘢̣𝘯 𝘱𝘩𝘦́𝘱 𝘯𝘩𝘢̆́𝘤 đ𝘦̂́𝘯 𝘲𝘶𝘺𝘦̂̉𝘯 𝘋𝘰̀𝘯𝘨 𝘚𝘰̂𝘯𝘨 Đ𝘪̣𝘯𝘩 𝘔𝘦̣̂𝘯𝘩 𝘵𝘳𝘰𝘯𝘨 𝘣𝘢̀𝘪 𝘯𝘢̀𝘺. 𝘘𝘶𝘺𝘦̂̉𝘯 𝘵𝘳𝘶𝘺𝘦̣̂𝘯 𝘵𝘪̀𝘯𝘩… đ𝘰̣𝘤 𝘭𝘶́𝘤 𝘵𝘶𝘰̂̉𝘪 𝘮𝘰̛́𝘪 𝘭𝘰̛́𝘯.” (𝘝𝘶̃ 𝘓𝘢̂𝘮)

https://bienxua.files.wordpress.com/2019/02/ho-tong-ham-pce-va-tuan-duyen-pgm-cua-ham-doi-hqvnch-thao-dot-hai-hanh-tuan-tieu-can-duyen.jpg?w=1000

Tiếng người Hạ Sĩ Giám Lộ qua hệ thống “intercom” gắn đầu giường đánh thức Lâm:
– Mời sĩ quan hải hành lên đài chỉ huy.
Lâm tỉnh dậy, bật đèn đầu giường nhìn đồng hồ. Mới gần ba giờ sáng. Anh hất chăn ngồi dậy, mắt còn cay, cảm giác lừ đừ, nhờn nhợn như muốn say sóng. Lâm cố gắng mặc quần áo, đi giầy, đội nón bằng một tay, một tay phải ghì chắc thành giường để không bị ném qua, hất lại theo độ lắc của con tầu, anh lẩm bẩm:
– Mẹ!!… chạy sóng ngang… biển động!!!Lên đến đài chỉ huy, gió biển và hơi nước lạnh làm Lâm tỉnh ngủ và dễ chịu. Nhân viên “đương phiên” làm việc im lặng trong bóng tối. Chỉ có ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn nhỏ rọi xuống bàn hải đồ, những vệt sáng xanh yếu ớt quét trên mặt radar và vài đốm đèn đỏ trên các dụng cụ hải hành, vô tuyến. Tiếng gió ào ào lùa qua cửa ở hai bên đài chỉ huy và tiếng sóng ầm ầm đập vào thành tầu. Con tầu nghiêng qua, nghiêng lại, chồi hụp theo cơn biển động. Nhìn qua cửa kính phòng lái, mỗi khi mũi tầu hụp xuống, Lâm thấy sóng ụp qua cả pháo tháp khẩu đại bác 127 ly ngoài sân mũi.
Lâm đến bên radar nhận định hình dạng bờ biển, đo khoảng cách, qua bàn hải hành xem lại vị trí đầu giờ cuối cùng của chiến hạm rồi ra “balcon” tả hạm. Trung uý Trác, sĩ quan trưởng phiên đang quan sát, thấy Lâm đến bên, anh buông ống nhòm, hai người chào nhau quân cách, xã giao. Đêm trùng dương mịt mùng, tối đen, chỉ có muôn vạn vì sao nhấp nháy. Trung úy Trác chỉ cho Lâm một ánh đèn nhỏ, yếu ớt, chớp tắt ở thật thấp phía trước mũi tầu rồi phân trần:
– Không muốn đánh thức trung úy đâu, nhưng Hạm trưởng ghi trong sổ: “Gọi sĩ quan hải hành thượng phiên khi bắt được đèn hải đăng Vũng Tàu và gọi nhiệm sở neo khi cách điểm neo năm hải lý”. Bây giờ còn cách Vũng Tầu ba mươi tám hải lý. Biển động và ít tầu bè qua lại, không có gì đáng ngại.
Lâm tiếp lời Trác:
– Mai tôi về phép, chắc hạm trưởng cố tình dựng dậy sớm, muốn “đì” cho… bõ… ghét. Mình đi về Vũng Tầu, Trường Sa, như đi chợ có gì đâu quan trọng.
Trách vui vậy thôi, thâm tâm Lâm rất mến và kính trọng người hạm trưởng dị tướng, lùn, đầu to, nhưng có thực tài, tư cách và đức độ. Khác xa với các hạm trưởng và đơn vị trưởng trước cuả anh.
Nhớ ngày thuyên chuyển lên chiến hạm này, khi tầu đang neo ngoài khơi Vũng Tàu chờ đi công tác ngoài quần đảo Trường Sa. Mới leo lên tầu, nhận phòng chưa kịp sửa xoạn, đã nghe máy gọi:
– Mời trung uý Lâm lên phòng hạm trưởng trình diện tân đáo.
Khi Lâm đứng chào xưng danh, Hạm trưởng lầm lì, nghiêm nghị, quan sát Lâm từ đầu đến chân, mắt ông ngừng lại trên cái cánh “bằng dù” Lâm đeo trên ngực:
– Trung uý có bằng nhẩy dù?
– Thưa hạm trưởng có.
– Trên chiến hạm này chắc không có dịp cho trung uý xử dụng! Mời ngồi.
Hạm trường cúi nhìn xấp hồ sơ lý lịch, ông hỏi:
– Trung uý ở tuần duyên hạm PGM thuyên chuyển đến, hạm phó?… Đã ở giang đoàn mười chín tháng?
Không đợi Lâm trả lời, ông tiếp:
– Đây là một trong chín chiến hạm lớn nhất của hải quân Việt Nam, trung uý cố giữ đúng truyền thống, bất cứ lúc nào ra khỏi phòng riêng cũng phải nghiêm chỉnh với quân phục có đầy đủ lon, giầy, nón. Không có kiểu bà ba đen, đi dép như ở PGM. Có lẽ phải gọi là thuyền phó thì đúng hơn là hạm phó, ở PGM anh mới chỉ là hải thuyền chưa phải là hải quân!
Sau màn phủ đầu, ông có vẻ diụ dàng hơn, chỉ dẫn các điều cần thiết, trao nhiệm vụ…
Sau màn dịu dàng lại đến dằn mặt:
– Hai tuần sau trung úy nộp cho tôi phúc trình tân đáo về hiểu biết chiến hạm, từ tiểu sử, đặc tính, quán tính, nhân viên, vũ khí, vận chuyển, phòng tai.
Thêm một màn khó nuốt:
– Đi viễn dương, mỗi ngày trung uý làm và nộp cho tôi ba “point” thiên văn xác định vị trí chiến hạm, một vào lúc trước mặt trời mọc mười lăm phút, một sau khi mặt trời lặn mười lăm phút và một vị trí buổi trưa lúc mặt trời qua kinh tuyến với hai đường Loran.
Lâm chửi thầm:
– Tổ mẹ! cha nội vừa “rắc-lô”, vừa “hắc ám” vừa ra vẻ nhân từ. Độc như “thịt vịt”! Có lẽ phải kiếm đường “chẩu”, xin đổi đi giang đoàn thuỷ bộ, xuống Năm Căn, húc, ủi, bắn cá thòi lòi còn dễ thở hơn,… sống thế chó nào nổi với thằng lùn, “nhất lé, nhì lùn, tam hô, tứ sún”!
Nhưng trước khi Lâm ra khỏi phòng ông nhẹ giọng:
– Anh là sĩ quan hiện dịch, binh nghiệp suốt đời, quân đội đã tốn rất nhiều để đào tạo. Tôi chỉ muốn anh thành một sĩ quan hải quân giỏi, chuẩn bị cho anh sau này làm sĩ quan Hải Hành thay thế đại uý Phiệt sẽ thuyên chuyển… cấp số thiếu tá, dễ cho anh dự tranh đại uý cuối năm.
Rồi ngần ngừ ông hỏi:
– Anh biết H.T.Đ cùng khoá Đà Lạt với anh không? Em ruột tôi đấy, sư đoàn 23.
Từ đấy, Lâm theo con tầu, vui buồn với bao chuyến hải hành, sóng gió, lênh đênh… anh mến hạm trưởng, thương con tầu và không bao giờ nghĩ đến thuyên chuyển. Một lần lên bờ ngồi chung trong quán, Hạm trưởng hỏi:
– Sông cũng đủ rồi, biển cũng dư hải vụ… sao không lên bờ cho ấm?
Lâm thành thật trả lời:
– Võ Bị lạc sang không quân, hải quân đã “phè” lắm rồi! Truyền thống hào hùng, nếu lục quân phải mũ mầu, nếu không quân phải bay F5, còn hải quân phải trên Tuần Dương Hạm. Tôi chỉ muốn ở biển, hoặc về sông, không muốn đơn vị bờ: “bó thân về với triều đình. Hàng thần lơ láo phận mình ra sao”, hải quân mắc cạn, không giống ai, thà làm công chức sướng hơn.
Hạm trưởng mắng như mắng đứa em:
– Ngang như cua! cùng lò với nhau, giống thằng em tôi như hệt, sướng không muốn, muốn bị đầy đọa. Khùng!

Tuan duong ham HQ2, HQ6 va HQ5.


* * *

Tầu về bến, cho dù chỉ được neo ở ngoài khơi để tiếp tế, đi chợ, cũng là niềm vui sướng, mong đợi của đời thủy thủ. Lần về bến này, Lâm thấy tâm hồn mình khác lạ, bồn chồn, không háo hức “đi bờ”, la cà trên Vũng Tàu như những lần trước. Cuộc đời Lâm sắp có đổi thay…
Khi neo cắn, giải tán nhiệm sở neo xong thì trời đã mờ sáng. Đèn thành phố dọc bờ biển đã tắt, núi Hải Đăng, nhà cửa, bãi trước Vũng Tầu rõ dần. Cầu thang và “ca-nô” được thả xuống, Lâm xuống “ca-nô” để vào bờ với giấy nghỉ phép và lời dặn dò thân thiện, pha chút giỡn cợt của hạm trưởng:
– Vào bờ sớm cho kịp chuyến xe về Sài Gòn… Trung úy sắp tàn số đào hoa… cùn đời thuỷ thủ!… Không còn được quyền bay bướm với các em Sài Gòn, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Cam Ranh, Vũng Tầu… Sau này mỗi khi Tầu cặp bến, tôi sẽ cho niêm yết tại hạm kiều: “Trung uý Lâm đã có vợ”.
Lâm về phép hỏi vợ! Chuyện tình nào rồi cũng phải có đoạn kết. Sự chọn lựa nào cũng có ít nhiều tiếc nuối và quyết định nào cũng vướng chút ít chua cay. Lâm đã quyết định hỏi vợ, không biết anh có thực hiện đúng câu: “Phải cầu nguyện một lần trước khi ra trận, phải cầu nguyện hai lần trước khi xuống tầu vượt biển, nhưng phải cầu nguyện đến ba lần trước khi quyết định lấy vợ?”.
Trên chuyến xe đò Vũng Tầu Saigòn, chuyến xe về đổi đời, Lâm ngồi trầm ngâm ôn lại quá khứ. Anh thấy nỗi xao xuyến dâng lên trong hồn với nỗi buồn man mác. Lâm nhớ lại những người tình, những cuộc tình đến rồi đi ngắn ngủi, vội vàng. Anh tự trách, sao mình lại có thể là người bội bạc! sao tình cảm mình lại hay thay đổi bất thường. Rồi anh cũng tự bào chữa, Thuỷ, Duyên, Mai, Ngọc … chỉ là bạn thôi! nếu có xa hơn cũng chỉ là nửa người tình, nửa bạn.
Ngay từ khi mới lớn, thấy Lâm có nhiều thư từ, bạn gái, mẹ anh đã nói:
– Đào hoa lắm chỉ rước họa vào thân! Lắm mối tối nằm không! Con sẽ khổ vì tình thôi!
Lâm nhớ đến Thuỷ, cô bạn chanh chua, hay đay nghiến, ghen và dằn vặt anh nhiều nhất, lần cuối cùng Thuỷ đến, cô nàng tươi cười đắc thắng:
– Anh Lâm bay bướm lắm, lăng nhăng lắm, chẳng cô nào chịu nỗi đâu, cô nào rồi cũng phải đá anh thôi, vô phúc mà thương và chờ anh thì cổ sẽ dài hơn cổ cò… Thủy đến đưa thiệp mời, tháng sau Thủy đám cưới…
Lâm nhăn nhó làm vẻ đau khổ:
– Thuỷ xem đấy, gia cảnh nghèo, chỉ còn một mẹ già, tháng ngày xa nhà, lênh đênh biển cả, chẳng cô nào dám rớ tới! Nhưng anh biết rồi, Thủy có chàng dược sĩ trẻ, mặt búng ra sữa, quý tử cuả Xuân phamacy ở đường Phan Đình Phùng, đúng chưa? Anh mừng cho Thuỷ. Bao giờ anh chán nghề đi biển, sẽ về học dược, học pha chế rồi cũng mở tiệm bán thuốc, nhưng nhất định anh sẽ không bán aspirine, penicilin, lincosine, thuốc trụ sinh, độc dược, mà bán Basto, Capstan, Salem, Pallmall, ba số năm, thuốc lào Gò Vấp… chưa chắc ai sẽ giầu hơn ai?
Lâm nghĩ về Duyên, cô bé Bắc kỳ hay dỗi, hay hờn, một lần bắt gặp Lâm đứng uống nước mía Viễn Đông ỏ góc đường Pasteur nói chuyện với Thủy, cô nàng cố tình đi chen vào giữa cho Lâm thấy rồi nguýt dài một cái. Ngày hôm sau Duyên sai em gái đem thư tới đòi lại tất cả thư từ, hình ảnh, các vật kỷ niệm, nàng đòi lại từ quyển truyện, quyển báo, bản nhạc, cả đến những thiệp chúc Tết từ những năm xa xưa mà nàng tự tay làm lấy cho Lâm.
Loan, cô bạn Lâm mến nhất, ca sĩ cuả một ban nhạc địa phương, vừa là một “ca ve” bán chính thức, nàng trẻ, đẹp nhưng ăn nói ngổ ngáo, sống sượng, cố làm vẻ già dặn, bụi đời. Lâm quen Loan hôm dạ vũ tổ chức trên chiến hạm khi cặp bến Đà Nẵng. Hôm ấy, anh ngồi một mình ở salon trong góc phòng khách sĩ quan, uống nước ngọt, ngắm ca sĩ trình diễn, nhận diện các mệnh phụ phu nhân, các quan lớn, tá, tướng, tư lệnh, tỉnh trưởng…đang lả lướt trên sàn nhẩy, Loan đến rất tự nhiên, xấc xược và trêu chọc:
– Hạm phó và các sĩ quan đằng kia xúi em đến tiếp chuyện trung uý, người hùng cô đơn, trắng trẻo, đẹp trai, hiền lành, chỉ biết uống nước ngọt…còn…tân! Em tên Loan…
Lâm liếc sang đám hạm phó và các sĩ quan ngồi đối diện phiá bên kia sàn nhảy đang chăm chú theo dõi hai người, anh kéo Loan ngồi xuống bên cạnh:
– Em nhìn lầm người rồi… Trông vậy, thấy vậy, tưởng vậy mà không phải vậy đâu, ác qủy đấy. Vợ ba con, đào nửa tá, em rớ tới chỉ thiệt thân, chỉ từ thua tới lỗ, từ chết đến bị thương thôi. Đế dăm xị, ông già bật ngửa hay ông già chống gậy được nửa lít, Cognac hai chai. Không hiền đâu! Hôm nay là sĩ quan trực nhật, nên không được phép uống, phải thì thọt chạy vào, chạy ra hạm kiều coi chừng an ninh, đón tiếp quan khách.
Hất mặt sang đám sĩ quan bên kia, Lâm tiếp:
– Mời em nhẩy bản kế tiếp cho chúng nó cụt hứng… bọn chúng đang đo bản lĩnh cuả anh đấy.
Hôm ấy, Loan ngồi tiếp chuyện với Lâm suốt buổi, trừ những lúc ban nhạc giới thiệu Loan lên hát và những lúc Lâm phải ra thăm dò ngoài hạm kiều. Khi gần cuối, lúc hấp dẫn nhất của màn vũ thóat y “Tabu” do T. Thủy trình diễn, Loan cố tình choàng người qua, ấn ngực vào vai Lâm ý muốn khoe… ghé sát miệng vào tai anh, nói nhỏ chọc ghẹo:
– Làm gì mà ngẩn ngơ như bé Tí thèm nắm xôi vậy… của giả đấy!!
Lâm cũng sỗ sàng:
– Biết rồi! của em mới thiệt, phải không?
Sau cuộc chiến Hoàng Sa với Trung Cộng, chiến hạm Lâm biệt phái tuần tiểu dài hạn cho vùng một, mỗi lần nghỉ bến Đà Nẵng, anh lại có dịp gặp Loan. Đi chơi với Loan, Lâm thấy thoải mái, dễ chịu, Loan không kiểu cách, giả dối, õng ẹo, như các tiểu thư khuê các Sài Gòn, chơi với nhau rất tự nhiên, sòng phẳng và thân thiện như hai bạn trai, cũng có lúc đốp chát, sỉ vả nhau, hạ nhau sát ván rồi cười hòa. Sau giờ Loan hát, Lâm thường rủ đi ăn mì Quảng, ăn chè, mực nướng bên bờ sông Hàn.
Một lần Lâm mời Loan ăn tối ở Hải Ký, cô nàng cố tình chọc phá, kéo theo bốn cô bạn, hôm ấy các nàng cứ chụm đầu vào nhau cười nói rúc rích, tíu tít gọi các món ăn cho đầy bàn, bồ câu quay, gỏi sứa, cá hấp, rồi chấm chấm, mút mút làm duyên không ăn. Trung uý Thanh ngồi bàn gần đấy ghé qua mượn bật lửa nói nhỏ với Lâm:
– Trung uý Lâm đào hoa thật, nhưng hao đạn nhé!!
Lâm cười không trả lời. Khi bữa ăn gần tàn, Lâm móc túi tìm thuốc hút thấy không còn, anh đội nón đứng dậy nói với Loan:
– Sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà… Đọi! anh ra cửa mua thuốc lá lẻ…hai mươi đồng ba điếu Capstan!
Ra đến cửa, anh thuê xe về tầu, leo lên giường ngủ thẳng giấc.
Sau này gặp lại Loan, cô nàng sỉ vả, Lâm cười trừ:
– Anh đã nói với Loan từ buổi đầu, cô nào đến với anh, nhất là cố tình chơi gác thì chỉ từ thua đến lỗ … tin chưa?

* * *

Ra đến xa lộ Biên Hòa xe chạy nhanh và êm hơn, khi ngang qua làng đại học Thủ Đức, Lâm thấy lòng buồn lâng lâng! Nỗi buồn ẩn dấu trong tim bỗng tràn về ngập hồn. Anh biết mình còn thương, buồn, hình như trong tận cùng tâm hồn có điều gì uẩn ức và oán giận một người! Phượng đang ở đây, khu nhà mới trong cái cái quận lÿ nhỏ bé này. Bùi ngùi, Lâm liên tưởng đến Thiệu và Yến trong truyện “Dòng Sông định Mệnh” của Doãn Quốc Sĩ, sao giống đời anh và Phượng. Lâm đọc thầm một câu trong truyện: “Hai cuộc đời như hai nhánh sông, đã chia xa, Dòng sông định mệnh đã ra tới biển rồi, có còn khúc quành nào đâu! “
Năm chín tuổi, gia đình Lâm dọn về khu xóm Hiệp Hưng, ngày đầu tiên Phượng theo mẹ qua nhà, khi bác Trọng ngồi nói chuyện với mẹ Lâm, cô bé mon men đến bên Lâm, tần ngần nhìn anh xắp xếp sách vở, đồ chơi vào ngăn tủ:
– Mẹ nói anh tên… Lâm, mai đi học chung với Phượng?
Lâm không trả lời, rụt rè với cô bé mới gặp. Từ bé đến giờ anh chỉ chơi tạt hình, bắn bi, chọi đáo, đánh nhau với đám con trai, có bao giờ chơi với con gái đâu! Nhưng khi Phượng móc túi chia với Lâm mấy cái kẹo dừa, anh lấy ngay và cười với Phượng.
Lâm và Phượng bằng tuổi, học cùng trường, cùng lớp, lớp ba trường Hiệp Hoà. Ở trường hai đứa không để ý đến nhau, Lâm còn ham chơi bắn bi, đánh đáo, đuổi bắt với các bạn. Chỉ khi tan học, về gần đến nhà hai đứa mới đi chung. Thường thì Lâm lững thững theo sau. Tay xách cặp, tay xách bình mực, vừa đi vừa đá cái ống lon hoặc quả bóng cuộn tròn bằng giấy, đá lê lết về đến nhà mới thôi. Trong xóm không có con trai bằng tuổi nên Lâm phải chơi với Phượng, và lũ em Phượng, toàn những trò chơi con gái, nhẩy dây, đánh đũa, nhẩy cò cò. Đôi khi chán, Lâm phải qua xóm bên cạnh đá dế, búng hình, đánh kiếm với đám bạn trai, nhiều khi quên cả bữa cơm, mẹ phải đi tìm gọi về và bị đòn.
Một buổi tan học, Phượng bị ba đứa học trò lớp khác chọc ghẹo, đang đứng mếu máo. Phượng buộc nơ đỏ trên tóc nên chúng theo sau trêu chọc:
– Bắc kỳ… quàng khăn đỏ… ê!… con Bắc Kỳ quàng khăn đỏ.
Lâm từ xa chạy tới, lia cặp da vào cả ba, hất lọ mực vào chúng rồi đánh nhầu, ôm vật lăn lộn dưới đất cho đến khi mấy người lớn can ra mới thôi.
Dắt Phượng chạy về, Phượng thút thít khóc:
– Phượng đâu muốn Lâm đánh nhau đâu, về nhà mẹ đánh cho xem!
Về đến nhà Lâm mới biết, quần áo bị nhầu nát, mực đổ từ trên xuống dưới, tay và mặt trầy xát có chỗ bầm tím. Thoáng thấy mẹ ngồi đan trước cửa, Lâm lẻn vào nhà bằng cửa sau, nhẹ nhàng lấy aó sạch thay rồi vòng ra cửa trước, khoanh tay ngoan ngoãn:
– Thưa mẹ con đi học về.
Mẹ nhìn Lâm một thoáng rồi trừng mắt:
– Buổi sáng đi học mặc áo trắng… sao bây giờ lại nâu… cái áo tao mới giặt??
Thấy vết bầm tím trên mặt, mẹ loay hoay tìm roi:
– Trời ơi! … Ông tướng nhà trời!… lại đánh nhau rồi!
Buổi chiều Phượng qua tìm Lâm, thập thò ngoài cửa khi Lâm vẫn còn bị quỳ khoanh tay úp mặt vào tường. Bị mẹ đánh mấy roi, bắt qùy, Lâm vẫn mím môi không khóc, nhưng khi biết Phượng đang nhìn, Lâm tủi thân, nức lên khóc, đưa tay áo quệt nước mắt dàn dụa, mặc cho mẹ mắng:
– Còn oan ức lắm phải không?
Những ngày sau Lâm tránh gặp Phượng, cả ở trường, khi tan học và ở nhà. Mãi đến hôm rước đèn trung thu, Lâm chia nến, chia kẹo và đốt đèn cho Phượng, hai đứa mới cười hoà, Lâm trách:
– Ai bảo Phượng nhìn Lâm bị qùy.
Ngày tháng trôi mau, Lâm và Phượng trải qua tuổi thơ êm đẹp, hồn nhiên, chia nhau từng miếng bánh, đồ chơi.
Lên trung học, hai đứa không còn chung lớp, không còn chơi trò chơi trẻ con, nhưng những đêm trăng sáng, xuống ga ngắm trăng với đám bạn hàng xóm, Lâm và Phượng vẫn còn nắm tay nhau đi hai bên đường rầy xe lưả. Những lúc Lâm tập đàn guitar, Phượng vẫn thích nằm áp tai vào thùng đàn để nghe tiếng đàn của Lâm vang và ấm hơn.
Bắt đầu năm mười bốn tuổi Lâm đã biết Phượng đẹp lắm! Nhiều lần nhìn trộm Phượng rồi ngẩn ngơ, đêm về trằn trọc không ngủ. Có lần Phượng đi nghỉ hè với gia đình, cả tuần không gặp, Lâm thấy nhớ và buồn vu vơ, anh đạp xe đạp đi lang thang dưới mưa suốt ngày, nhưng vẫn mung lung không hiểu được mình, không hiểu được những gì đang biến chuyển trong hồn ở tuổi mới lớn và chưa nghĩ rằng mình bắt đầu biết yêu.
Mười bốn, mười lăm tuổi, Lâm vẫn còn ngu ngơ, khờ dại thì Phượng đã là một thiếu nữ đẹp, biết làm duyên, trang điểm những ngày lễ, ngày tết, đã có những người lớn, sinh viên, sĩ quan, kỹ sư, bạn của anh lớn cuả Phượng săn đón, chiều chuộng, mua quà cho Phượng. Lâm thấy mình bé hẳn đi so với Phượng. Hình như anh thấy có gì đăng đắng, uất nghẹn trong hồn mỗi khi Phượng khoe có người cho quà Phượng, Lâm trách Phượng cả những lần đi xe buýt mà dám để con trai trả tiền vé.
Lâm vẫn dại khờ, ngây ngô không hiểu gì khi Phượng tặng Lâm quyển truyện “Dòng Sông Định Mệnh”, bên trong có chiếc khăn thêu, mỏng và mềm, có mùi nước hoa phảng phất với chữ “Thương” trống không bằng nét chì mờ mờ ở trang đầu. Quyển truyện mà những câu có ý đẹp, lời hay, Phượng đã tô mầu để Lâm lưu ý.
Cuối năm mười sáu tuổi, ba Phượng giữ chức vụ lớn hơn trong chính Phủ, gia đình Phượng dọn vào cư xá. Lâm và Phượng không còn gặp nhau hàng ngày nữa. Không gian, thời gian, gia cảnh khác biệt, như một bức màn vô hình cách ngăn hai đứa. Chỉ còn một hai lá thư mỗi tuần kể chuyện mưa nắng, vu vơ, nhưng không thư nào Phượng quên nhắc: Đêm qua Phượng mơ thấy Lâm…
Ngày lên Đà Lạt nhập học Võ Bị, lá thư đầu tiên cho Phượng, Lâm viết ngắn, gọn:
“Một người đã đi xa, vẫn nhớ đến Phượng, một người thương Phượng từ ngày còn bé nhưng ngu ngơ khờ dại, chỉ biết ghen tức, giận hờn mà không biết ngỏ lời. Một người thương Phượng, nhưng không muốn bị xếp hàng, chọn lựa chung với những người theo Phượng”
Năm thứ hai Võ Bị, Lâm nghe tin Phượng đã làm đám hỏi với một người, cuộc đời quân trường gò bó, bận rộn nên nỗi buồn chỉ thoáng qua như mây trời Đà Lạt chợt mưa, chợt nắng. Cuối năm ấy, Phượng lên thăm, chiều thứ bẩy ba Phượng đưa vào đến cổng trường thì đã gần hết giờ tiếp thân nhân của sinh viên sĩ quan, bác Trọng nói:
– Hai anh em lâu lắm mới được gặp nhau, bác cố vào sớm mà bận việc, lanh quanh đâm trễ, mai chủ nhật cháu ra phố với Phượng bác ghi địa chỉ cho cháu.
Lâm nói giọng buồn:
– Mai cháu phải ứng chiến trong trường, không ra được.
Ngày chủ nhật, ba Phượng đưa Phượng vào trường từ sáng sớm:
– Cho hai anh em tha hồ tâm sự với nhau, chiều bác vào đón.
Ngồi ở một góc rừng thông, bên cạnh suối nước, suốt một ngày nhìn nhau im lặng, hai đứa chỉ thăm hỏi nhau được mấy câu… nhắc lại vài kỷ niệm ngày bé, mãi đến chiều gần lúc chia tay Lâm hỏi nhỏ:
– Phượng đã làm đám hỏi?
Phượng gật đầu hỏi lại:
– Lâm có cô bé Đà Lạt… dễ thương?
Lâm nhặt một quả thông khô ném xuống suối:
– Chưa đến đâu! Cuộc đời binh nghiệp, bốn phương chưa biết mình sẽ về đâu, Lâm còn ở đây hai năm nữa rồi… bay… tương lai là hiểm nguy, sóng gió, nhưng Lâm thích vậy, Lâm chọn.
Sau khi Phượng về Sài Gòn Lâm nhận được thư Phượng, nhưng không trả lời, chả còn gì để xao xuyến,… hai nhánh sông đã chia xa, nhánh sông của Phượng êm đềm chảy ra biển, nhánh sông của Lâm vẫn còn nhiều gềnh thác… dòng sông định mệnh có còn khúc quành nào không cho mình gặp gỡ?


* * *

Buổi chiều trước ngày Lâm đám hỏi, đột nhiên Phượng đến, aó lụa, quần lụa trắng, guốc trắng, tóc thả dài ngang vai.
– Chào bác… bác vẫn khoẻ?… Nghe Hải nói anh Lâm về, cháu ghé thăm, lâu lắm từ ngày gia đình cháu dọn lên Thủ Đức, chưa có dịp đến thăm bác và anh.
– Cháu Phượng… dạo này trông sang và đẹp quá, bác nhìn không ra. Mới ngày nào hai đứa còn bé, nghịch ngợm, bây giờ đã trưởng thành cả rồi, hèn gì bác mau già…
Ở trên gác, Lâm nhận ra tiếng Phượng, phải đến mấy phút lặng người, Lâm mới nén được những rộn ràng, xúc động trong tim. Anh xuống đón Phượng cố bằng giọng hồn nhiên:
– Gớm… người đâu mà đẹp thế…ngọn gió nào đưa Phượng đến vậy?
Phượng nghiêm nét mặt, lườm Lâm y như ngày còn bé:
– Chẳng có ngọn gió nào cả…Phượng đến tìm Lâm, trách Lâm, mắng Lâm…được không? Nghe nhiều người nói, Lâm bê bối, tình cảm lăng nhăng, bội bạc, Phượng buồn!… cô nào hành hạ Lâm?
– Phượng! cô Phượng!
Rồi Lâm nhớ ngay đến một câu mà hai đứa vẫn thuộc lòng trong Dòng Sông Định Mệnh: “Bởi vì Phượng! Phượng đẹp như một vì sao… mà sao với người thì thường cách biệt.”
Cơn giông đầu mùa hạ kéo đến thật nhanh, chỉ trong khoảng khắc, mây đen phủ kín bầu trời, trần mây thấp, gió lốc cuốn bụi, rác và lá cây bay tung lên trời. Rồi mưa đổ xuống như thác nước, ào ào trên mái ngói, mái hiên, bụi nước mưa hắt vào nhà mát lạnh.
Lâm và Phượng ngồi sát bên nhau im lặng nhìn qua cửa sổ trên gác, khu xóm mờ mịt trong mưa, khu xóm ngày xưa khi còn bé Lâm thấy rộng lớn thênh thang, bây giờ thấy nhỏ bé chật hẹp.
Lâm và Phượng mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng tư. Bỗng Phượng hỏi nhỏ, giọng lạc đi vì xúc động:
– Lâm vẫn thương quyển Dòng sông định mệnh?
Lâm gật đầu:
– Vẫn thương, vẫn giữ trên tầu, vẫn thuộc lòng những câu Phượng tô mầu.
– Phượng đến hôm nay muốn nói với Lâm: Mình không có dòng sông định mệnh, Phượng không phải là Yến, Phượng không muốn đẹp như một vì sao mà sao với người thì thường cách biệt, Phượng muốn đẹp như một người thường để không cách biệt với Lâm. Có điều mình thân nhau từ bé nên đôi khi nhầm lẫn, mình là anh em, là bạn, hay người tình? Phượng không thấy có cánh cửa nào hạn hẹp tình mình, gia đình, hoàn cảnh hay tuổi tác? Nhưng Lâm, Lâm câm lặng, Lâm giận dỗi, Lâm ghen, Phượng là con gái, Phượng không thể nói gì khác hơn!
Lâm cắt lời Phượng:
– Phượng đã có đám hỏi với Ngân?
– Không, chỉ là dạm ngõ, Phượng đã trả trầu cau sau ngày lên thăm Lâm trên Võ Bị.
Lâm bàng hoàng:
– Sao Phượng không lấy chồng?
– Phượng chờ Lâm… đến khi nào Lâm lấy vợ… thì Phượng mới lấy chồng.
Lâm thấy tim thắt lại, rưng rưng muốn khóc, anh lắc đầu:
– Định mệnh đã an bài, dòng sông định mệnh đã chia hai nhánh. Anh tưởng Phượng biết, ngày mai anh làm đám hỏi với Hòa, không có gì thay đổi được cả.
Có hai giọt nước mắt lăn từ từ trên má, rồi Phượng úp mặt vào hai bàn tay, cánh vai rung động, Phượng thì thầm lẫn trong tiếng nấc ngẹn ngào:
– Giá Phượng đừng tặng Lâm quyển truyện… thì đâu có Dòng Sông Định Mệnh! Quyển truyện đã dắt lối đời mình, đã ám vào đời nhau.
Có tiếng mẹ gọi dưới nhà:
– Hai đứa xuống ăn cơm, mẹ nấu canh riêu ngon lắm (Mẹ và gia đình Phượng vẫn nghĩ là hai đứa chỉ coi nhau như anh em).

* * *

Hai tháng, sau ngày Lâm lấy vợ, Phượng đám cưới với Ngân. “Hai nhánh sông chia xa, mất hút trong rừng đời, âm thầm tìm đường ra biển, có còn khúc quành nào đâu!. Dù hai ba mươi năm nữa, khi cả hai mái tóc đã pha sương, dù ba, bốn mươi năm nữa, khi cả hai đã da mồi tóc bạc mới gặp nhau, thì phút đầu cũng chẳng ai tránh được xao xuyến.”
Riêng Lâm, mỗi lần nhớ đến Phượng, Lâm cầu mong cho nhánh sông của Phượng êm đềm, bình an ra tới biển. Dù ba, bốn mươi năm nữa, cầu xin cho kẻ nam, người bắc, kẻ đông, người tây, đừng bao giờ gặp lại. Không phải để quên, bởi vì làm sao mà quên được, nhưng để mỗi lần nghĩ về nhau, vẫn bằng hình ảnh của mấy chục năm về trước, lúc còn thơ ấu, khi tuổi mới đôi mươi, hay vẫn bằng hình ảnh cuối cùng của Phượng. Phượng còn đẹp mãi, với tóc xõa dài, áo lụa trắng trên căn gác hẹp, bên của sổ nhìn mưa… và hai giọt nước mắt lăn trên má.
Cuối cùng, đời Lâm vẫn gắn bó với con tầu và biển cả, biển khơi mênh mông ôm ấp dùm Lâm nỗi buồn. Chân trời xa thẳm, hải đảo mịt mù, những cánh hải âu mệt mỏi và những hoàng hôn trên biển tím loang một phương trời. Tím cả đời Lâm!

Vũ Lâm.

Meohoang Lang Thang

Nguồn: http://hoangsaparacels.blogspot.com/2021/10/phuong-vu-lam.html

Posted by bienxua on 

“𝘉𝘢̆̀𝘯𝘨 𝘵𝘢̂́𝘵 𝘤𝘢̉ 𝘵𝘳𝘢𝘯𝘨 𝘵𝘳𝘰̣𝘯𝘨 𝘷𝘢̀ 𝘬𝘪́𝘯𝘩 𝘮𝘦̂́𝘯 𝘨𝘶̛̉𝘪 đ𝘦̂́𝘯 𝘯𝘩𝘢̀ 𝘷𝘢̆𝘯 𝘋𝘰𝘢̃𝘯 𝘘𝘶𝘰̂́𝘤 𝘚𝘪̃, 𝘬𝘩𝘪 𝘮𝘢̣𝘯 𝘱𝘩𝘦́𝘱 𝘯𝘩𝘢̆́𝘤 đ𝘦̂́𝘯 𝘲𝘶𝘺𝘦̂̉𝘯 𝘋𝘰̀𝘯𝘨 𝘚𝘰̂𝘯𝘨 Đ𝘪̣𝘯𝘩 𝘔𝘦̣̂𝘯𝘩 𝘵𝘳𝘰𝘯𝘨 𝘣𝘢̀𝘪 𝘯𝘢̀𝘺. 𝘘𝘶𝘺𝘦̂̉𝘯 𝘵𝘳𝘶𝘺𝘦̣̂𝘯 𝘵𝘪̀𝘯𝘩… đ𝘰̣𝘤 𝘭𝘶́𝘤 𝘵𝘶𝘰̂̉𝘪 𝘮𝘰̛́𝘪 𝘭𝘰̛́𝘯.” (𝘝𝘶̃ 𝘓𝘢̂𝘮)

https://bienxua.files.wordpress.com/2019/02/ho-tong-ham-pce-va-tuan-duyen-pgm-cua-ham-doi-hqvnch-thao-dot-hai-hanh-tuan-tieu-can-duyen.jpg?w=1000

Tiếng người Hạ Sĩ Giám Lộ qua hệ thống “intercom” gắn đầu giường đánh thức Lâm:
– Mời sĩ quan hải hành lên đài chỉ huy.
Lâm tỉnh dậy, bật đèn đầu giường nhìn đồng hồ. Mới gần ba giờ sáng. Anh hất chăn ngồi dậy, mắt còn cay, cảm giác lừ đừ, nhờn nhợn như muốn say sóng. Lâm cố gắng mặc quần áo, đi giầy, đội nón bằng một tay, một tay phải ghì chắc thành giường để không bị ném qua, hất lại theo độ lắc của con tầu, anh lẩm bẩm:
– Mẹ!!… chạy sóng ngang… biển động!!!Lên đến đài chỉ huy, gió biển và hơi nước lạnh làm Lâm tỉnh ngủ và dễ chịu. Nhân viên “đương phiên” làm việc im lặng trong bóng tối. Chỉ có ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn nhỏ rọi xuống bàn hải đồ, những vệt sáng xanh yếu ớt quét trên mặt radar và vài đốm đèn đỏ trên các dụng cụ hải hành, vô tuyến. Tiếng gió ào ào lùa qua cửa ở hai bên đài chỉ huy và tiếng sóng ầm ầm đập vào thành tầu. Con tầu nghiêng qua, nghiêng lại, chồi hụp theo cơn biển động. Nhìn qua cửa kính phòng lái, mỗi khi mũi tầu hụp xuống, Lâm thấy sóng ụp qua cả pháo tháp khẩu đại bác 127 ly ngoài sân mũi.
Lâm đến bên radar nhận định hình dạng bờ biển, đo khoảng cách, qua bàn hải hành xem lại vị trí đầu giờ cuối cùng của chiến hạm rồi ra “balcon” tả hạm. Trung uý Trác, sĩ quan trưởng phiên đang quan sát, thấy Lâm đến bên, anh buông ống nhòm, hai người chào nhau quân cách, xã giao. Đêm trùng dương mịt mùng, tối đen, chỉ có muôn vạn vì sao nhấp nháy. Trung úy Trác chỉ cho Lâm một ánh đèn nhỏ, yếu ớt, chớp tắt ở thật thấp phía trước mũi tầu rồi phân trần:
– Không muốn đánh thức trung úy đâu, nhưng Hạm trưởng ghi trong sổ: “Gọi sĩ quan hải hành thượng phiên khi bắt được đèn hải đăng Vũng Tàu và gọi nhiệm sở neo khi cách điểm neo năm hải lý”. Bây giờ còn cách Vũng Tầu ba mươi tám hải lý. Biển động và ít tầu bè qua lại, không có gì đáng ngại.
Lâm tiếp lời Trác:
– Mai tôi về phép, chắc hạm trưởng cố tình dựng dậy sớm, muốn “đì” cho… bõ… ghét. Mình đi về Vũng Tầu, Trường Sa, như đi chợ có gì đâu quan trọng.
Trách vui vậy thôi, thâm tâm Lâm rất mến và kính trọng người hạm trưởng dị tướng, lùn, đầu to, nhưng có thực tài, tư cách và đức độ. Khác xa với các hạm trưởng và đơn vị trưởng trước cuả anh.
Nhớ ngày thuyên chuyển lên chiến hạm này, khi tầu đang neo ngoài khơi Vũng Tàu chờ đi công tác ngoài quần đảo Trường Sa. Mới leo lên tầu, nhận phòng chưa kịp sửa xoạn, đã nghe máy gọi:
– Mời trung uý Lâm lên phòng hạm trưởng trình diện tân đáo.
Khi Lâm đứng chào xưng danh, Hạm trưởng lầm lì, nghiêm nghị, quan sát Lâm từ đầu đến chân, mắt ông ngừng lại trên cái cánh “bằng dù” Lâm đeo trên ngực:
– Trung uý có bằng nhẩy dù?
– Thưa hạm trưởng có.
– Trên chiến hạm này chắc không có dịp cho trung uý xử dụng! Mời ngồi.
Hạm trường cúi nhìn xấp hồ sơ lý lịch, ông hỏi:
– Trung uý ở tuần duyên hạm PGM thuyên chuyển đến, hạm phó?… Đã ở giang đoàn mười chín tháng?
Không đợi Lâm trả lời, ông tiếp:
– Đây là một trong chín chiến hạm lớn nhất của hải quân Việt Nam, trung uý cố giữ đúng truyền thống, bất cứ lúc nào ra khỏi phòng riêng cũng phải nghiêm chỉnh với quân phục có đầy đủ lon, giầy, nón. Không có kiểu bà ba đen, đi dép như ở PGM. Có lẽ phải gọi là thuyền phó thì đúng hơn là hạm phó, ở PGM anh mới chỉ là hải thuyền chưa phải là hải quân!
Sau màn phủ đầu, ông có vẻ diụ dàng hơn, chỉ dẫn các điều cần thiết, trao nhiệm vụ…
Sau màn dịu dàng lại đến dằn mặt:
– Hai tuần sau trung úy nộp cho tôi phúc trình tân đáo về hiểu biết chiến hạm, từ tiểu sử, đặc tính, quán tính, nhân viên, vũ khí, vận chuyển, phòng tai.
Thêm một màn khó nuốt:
– Đi viễn dương, mỗi ngày trung uý làm và nộp cho tôi ba “point” thiên văn xác định vị trí chiến hạm, một vào lúc trước mặt trời mọc mười lăm phút, một sau khi mặt trời lặn mười lăm phút và một vị trí buổi trưa lúc mặt trời qua kinh tuyến với hai đường Loran.
Lâm chửi thầm:
– Tổ mẹ! cha nội vừa “rắc-lô”, vừa “hắc ám” vừa ra vẻ nhân từ. Độc như “thịt vịt”! Có lẽ phải kiếm đường “chẩu”, xin đổi đi giang đoàn thuỷ bộ, xuống Năm Căn, húc, ủi, bắn cá thòi lòi còn dễ thở hơn,… sống thế chó nào nổi với thằng lùn, “nhất lé, nhì lùn, tam hô, tứ sún”!
Nhưng trước khi Lâm ra khỏi phòng ông nhẹ giọng:
– Anh là sĩ quan hiện dịch, binh nghiệp suốt đời, quân đội đã tốn rất nhiều để đào tạo. Tôi chỉ muốn anh thành một sĩ quan hải quân giỏi, chuẩn bị cho anh sau này làm sĩ quan Hải Hành thay thế đại uý Phiệt sẽ thuyên chuyển… cấp số thiếu tá, dễ cho anh dự tranh đại uý cuối năm.
Rồi ngần ngừ ông hỏi:
– Anh biết H.T.Đ cùng khoá Đà Lạt với anh không? Em ruột tôi đấy, sư đoàn 23.
Từ đấy, Lâm theo con tầu, vui buồn với bao chuyến hải hành, sóng gió, lênh đênh… anh mến hạm trưởng, thương con tầu và không bao giờ nghĩ đến thuyên chuyển. Một lần lên bờ ngồi chung trong quán, Hạm trưởng hỏi:
– Sông cũng đủ rồi, biển cũng dư hải vụ… sao không lên bờ cho ấm?
Lâm thành thật trả lời:
– Võ Bị lạc sang không quân, hải quân đã “phè” lắm rồi! Truyền thống hào hùng, nếu lục quân phải mũ mầu, nếu không quân phải bay F5, còn hải quân phải trên Tuần Dương Hạm. Tôi chỉ muốn ở biển, hoặc về sông, không muốn đơn vị bờ: “bó thân về với triều đình. Hàng thần lơ láo phận mình ra sao”, hải quân mắc cạn, không giống ai, thà làm công chức sướng hơn.
Hạm trưởng mắng như mắng đứa em:
– Ngang như cua! cùng lò với nhau, giống thằng em tôi như hệt, sướng không muốn, muốn bị đầy đọa. Khùng!

Tuan duong ham HQ2, HQ6 va HQ5.


* * *

Tầu về bến, cho dù chỉ được neo ở ngoài khơi để tiếp tế, đi chợ, cũng là niềm vui sướng, mong đợi của đời thủy thủ. Lần về bến này, Lâm thấy tâm hồn mình khác lạ, bồn chồn, không háo hức “đi bờ”, la cà trên Vũng Tàu như những lần trước. Cuộc đời Lâm sắp có đổi thay…
Khi neo cắn, giải tán nhiệm sở neo xong thì trời đã mờ sáng. Đèn thành phố dọc bờ biển đã tắt, núi Hải Đăng, nhà cửa, bãi trước Vũng Tầu rõ dần. Cầu thang và “ca-nô” được thả xuống, Lâm xuống “ca-nô” để vào bờ với giấy nghỉ phép và lời dặn dò thân thiện, pha chút giỡn cợt của hạm trưởng:
– Vào bờ sớm cho kịp chuyến xe về Sài Gòn… Trung úy sắp tàn số đào hoa… cùn đời thuỷ thủ!… Không còn được quyền bay bướm với các em Sài Gòn, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Cam Ranh, Vũng Tầu… Sau này mỗi khi Tầu cặp bến, tôi sẽ cho niêm yết tại hạm kiều: “Trung uý Lâm đã có vợ”.
Lâm về phép hỏi vợ! Chuyện tình nào rồi cũng phải có đoạn kết. Sự chọn lựa nào cũng có ít nhiều tiếc nuối và quyết định nào cũng vướng chút ít chua cay. Lâm đã quyết định hỏi vợ, không biết anh có thực hiện đúng câu: “Phải cầu nguyện một lần trước khi ra trận, phải cầu nguyện hai lần trước khi xuống tầu vượt biển, nhưng phải cầu nguyện đến ba lần trước khi quyết định lấy vợ?”.
Trên chuyến xe đò Vũng Tầu Saigòn, chuyến xe về đổi đời, Lâm ngồi trầm ngâm ôn lại quá khứ. Anh thấy nỗi xao xuyến dâng lên trong hồn với nỗi buồn man mác. Lâm nhớ lại những người tình, những cuộc tình đến rồi đi ngắn ngủi, vội vàng. Anh tự trách, sao mình lại có thể là người bội bạc! sao tình cảm mình lại hay thay đổi bất thường. Rồi anh cũng tự bào chữa, Thuỷ, Duyên, Mai, Ngọc … chỉ là bạn thôi! nếu có xa hơn cũng chỉ là nửa người tình, nửa bạn.
Ngay từ khi mới lớn, thấy Lâm có nhiều thư từ, bạn gái, mẹ anh đã nói:
– Đào hoa lắm chỉ rước họa vào thân! Lắm mối tối nằm không! Con sẽ khổ vì tình thôi!
Lâm nhớ đến Thuỷ, cô bạn chanh chua, hay đay nghiến, ghen và dằn vặt anh nhiều nhất, lần cuối cùng Thuỷ đến, cô nàng tươi cười đắc thắng:
– Anh Lâm bay bướm lắm, lăng nhăng lắm, chẳng cô nào chịu nỗi đâu, cô nào rồi cũng phải đá anh thôi, vô phúc mà thương và chờ anh thì cổ sẽ dài hơn cổ cò… Thủy đến đưa thiệp mời, tháng sau Thủy đám cưới…
Lâm nhăn nhó làm vẻ đau khổ:
– Thuỷ xem đấy, gia cảnh nghèo, chỉ còn một mẹ già, tháng ngày xa nhà, lênh đênh biển cả, chẳng cô nào dám rớ tới! Nhưng anh biết rồi, Thủy có chàng dược sĩ trẻ, mặt búng ra sữa, quý tử cuả Xuân phamacy ở đường Phan Đình Phùng, đúng chưa? Anh mừng cho Thuỷ. Bao giờ anh chán nghề đi biển, sẽ về học dược, học pha chế rồi cũng mở tiệm bán thuốc, nhưng nhất định anh sẽ không bán aspirine, penicilin, lincosine, thuốc trụ sinh, độc dược, mà bán Basto, Capstan, Salem, Pallmall, ba số năm, thuốc lào Gò Vấp… chưa chắc ai sẽ giầu hơn ai?
Lâm nghĩ về Duyên, cô bé Bắc kỳ hay dỗi, hay hờn, một lần bắt gặp Lâm đứng uống nước mía Viễn Đông ỏ góc đường Pasteur nói chuyện với Thủy, cô nàng cố tình đi chen vào giữa cho Lâm thấy rồi nguýt dài một cái. Ngày hôm sau Duyên sai em gái đem thư tới đòi lại tất cả thư từ, hình ảnh, các vật kỷ niệm, nàng đòi lại từ quyển truyện, quyển báo, bản nhạc, cả đến những thiệp chúc Tết từ những năm xa xưa mà nàng tự tay làm lấy cho Lâm.
Loan, cô bạn Lâm mến nhất, ca sĩ cuả một ban nhạc địa phương, vừa là một “ca ve” bán chính thức, nàng trẻ, đẹp nhưng ăn nói ngổ ngáo, sống sượng, cố làm vẻ già dặn, bụi đời. Lâm quen Loan hôm dạ vũ tổ chức trên chiến hạm khi cặp bến Đà Nẵng. Hôm ấy, anh ngồi một mình ở salon trong góc phòng khách sĩ quan, uống nước ngọt, ngắm ca sĩ trình diễn, nhận diện các mệnh phụ phu nhân, các quan lớn, tá, tướng, tư lệnh, tỉnh trưởng…đang lả lướt trên sàn nhẩy, Loan đến rất tự nhiên, xấc xược và trêu chọc:
– Hạm phó và các sĩ quan đằng kia xúi em đến tiếp chuyện trung uý, người hùng cô đơn, trắng trẻo, đẹp trai, hiền lành, chỉ biết uống nước ngọt…còn…tân! Em tên Loan…
Lâm liếc sang đám hạm phó và các sĩ quan ngồi đối diện phiá bên kia sàn nhảy đang chăm chú theo dõi hai người, anh kéo Loan ngồi xuống bên cạnh:
– Em nhìn lầm người rồi… Trông vậy, thấy vậy, tưởng vậy mà không phải vậy đâu, ác qủy đấy. Vợ ba con, đào nửa tá, em rớ tới chỉ thiệt thân, chỉ từ thua tới lỗ, từ chết đến bị thương thôi. Đế dăm xị, ông già bật ngửa hay ông già chống gậy được nửa lít, Cognac hai chai. Không hiền đâu! Hôm nay là sĩ quan trực nhật, nên không được phép uống, phải thì thọt chạy vào, chạy ra hạm kiều coi chừng an ninh, đón tiếp quan khách.
Hất mặt sang đám sĩ quan bên kia, Lâm tiếp:
– Mời em nhẩy bản kế tiếp cho chúng nó cụt hứng… bọn chúng đang đo bản lĩnh cuả anh đấy.
Hôm ấy, Loan ngồi tiếp chuyện với Lâm suốt buổi, trừ những lúc ban nhạc giới thiệu Loan lên hát và những lúc Lâm phải ra thăm dò ngoài hạm kiều. Khi gần cuối, lúc hấp dẫn nhất của màn vũ thóat y “Tabu” do T. Thủy trình diễn, Loan cố tình choàng người qua, ấn ngực vào vai Lâm ý muốn khoe… ghé sát miệng vào tai anh, nói nhỏ chọc ghẹo:
– Làm gì mà ngẩn ngơ như bé Tí thèm nắm xôi vậy… của giả đấy!!
Lâm cũng sỗ sàng:
– Biết rồi! của em mới thiệt, phải không?
Sau cuộc chiến Hoàng Sa với Trung Cộng, chiến hạm Lâm biệt phái tuần tiểu dài hạn cho vùng một, mỗi lần nghỉ bến Đà Nẵng, anh lại có dịp gặp Loan. Đi chơi với Loan, Lâm thấy thoải mái, dễ chịu, Loan không kiểu cách, giả dối, õng ẹo, như các tiểu thư khuê các Sài Gòn, chơi với nhau rất tự nhiên, sòng phẳng và thân thiện như hai bạn trai, cũng có lúc đốp chát, sỉ vả nhau, hạ nhau sát ván rồi cười hòa. Sau giờ Loan hát, Lâm thường rủ đi ăn mì Quảng, ăn chè, mực nướng bên bờ sông Hàn.
Một lần Lâm mời Loan ăn tối ở Hải Ký, cô nàng cố tình chọc phá, kéo theo bốn cô bạn, hôm ấy các nàng cứ chụm đầu vào nhau cười nói rúc rích, tíu tít gọi các món ăn cho đầy bàn, bồ câu quay, gỏi sứa, cá hấp, rồi chấm chấm, mút mút làm duyên không ăn. Trung uý Thanh ngồi bàn gần đấy ghé qua mượn bật lửa nói nhỏ với Lâm:
– Trung uý Lâm đào hoa thật, nhưng hao đạn nhé!!
Lâm cười không trả lời. Khi bữa ăn gần tàn, Lâm móc túi tìm thuốc hút thấy không còn, anh đội nón đứng dậy nói với Loan:
– Sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà… Đọi! anh ra cửa mua thuốc lá lẻ…hai mươi đồng ba điếu Capstan!
Ra đến cửa, anh thuê xe về tầu, leo lên giường ngủ thẳng giấc.
Sau này gặp lại Loan, cô nàng sỉ vả, Lâm cười trừ:
– Anh đã nói với Loan từ buổi đầu, cô nào đến với anh, nhất là cố tình chơi gác thì chỉ từ thua đến lỗ … tin chưa?

* * *

Ra đến xa lộ Biên Hòa xe chạy nhanh và êm hơn, khi ngang qua làng đại học Thủ Đức, Lâm thấy lòng buồn lâng lâng! Nỗi buồn ẩn dấu trong tim bỗng tràn về ngập hồn. Anh biết mình còn thương, buồn, hình như trong tận cùng tâm hồn có điều gì uẩn ức và oán giận một người! Phượng đang ở đây, khu nhà mới trong cái cái quận lÿ nhỏ bé này. Bùi ngùi, Lâm liên tưởng đến Thiệu và Yến trong truyện “Dòng Sông định Mệnh” của Doãn Quốc Sĩ, sao giống đời anh và Phượng. Lâm đọc thầm một câu trong truyện: “Hai cuộc đời như hai nhánh sông, đã chia xa, Dòng sông định mệnh đã ra tới biển rồi, có còn khúc quành nào đâu! “
Năm chín tuổi, gia đình Lâm dọn về khu xóm Hiệp Hưng, ngày đầu tiên Phượng theo mẹ qua nhà, khi bác Trọng ngồi nói chuyện với mẹ Lâm, cô bé mon men đến bên Lâm, tần ngần nhìn anh xắp xếp sách vở, đồ chơi vào ngăn tủ:
– Mẹ nói anh tên… Lâm, mai đi học chung với Phượng?
Lâm không trả lời, rụt rè với cô bé mới gặp. Từ bé đến giờ anh chỉ chơi tạt hình, bắn bi, chọi đáo, đánh nhau với đám con trai, có bao giờ chơi với con gái đâu! Nhưng khi Phượng móc túi chia với Lâm mấy cái kẹo dừa, anh lấy ngay và cười với Phượng.
Lâm và Phượng bằng tuổi, học cùng trường, cùng lớp, lớp ba trường Hiệp Hoà. Ở trường hai đứa không để ý đến nhau, Lâm còn ham chơi bắn bi, đánh đáo, đuổi bắt với các bạn. Chỉ khi tan học, về gần đến nhà hai đứa mới đi chung. Thường thì Lâm lững thững theo sau. Tay xách cặp, tay xách bình mực, vừa đi vừa đá cái ống lon hoặc quả bóng cuộn tròn bằng giấy, đá lê lết về đến nhà mới thôi. Trong xóm không có con trai bằng tuổi nên Lâm phải chơi với Phượng, và lũ em Phượng, toàn những trò chơi con gái, nhẩy dây, đánh đũa, nhẩy cò cò. Đôi khi chán, Lâm phải qua xóm bên cạnh đá dế, búng hình, đánh kiếm với đám bạn trai, nhiều khi quên cả bữa cơm, mẹ phải đi tìm gọi về và bị đòn.
Một buổi tan học, Phượng bị ba đứa học trò lớp khác chọc ghẹo, đang đứng mếu máo. Phượng buộc nơ đỏ trên tóc nên chúng theo sau trêu chọc:
– Bắc kỳ… quàng khăn đỏ… ê!… con Bắc Kỳ quàng khăn đỏ.
Lâm từ xa chạy tới, lia cặp da vào cả ba, hất lọ mực vào chúng rồi đánh nhầu, ôm vật lăn lộn dưới đất cho đến khi mấy người lớn can ra mới thôi.
Dắt Phượng chạy về, Phượng thút thít khóc:
– Phượng đâu muốn Lâm đánh nhau đâu, về nhà mẹ đánh cho xem!
Về đến nhà Lâm mới biết, quần áo bị nhầu nát, mực đổ từ trên xuống dưới, tay và mặt trầy xát có chỗ bầm tím. Thoáng thấy mẹ ngồi đan trước cửa, Lâm lẻn vào nhà bằng cửa sau, nhẹ nhàng lấy aó sạch thay rồi vòng ra cửa trước, khoanh tay ngoan ngoãn:
– Thưa mẹ con đi học về.
Mẹ nhìn Lâm một thoáng rồi trừng mắt:
– Buổi sáng đi học mặc áo trắng… sao bây giờ lại nâu… cái áo tao mới giặt??
Thấy vết bầm tím trên mặt, mẹ loay hoay tìm roi:
– Trời ơi! … Ông tướng nhà trời!… lại đánh nhau rồi!
Buổi chiều Phượng qua tìm Lâm, thập thò ngoài cửa khi Lâm vẫn còn bị quỳ khoanh tay úp mặt vào tường. Bị mẹ đánh mấy roi, bắt qùy, Lâm vẫn mím môi không khóc, nhưng khi biết Phượng đang nhìn, Lâm tủi thân, nức lên khóc, đưa tay áo quệt nước mắt dàn dụa, mặc cho mẹ mắng:
– Còn oan ức lắm phải không?
Những ngày sau Lâm tránh gặp Phượng, cả ở trường, khi tan học và ở nhà. Mãi đến hôm rước đèn trung thu, Lâm chia nến, chia kẹo và đốt đèn cho Phượng, hai đứa mới cười hoà, Lâm trách:
– Ai bảo Phượng nhìn Lâm bị qùy.
Ngày tháng trôi mau, Lâm và Phượng trải qua tuổi thơ êm đẹp, hồn nhiên, chia nhau từng miếng bánh, đồ chơi.
Lên trung học, hai đứa không còn chung lớp, không còn chơi trò chơi trẻ con, nhưng những đêm trăng sáng, xuống ga ngắm trăng với đám bạn hàng xóm, Lâm và Phượng vẫn còn nắm tay nhau đi hai bên đường rầy xe lưả. Những lúc Lâm tập đàn guitar, Phượng vẫn thích nằm áp tai vào thùng đàn để nghe tiếng đàn của Lâm vang và ấm hơn.
Bắt đầu năm mười bốn tuổi Lâm đã biết Phượng đẹp lắm! Nhiều lần nhìn trộm Phượng rồi ngẩn ngơ, đêm về trằn trọc không ngủ. Có lần Phượng đi nghỉ hè với gia đình, cả tuần không gặp, Lâm thấy nhớ và buồn vu vơ, anh đạp xe đạp đi lang thang dưới mưa suốt ngày, nhưng vẫn mung lung không hiểu được mình, không hiểu được những gì đang biến chuyển trong hồn ở tuổi mới lớn và chưa nghĩ rằng mình bắt đầu biết yêu.
Mười bốn, mười lăm tuổi, Lâm vẫn còn ngu ngơ, khờ dại thì Phượng đã là một thiếu nữ đẹp, biết làm duyên, trang điểm những ngày lễ, ngày tết, đã có những người lớn, sinh viên, sĩ quan, kỹ sư, bạn của anh lớn cuả Phượng săn đón, chiều chuộng, mua quà cho Phượng. Lâm thấy mình bé hẳn đi so với Phượng. Hình như anh thấy có gì đăng đắng, uất nghẹn trong hồn mỗi khi Phượng khoe có người cho quà Phượng, Lâm trách Phượng cả những lần đi xe buýt mà dám để con trai trả tiền vé.
Lâm vẫn dại khờ, ngây ngô không hiểu gì khi Phượng tặng Lâm quyển truyện “Dòng Sông Định Mệnh”, bên trong có chiếc khăn thêu, mỏng và mềm, có mùi nước hoa phảng phất với chữ “Thương” trống không bằng nét chì mờ mờ ở trang đầu. Quyển truyện mà những câu có ý đẹp, lời hay, Phượng đã tô mầu để Lâm lưu ý.
Cuối năm mười sáu tuổi, ba Phượng giữ chức vụ lớn hơn trong chính Phủ, gia đình Phượng dọn vào cư xá. Lâm và Phượng không còn gặp nhau hàng ngày nữa. Không gian, thời gian, gia cảnh khác biệt, như một bức màn vô hình cách ngăn hai đứa. Chỉ còn một hai lá thư mỗi tuần kể chuyện mưa nắng, vu vơ, nhưng không thư nào Phượng quên nhắc: Đêm qua Phượng mơ thấy Lâm…
Ngày lên Đà Lạt nhập học Võ Bị, lá thư đầu tiên cho Phượng, Lâm viết ngắn, gọn:
“Một người đã đi xa, vẫn nhớ đến Phượng, một người thương Phượng từ ngày còn bé nhưng ngu ngơ khờ dại, chỉ biết ghen tức, giận hờn mà không biết ngỏ lời. Một người thương Phượng, nhưng không muốn bị xếp hàng, chọn lựa chung với những người theo Phượng”
Năm thứ hai Võ Bị, Lâm nghe tin Phượng đã làm đám hỏi với một người, cuộc đời quân trường gò bó, bận rộn nên nỗi buồn chỉ thoáng qua như mây trời Đà Lạt chợt mưa, chợt nắng. Cuối năm ấy, Phượng lên thăm, chiều thứ bẩy ba Phượng đưa vào đến cổng trường thì đã gần hết giờ tiếp thân nhân của sinh viên sĩ quan, bác Trọng nói:
– Hai anh em lâu lắm mới được gặp nhau, bác cố vào sớm mà bận việc, lanh quanh đâm trễ, mai chủ nhật cháu ra phố với Phượng bác ghi địa chỉ cho cháu.
Lâm nói giọng buồn:
– Mai cháu phải ứng chiến trong trường, không ra được.
Ngày chủ nhật, ba Phượng đưa Phượng vào trường từ sáng sớm:
– Cho hai anh em tha hồ tâm sự với nhau, chiều bác vào đón.
Ngồi ở một góc rừng thông, bên cạnh suối nước, suốt một ngày nhìn nhau im lặng, hai đứa chỉ thăm hỏi nhau được mấy câu… nhắc lại vài kỷ niệm ngày bé, mãi đến chiều gần lúc chia tay Lâm hỏi nhỏ:
– Phượng đã làm đám hỏi?
Phượng gật đầu hỏi lại:
– Lâm có cô bé Đà Lạt… dễ thương?
Lâm nhặt một quả thông khô ném xuống suối:
– Chưa đến đâu! Cuộc đời binh nghiệp, bốn phương chưa biết mình sẽ về đâu, Lâm còn ở đây hai năm nữa rồi… bay… tương lai là hiểm nguy, sóng gió, nhưng Lâm thích vậy, Lâm chọn.
Sau khi Phượng về Sài Gòn Lâm nhận được thư Phượng, nhưng không trả lời, chả còn gì để xao xuyến,… hai nhánh sông đã chia xa, nhánh sông của Phượng êm đềm chảy ra biển, nhánh sông của Lâm vẫn còn nhiều gềnh thác… dòng sông định mệnh có còn khúc quành nào không cho mình gặp gỡ?


* * *

Buổi chiều trước ngày Lâm đám hỏi, đột nhiên Phượng đến, aó lụa, quần lụa trắng, guốc trắng, tóc thả dài ngang vai.
– Chào bác… bác vẫn khoẻ?… Nghe Hải nói anh Lâm về, cháu ghé thăm, lâu lắm từ ngày gia đình cháu dọn lên Thủ Đức, chưa có dịp đến thăm bác và anh.
– Cháu Phượng… dạo này trông sang và đẹp quá, bác nhìn không ra. Mới ngày nào hai đứa còn bé, nghịch ngợm, bây giờ đã trưởng thành cả rồi, hèn gì bác mau già…
Ở trên gác, Lâm nhận ra tiếng Phượng, phải đến mấy phút lặng người, Lâm mới nén được những rộn ràng, xúc động trong tim. Anh xuống đón Phượng cố bằng giọng hồn nhiên:
– Gớm… người đâu mà đẹp thế…ngọn gió nào đưa Phượng đến vậy?
Phượng nghiêm nét mặt, lườm Lâm y như ngày còn bé:
– Chẳng có ngọn gió nào cả…Phượng đến tìm Lâm, trách Lâm, mắng Lâm…được không? Nghe nhiều người nói, Lâm bê bối, tình cảm lăng nhăng, bội bạc, Phượng buồn!… cô nào hành hạ Lâm?
– Phượng! cô Phượng!
Rồi Lâm nhớ ngay đến một câu mà hai đứa vẫn thuộc lòng trong Dòng Sông Định Mệnh: “Bởi vì Phượng! Phượng đẹp như một vì sao… mà sao với người thì thường cách biệt.”
Cơn giông đầu mùa hạ kéo đến thật nhanh, chỉ trong khoảng khắc, mây đen phủ kín bầu trời, trần mây thấp, gió lốc cuốn bụi, rác và lá cây bay tung lên trời. Rồi mưa đổ xuống như thác nước, ào ào trên mái ngói, mái hiên, bụi nước mưa hắt vào nhà mát lạnh.
Lâm và Phượng ngồi sát bên nhau im lặng nhìn qua cửa sổ trên gác, khu xóm mờ mịt trong mưa, khu xóm ngày xưa khi còn bé Lâm thấy rộng lớn thênh thang, bây giờ thấy nhỏ bé chật hẹp.
Lâm và Phượng mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng tư. Bỗng Phượng hỏi nhỏ, giọng lạc đi vì xúc động:
– Lâm vẫn thương quyển Dòng sông định mệnh?
Lâm gật đầu:
– Vẫn thương, vẫn giữ trên tầu, vẫn thuộc lòng những câu Phượng tô mầu.
– Phượng đến hôm nay muốn nói với Lâm: Mình không có dòng sông định mệnh, Phượng không phải là Yến, Phượng không muốn đẹp như một vì sao mà sao với người thì thường cách biệt, Phượng muốn đẹp như một người thường để không cách biệt với Lâm. Có điều mình thân nhau từ bé nên đôi khi nhầm lẫn, mình là anh em, là bạn, hay người tình? Phượng không thấy có cánh cửa nào hạn hẹp tình mình, gia đình, hoàn cảnh hay tuổi tác? Nhưng Lâm, Lâm câm lặng, Lâm giận dỗi, Lâm ghen, Phượng là con gái, Phượng không thể nói gì khác hơn!
Lâm cắt lời Phượng:
– Phượng đã có đám hỏi với Ngân?
– Không, chỉ là dạm ngõ, Phượng đã trả trầu cau sau ngày lên thăm Lâm trên Võ Bị.
Lâm bàng hoàng:
– Sao Phượng không lấy chồng?
– Phượng chờ Lâm… đến khi nào Lâm lấy vợ… thì Phượng mới lấy chồng.
Lâm thấy tim thắt lại, rưng rưng muốn khóc, anh lắc đầu:
– Định mệnh đã an bài, dòng sông định mệnh đã chia hai nhánh. Anh tưởng Phượng biết, ngày mai anh làm đám hỏi với Hòa, không có gì thay đổi được cả.
Có hai giọt nước mắt lăn từ từ trên má, rồi Phượng úp mặt vào hai bàn tay, cánh vai rung động, Phượng thì thầm lẫn trong tiếng nấc ngẹn ngào:
– Giá Phượng đừng tặng Lâm quyển truyện… thì đâu có Dòng Sông Định Mệnh! Quyển truyện đã dắt lối đời mình, đã ám vào đời nhau.
Có tiếng mẹ gọi dưới nhà:
– Hai đứa xuống ăn cơm, mẹ nấu canh riêu ngon lắm (Mẹ và gia đình Phượng vẫn nghĩ là hai đứa chỉ coi nhau như anh em).

* * *

Hai tháng, sau ngày Lâm lấy vợ, Phượng đám cưới với Ngân. “Hai nhánh sông chia xa, mất hút trong rừng đời, âm thầm tìm đường ra biển, có còn khúc quành nào đâu!. Dù hai ba mươi năm nữa, khi cả hai mái tóc đã pha sương, dù ba, bốn mươi năm nữa, khi cả hai đã da mồi tóc bạc mới gặp nhau, thì phút đầu cũng chẳng ai tránh được xao xuyến.”
Riêng Lâm, mỗi lần nhớ đến Phượng, Lâm cầu mong cho nhánh sông của Phượng êm đềm, bình an ra tới biển. Dù ba, bốn mươi năm nữa, cầu xin cho kẻ nam, người bắc, kẻ đông, người tây, đừng bao giờ gặp lại. Không phải để quên, bởi vì làm sao mà quên được, nhưng để mỗi lần nghĩ về nhau, vẫn bằng hình ảnh của mấy chục năm về trước, lúc còn thơ ấu, khi tuổi mới đôi mươi, hay vẫn bằng hình ảnh cuối cùng của Phượng. Phượng còn đẹp mãi, với tóc xõa dài, áo lụa trắng trên căn gác hẹp, bên của sổ nhìn mưa… và hai giọt nước mắt lăn trên má.
Cuối cùng, đời Lâm vẫn gắn bó với con tầu và biển cả, biển khơi mênh mông ôm ấp dùm Lâm nỗi buồn. Chân trời xa thẳm, hải đảo mịt mù, những cánh hải âu mệt mỏi và những hoàng hôn trên biển tím loang một phương trời. Tím cả đời Lâm!

Vũ Lâm.

Meohoang Lang Thang

Nguồn: http://hoangsaparacels.blogspot.com/2021/10/phuong-vu-lam.html

Giao Chỉ Đọc Hồi Ký Kiều Chinh: Người Đi Tìm Quá Khứ

  • Giao Chỉ San Jose
https://vietbao.com/images/file/EAYddfmQ2QgBAIpE/kieu-chinh-sach.jpg

Kiều Chinh by Kiều Chinh (Đoạn mở đầu viết lúc chưa đọc sách, đoạn sau viết sau khi đọc sách) Nhà xuất bản nổi tiếng của Hoa Kỳ Barnes and Noble vừa phát hành cuốn hồi ký 500 trang của Kiều Chinh. Giới văn chương Mỹ gọi cô là nghệ sĩ lưu vong. Tra cứu trên Internet chúng ta thấy bản văn Anh ngữ nhà Barnes khen ngợi tác giả. Bản văn Việt Ngữ khen ngợi cô Kiều Chinh do nữ đại úy Phan của quân lực Mỹ viết. Cuốn hồi ký đặc biệt này đã ghi bán 30 đồng giấy thường và sách bìa cứng giá 40 đồng. Đại úy Phan là nữ quân nhân trẻ hiếm có đọc được cuốn hồi ký tiếng Việt đã ước mong rằng sẽ có phiên bản Anh Ngữ sớm phát hành.

Trong cộng đồng Việt Nam cũng đã có khá nhiều hồi ký chính trị của các nhà lãnh đạo và các nhân vật nổi tiếng trong trường văn trận bút. Nhưng rất hiếm những cây bút nữ lưu Việt Nam viết hồi ký văn nghệ. Trong giới điện ảnh thì chỉ có riêng Kiều Chinh. Đã có nhiều tác giả viết về con người thường được coi là đệ nhất minh tinh của màn ảnh miền Nam Việt Nam từ sau cuộc di cư 1954. Bây giờ đến lượt Kiều Chinh viết về mình. Xem ra có phần muộn màng. Một số lớn khán giả của cô không còn nữa. Chẳng còn Mai Thảo để điểm sách hay Nguyên Sa để đọc thơ. Ngay như bạn ta Bùi Bảo Trúc cũng chờ đợi mãi không được, đành bỏ đi. Đặc biệt các danh tài văn nghệ nữ giới dù cao niên bao nhiêu các khán giả muôn đời vẫn thấy còn trẻ mãi nên suốt đời luôn gọi là cô. Cô Thái Thanh. Cô Thanh Nga. Cô Kiều Chinh. Dù cô còn đó hay cô đã đi xa. Tiếc thay các cô đi xa mà chẳng để lại Hồi Ký. May thay cô Kiều Chinh chưa vội đi xa và còn để lại hồi ký.

Tác giả mới gọi cho chúng tôi nói là sách đã có rồi. 500 trang bìa cứng thì dù nội dung ra sao quả thực cũng là một tác phẩm nặng ký đấy. Hỏi rằng sách có nói gì đến ông Trump hay Biden không. Không có đâu. Nếu vậy sách này hiền. Có nói đến trận Covid 19 không? Không có. Nếu vậy sách này lành mạnh. Sách đã chích đủ 2 kỳ. Nếu vậy Hồi Ký này khỏe mạnh đấy. Có thể đọc mà không phải đeo khẩu trang. Anh Giao Chỉ sẽ order nhà Barnes để xem Kieu Chinh By Kieu Chinh ra sao. Như vậy sách sẽ không có chữ ký. Bèn đi máy bay xuống nhận sách có chữ ký của tác giả. Tò mò xem cô Kiều Chinh viết về cô ra sao.

Một cuộc đời nên quay thành phim:
Sau cùng tôi đã đọc hết 500 trang sách. Dù đã quen biết đôi chút với đệ nhất minh tinh Việt Nam, và đọc khá nhiều sách và tài liệu viết về Kiều Chinh nhưng phải đọc hồi ký này mới thực sự biết rõ về cuộc đời của cô kiều nữ Nguyễn Thị Chinh. Quả thực không thể thuật sự tóm tắt về cả cuộc đời, nhưng có thể ghi lại những nhận xét để giúp cho quý độc giả muốn biết tin tức. Kiều Chinh không phải là nhà văn. Không phải là cây viết chuyên nghiệp nên tác phẩm đã có người biên tập. Một nhà thơ làm công việc này và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Chúng ta có thể hiểu rằng KC đã ghi chép và ngồi kể lại cuộc đời để người chấp bút viết lại. Một tác phẩm công phu với rất nhiều chi tiết, đầy đủ hình ảnh và những tình tiết éo le hấp dẫn từng phân đoạn. Tôi nghĩ rằng tác phẩm nên ghi tên nhà thơ chấp bút. Các hồi ký danh tiếng của thế giới đều có tên người biên tập. Mai này nếu có ai nghĩ rằng nên quay cuộc đời KC thành phim thì diễn tiến của tác phẩm hết sức đầy đủ và phong phú. Bao gồm cả bi kịch và rất nhiều giây phút vinh quang hào hứng.

Những lần tuyên dương và những giải thưởng.
Kiều Chinh trong suốt cuộc đời đã được gặp biết bao nhiêu danh nhân thế giới. Được nhận sự khen ngợi và tưởng thưởng của rất nhiều lãnh vực và trong nhiều hoàn cảnh. Các vị nguyên thủ quốc gia, các tỷ phú giám đốc công ty thương mại và điện ảnh. Các vị lãnh đạo tôn giáo. Nhưng nếu độc giả lưu ý sẽ thấy trường hợp vô cùng đặc biệt là trước giây phút lâm chung cô dâu Nguyễn Thị Chinh đã được sự khen thưởng của bà mẹ chồng khó tính. Con Chinh đâu rồi, lại đây để mẹ cảm ơn. Không lời khen ngợi nào giá trị hơn. Một tuyên dương đặc biệt khác là giây phút KC cùng với các cựu quân nhân Mỹ tại VN khánh thành trường tiểu học cho trẻ em nghèo làng Mọc là làng quê của thân phụ. Không có ai trao giải hay tuyên dương người tài tử danh tiếng trở về trả nợ quê hương. Nhưng chính hoạt động nhân đạo này đã đem lại oan khiên chính trị khi cô bị lên án theo cộng sản và chịu nhục nhã bị đuổi xuống tại diễn đàn Bolsa khi lên giới thiệu thượng nghị sĩ McCain.

https://vietbao.com/images/file/oIwkMfuQ2QgBAAYo/kieu-chinh-2.jpg

Những chuyến bay và những giây phút trên mây.
Trong suốt cuộc đời KC là người đi mây về gió nhiều nhất. Hàng trăm chuyến bay. Nếu không phải là bạn bè của các tỷ phú thượng hạng làm sao có cơ hội nằm ngủ trên giường bay trên phản lực tư nhân bay về Việt Nam khi đi công tác việc thiện. Ai được mời bữa ăn tối giữa đại đô thị Hoa Kỳ đưa rước bằng trực thăng từ nóc nhà cao ốc này đến nóc nhà cao ốc khác. Cùng với biết bao nhiêu chuyến đi từ phi trường này đến phi trường khác có người đưa đón hay chỉ một mình lẻ bóng. Phải kể thêm cả những chuyến bay vô định vào những ngày vô tổ quốc sau 30 tháng tư 1975.

Bi kịch của đời người nổi tiếng.
Tác phẩm dành rất nhiều trang để nhắc lại bi kịch đau thương của bà mẹ với người con trai trong tai nạn. Không phải chỉ vì tình thương mà gồm cả lòng can đảm khi đòi hỏi chứng kiến các chuyên viên trực tiếp cứu chữa bệnh nhân. Thêm một chương khác đã viết về niềm thất vọng cùng cực khi KC đã quyết định tự vẫn. Những đoạn đời này tuy là thảm kịch nhưng cũng đã vô tình đem lại quân bình cho một tác phẩm không phải tất cả đều là khải hoàn ca.

Bốn nhân vật trong một cuộc đời.
Sinh ra trong một gia đình giàu có, nhưng bất hạnh trở thành mồ côi mẹ lúc niên thiếu và xa rời người cha thân yêu lúc trưởng thành. KC trong suốt cuộc đời đã đóng vai một người vợ bị bỏ rơi, một bà mẹ đơn thân. Nhưng đời người đàn bà bị tình phụ lại trở thành cơ hội của định mệnh. Ai đứa con sáo sang sông. Con sáo sổ lồng, con sáo bay xa. Là một tài tử duy nhất của VN đóng hàng trăm phim danh tiếng từ trong nước đến hải ngoại. Trong tất cả các bộ phim đều là hình ảnh của thế giới tự do. Vai trò thứ ba gần như là diễn giả Anh ngữ duy nhất của Việt Nam đi nói chuyện chuyên nghiệp có khế ước thù lao. Hàng trăm lần thuyết giảng đều là các đề tài văn hóa xã hội ca ngợi nhân quyền và quyền bình đẳng của phụ nữ. Sau cùng KC cũng là nhân vật đi làm việc thiện tình nguyện cùng các tổ chức bất vụ lợi Hoa Kỳ hướng về quê hương Việt Nam. Trải qua bao năm chinh chiến người chiến binh Hoa Kỳ và Việt Nam đã chiến đấu bên nhau. Ngày nay cựu quân nhân Mỹ trở lại Việt Nam trên cả 3 miền đất nước qua sứ mạng hòa bình xây trường cho con trẻ. Kiều Chinh là phụ nữ duy nhất miền Nam nhập cuộc. Cô tham dự cuộc chiến tranh chính trị bên cạnh các chiến binh Hoa Kỳ. Cả 4 vai trò đều vượt qua điểm trung bình đến gần hoàn thiện. Điều đáng ghi nhận là trong vai trò làm vợ, làm dâu và làm mẹ Việt Nam, cô bé di cư Bắc Kỳ 16 tuổi đã làm tròn bổn phận. Suốt cuộc đời tài tử, diễn giả và xã hội người mẹ đơn thân không bị lôi cuốn vào những chuyện ái tình tục lụy tuy rằng đã gặp nhiều cơ hội. Nhiều chuyến đi huy hoàng trong những vai quan trọng, tác giả đã dành 1 chương viết về chuyến đi của một phật tử cô đơn, lôi thôi, lếch thếch kéo theo hành trang tìm về nước Phật.

Đặc điểm của hồi ký.
Đây là cuốn sách mà tác giả tự mình đi tìm lại quá khứ. Sự xuất sắc của một con người không hề được trang bị đầy đủ khi bước vào đời. Tác giả không phải là người có trình độ đại học. Không qua một lớp huấn luyện về kịch nghệ. Khởi sự từ nghịch cảnh, xa cách anh chị và người cha ngay từ tuổi thơ trong hoàn cảnh di cư đất nước chia đôi. Với thân hình cao và thon thả, cô gái trở thành thiếu phụ đi đóng phim và quen biết với giới văn nghệ và lấy trường đời làm lớp học. Người phụ nữ lễ giáo không buông thả đã sống trong tinh thần tự lập và đạo đức để đạt được thành công. Khéo léo trong giao tế, có thiên phú về diễn xuất và Anh ngữ nên đã sớm trở thành một phụ nữ kiểu mẫu và điển hình trong chiến tranh cũng như sau này ở thời hậu chiến. Nhưng cũng phải ghi thêm rằng nàng là người có nhiều tham vọng và nắm bắt được cơ hội qua tình bằng hữu.

Hoa Kỳ là miền đất của cơ hội.
KC với sự giao thiệp tinh tế và khôn ngoan nên có rất nhiều bạn bè ở mọi nơi và mọi quốc tịch. Đã gặp nhiều cơ hội giúp cô vượt qua nghịch cảnh. Duy có một điều là người nổi tiếng KC dù có bao nhiêu bạn bè nhưng sau cùng cũng vẫn rất cô đơn. Bao nhiêu người thân được chia xẻ những giây phút vinh quang hay những ngày thăng hoa trong điện ảnh. Ai chứng kiến trong những lần diễn giả nói chuyện với 3 ngàn khán giả đứng lên vỗ tay. Niềm vui này ai là người để chia xẻ. Làm sao người nổi tiếng đã có được những giai đoạn sống đặc biệt như thế. Phải chăng vì cuộc sống riêng tư gia đình không hạnh phúc. Ai đưa lối, ai dẫn đường để tìm những lối đoạn trường mà đi. Phải chăng chính cuộc chiến tranh Việt Nam đã đưa thiên hạ tìm đến một phụ nữ Việt Nam được chọn làm tài tử toàn thời gian lâu dài đến thế. Người nổi tiếng cô đơn trong những chuyện đi về và trong cả những giấc ngủ đợi chờ trình diễn từ những chân trời xa lạ.

https://vietbao.com/images/file/Vb1CUPuQ2QgBADFE/kieu-chinh-3.jpg

Sau cùng tác giả nào cũng phải về già. Nàng đã cố xây dựng một CÕI TÔI cho tuổi hoàng hôn, nhưng rồi phải thay đổi xuống cấp đến 5 lần. Cõi riêng cứ nhỏ dần. Rồi cũng như mọi người, cõi riêng khi thành cát bụi thì cũng sẽ như chúng ta. Trong lòng đất ai cũng sẽ có ngôi nhà một phòng ngủ cho giấc ngàn thu nhỏ bé. Không cần phóng tắm. Chẳng bận tâm nóng lạnh hay điện nước. Nhưng hơn mọi người nàng để lại một hồi ký 500 trang kể rằng đã có lần buồn muốn chết nhưng rồi phải sống lại để gửi đến bằng hữu. Ra mắt sách để tìm lại chính mình.

Tháng qua, tôi xuống quận Cam gặp một bà già thanh tú ngoài 80 mà sao còn khỏe mạnh, gương mặt quen thuộc lái xe nhanh nhẹn. Ai mà trông như Kiều Chinh sao còn trẻ vậy. Tôi nhận được sách tặng có chữ ký . Xin cảm ơn bằng bài viết chân tình.

Năm 1954 có anh thiếu úy rất trẻ dẫn lính đi làm phu khuân vác đón di cư. Ngày chẵn công tác ở bến tàu, ngày lẻ ở phi trường. Có nhiều cô gái Hà Nội ngu ngơ tròn mắt ngắm cảnh Sài Gòn. Trong số này có cả cô bé Nguyễn thi Chinh 16 tuổi.

Giao Chi San Jose.

Nguồn: https://vietbao.com/p301409a309884/giao-chi-doc-hoi-ky-kieu-chinh-nguoi-di-tim-qua-khu

Miền Trung yêu dấu – Vũ Kim Đức

  • Vũ Kim Đức
    14 tháng 10, 2021

Ảnh minh hoạ: Unsplash

Thầy, mẹ tôi quê quán ở Ninh Bình, thiên cư vào miền Nam giữa thập niên 50. Tôi sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn bên cạnh những láng giềng tứ xứ người miền Nam, miền Trung như ông “Tư chè “, anh “Tám thợ nề “, ông “Già Ba Tri” và lớn lên với những bạn người Nam: Anh em Đực, Nghĩa và chị Lộc, anh em Thái Thành Tri và Năng, cho nên tuy là dân xứ Bắc nhưng giọng nói của tôi không ra giọng Bắc, không ra giọng Trung. Nó chịu ảnh hưởng cách ăn nói của các bạn miền Nam, nên giọng tôi là  “giọng Sài Gòn “.

Cho đến khi lên ngưỡng cửa trung học, giọng của tôi lại pha một chút giọng Trung vì tôi chơi thân với những người bạn người miền sông Hương, núi Ngự như Diệu Cầm, Tăng Diệu Ái. Người bạn xứ Huế tôi thân nhất thuở đó là Tôn Thất Tú. Tết năm đó, Tú rủ tôi tới nhà dự tiệc đầu năm với gia đình. Trong mùi hương trầm thoang thoảng trên bàn thờ gia tiên, gia đình Tú dùng rặt tiếng Huế nói chuyện với nhau. Tôi như lạc vào một thế giới khác. Tôi không hiểu mạ của Tú và các ôn, các mệ, các o của Tú nói với nhau điều gì. Cô em gái và người o xinh đẹp của Tú thấy mặt tôi ngớ ra, càng thích chí xổ ra từng tràng tiếng Huế để chọc quê. Nhưng càng về lâu, về dài tôi càng yêu mến những âm thanh lên bổng xuống trầm, nhẹ như hơi gió nghe dễ thương chi lạ: “Can chi mô”, “Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc, nhớ ngoài nớ ghê nơi “,” Tui van xin, mà răng cứ làm ngơ”, “Mi đi mô rứa”, “Ở bên ni, qua bên nứa”, “Huế mình chừ ra răng”… và những mâm cỗ Tết với các món lạ mắt, lần đầu tiên tôi được thấy, được thưởng thức. Những món ăn được cắt tỉa công phu khéo léo thành hình con rồng, con phượng, hình hoa sen từ các o của Tú: Măng hầm, thịt heo ngâm nước mắm, tôm chua, nem chua, dưa món, gà bóp lá răm, bò kho mật mía, giò bò, xôi đỗ xanh và những món tráng miệng: Bánh ít lá gai, bánh nậm, bánh tổ, bánh tét và mứt gừng với trà mạn sen… Tôi còn được lì xì như con cháu trong nhà với một không khí thân mật ấm cúng, pha một chút vương giả, rất kiểu cách, rất “Huế “.

Sau bữa tiệc Tân niên với gia đình Tú, tôi trở thành một người em, một người bạn nhỏ của một trong những o của Tú. O là một giảng sư rất trẻ của Đại học Vạn Hạnh và có gương mặt đẹp thanh tú như thiên thần. Tôi đã nhiều lần ngồi uống chè xanh, bàn chuyện văn chương, văn nghệ và nghe o tâm sự với giọng Huế nhẹ thanh thoát về xứ Huế và chuyện tình ngoài nớ với một sinh viên học trò. “Vòng tay học trò” của o trong sáng, cảm động làm tôi mơ hồ thấy lòng mình bỗng… bâng khuâng.

Riêng trong gia đình tôi. Ông anh cả của tôi, sau khi ra trường Khóa 17 Thủ Đức về phục vụ Sư đoàn 1 Bộ binh ở Huế một thời gian. Mỗi lần về phép, anh thường đem về những món quà chỉ có ở miền Trung từ một Công tôn nữ đài các anh đang yêu: Dầu tràm Huế, kẹo mè xửng, mứt trái quất dẻo ngon, vàng óng ánh. Đặc biệt là những chiếc nón lá, khi soi lên ánh mặt trời làm hiện lên những bài thơ. Và ông anh hai của tôi, thuở còn sinh viên cũng đã có một cuộc tình thơ mộng với một Công huyền tôn nữ lãng mạn xứ Huế. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in những bài thơ và nét son môi đậm nét cuối thư chị gởi cho anh.

Ảnh minh hoạ: Unsplash

Những thân thương về miền sông Hương, núi Ngự từ gia đình những người bạn xứ Huế, từ người o của Tú, từ hai ông anh của tôi và những Nhã Ca “Mưa trên cây sầu đông”, “Giải khăn sô cho Huế”, Túy Hồng “Tôi nhìn tôi trên vách” và “Những sợi sắc không”, Nguyễn Thị Hoàng với tập thơ “Sầu riêng” trong có bài “Chi lạ rứa” dùng toàn tiếng Huế, Trịnh Công Sơn “Diễm xưa”, Dương Thiệu Tước “Đêm tàn bến Ngự “, Duy Khánh “Ai ra xứ Huế”, Hoàng Nguyên “Tà áo tím”, Minh Kỳ “Thương về miền Trung”, tranh sơn dầu Nghiêu Đề, Trịnh Cung, Hàn Mạc Tử “Đây thôn Vỹ Dạ và “Tình quê”, Lưu Trọng Lư và Phạm Duy “Vần thơ sầu rụng”, Hà Thanh “con họa mi xứ Huế”. Những địa danh như : Đại nội, chùa Thiên Mụ, cầu Tràng Tiền trên sông Hương, núi Ngự, phá Tam Giang, Nam Giao, các thành quách, lăng tẩm… Khi được đọc và nghe đã làm  tôi xao xuyến về chốn xưa sơn thủy hữu tình. Tôi yêu mến xứ Huế lúc nào không hay.

Vì chỉ được biết  xứ Huế qua thi ca, âm nhạc và văn chương. Tôi ao ước có một ngày được ra thăm miền quê hương thật xa nhưng cũng thật gần đó. Nhưng tôi chưa một lần có cơ hội đặt chân đến quê miền Trung của Phạm Đình Chương: “Quê hương em đẹp lắm ai ơi, bài thơ trên nón, nụ cười đắm say” khi còn ở Việt Nam. Vì cuộc chiến giữa hai miền Nam, Bắc ngày càng trở nên ác liệt, ngăn cản đường đi. Cho tới hôm nay, sau hơn bốn mươi năm bỏ nước ra đi. Từ Mỹ tôi đã làm một cuộc du lịch về thăm miền Trung, miền quê hương nghèo với những cơn lũ lụt hằng năm. Một miền quê hương trong tưởng tượng, có bóng dừa, ngàn thông đẹp tuyệt vời, luôn sống mãi trong tiềm thức.

Phi cơ hạ cánh xuống phi trường Đà Nẵng lúc xế chiều. Mưa nhỏ hạt lóng lánh trên những hàng dương. Mùi hơi đất vương lên ngọt ngào sau cơn mưa, gợi nhớ những cơn mưa đầu mùa chỉ có ở quê hương ngày cũ. Chung quanh tôi đầy tiếng cười nói với giọng Huế vừa xa lạ, vừa quen thuộc. Quê miền Trung trong tâm tưởng là đây sao? Tôi chưa một lần được biết về miền Trung nhưng không khí và phong cảnh cho cảm giác gần gũi, không xa cách. Làm như trong tiền kiếp, tôi đã mở mắt chào đời và trưởng thành ở nơi đây. Lòng phi đạo sạch bóng như gương sau cơn mưa, cho cảm giác yên bình êm ả. Xe rời phi trường theo đường Phan Châu Trinh chạy ngang cầu Rồng, cầu tình yêu trên sông Hàn. Dẫy đá vôi Ngũ Hành với những ngọn Kim sơn, Mộc sơn, Thủy sơn, Hỏa sơn và Thổ sơn là tên vua Gia Long đặt cho năm ngọn núi hùng vĩ xứ Quảng, vươn lên giữa nền trời tím thẫm đổ bóng dài xuống những bãi biển cát trắng mịn.

Ít  ai còn nhớ, Đà Nẵng hơn 55 năm về trước vào ngày mùng Tám tháng Ba, 1965 khoảng 3,500 Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên đã đổ bộ lên bãi Nam Ô, giữa một rừng nữ sinh áo trắng đang chờ đợi với những vòng hoa. Đà Nẵng cũng là nơi xẩy ra cuộc biến động miền Trung năm 1966 với bàn thờ Phật xuống đường và các xáo trộn chính trị. Và những ngày Tháng Ba năm 75 hỗn loạn ở phi trường với đám đông tuyệt vọng, điên cuồng đạp lên nhau, tìm đường lên chiếc World Airways 727 vượt thoát Đà Nẵng với chân một người lính đã chết còn đong đưa trong bộ phận hạ cánh. Và nơi bến tầu Đà Nẵng, thân xác biết bao người đã chìm xuống lòng đại dương vẫn hằn sâu trong trí nhớ. Bãi Non nước, Tiên Sa và Mỹ Khê không xa là những hàng dừa trĩu nặng, đang nhạt nhòa trong ráng chiều. Nắng quái chiều hôm yếu ớt trên mặt biển không đủ sức xua đuổi ánh đèn neon cực mạnh từ những nhà hàng, khách sạn năm sao ồn ào du khách và tiếng nhạc trên bờ. Bãi biển Đà Nẵng một mùa Hè có cậu học trò nhà văn Phan Nhật Nam với các bạn cùng trường đi cắm trại. Buổi sáng tắm biển, trưa nằm trên ghềnh đá nghe sóng vỗ về dưới lưng, đêm ngủ bờ cát nhìn lên bầu trời tìm sao Hiệp sĩ, đốt đèn đi bắt ghẹ. Đám ghẹ được luộc ngay ở bờ biển trên đống lửa trại bập bùng trong đêm khuya ngã về sáng, nay đã trở thành một quá khứ xa xăm…

Đèn lồng Hội An. Ảnh Unsplash

Từ Đà Nẵng đi xuôi về hướng Nam khoảng 30 km là khu phố cổ Hội An. Hội An như một viên kim cương lóng lánh, nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn gần cửa Đại. Phố cổ Hội An được thành lập cuối thế kỷ 16, dưới thời nhà Lê như một làng chài lưới nhan nhản khắp miền Trung, cho đến triều đại nhà Nguyễn. Nguyễn Hoàng đã ra sức phát triển kinh tế Đàng Trong. Từ đó mở rộng giao lưu buôn bán với các nước ngoài, đã đưa Hội An thành một thị cảng sầm uất bậc nhất vùng Đông Nam Á. Vì tiếp xúc với các nền văn hóa khác nhau như Nhật Bản, Trung Hoa và Hòa Lan nên phổ cố Hội An có những kiến trúc đặc thù được bảo tồn gần như nguyên vẹn.

Tôi bước đi giữa lòng con phố với những lồng đèn mầu đỏ, tím và xanh giăng mắc khắp nơi. Hai bên là những ngôi nhà cổ mầu lam với cửa sổ mầu xanh dương. Những hàng quán mái ngói âm dương rêu phủ với cơm gà và cao lầu nổi tiếng. Những tà áo dài mầu trầm, bên cạnh những bước tường vàng loang lổ nhuốm màu thời gian… Hội An còn là quê hương của La Hối “Xuân và tuổi trẻ “. Và những cặp tân nhân trong lễ phục xứ Huế: Cô dâu áo dài Nhật Bình đeo kiềng vàng, đầu đội mấn, chú rể áo Tấc, khăn đóng làm đám cưới bên cạnh chùa Cầu, dưới bóng những giàn hoa giấy mầu trắng, đỏ khoe sắc lộng lẫy trong nắng đẹp như một bức tranh của Nguyễn Thị Hoài. Khi màn đêm buông xuống, khu phố cổ bừng lên như một phép mầu với những lồng đèn muôn màu tỏa sáng và những chiếc thuyền giấy hình hoa sen trôi lấp lánh trên sông Hoài. Tất cả đã vô tình tạo nên một không gian thơ mộng, lãng mạn. Thời gian cô đọng lại như… ngừng trôi, làm cho tôi có cảm giác được trở về một thế giới xa xăm nay chỉ còn trong dĩ vãng.

Đi ngược lên Quốc lộ số Một, đèo Hải Vân nằm giữa Đà Nẵng và Huế. Đây là một trong những thắng cảnh thiên nhiên đẹp nhất của quê hương miền Trung với 60 khúc quanh 90 độ. Tôi ước mơ được một lần đặt chân lên đỉnh đèo để từ đó nhìn ngắm bốn phương trời. Từ hướng Đà Nẵng ngược lên phía Bắc, tôi vượt làng Nam Ô, là nơi nổi tiếng với nước mắm Nam Ô, ngon không kém nước mắm Phú Quốc. Có ba con đường  để vượt qua đèo Hải Vân: Đường thứ nhất quanh co, khúc khuỷu có ba khúc quẹo hiểm nghèo đã có tự ngàn xưa. Một khúc gần Hải Vân quan và hai khúc kia ở địa phận Đà nẵng. Đường thứ hai là đường tầu hỏa cũ thời thuộc địa. Đường thứ ba là đường hầm Hải Vân dài 6.28 km, là đường hầm xuyên núi dài nhất Đông Nam Á, khởi công xây dựng từ năm 2000 và khánh thành vào năm 2005. Dùng đường hầm sẽ tiết kiệm được hơn một tiếng đồng hồ để vượt qua đèo nhưng sẽ không được mục kích thắng cảnh trời mây sơn thủy đẹp mê hồn. Lẽ đương nhiên, tôi đã chọn con đường thứ nhất dù nguy hiểm.

Càng lên cao con đèo càng dựng đứng, có chỗ phủ đầy sương mù như đường lên ngọn đỉnh trời, như con rắn khổng lồ đang uốn lượn trên triền núi xanh lục. Rải rác đó đây những bãi cỏ xanh mướt điểm vài bông hoa dại vàng, những am miếu nhỏ bên vệ đường nghi ngút khói hương. Trơ gan cùng tuế nguyệt, Hải Vân quan được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ bẩy, chắn ngang đường đi giữa Huế và Đà Nẵng. Phía trước cửa quan khắc ba chữ: “Hải vân quan”, phía sau khắc sáu chữ: “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” do vua Lê Thánh Tông ban tặng. Thỉnh thoảng lại gặp một bầy bò hoặc một bầy dê đủng đỉnh giữa lộ. Lên đến đỉnh đèo sẽ thấy toàn vịnh hiện ra sau màn sương mỏng. Phong cảnh đẹp đến nao lòng. Bên trái, cánh rừng già dựa lưng vào dẫy Trường Sơn đang thay đổi mầu sắc từ ánh mặt trời lúc tỏ, lúc lu dưới những cụm mây hồng lam pha sắc tím. Ngọn Trường Sơn cao vút, đỉnh đội mây trắng, chân soãi ra tận biển Đông. Bên phải sau những rừng dừa bát ngát, vài cánh hải âu lượn lờ trên dãi cát trắng tinh của bãi biển chạy vòng cung đến tận chân trời. Gần bờ, nước biển có mầu xanh nhạt, càng ra xa, càng xanh ngắt đậm mầu, mặt biển dường như càng nhô cao, giao thoa với mây và bầu trời. Biển và trời, mây quyện lẫn vào nhau, tôi không còn nhận ra nơi nào là mặt biển, nơi nào là bầu trời…

Con đường đèo bắt đầu xuống dốc, qua một vài khúc ngoặt cuối cùng của con đường, một phong cảnh hữu tình bất ngờ hiện ra trước mắt. Làng chài lưới Lăng Cô như một viên ngọc tỏa sáng nằm trên bãi cát trắng đầy vỏ sò, nhô lên từ mặt biển. Đây đó thấp thoáng vài hàng quán với mái ngói âm dương, vài nếp nhà tranh ẩn mình dưới bóng dừa xanh bạt ngàn, những chiếc lưới đánh cá phơi phất phơ trong gió. Ngoại trừ một số khách sạn “hiện đại” nằm “hoành tráng” dọc bãi biển. Dưới bóng tà dương,thấp thoáng vài cánh buồm nâu nhấp nhô theo ngọn sóng. Lăng Cô đẹp như một bức tranh thủy mạc…

Theo Quốc lộ số Một về phía Bắc, tôi đi ngang Hương Thủy với những ruộng lúa nho nhỏ lác đác vài ngôi mộ cổ. Vượt qua khoảng đường gió bụi trồng đầy chuối và hoa kiền kiền mầu đỏ nhạt, những thửa vườn xanh mát trồng cây ăn trái và nhà cửa, hàng quán đông đúc xen kẽ lẫn nhau, tôi đã đặt chân lên xứ Huế. Xứ Huế như một quê ngoại trong ước mơ được trở về hằng in đậm trong ký ức qua bao năm tháng…

Khu chợ Đông Ba nằm giữa cầu Tràng Tiền và cầu Gia Hội bên bờ Bắc sông Hương, chợ Đông Ba là chợ lớn nhất của Huế với lịch sử hơn 100 năm bị phá hủy và xây dựng lại. Vì được đặt gần cửa Chánh Đông của kinh thành nên thoạt tiên chợ có tên là Đông Hoa. Năm 1887 vua Đồng Khánh cho chỉnh trang và đổi tên thành chợ Đông Ba vì kỵ tên húy của bà Hồ Thị Hoa, vợ vua Thiệu Trị. Tôi đến chợ một buổi chiều có nắng đẹp chan hòa trên ba chữ mầu đỏ “Chợ Đông Ba” trước lối vào. Tôi đi khắp ba gian chợ nhìn ngắm những món hàng, những món ăn lạ mắt … trong một không gian tràn ngập màu sắc, âm thanh rao hàng, trả giá, cãi lộn dễ thương xứ Huế. Sau đó lang thang trên đường Trần Hưng Đạo có nhiều cây sầu đông của Nhã Ca. Tôi nhớ về những ngày Tháng Ba năm 72 khi chợ Đông Ba và khu phố chung quanh bị đốt cháy, phá hoại bởi đám đào binh, tù nhân không người chỉ huy rút chạy hỗn loạn về Huế, từ đại lộ kinh hoàng Quảng Trị… nay không còn một dấu vết…

Đại Nội và Tử Cấm Thành sáng nay tầm tã dưới cơn mưa xứ Huế, nhưng vẫn giữ được vẻ uy nghiêm. Điện Thái Hòa là nơi cử hành các lễ lớn của triều đình như lễ Đăng quang, các đám cưới, hỏi của hoàng gia. Trên các tường bên trong có treo nhiều tờ biểu của các quan trình lên vua. Chữ của các quan viết bằng mực tầu, phê chuẩn của nhà vua viết bằng mực son. Vua Tự Đức là ông vua thông minh, hay chữ nên trên nhiều tờ biểu, phê chuẩn mực son của vua còn nhiều hơn chữ của các quan.

Thăm Đại Nội cho tôi cảm giác hoài cổ, nhớ về một thời đã qua, nay chỉ còn lại “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”… Mưa gió xứ Huế dai dẳng không dứt cả ngày trong Đại Nội, mưa như trời sầu, đất thảm, mưa mù mịt bốn phương trời. Khu vực Kỳ Đài với chín khẩu thần công là nơi cho tôi rất nhiều xúc cảm lẫn lộn khi nhìn lá cờ hiện tại đang bay trong mưa gió. Bỗng dưng tôi nhớ lại ngày đầu xuân Mậu Thân năm xưa với Huế đổ nát, điêu tàn. Dân và quân xứ Huế với nước mắt lưng tròng đã cất cao giọng hát bài “Này công dân ơi…” khi lá cờ vàng ba sọc đỏ được từ từ kéo lên Kỳ Đài…

Trải qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử của nước nhà. Cầu Trường Tiền sáu vài, mươi hai nhịp, sau ba lần gẫy đổ và xây dựng lại, vẫn bắc ngang dòng sông Hương cho đến tận bây giờ. Cầu được ví như một cô gái Huế duyên dáng với mái tóc xõa dài ngang lưng, soi bóng mình dưới dòng Hương giang. Những ai ra Huế mà chưa đứng trên cầu Trường Tiền ngắm những chiếc nón bài thơ, những tà áo tím phất phơ trong gió, nhìn dòng sông Hương rợp bóng phượng vĩ lững lờ trôi, được coi là chưa đến Huế.

Ảnh minh hoạ: Unsplash

Đêm hôm nay trăng 16 sáng vằng vặc. Tôi đang sống trong một ước mơ đã ấp ủ từ lâu. Đó là ước mơ được ngồi trên một con thuyền nhỏ lênh đênh trên sông Hương… “Lướt theo chiều gió, một con thuyền theo trăng trong”. Thuyền trôi êm đềm ngang chùa Thiên Mụ và tháp Phước Duyên ven bờ. Tháp Phước Duyên với bẩy tầng tháp tỏa sáng, đứng sừng sững trên nền trời tím đậm như đã đứng từ trăm năm. Văng vẳng trên không có tiếng chuông chùa vang nhẹ, đưa hồn tôi lâng lâng thoát tục.

Thuyền cứ lững lờ trôi trên sông, dọc theo núi Ngự Bình mờ sương lam. Chung quanh không một tiếng động, chỉ có tiếng nước vỗ nhẹ mạn thuyền. Thoang thoảng trong gió đêm có mùi hương dịu nhẹ từ hoa ngọc lan, hoa sói, hoa bưởi, hoa cau trong các thửa vườn ven bờ. Bỗng nhiên lòng rung động, tôi thèm được nghe một giọng hò mái nhì xứ Huế trên sông vào khoảnh khắc này. Nhưng không gian im lặng như tờ. Xa xa cầu Trường Tiền bừng sáng trong đêm với ánh đèn neon xanh, đỏ, tím, vàng tương phản với vẻ đẹp thiên nhiên của dòng Hương. Cầu Trường Tiền ban đêm, trông trơ trẽn như một cô gái Huế lỡ thì trang điểm quá tay…

Thôi nhé Huế, những ngày vui chóng qua mau. Tôi chưa từ biệt xứ Huế mà đã nghe Huế nhắc nhở:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên…

Cách nhau ngàn vạn dậm.
Nhớ chi đến trăng thề…

(Thơ Hàn Mạc Tử)

Nguồn: https://saigonnhonews.com/muon-neo-duong-doi/mien-trung-yeu-dau/

Khẩn Thiết Cầu Xin “Mỗi Gia Đình, Một Thương Phế Binh”

15/10/2021

  • Nam Lộc

Kính thưa quý vị, 

Trong cơn đại dịch Covid-19, cộng với vi khuẩn “Delta variant” đang hoành hành tại Việt Nam liên tục từ nửa năm qua, khiến cho những người lành lặn cơ thể còn phải chịu đựng và đối phó với bao nỗi khó khăn, thiếu thốn, huống chi đến những người tàn tật, bị mất tay, cụt chân hay mù cả đôi mắt. Nhất là thành phần Thương Phế Binh VNCH, những cựu quân nhân bất hạnh đã trở thành phế nhân trong cuôc chiến bảo vệ tự do, dân chủ cùng sinh mạng của bao người dân ở miền Nam VN trước Tháng Tư, 1975. Khi đại dịch ụp xuống quê nhà, lệnh “ai ở đâu, ở đó” do nhà cầm quyền ban ra đã khiến cho TPB không còn cơ hội để sống, để lê la đi bán từng tấm vé số mưu sinh hoặc đi xin ăn ở các lề đường.

Cho đến nay, nhiều TPB đã và đang chết đói!

Chúng tôi đã vận động và được ân nhân, ông bà Nguyễn Võ Long, người sáng lập “Phong Trào Việt Hưng” đáp ứng và đang đích thân gởi tiền về quê nhà giúp cho khoảng hơn 2000 TPB/VNCH. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi mà VN đang mở cửa hoạt động trở lại. 

Tuy nhiên con số 2000 TPB/VNCH chỉ là một phần rất nhỏ so với nhu cầu hiện tại, và với danh sách là hơn 17 ngàn TPB mà cựu trung tá Hạnh Nhơn đã thành lập khi bà còn sống. Chính vì thế mà sau khi biết được các đồng đội trong số may mắn 2000 người nhận được tiền trợ giúp, thì nhiều TPB đã viết thư sang cầu cứu. Vì thế chúng tôi xin mạo muội tái phát động chương trình “MỖI GIA ĐÌNH, MỘT THƯƠNG PHẾ BINH”, để khẩn thiết cầu xin quý vị đồng hương ở khắp nơi trên thế giới. Những người may mắn có hoàn cảnh, xin quý vị nhín ra một chút đỉnh để gởi về giúp đỡ các TPB/VNCH trong giai đoạn sinh tử hiện nay. 

C:\Users\Nam Loc\Documents\TPB-VNCH.jpg

VIỆC LÀM RẤT GIẢN DỊ:

Chúng tôi sẽ cung cấp Tên, Tuổi, Địa Chỉ, Điện Thoại cùng Số Quân và Đơn Vị của một hay nhiều TPB mà quý vị muốn giúp đỡ. Quý vị gởi trực tiếp về cho họ qua các dịch vụ gởi tiền. Chúng tôi chỉ xin đề nghị $100 dollars cho một TPB (+$2 dollars lệ phí chuyển tiền). Các cơ sở chuyển ngân sẽ phải cung cấp giấy hồi báo với chữ ký của người nhận cho quý vị. Và dĩ nhiên chúng ta cũng có thể điện thoại để liên lạc hỏi thăm cho chính xác nếu muốn.

Nếu quý vị hảo tâm, muốn tham gia và giúp đỡ TPB/VNCH đang thiếu thốn và chờ mong, xin email về cho chúng tôi tại địa chỉ: namlocnguyen@yahoo.com / XIN ĐỪNG GỞI TIỀN CHO CHÚNG TÔI!

Mùa Lễ Tạ Ơn sắp đến, hãy giúp đỡ TPB/VNCH trong giai đoạn cấp thiết này để tri ân những người đã hy sinh cho quê hương đất nước và cho chúng ta được sống. 

Xin ơn trên phù hộ cho toàn thể quý vị.

Nam Lộc

October, 2021

Nguồn: https://vietbao.com/a309871/khan-thiet-cau-xin-moi-gia-dinh-mot-thuong-phe-binh-

Phi cơ phản lực thả bom B-57 và Không quân Việt Nam Cộng Hòa – Trần Lý


Trần Lý

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/a/a6/B-57B_Canberras_start_engines_at_Da_Nang_c1965.jpg

Phi cơ phản lực đầu tiên xuất hiện trên Chiến trường Nam Việt Nam có lẽ là Phi cơ thả bom hạng nhẹ B-57 (nếu không kể đến một vài loại phi cơ phản lực dùng để huấn luyện)

Từ tháng 5 năm 1963, Phi đội Thám sát 609 của KQ HK đã sử dụng 2 chiếc RB-57 E, đặt căn cứ tại Phi trường Tân Sơn Nhứt (Sài gòn). Hai phi cơ này , cải biến từ các B57-B, được sửa đổi phần mũi để lắp đặt các hệ thống chụp không ảnh loại KA-1 và KA-56. Phi vụ đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện vào ngày 7 tháng 5 năm 1963. Ngay từ tháng 2 năm 1964, các tướng lãnh HK nhất là Tướng Jacob Smart, Chỉ huy trưởng Không lực HK trong Vùng Thái bình dương đã đề nghị đưa vào VN một hoặc hai phi đội chiến đấu cơ B-57, nhưng không được Bộ trưỡng Quốc phòng Mc Namara chấp thuận, viện dẫn những điều khoản cấm đưa phi cơ phản lực vào Việt Nam trong Hiệp định Geneva.

Sau sự-kiện Vịnh Bắc-Việt ngày 2 tháng 8 năm 1964, Hoa Kỳ chính thức đưa các B-57 đến VN, với 2 phi đội từ Căn cứ KQ Clark (Philippines) đến Căn cứ Biên Hòạ Các B-57 này được đặt dười quyền điều hành của SĐ 2 KQHK (tiền thân của Đệ Thất Không lực HK), và các B-57 đã chứng tỏ được hiệu năng trong các phi vụ tấn công oanh tạc các điểm tập trung của Cộng quân tại Nam Việt Nam.

Ngày 1 tháng 11 năm 1964, Cộng quân đã pháo kích vào Phi trường Biên Hòa, gây tổn thất cho 5 chiếc B-57 đậu tại đây cùng với 4 chiếc Skyraider A-1H của KQ VNCH. Mặt khác các phi công HK đã ghi nhận được sự xuất hiện của các phản lực cơ MiG, lầu đầu tiên vào ngày 3 tháng 4 năm 1965 trên không phận Bắc Việt.

Và trước tình hình chiến sự gia tăng, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh KQ VNCH và sau là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Thủ tướng) đã chính thức yêu cầu HK cung cấp cho VNCH những phi cơ phản lực với lý do là lúc đó Bắc Việt, Miên và Thái Lan đều đã có các phản lực cơ (Bắc Việt và Miên có một số MiG 15) và Hiệp định Geneva về giới hạn võ khí trong vùng, trên thực tế không còn hiệu lực nữa.

Trong chuyến viếng thăm Nam Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara vào tháng 7, 1965 các giới chức Hoa Kỳ đã bàn đến việc chuyển giao cho VNCH một số phi cơ phản lực. Tướng Westmoreland trong văn bản của MACV gửi cho SECDEF (ngày 20 tháng 7, 1965) đã đề nghị chuyển cho KQ VNCH một lực lượng tượng trưng 4 chiếc B-57 để tạo thêm uy tín và tăng tinh thần cho KQVN, các phi cơ này sẽ được lấy từ Phi đội Thả bom Mỹ đang đặt tại Đà Nẵng, chỉ cần sơn lại huy hiệu của KQVNCH.

This image has an empty alt attribute; its file name is image.jpeg

Ngày 1 tháng 8 năm 1965, Nhật báo Anh ngữ Saigon Post đã loan tin trên trang nhất :’ KQ VNCH nhận được các Phản lực cơ B-57’ và những thông báo chính thức được loan tải :’ KQ VNCH sắp được nhận các phi cơ phản lực đầu tiên và 4 phản lực cơ loại 2 máy Canberra sắp được Hoa Kỳ chuyển giao cho VNCH’..

Thật ra chương trình tiếp nhận B-57 của KQVN đã được sửa soạn từ tháng 5 năm 1964, chỉ khoảng 1 tháng sau khi các B-57 của KQHK trú đóng tại Nhật được di chuyển về Căn cứ Clark (Philippines). Một thỏa hiệp bất thường giữa hai Chính phủ Việt và Phi đã cho phép đưa 3 sĩ quan KQVN đến huấn luyên tại Căn cứ Clark. Ba sĩ quan này là Thiếu tá Nguyễn Ngọc Biện và các Đại úy Nguyển văn Tường và Nguyễn văn Long. Công việc huấn luyện do các Huấn luyện viên thuộc các Phi đoàn Oanh tạc số 8 và số 13 của HK thực hiện. Với những kinh nghiệm và khả năng sẵn có của các sĩ quan phi công VN, đang bay các Skyraider, việc chuyển sang điều khiển các B-57 không gặp trở ngại nào đáng kể.

( Theo Tác giả Gman trong Lý Tưởng số 02/2008: ‘ Nhu cầu huấn luyện hoa tiêu B-57 không giống như hoa tiêu khu trục, mà giống như hoa tiêu vận tải..cần đến một phi hành đoàn gồm nhiều người hơn là chỉ có một hoa tiêu, vì có nhiều việc làm mà một hoa tiêu không làm xuể..’ Cũng theo Ông thì từ cuối năm 1964, KQVN đã kết hợp với KQ HK để oanh tạc miền Bắc và khi các B-57 được đưa đến Đà Nẵng để hoạt động ngăn chặn sự xâm nhập qua đường HCM và .’ Khi các đơn vị B-57 này không đủ phi hành đoàn thì KQVN được hỏi đến đế tăng cường một số gồm 4 phi hành đoàn : 4 hoa tiêu và 4 điều hành viên. Do đó mới có việc đề cử các hoa tiêu và điều hành viên sang Clark Field AFB ở Phi để thụ huấn. Một số hoa tiêu khu trục được chọn cùng một số điều hành viên được đề cử từ Liên Phi đoàn vận tải. Nói về bay thả bom là khả năng của ngành khu trục thì không đúng hẳn, vì người thả bom từ B-57 lại là các điều hành viên, còn người lái loại phi cơ có nhiều động cơ phải là chuyên môn của ngành vận tải đã từng tốt nghiệp tại các trường dậy bay phi cơ 2 động cơ chỉ vì ngẫu lực ngang khi bị hỏng một máỵ Nhưng KQVN đã chỉ định toàn hoa tiêu khu trục cho việc huấn luyện này..)

Công cuộc huấn luyện cho 3 phi công kế tiếp có những điểm đặc biệt hơn, vì không như 3 phi công đầu tiên : việc huấn luyện được thực hiện ngay tại Tân Sơn Nhứt thay vì trên đất Phi. Lý do là 3 phi công được tập huấn lần này là Tư lệnh KQVN, Tướng Kỳ; Tham mưu trưởng KQ: Đại tá Nguyễn ngọc Loan và Thiếu tá Vũ thượngVăn, Chỉ huy trưởng TT Hành quân KQ. Vì những lý do công vụ, các vị này không thể vắng mặt và không thể sang Phi để được huấn luyện. KQHK đã dùng những B-57C có hai hệ thống điều khiển độc lập để dùng trong một chương trình huấn luyện kéo dài trong hơn 30 ngày.

Ngày 9 tháng 8 năm 1965, một buổi lễ long trọng đã được tổ chức tại Tân sơn Nhứt. HK chính thức chuyển giao cho VNCH 4 chiếc B-57. Một chiếc đậu sẵn tại Phi trường TSN, với các dấu hiệu của KQVN trên thân và cờ VNCH sơn trên đuôi, trưng bày cùng với các loại bom đạn mà phi cơ có thể mang theo. 3 chiếc khác bay thành đội hình trên không qua khán đài do các phi công gồm Tướng Kỳ (lúc này đang là Thủ tướng) và các Đ/U Tường và Long điều khiển. Tuy nhiên do thời gian cần bay trên B-57 đã bị gián đoạn, các phi công VN trở thành ‘không còn khả năng’ để bay riêng lẻ, nên các phi công Hoa Kỳ huấn luyện viên đã phải cùng bay với các vị này, ngồi trong ghế điều khiển phía sau. Tướng Kỳ bay chung với Huấn luyện viên là Đ/úy Don Nation. Tuy Tướng Kỳ là một phi công tài ba, nhưng vì Ông không thể bay tập dượt trước, nên Đ/úy Nation đã phải lãnh trách nhiệm điều khiển phi cơ khi hạ cánh. Các B-57 đã đáp xuống phi đạo , và các huấn luyện viên đã nhảy khỏi phi cơ nơi đầu phi đạo phía xa và các phi công VN lái phi cơ về phía khán đài để làm lễ bàn giao.

Giai đoạn phản lực của KQ VNCH chính thức bắt đầu. Chương trình tập huấn B-57 đợt thứ hai tại Phi được bắt đầu từ ngày 20 tháng 9 với 6 phi công, 4 điều hành viên, 4 sĩ quan bảo trì cùng 16 chuyên viên cơ khí. Trong chương trình huấn luyện này , vì lý do chính trị nên còn có thêm 2 điều hành viên người Phi theo học, sự kiện này giúp để giải thích lý do Chính phủ Phi cho phép các quân nhân VNCH đến Phi để tập huấn. Mỗi phi công được huấn luyện bay 70 giờ trên B-57 và phải bay ít nhất là 40 phi xuất. Riêng khóa học của các điều hành viên được bắt đầu vào 11 tháng 10,1965 nhằm huấn luyện làm quen vơi các hệ thống điểu khiển dành cho những nhân viên phi hành ngồi ở ghế phía sau.
  Từ 20 tháng 9 năm 1965, các phi công B-57 đã được huấn luyện bổ túc thêm về các kỹ thuật ném bom và oanh kích. Các nhân viên phi hành cũng được tập huấn thêm về kỹ thuật sử dụng các dụng cụ, thiết bị trên phi cơ từ tháng 10, 1965.

Phi đội B-57 của KQVN được đặt danh hiệu là Biệt đội 615, do Thiếu tá Biện chỉ huy. Biệt đội trực thuộc Không đoàn 41 Chiến thuật, đặt căn cứ tại Đà nẵng. (Thật ra đơn vị này không có trong bảng cấp số của KQVN về nhân lực cũng như về vật lực)

Trong giai đoạn đầu, Biệt đội 615 thường bay chung với các phi công HK thuộc các Phi đội thả bom số 8 hoặc số 13 trong các phi vụ hành quân do KQHK kiểm soát. Nhiệm vụ chính của các B-57 là oanh tạc các đoàn xe tiếp tế của CSBV di chuyển trên đường mòn HCM. Mỗi phi vụ oanh tạc thường gồm 6 chiếc B-57, 4 do Hoa Kỳ và 2 do VN thực hiện.

– Một số phi công trong Biệt đội : Thiếu tá Nguyễn ngọc Biện, Th/tá Nguyễn văn Long, Đại úy Nguyễn Hữu Hoài, Đ/úy Lê Xuân Lan, Đ/úy Đàm Thượng Vũ, Đ/úy Phạm văn Tỷ.. Nguyễn Quốc Hưng.. – Một số nhân viên phi hành và điều hành như các Đ/úy Phạm Kim Lân, Tô Tiến Phát, Nguyễn tấn Ngàn, Trần văn Lộc.

Các phi cơ B-57 do KQ VNCH sử dụng thật ra chỉ là những phi cơ ‘cho mượn tạm’, vẫn do HK quản lý và bảo trì..chỉ sơn thêm màu cờ KQVN khi các phi công VN cần đến !

Sau những hăng say lúc ban đầu, các B-57 đã tỏ ra..có lẽ không thích hợp với các phi công VN ? Các nhân viên phi hành VN cho rằng loại phi cơ điều khiển hoàn toàn bằng sức người này đòi hỏi thể lực vượt khỏi sức của người VN (?). Các chương trình huấn luyện kế tiếp gặp những trục trặc, khiến bị chậm trễ và ngừng đọng. Tai nạn đầu tiên của KQVN với B-57 xẩy ra vào tháng Giêng, 1966 trong một phi vụ huấn luyện tại Philippines với Trung Úy Lâm (?) Phi cơ gặp tai nạn khi tập đáp đã bị hư hỏng hoàn toàn đến mức phải phế thải.
  Ngày 23 tháng 2 , 1966, trong một phi vụ oanh tạc : chiếc B-57 do Thiếu tá Biện điều khiển đã gặp nạn, gây tử thương cho chính người điều khiển.

Tác giả Gman ghi lại tai nạn này (trong Lý Tưởng 02/2008) như sau ‘.. Tai nạn này không do khả năng lái máy bay của Anh, cũng không do một lỗi nào về kỹ thuật mà do một số người điều hành công việc tại Phi trường Pleiku. Sau một phi vụ oanh kích trong vùng Pleiku/Kontum vì phi trường Đà nẵng có nhiều mây che phủ nên có lệnh anh về hạ cánh tại Pleiku. Sau khi hạ cánh, anh đậu tại sân đậu vãng lai, gần cạnh đài kiểm soát không lưu phi trường, và Anh tắt máỵ Trước khi Anh rời phi cơ thì đài kiểm soát bắt anh dời phi cơ đậu nơi khác vì còn có một quả bom ngoài cánh chưa được thả..Vì vậy nên chuyên viên bảo trì phi đạo vãng lai tụ tập với nhau lại để đảy phi cơ đi nơi khác. Trong khi đó thì hoa tiêu vẫn còn ngồi trong phòng lái, không biết vì quá gấp rút nên anh chưa rời phi cơ được hay vì anh phải ngồi trong phòng lái để giữ thắng. Nên biết là khi đã tắt máy thì hệ thống thắng không còn đủ áp suất để hoạt động nữa. Đường di chuyển có độ nghiêng không đều nhau thì phi cơ có khuynh hướng chạy về chỗ thấp, nên người đẩy phi cơ phía bên đó không chống đỡ nổị B-57 là một phi cơ rất nặng, trọng lượng lên đến 26,000 lbs,. nên phi cơcứ chạy ra khỏi đường di chuyển và sắp sửa chạy xuống lề cỏ xanh của phi trường, vì thế hoa tiêu phải nhảy khỏi phòng lái và nhẩy xuống đất ở phía trước cánh. Không may cho anh, anh vừa nhảy xuống thì phi cơ lại quẹo thêm về hướng đó nên bánh cán phải trên bụng anh, làm anh bể bọng đái và chết tại chỗ.’

(Tai nạn này được tác già Cà nông 20 ghi lại trong LÝ TƯỞNG SỐ 03/2005 như sau : ..’ ..Sau khi xưng danh là Đương kim Chỉ huy trưởng Căn cứ 92 Không quân chiến thuật, tôi được phép đáp xuống Phi trường Cù Hanh và được thông báo cho biết ở cuối phi đạo 09 có một B-57 đang được ‘parked’ ở đó với 2 quả bom 500 lbs, loại nổ chậm, đã được bấm nút khởi động mà không ra khỏi ‘bomb rack’ được, vì trục trặc kỹ thuật mặc dù phi công, Th/tá Biện đã dùng đũ mọi cách ‘manual release’ và nhào lộn đủ kiểu trên mục tiêu ở Tây Bắc Tuy Hòa và vì cạn nhiên liệu nên không thể bay về Đà Nẵng, phải xin đáp khẩn cấp ở phi trường Pleiku. Phi tuần 2 chiếc B-57, chỉ có chiếc số 1 là bị trục trặc, chiếc số 2 của Đ/úy Đàm Thượng Vũ an toàn nơi bến đậu. Tôi gọi Đại tá Bonneaux, sĩ quan đồng sự M4 của tôi để yêu cầu toán EOD tháo gỡ bom đã khởi động mà chưa nổ, khoảng 20 phút sau Đ/tá Bonneaux báo tin đã tháo gỡ xong và đã cho hủy nơi một khu vực phế thải an toàn. Tôi mời Biện, Vũ, và Ngân xuống phố dùng cơm tối nhưng Biện, do tinh thần trách nhiệm quá cao, đã đề nghị để Anh trở xuống phi đạo đem máy bay vào bến đậu.’

This image has an empty alt attribute; its file name is Martin_B-57B-MA_52-1532_loaned_to_SVNAF_1965.jpg

‘ Chiếc B-57 nằm ở vị thế chúi mủi trên một triền giốc cuối phi đạo 09. Các nhân viên cơ khí trực phi đạo đã mang floodlight ra tận đầu lằn vôi touch down để chiếu sáng khu vực..Biện rời xe jeep, đi bộ xuống giốc và trèo lên cockpit. Chúng tôi đứng ở trên triền giốc nhìn xuống theo dỏi. Sau khi an vị trong phòng lái, Biện đưa tay ra dấu cho cơ phi rút chèn bánh. Phi cơ tụt giốc từ từ đâm thẳng vào con đường xuống suối. Phi cơ không nổ máy, không thể điều khiển, tiếp tục lao xuống giốc nhanh hơn. Tôi trông thấy Biện phóng ra khỏi cockpit và lăn tròn một vòng ra đầu cánh..phi cơ tiếp tục lao xuống đụng vào ụ cát và đứng lại, trong khi đó Biện nằm rên rỉ trên phi đạo..(lý do tai nạn được giải thích lo do thói quen nghề nghiệp : Trước khi lái B-57, Biện là một tay nghề của Skyraider A-1. Ý niệm về thoát nguy khi nhảy khỏi cockpit của A-1 là phải lăn một vòng về phía đầu cánh để tránh bộ phận đáp-landing gear vốn nằm sát sườn thân phi cơ hơi chếch một chút về phía sau ghế lái đè lên và cán chết…Nhưng cấu trúc của bộ chân đáp B-57 lại nằm tít gần đầu cánh, hoàn toàn trái ngược với A-1..Thay vì nhảy khỏi cockpit và nằm yên tại chỗ, ý niệm về A-1 đã khiến Biện lăn thêm vòng lăn định mệnh..) Tôi lo âu ngồi xuống cạnh Biện, chưa kịp hỏi, Biện đã lên tiếng vừa yếu ớt vừa đau đớn :- Lỗi tại tôi, cứ nhớ hoài A-1..Đại ca chi xin một điếu thuốc.

Tôi run tay bật lửa châm điếu Ruby và ghim vào mồm Biện, đồng thời nhìn xuống chân của Biện đã bị gẫy và bọng đái bị chân đáp của B-57 cán ngang, vỡ bể…Chúng tôi cùng nhau cẩn thận bế Biện lên xe cứu thương tức tốc đưa amh đến Quân Y viện của QĐ 2 để cấp cứu. Có 3 BS Quân Y VN đả làm công tác cấp cứu Biện đêm đó. Có tất cả 12 lít máu đã được chuyền. Th/tá Biện mất vào khoàng 2 giờ 30 sáng. ‘

Tai nạn này đã giúp thêm một lý do để Hoa Kỳ thu hồi các B-57 (20 tháng 4 năm 1966). Chương trình B-57 dành cho KQ VNCH đã lặng lẽ chấm dứt. Một số phi công thuộc Biệt đội B-57 đã được chuyển sang xuyên huấn về F-5 như Các Đ/úy Lê Xuân Lan, Nguyễn Hữu Hoài và Tr/úy Đàm thượng Vũ.

Trần Lý

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1245853461&first=1080&last=1139

Trung Đoàn 54 Bộ Binh Bạch Hổ Tử Chiến Giữ Tuyến Tây Huế – Vương Hồng Anh

  • Vương Hồng Anh

* Phòng tuyến của Trung đoàn 54 Bộ binh ở Tây Huế:
Trước khi cuộc chiến Mùa Hè 1972 bùng nổ vào cuối tháng 3/1972, từ giữa tháng 3/1972, theo kế hoạch của bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, trung đoàn 54 Bộ binh (biệt danh là trung đoàn Bạch Hổ) do trung tá Nguyễn Thanh Hạnh, trung đoàn trưởng, chỉ huy, được điều động từ Nam và Tây Nam Thừa Thiên vào khu vực cận sơn quận Nam Hòa, nằm ở phía Tây Huế. Tuyến phòng thủ chiều ngang do trung đoàn 54 Bộ binh đảm trách chạy dài từ phía Bắc căn cứ Bastogne (cách Huế khoảng 12 km đường chim bay) đến phía Nam cao điểm 342 (Checkmate). Theo phối trí, bộ chỉ huy hành quân trung đoàn đặt tại căn cứ Birmingham (Bình Điền), tiểu đoàn 1/54 án ngữ cao điểm 342 và cụm điểm quanh căn cứ Checkmate, tiểu đoàn 2/54 phòng ngự căn cứ và vòng đai Bastogne, tiểu đoàn 3/54 và 4/54 phòng thủ chiều sâu, ban chỉ huy tiểu đoàn 3/54 đóng chung với bộ chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn 4/54 hành quân di động.

This image has an empty alt attribute; its file name is 51572516591_76299006c3_z.jpg

Về hoạt động của đối phương, từ đầu tháng 3/1972, tin tức tình báo ghi nhận các đợt chuyển quân của 3 trung đoàn 29, 803 và 812 thuộc sư đoàn 324 B từ phía Bắc vào thung lũng Ashau nằm ở hướng Tậy Thừa Thiên. Cùng lúc đó, trung đoàn 24 thuộc sư đoàn 304 CSBV cũng được ghi nhận là đã di chuyển khỏi mật khu Ba Lòng (Quảng Trị) và trên đường di chuyển về phía Nam. Từ giữa tháng 3/1972 đến đầu tháng 4/1972, trong khu vực trách nhiệm của trung đoàn 54 Bộ binh không có những trận giao tranh lớn, chỉ có những đợt pháo kích của Cộng quân ở mức độ nhỏ. mang tích cách thăm dò khả năng phản pháo của tiểu đoàn Pháo binh tăng phái cho trung đoàn.

* Tiểu đoàn 2/54 và hai tuần lễ cố thủ căn cứ Bastogne:
Trong 10 ngày đầu của tháng 4/1972, Cộng quân áp lực nặng tỉnh lộ 547 đi ngang khu vực phòng ngự của trung đoàn 54 Bộ binh. Cùng thời gian này, các đại đội tiền đồn của hai cứ điểm Bastogne và Checkmate đã phát hiện các cuộc chuyển quân của Cộng quân từ hướng Tây về hướng Đông, đồng thời tiểu đoàn 4/54 đang hành quân lưu động đã có những cuộc đụng độ nhỏ với các thành phần tiền sát của đối phương. Trong tuần lễ thứ hai của tháng 4/1972, việc tiếp tế bằng đường bộ cho hai tiểu đoàn 1/54 và 2/54 đã không thể thực hiện được do Cộng quân tổ chức các chốt chận trên lộ trình. Để các đơn vị nói trên có đủ lương thực và đạn dược để chiến đấu, bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh đã điều động các phi đội trực thăng tăng phái thực hiện các phi vụ tiếp tế khẩn cấp cho quân trú phòng, tuy nhiên các nỗ lực tái tiếp tế này đã gặp nhiều khó khăn do pháo phòng không của địch đã bắn chận không cho trực thăng đáp xuống. Cuối cùng quân lương được thả bằng dù xuống căn cứ, nhưng hơn một nửa rơi ngoài căn cứ, lọt vào tay Cộng quân.

* Tiểu đoàn 4/54, lực lượng xung kích tiếp tế đêm cho hai căn cứ bị địch bao vây:
Sau khi đã khống chế về tiếp vận, đến giữa tháng 4/1972, Cộng quân tăng quân bao vây và khởi động các đợt tấn công thăm dò vào hai cứ điểm Bastogne và Checkmate, đồng thời pháo kích dồn dập vào cụm tuyến phòng ngự của hai tiểu đoàn 1/54 và 2/54 tại hai căn cứ này. Trong thời gian từ 15 đến 27/4/1972, tất cả các đợt tấn công của Cộng quân đều bị lực lượng trú phòng đẩy lùi. Vào đầu tuần lễ thứ ba, bộ chỉ huy Trung đoàn 54 Bộ binh nhận được báo cáo khẩn là lương thực dự trữ tại căn cứ Bastogne đã gần cạn, trong khi đó tại căn cứ Checkmate, tình hình lương thực tuy không nguy khốn như tại căn cứ Bastogne, nhưng cũng chỉ đủ để dùng tối đa là 3 ngày.
Trước hiện trạng đó, để quân trú phòng yên tâm cố thủ, bộ chỉ huy trung đoàn 54 Bộ binh quyết định sử dụng tiểu đoàn 4/54 làm nỗ lực chính vận chuyển quân lương cho hai căn cứ. Theo kế hoạch, tiểu đoàn chia thành 2 cánh quân, cánh quân tiếp tế cho Bastogne do thiếu tá Trần Công Đài, tiểu đoàn trưởng, chỉ huy, cánh thứ hai do tiểu đoàn phó điều động. Kế hoạch tái tiếp tế được thực hiện vào ban đêm, cả tiểu đoàn xuất phát từ vòng đai ngoài của căn cứ Bình Điền và tiến về hướng Tây. Trên lộ trình hành quân tiếp tế, mỗi cánh quân có hai thành phần: thành phần mở đường để triệt hạ các chốt chận của địch trên lộ trình, thành phần đi sau, mỗi binh sĩ mang đầy lương thực tiếp tế đủ cho 2 binh sĩ đơn vị bạn đủ ăn trong một chu kỳ 5 ngày. Trong hai đêm liên tiếp, tiểu đoàn 4/54 đã hoàn thành xuất sắc cuộc hành quân tiếp tế, nhờ kế hoạch rất linh động và táo bạo này, trung đoàn 54 BB Bạch Hổ đã kịp thời tiếp ứng lương thực cho các hai tiểu đoàn đang bị địch bao vây.

* Cuộc triệt thoái khỏi căn cứ Bastogne và Checkmate:
Chiều ngày 28 tháng 4/1972, hai cánh quân thuộc hai trung đoàn 29 và 803 thuộc sư đoàn 324B CSBV đồng loạt tấn công cường tập vào căn cứ, dù bị áp đảo về quân số, nhưng tiểu đoàn 2/54 do đại úy Hà Văn Khâm, tiểu đoàn phó xử lý thường vụ tiểu đoàn trưởng, chỉ huy, đã chận được các đợt tấn công của Cộng quân trong hai giờ đầu. Trong khi đó, từ căn cứ hỏa lực Bình Điền, tiểu đoàn Pháo binh tăng phái cho trung đoàn 54 điều động các khẩu đội, tác xạ tập trung vào quanh Bastogne để bảo vệ căn cứ khỏi bị Cộng quân tràn ngập. Nỗ lực của tiểu đoàn Pháo binh chỉ làm giảm tốc độ tấn công của đối phương thêm một thời gian ngắn, vì cùng với cuộc tấn công bằng bộ binh, Cộng quân đã pháo hỏa tập dữ dội vào căn cứ này.
Khoảng 8 giờ tối ngày 28/4/1972, qua hệ thống truyền tin, bằng ám danh và ngụy hóa đàm thoại, đại úy Hà Văn Khâm đã báo cáo cho trung tá Nguyễn Thanh Hạnh, trung đoàn trưởng trung đoàn 54 BB tình hình nguy kịch của căn cứ và xin được triệt thoái. Đại úy Khâm cũng cho biết sẽ “im lặng vô tuyến” với trung đoàn để bảo mật trên lộ trình rút quân. Sau vài lời dặn dò, trung tá Hạnh cho phép đại úy Khâm được tùy nghi hành động, cố gắng mở đường máu để vượt thoát khỏi vòng vây của địch. Trước khi tắt máy, đại úy Khâm nói với vị trung đoàn trưởng của mình: 71 yên tâm, con cháu sẽ cố về nội! (71: ám số truyền tin để chỉ trung đoàn trưởng trung đoàn 54.)
Gần 10 giờ đêm 28/4/1972, sau khi họp với ban chỉ huy tiểu đoàn 2/54 và các đại đội trưởng để phổ biến lệnh triệt thoái, đại úy Hà Văn Khâm đã cùng tiểu đoàn mở đường máu vượt thoát vòng vây của địch. Ra khỏi căn cứ được khoảng 1 giờ di chuyển trong đường núi, đại úy Khâm và toàn ban tham mưu, một số đại đội trưởng, trung đội trưởng và hơn một nửa tiểu đoàn bị địch chận bắt.
Bastogne thất thủ, tuyến phòng ngự của tiểu đoàn 1/54 tại căn cứ Checmate đã bị địch cô lập. Để tránh tổn thất, đêm 29/4/1972, sau khi liên lạc với thiếu tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Sư đoàn, trung tá Nguyễn Thanh Hạnh, trung đoàn trưởng trung đoàn 54, ra lệnh cho thiếu tá Nguyễn Phú Thọ, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/54, điều động toàn tiểu đoàn triệt thoái. Trên lộ trình rút quân, tiểu đoàn 1/54 bị chận đánh, một số sĩ quan, và gần 1/3 tiểu đoàn bị địch bắt. Riêng vị tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó và một số sĩ quan ban chỉ huy tiểu đoàn vượt thoát được, về tuyến sau an toàn.
Dù hai tiểu đoàn 1/54 và 2/54 bị tổn thất nặng trong cuộc triệt thoái, nhưng với hai tiểu đoàn còn lại 3/54 và 4/54, trung đoàn 54 Bộ binh đã phối hợp với trung đoàn 1 Bộ binh tăng viện, giữ vững phòng tuyến Tây Huế trong mùa Hè 1972.

* Tái chiếm Bastogne và Chekmate:
Ngày 15 tháng 5/1972, để tái chiếm một vị trí trọng yếu đã bị rơi vào tay Cộng quân, tướng Phú đã tổ chức một trung đội cảm tử quân gần 40 chiến binh do một thiếu úy chỉ huy, được trực thăng vận nhảy ngay xuống căn cứ Bastogne và tấn kích ngay vào bộ chỉ huy của Cộng quân. Bị tấn công bất ngờ và bị một phi đội trực thăng chiến đấu oanh kích quanh vòng đai phòng thủ căn cứ nên Cộng quân bỏ chạy. Chỉ trong vòng nửa giờ, trung đội cảm tử quân của Sư đoàn 1 đã làm chủ trận địa. Tin chiến thắng báo về, được sự ủy nhiệm của tổng tham mưu QL/VNCH, tướng Phú đã thăng cấp trung úy thực thụ tại mặt trận cho sĩ quan trung đội trưởng cảm tử quân. Tất cả các hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc trung đội này cũng được đặc cách thăng 1 cấp. Một tuần sau, hai tiểu đoàn của trung đoàn 1 Bộ binh đã tái chiếm cao điểm 342.

* Câu chuyện về căn cứ hỏa lực Bastogne:
Căn cứ Bastogne nguyên là một trong những căn cứ hỏa lực do các đơn vị của Quân đoàn 24 Hoa Kỳ thiết lập và phụ trách phòng ngự. Từ đầu năm 1970 đến năm 1972, Sư đoàn 101 Kỵ Binh Hoa Kỳ thống thuộc quân đoàn nói trên đã bàn giao các căn cứ hỏa lực và căn cứ tiếp vận, hậu cứ cho Sư đoàn 1 Bộ binh VNCH. Đầu năm 1972, Sư đoàn 1 Bộ binh VNCH tiếp nhận căn cứ Giạ Lê và dời bộ Tư lệnh cùng toàn bộ các đơn vị yểm trợ và hậu cứ một số tiểu đoàn, trung đoàn Bộ binh về đây.
Tháng 3/1972, như đã trình bày ở phần trên, tiểu đoàn 2/54 do đại úy Hà Văn Khâm – tiểu đoàn phó xử lý thường vụ tiểu đoàn trưởng – chỉ huy, được giao trách nhiệm phòng thủ căn cứ Bastogne (căn cứ này còn có tên Việt Nam là căn cứ Phú Xuân do bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 đặt). Trước khi căn cứ Bastogne bị CSBV chiếm, khoảng 1 tuần trước đó, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã bay thị sát chiến trường Trị Thiên, khi nghe tướng Phú trình bày tình hình căn cứ Bastogne và căn cứ Checkmate (do tiểu đoàn 1/54 trú phòng) và tinh thần quyết chiến của 2 tiểu đoàn nói trên trong suốt gần một tháng, Tổng thống Thiệu đã quyết định thăng cấp cho hai sĩ quan chỉ huy 2 tiểu đoàn 1 và 2/54. Thiếu tá Nguyễn Phú Thọ, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/54, được thăng trung tá thực thụ và đại úy Hà Văn Khâm, xử lý thường vụ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/54, được thăng thiếu tá thực thụ. Tuy nhiên, vì đang hành quân, nên trung tá Nguyễn Thanh Hạnh, trung đoàn trưởng trung đoàn 54 Bộ binh quyết định chờ tình hình chiến sự lắng xuống sẽ cho trực thăng bốc 2 sĩ quan nói trên về bộ chỉ huy để gắn cấp bậc mới. Do đó khi bị CSBV bắt, anh Hà Văn Khâm vẫn còn mang cấp đại úy. Anh được trao trả vào tháng 3/1973 tại bờ sông Thạch Hãn cùng với các chiến hữu tiểu đoàn 2/54 bị bắt trong mùa Hè 1972. Ngày trở về, anh bị thâu hồi cấp bậc thiếu tá đã được thăng tại mặt trận, vài tháng sau, anh được giải ngũ. Sau 30 tháng 4/1975, anh bị CQ giam giữ ở tổng trại Kỳ Sơn và đã chết trong trại tù vào khoảng thời gian 1977-1978. Anh Hà Văn Khâm xuất thân khóa 16 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, trước khi nhập ngũ, anh là giáo sư trung học.

07/05/1999

Kỳ sau: Những trận đột kích của trung đoàn 3 BB và liên đại đội Hác Báo ở Đông Trường Sơn.

Nguồn: https://vietbao.com/a24949/trung-doan-54-bb-bach-ho-tu-chien-giu-tuyen-tay-hue

Những Cánh Thép Ngày Trước… – Vũ Xuân Thông

Bố tôi, trung tá Vũ Xuân Thông 81 biệt cách nhảy dù, ông đã ghi lại những kỷ niệm của một thời chinh chiến qua “Những cánh thép ngày trước

Love me or hate me, both are in my favour,
If you love me, I am in your heart,
If you hate me, I am in your mind.

Những Cánh Thép Ngày Trước… – Vũ Xuân Thông K.17
Như một lời tri ân chân thành đến tất cả các chiến sĩ Không Quân của KLVNCH đã ngày đêm tích cực yểm trợ Liên Đoàn 81 BCND chiến đấu để bảo vệ quê hương gấm vóc và hai chữ “Tự Do” …

*****

Cho tôi xin dù chỉ một lần
Mơ làm cánh én giữa trời Xuân
Tang bồng hồ thỉ mang chí lớn
Rạng giống Tiên Rồng lính Không Quân

*****

Flying Leatherneck Aviation Museum | Military Wiki | Fandom

Công ty tôi đang làm nằm trên con đường Mirama Road, sát nách một phi trường lớn của Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ, nên bắt buộc mỗi ngày tôi phải đi và về trên con đường này. Và ngày nào cũng vậy, lộ trình của tôi đều đi qua khu bảo tàng Không Quân chứa đầy các loại phi cơ, từ thời có lỗ sĩ, từ thời tôi chưa được sinh ra trên cõi đời, cho đến những chiếc phi cơ của thời Đệ Nhị Thế Chiến và thời chiến tranh Việt Nam.

Cái khu bảo tàng này lại nằm sát đường chỉ cách một cái hàng rào bằng lưới chống B-40 (chain link fence). Mỗi lần đi qua khu vực này, tôi đều lái xe chậm lại và không khỏi liếc nhìn vào đó dù tôi đã quá quen thuộc với những loại phi cơ đang nằm phơi trên bãi đậu.

Từ những chiếc Avia B 534, Bell P-39 Airacobra từ những năm 1934…đến những chiếc Gruman Hellcat hay Bearcat, những chiếc F-5, Skyraider cho đến những chiếc trực thăng trái chuối CH-46 đầu tiên, H-34 nặng nề, chiếc UH1, Cobra …và cả chiếc L-19 Bird Dog mong manh rất quen thuộc với tôi. Ngoài ra mỗi ngày tôi còn phải nghe tiếng gầm rú của các loại phi cơ chiến đấu cất cánh và hạ cánh mỗi giờ, những ngày không khí ẩm thấp, tiếng cánh quạt của nhiều loại trực thăng nặng nề vang dội trên đầu đã thực sự gây cho tôi nhiều ấn tượng nhất.

Vì đó là những tiếng động đã quá quen thuộc với tôi hầu như đã tiềm ẩn trong trí nhớ tôi và không thể xóa nó đi được dù 37 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã từ cái nghiệp lính.

Năm nay tôi đã bước vào tuổi 75, vẫn phải đi làm, ngoài việc tiếp tục kiếm sống qua ngày trên mảnh đất tạm dung nầy, còn để ngăn ngừa sự thoái hóa của bộ óc càng ngày càng già nua …để rồi hủy hoại hết những điều cần phải nhớ. Tuổi già thì thường hay nói nhiều, nhớ nhiều về dĩ vãng. Thật ra con cháu tôi, chúng cũng thông cảm vì giờ đây tương lai của tôi, chỉ là đang bước dần tôi trạm cuối cùng, là cái nghĩa trang lạnh lùng nào đó.

Tôi là một người lính sống sót sau 15 năm khói lửa, 13 năm tù đày trong các trại tù khổ sai của cộng sản việt nam từ Bắc chí Nam, từ trại kỷ luật đến xà lim Chí Hòa. Thử hỏi cuộc đời của tôi còn lại gì ?

Cái gia tài của người lính như tôi còn lại há không phải là quá khứ của 15 năm trong quân đội hay sao? 15 năm trong một đời người như chúng ta, những người lính đã sống qua cuộc chiến ác liệt, đầy máu và nước mắt, vinh có nhục có và đôi khi buồn nhiều hơn vui, dù muốn quên cũng khó quên.

Ngay từ những năm đầu ở Trung Học, tôi đã rất ngưỡng mộ Không Quân dù chỉ qua hình ảnh của các anh phi công Mỹ, Pháp và Anh trong thời kỳ Thế Chiến thứ hai và trong thời gian chiến tranh Việt Nam vào những năm 50. Sau này khi bước chân vào bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp tôi đã có ý định sau khi tốt nghiệp Trung Học tôi sẽ xin gia nhập vào Không Quân Việt Nam. Những mộng không thành vì khi khám sức khỏe ở Bệnh Viện Cộng Hòa tôi mới phát giác ra là thị lực của con mắt phải của tôi chỉ có 7/10. Thế là vỡ mộng, nhìn bạn bè rộn ràng lên đường gia nhập Quân Chủng Không Quân mà thấy tủi thân. Cuối cùng đành phải chấp nhận cái thân phận chui bờ chui bụi của cái lính đánh trộm là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. May cũng nhờ quen thuộc lối đánh trộm (đôi khi chúng tôi cũng ăn trộm được nhiều kho vũ khí và lương thực của địch) nên cũng có chút tiếng tăm và chiến công góp phần với các quân binh chủng bạn, đã làm cho kẻ địch suy yếu. Nhưng nếu nói đến cái đơn vị bé tí teo và những chiến tích mà chúng tôi đã lập được cũng nhờ những đôi cánh thép, như một thứ bùa hộ mạng, như cái ô dù che chở trên đầu chúng tôi. Những đôi cánh thép đã mang chúng tôi đi hầu hết các chiến trường (ngoại trừ vùng IV chiến thuật vì lính BCD 81 không biết bơi).

Đã bao lần không quản ngại trước lưới lửa phòng không của địch tua tủa như pháo bông để mang chúng tôi và xác đồng đội ra khỏi vùng vây địch. Qua hàng trăm cuộc hành quân, những đôi cánh thép đã mặc nhiên như gắn ngay sau lưng chúng tôi, đã chắp cho chúng tôi đôi cánh thép. Đơn vị của chúng tôi đã gắn liền với Quân Chủng Không Quân của các bạn.

Xin cho chúng tôi được hân hạnh nhận các chiến hữu Không Quân là bạn để dễ bể tâm sự và để nói hết những điều cần nói sau 37 năm dài. Vì không nói ra lúc này sẽ không có dịp nào để nói, giữa chúng ta từ lâu đã cư xử với nhau rất mực huynh đệ chi binh, nhưng cũng đầy hào khí giang hồ. Tôi sẽ không nhắc lại những chiến công oanh liệt của các bạn hay của chúng tôi. Tôi chỉ muốn nhắc lại những người đi vào chiến tranh với dáng vẻ hào hoa phong nhã, lúc nào quân phục cũng sạch bóng, trang bị nhẹ nhàng không giống như đám chúng tôi bao giờ cũng vậy hễ xuất quân là quần áo rằn ri, lôi thôi lếch thếch…nào là ba lô, súng ngắn, súng dài, giây nhợ quanh người, lựu đạn lủng lẳng đằng truớc, đằng sau. Mỗi lần được bốc ra khỏi vùng hành quân thì ôi thôi khỏi nói, dù có yêu tôi cách mấy cũng chỉ đúng xa mà chào mừng chứ chưa ai dám ôm hôn tôi thắm thiết. Mười lăm ngày hay một tháng luồn lách qua bờ bụi, lên xuống đồi núi dưới cái nắng nóng ẩm, mồ hôi rơi xuống mờ cả mắt lau không kịp. Bộ đồ trận lúc nào cũng đẫm ướt mồ hôi nhiều khi chẩy theo hai bắp chân xuống đôi giày đi rừng.

Đêm nằm trên chiếc poncho gấp đôi, mồ hôi vẫn còn đọng ướt cả lưng. Cứ như thế ngày này sang ngày khác, bộ đồ trận ướt rồi khô, bao nhiêu mùi hôi đều thấm sâu vào vải áo quần. May mắn lắm mới qua được một con suối còn lại chút nước, vội vàng múc cho đầy 2 bị đông nước, xong cùng nhảy xuống hụp cho ngập đầu rồi lại tiếp tục đi.

Ấy là những ngày không chạm địch, còn có thời gian ngồi xuống để thay một đôi vớ đã bốc mùi khó chịu. Những lần chạm địch thì coi như được phép quên đi những khó chịu hàng ngày, quên đi mình đã chưa ăn gì suốt một ngày qua, đã chưa uống một ngụm nước. Tàn cuộc thằng hay thua, lúc ấy mới biết mình còn đủ mồm miệng để ăn vội bọc cơm xấy. Còn các bạn tôi thật khỏe, ngồi trong buồng lái tha hồ tung hoành ngang dọc, hết phi vụ quay về phi trường, đi thẳng vào Câu Lạc Bộ làm một ly cà phê đá, khỏe re trong lúc chờ cho các chuyên viên “check” tàu, tái trang bị bom đạn, “rocket” để chờ phi vụ tiếp theo.

Chưa nói đến vài ngày chúng tôi được xả hơi sau mỗi cuộc hành quân, cởi được bộ đồ hôi hám, thay vào một bộ quân phục mới để cùng xuống phố phường uống vài chai “33”cho đã bù lại những ngày phải uống nước sông nước suối. Nhưng nếu có xuống phố hay buổi tối tạt vào một tiệm nhảy nào lại đụng mấy bạn, và bao giờ chúng tôi cũng lép vế, lép về về đủ mọi phương diện. Đôi khi có một tí tình còm để an ủi nhưng hễ chấm được cô nào vừa ý là y như rằng đã có một ông Không Quân nào sắp sửa rước đi rồi !!!

Nói cho vui vậy thôi chớ vội cho rằng chúng tôi đả kích các bạn nhé, thua thì thua rồi. Xưa còn trẻ đã không thắng các bạn, nay đầu đã bạc, chân mỏi gối mòn, hơi sức đâu mà ganh với đua . Trước khi nhắc lại những kỷ niệm đã qua, xin cho tôi nhắc lại một câu chuyện sau.

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù và những ngày tháng tư đen 1975. – dòng sông cũ

Vào tháng 1 năm 1975 khi Biệt Đoàn chúng tôi được lệnh tăng viện cho Tiểu Khu Phước Long, lúc này đang bị trên một sư đoàn địch vây hãm, các đơn vị địa phương hầu như đã tan hàng. Nói là Biệt Đoàn nhưng thật ra chỉ có 2 Biệt Đội 811, 814 và Bộ Chỉ Huy, tổng cộng khoảng 320 nguời. Không Đoàn 43 Chiến Thuật thuộc Sư Đoàn 3 Không Quân là đơn vị yểm trợ và đổ quân, dưới cơn mưa pháo 105 ly, 155 ly, hỏa tiễn 122 ly và súng cối, các phi đoàn trực thăng đã hoàn thành nhiệm vụ một cách phi thường với tổn thất không đáng kể.

Đích thân Chỉ Huy Trưởng của tôi, cựu Đ/Tá Phan Văn Huấn và Đ/Tá Triệu đã trực tiếp chỉ huy cuộc đổ quân. Nhìn từ trên trực thăng xuống thị xã Phước Long tôi nghĩ khó mà đáp được vì cả thị xã ngập trong khói lửa của đủ loại pháo chưa kể hỏa lực phòng không của địch tua tủa bắn lên đây trời với đủ loại từ đại liên 50,súng cá nhân, 23 ly và 37 ly. Tiếng đạn pháo nổ dưới đất cộng tiếng các loại phòng không nổ ngang trời nhắm vào các phi tuấn A-37 va F-5 đang cố thả những trái bom và bắn rocket yểm trợ cho cuộc đổ quân vang rền cả một vùng trời.

Tôi chỉ còn trông cậy vào tài bay bổng của các bạn đưa tôi an toàn xuống đất, chỉ cần chúng tôi đặt được chân xuống đất, dù chưa biết sau đó sẽ ra sao. Và thật như một phép lạ, cả hai lần đổ quân đều trót lọt, tất cả đều nhờ tài khôn ngoan của phi hành đoàn. Thay vì đáp ngay xuống thị xã, các phi hành đoàn của Không Đoàn 43 Chiến Thuật đã đáp xuống cạnh các khe suối cạnh thị xã, là những nơi khuất tầm quan sát của các tiền sát viên địch. Địch đã bố trí quanh khu vực Phước Long một trung đoàn phòng không với đủ mọi loại súng từ 12 ly 8 đến 23 ly và 37 ly. Tiền sát viên của địch ở khắp nơi, nhất là đỉnh núi Bà Rá đã bị địch chiếm mấy ngày trước. Biệt Đoàn I Chiến Thuật của tôi chỉ gồm có Bộ Chỉ Huy và 2 Biệt Đội (Biệt Đoàn -), không quá 300 người. Lực lượng trú phòng của Tiểu Khu Phước Long và các đơn vị tăng phái không còn bao nhiêu.

Tiểu Đoàn 7 thuộc Trung Đoàn 9 của Sư Đoàn 5 chỉ còn không quá 100, Đại Đội 5 Trinh Sát, Sư Đoàn 5 chỉ còn hơn 10 người đã dạt vào đơn vị tôi, Đại Đội Trinh Sát Sư Đoàn 18 Bộ Binh còn Đại Đội Trưởng và hơn một trung đội. Hai Tiểu Đoàn Địa Phuơng Quân đã tan hàng, quân nhân còn lại cũng lẫn lộn trong hàng rào phòng thủ của Biệt Đội 811 của tôi. Cộng chung lại không quá 500 tay súng để chọi lại với lực lượng địch trên 10 ngàn với đủ bộ xe pháo mã tốt. F-5 và A-37 vẫn yểm trợ tích cực nhưng với một hệ thống phòng không chằng chịt không thể xuống thấp để có thể đánh bom chính xác hơn. Từ dưới đất tôi thấy chỉ một chút sơ hở là những chiếc F-5 và A-37 kia sẽ vỡ tung, có một vài trái bom đã rơi vào vị trí bạn …phải chấp nhận thôi .Dù sao sự hiện diện của những chiếc phi cơ này cũng khiến dịch không dám điều động thiết giáp tiến sát đến vị trí chúng tôi. Dân và lính bỏ đơn vị tràn ngập vị trí chúng tôi khiến không thể nào kiểm soát được, tuy vậy chúng tôi vẫn đẩy lui được nhiều đợt xung phong của địch và đã hạ được 4 chiến xa địch.

Vào lúc chạng vạng tối ngày 5 tháng 1 năm 1975, chiến xa địch và bộ binh tiến sát vị trí Bộ Chỉ Huy của tôi, sau đợt pháo 130 ly, 155 ly, 122 ly và 105 ly, chúng thả một toán đặc công vào 2 lô cốt trống , nhờ phát giác kip thời nên đã bị tiêu diệt ngay sau đó.

Suốt trong thời gian từ ngày 4 tháng 1 năm 1975 đến ngày 6 tháng 1 năm 1975, không lúc nào địch ngưng pháo vào vị trí chúng tôi, chúng mở nhiều đợt tấn công có chiến xa yểm trợ mong tiến sát vào vị trí chúng tôi. Sáng ngày 5 tháng 1 năm 1975, tôi đơn phương quyết định không cho C-130 thả dù tiếp tế nữa vì 1/2 khu vực thị xã đã rơi vào tay địch trước đó 2 ngày. Hầu như 9/10 những kiện hàng tiếp tế đều rơi vào tay địch, các phi vụ oanh kịch không hiệu quả, không còn pháo binh yểm trợ, không tiếp viện. Ở tại Quân Đoàn III, Trung Tướng Dư Quốc Đống từ chối lệnh thả phần còn lại của Liên Đoàn 81 BCND. Trong tình thế này, tôi buộc phải cho lệnh đơn vị rút khỏi Phước Long để bảo toàn đơn vị, tôi đã phải để lại hơn 60 xác đồng đội tại đây. Một điều đau đớn chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử của đơn vị tôi. Tôi đã phải phân tán đơn vị tôi thành từng toán nhỏ, lợi dụng đêm tối, vượt qua hàng rào bao vây của địch để thoát ra ngoài. Phước Long thất thủ vào sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975.

Trong lúc đơn vị tôi còn đang tìm cách vượt qua vòng vây của địch thì ngày 7 tháng 1 năm 1975 đã có một buổi họp cao cấp của Quân Đội, giống như tòa án quân sự, họ cố gán ghép việc thất thủ Phước Long là do lỗi của Không Đoàn 43 Chiến Thuật thuộc Sư Đoàn III Không Quân Biên Hòa. Thật là vô cùng phi lý nếu không nói là ngược ngạo. Trong khi các phi cơ của các Phi Đoàn Trực Thăng 221, 223, 231 237 … phi cơ L-19 còn đang bay tìm kiếm và bốc các toán đã vượt qua được vòng vây địch thì tại hậu phương họ đang bị kết tội.

Trách nhiệm làm mất Phước Long nếu nói thuộc về tôi, người đã tự quyết định rút khỏi Phước Long, cao hơn là vì chỉ huy trực tiếp của tôi đã không buộc tôi phải hy sinh cả đơn vị để cố thủ một vị trí mà gần như đã hoàn toàn chiếm giữ bởi quân địch. Chúng tôi còn sống sót không trách cứ bất cứ cấp chỉ huy nào. Người lính chỉ biết tuân hành mệnh lệnh nhưng rõ ràng trách nhiệm làm mất Phước Long thuộc về người đã ra lệnh thả một đơn vị 300 người vào chỗ cầm chắc 90% để thua về một mục đích chính trị. Một ván bài tháu cáy, và đã thua, là khởi sự cho sự sụp đổ sau này.

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù và những ngày tháng tư đen 1975. – dòng sông cũ

Tôi đã ghi ở phần trước là giữa Không Quân và các anh em 81 BCND, ngoài tình huynh đệ chi binh, chúng tôi còn có một cái nghĩa “giang hồ”. Trong buổi họp, Đ/Tá Huấn, Chỉ Huy Trưởng 81 BCND đã dũng cảm tuyên bố trước mặt các tướng lãnh:
“Mất Phước Long, lý do tại sao quý vị đều biết nhưng không ai nói ra. Phần Liên Đoàn 81 chúng tôi vào chỗ chết đã đành bởi nghề nghiệp chúng tôi là chọn chỗ chết để đi vào. Riêng các anh em Không Quân, các phi hành đoàn trực thăng đã làm quá bổn phận của họ, đã chết lây với chúng tôi, thật tội nghiệp. Nay đưa họ ra tòa, tôi cho là vô lý, nếu có lỗi làm mất Phước Long, tôi nhận lỗi. Xin quý vị tiếp tục họp và cho tôi biết kết quả, tôi xin phép ra về vì còn nhiều việc phải làm”

Mãi 2 ngày sau, tôi và Bộ Chỉ Huy mới thoát ra khỏi được vòng vây địch. Ban đêm di chuyển qua các bãi trống, tôi phát giác được nhiều chốt của địch đang bám giữ các bãi đáp này. Sáng cuối cùng chúng tôi tới được một nương sắn (khoai mì), đã thấy nhiều trực thăng đang bốc các toán lẻ cách thị xã khoảng 5 đến 10 cây số. Tôi không còn máy để liên lạc với họ vì chiếc mày truyền tin PRC-25 cuối cùng đã bị Hiệu Thính Viên của tôi đánh rớt xuống nước khi vượt qua sông vào buổi tối. Phương tiện liên lạc duy nhất là một mảnh kiếng nhỏ bằng 2 đầu ngón tay, tôi cũng không hy vọng được bốc ra. Ở tại Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn, mọi người đều nghĩ tôi đã tử trận hoặc bị bắt . Còn đang kiểm điểm xem còn lại bao nhiêu người trong BCH của tôi, bất chợt tôi nghe lùng bùng ở tai. Tôi biết đang có trực thăng bay rất thấp vì tiếng quạt gió làm rung chuyển lớp không khí còn ướt hơi sương, chỉ trong một khoảnh khắc ngắn chiếc chiếc trực thăng UH1 đã ở ngay phía trước. Anh em vội bẻ gẫy một số cây khoai mì, trong lúc đang ra dấu cho trực thẳng vào vị trí, tôi chợt nghe nhiều loạt súng cá nhân từ các đồi bên cạnh bắn qua, có lẫn cả tiếng nổ của đạn súng cối bắn vào vị trí quanh bãi đáp. Vì số cây khoai mì còn nhiều nên trực thăng chỉ lơ lửng trên đầu ngọn cây khoai mì, anh em tự nhảy lên bám vào càng leo lên rồi kéo người khác lên. Đạn bắn càng lúc càng gần, đốn gẫy các cây mì chung quanh.

Vì đạn địch bắn quá gần nên phi hành đoàn buộc phải cất cánh vội vàng. Tôi và Đ/Úy Thành, sĩ quan liên lạc Không Quân (ALO) phải nhảy lên mới bám được vào càng bên trái của chiếc trực thăng.

Khi anh em kéo tôi lên được trên sàn tàu, tôi phải xoay người lại nhờ anh em bám chặt hai chân, cúi xuống nắm lấy hai cổ tay của của Đ/Úy Thành và la lớn để anh thả hai tay ra thì tôi mới kéo anh lên được. Nhưng Anh Thành vẫn không chịu buông tay ra và la lên “Cho tàu đáp xuống” …khi chiếc trực thăng đã bốc lên cao khoảng 200 bộ , bỗng nhiên anh bỏ tay ra không báo trước nên tôi đã để vuột anh. Nhìn anh rơi xuống như một chiếc lá rụng, chiếc áo jacket da bò xòe ra như một cánh bướm mất hút với tiếng la thảm thiết của anh, tôi như người mất hồn…Cả phi hành đoàn đều cúi xuống nhìn anh rơi mà không màng đến hàng trăm viên đạn phòng không đang túa theo chiếc trực thăng đang nặng nề rời bãi .

Chiếc trực thăng duy nhất của Không Đoàn 43 đó Tr/Uy Sơn (Sơn Rỗ) lái đã phải cất cánh với 32 nguời kể cả phi hành đoàn, nó đã bị quá tải (overtorque), chỉ bay mà không đáp được nữa vì nếu đáp sẽ không còn có thể cất cánh được nữa.

Trong đời binh nghiệp của tôi từ khi còn là một toán trưởng thám sát cho đến khi trở thành một cấp chỉ huy cao hơn, chưa bao giờ tôi phải ân hận như thế, đã để rớt Đ/Úy Thành. Hình ảnh của anh còn mãi trong tôi như một cơn ác mộng luôn đè nặng lên tôi trong nhiều năm.

Có rất nhiều phi hành đoàn trực thăng đã chết lây theo chúng tôi. Vì là một đơn vị lấy phương tiện không vận và không yểm là con chủ bài, hầu hết các cuộc hành quân của Liên Đoàn 81 BCND đến nằm trong vùng địch và sau lưng địch, không nằm trong tầm pháo binh, có khi còn phải chuyển tiếp qua căn cứ tạm để tiếp nhiên liệu vì thời gian bay của trực thăng không đủ bảo đảm số thời gian bao vùng. Nếu nói một cách tàn nhẫn hơn thì dù 81 BCND chỉ là một đơn vị nhỏ nhưng đã làm thiệt hại rất nhiều phi cơ của cả hai phía Hoa Kỳ và Việt Nam. Tôi đã sống hết đời quân ngũ trong chỉ một đơn vị duy nhất, 12 năm khởi đầu bằng nghề Toán Trưởng, leo lên đến được BCH/ Biệt Đoàn, tôi đã chứng kiến được nhiều điều đau xót. Quên sao được khi lần đầu tiên bước chân lên chiếc H-34 nặng nề như một con voi của Phi Đoàn 215 Thần Tượng, nhớ những Anh Vui, Vinh, Khôi, Mành, Trắng, Hiếu …Những con người hào hoa đã đưa chúng tôi vào những mặt trận “thắt cổ họng còn sướng hơn” như Bình Giả, Pleime, Đức Cơ, Đồng Xoài …và đã đón chúng tôi trở về trong niềm vui gặp lại vợ con, bằng hữu. Quên sao những bạn bè như Trọng, Vỹ, Bảo, Dõng, Duyên và hàng trăm phi công trẻ của Không Đoàn 43 Chiến Thuật, những cánh bay mong manh L-19 thủng hàng chục lỗ đạn. Quên sao được những buổi hàng đoàn trực thăng đáp xuống sân căn cứ hành quân ở Suối Máu, Biên Hòa, phi hành đoàn ngồi chờ phi vụ với một khúc bánh mì, gói xôi đậu xanh mua vội ở Biên Hòa. Những con người đã từng đối đầu với gian nguy cùng với chúng tôi qua bao nhiều mặt trận mà cuộc sống vật chất không đủ để nuôi vợ con, nhưng vẫn cười vang mỗi lần gặp gỡ.
Chúng tôi đã không có đủ khả năng để đãi các bạn một bữa cơm trưa thanh đạm mà phải để các bạn bay về căn cứ, nuốt vội bữa cơm ở Câu Lạc Bộ, để rồi lại phải tiếp tục suốt buổi chiều, có khi trở về khi trời đã tối. Thế mà các bạn vẫn cười, không có một lời phiền hà. Chúng ta đã cùng chiến đấu để không vì miếng cơm manh áo của chính mình mà vì để bảo vệ miền Nam tự do, tránh được cái họa cộng sản.

Mỗi lần đi tham dự ngày họp mặt của các Quân Binh Chủng bạn, nhìn lại các chiến hữu xưa, nay đầu đã bạc trắng bỗng bùi ngùi nhớ lại thân phận mình. Nhớ tới tôi đã chưa một lần gửi lời cảm ơn các bạn, vì lòng nhiệt thành của các bạn, biết bao nhiêu lần chỉ vì để cứu một người lính 81 BCND trong vòng vây địch, để rồi lại phải hy sinh cả phi hành đoàn, chúng tôi đã phải chấp nhận những tổn thất về nhân mạng.

Chúng ta khác kẻ thù, chúng ta quý nhân mạng hơn, dù chỉ là một người lính bình thường. Biết bao lần tôi chứng kiến những chiếc trực thăng bị nổ tung khi vừa vào bãi đáp, không một người sống sót. Sự tiếp cứu sau đó chỉ để mang về những xác người đã cháy đen!!! Còn gì buồn hơn khi thấy người phi công thoát ra khỏi chiếc A-37 bị bắn cháy, chiếc dù cứ trôi theo gió rồi rơi vào đất địch. Hãy cảm nhận nỗi đau khổ của anh em chúng tôi, những người tiếp cứu một phi công L-19 của Không Quân Việt Nam bị bắn cháy chỉ mang về một thi thể trần truồng. Địch đã xỉ nhục hay căm thù đến nỗi lột hết quần áo của một người đã chết thân thế không còn nguyên vẹn. Cái bản chất cầm thú của kẻ địch đã đối xử với một người đã chết còn như thế, thử hỏi đối với những chiến hữu của chúng ta rơi vào tay địch còn phải chịu đựng những khổ nhục như thế nào? Bao nhiêu chiến sĩ Không Quân đã hy sinh, bao nhiêu người đã rơi vào tay địch?

Hoàng hôn ngày 27 tháng 4 năm 1975, giữa khung trời còn âm u khói từ kho bom phi trường Biên Hòa bị nổ trước đó vài ngày, tôi đứng bên nầy hàng rào nhìn hàng chục chiếc trực thăng cất cánh rời bỏ phi trường. Thế là hết, ẩn ý như một lời vĩnh biệt…đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy những cánh chim ấy, những cánh chim đã cùng chúng tôi trải qua bao gian nguy.

Bây giờ những cánh bay ấy có thể đã nằm mục rã ở một vài bãi phế thải nào đó, hoặc năm sâu dưới đáy biển sau lần bay cuối cùng, hay may mắn hơn được nằm trong các viện bảo tàng chiến tranh. Nhưng những con người điều khiển chúng vẫn còn nhiều, lòng yêu nước và tinh thần dấn thân vẫn còn và mơ ước một ngày nào đó được bay trên vùng trời Tổ Quốc Việt Nam Tự Do .
Cuộc chiến tranh này chưa bao giờ chấm dứt, nó chỉ được thay đổi hình thức mà thôi …

“Old soldiers never die; they just fade away.”
General Douglas MacArthur

Vũ Xuân Thông
Liên Đoàn 81 BCND
(Bố tôi đứng bên trái của tấm hình)

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&bn=kq_chuyendoilinh&key=1634170725

Những tàu dầu của hãng SHELL khai thác tại Việt Nam

Albatros

Tàu Cypréa được chạy thử ngoài khơi Belle Ile (Nantes) 1961

Trước năm 1975, hãng SHELL Việt Nam khai thác 2 chiếc tàu dầu Cypréa và Angkor để chở dầu cho giới dân sự lẫn quân sự, chính yếu từ những bồn chứa Nhà Bè đến các hải cảng miền Trung như Đà Nẵng, Nha Trang, Qui Nhơn và Kampuchia (Phnom Penh)… Phải nói tàu Cypréa là cột trụ chuyên chở chính yếu cùng với tàu Long Châu, Anh Tuấn, Hòa Bình đã chuyên chở dầu cho hải cảng Đà Nẵng trong thời kỳ cao điểm chiến tranh Việt Nam. Mỗi chuyến đi aller/retour kéo dài đúng một tuần lễ, ba ngày ngoài biển, một ngày ở bến, không trễ ngày nào, như con ngựa kéo xe chạy đều đặn. Tuy nhiên đời sống trên tàu Pháp tiện nghi hơn trên tàu Việt Nam, phòng nào cũng có gắn máy lạnh, thực đơn gồm cả Tây lẫn ta và lương bổng cũng hậu hĩ hơn, tuy thời gian trên biển nhiều hơn trên bến nhưng không ai than phiền. Đa số tàu dầu có pont tương đối thấp vì dầu được chở đầy hầm, chiếc Cypréa và Angkor cũng vậy, khi đi ngược gió mùa Đông Bắc, sóng đánh phủ ngập đài chỉ huy hết thấy đường luôn. Thuyền Trưởng kỳ cựu của Cypréa là ông Huỳnh trịnh Tường, Giáo sư Jean Ducasse chỉ đi trong những kỳ vacances của trường VNHH, thay thế TT Tường lên bờ nghỉ congé. Tàu Cypréa có hai kiến trúc, một château ở giửa và một ở phía sau, cũng giống như lối kiến trúc của đa số tàu dầu lúc bấy giờ, phòng ăn nằm ở phía sau nên đến giờ ăn, khi tàu đi ngược sóng, nước biển tràn lên pont tàu và cả lối đi nối liền château và phòng ăn, mọi người phải mặc áo mưa và chạy cho mau, không thôi sóng biển phủ ngập lên cả người, đi tàu dầu là như vậy! Buổi sáng sớm, những người thủy thủ đi phiên 04-08, khi xuống phiên, họ đi một vòng trên pont tàu lượm những con cá chuồn bay qua pont đâm vào mấy ống dẫn dầu và bị “cassé la gueule”, vậy là có cá tươi ăn buổi sáng. Cá chuồn bay cao hơn pont chính của tàu Cypréa nhưng không cao hơn những ống dẫn dầu, vậy là tiêu đời, có khi cả đàn cá bay qua đụng mấy đường ống rơi lộp độp trên pont, tụi thủy thủ khoái lắm, biển miền Trung cá chuồn thiếu gì, dân ngoài đó đâu thèm ăn loại cá đó.

Khi Cypréa trở thành tàu Trường Hải, TT Huỳnh Trịnh Tường vẫn còn tiếp tục làm việc ở đó. Ông có tâm sự với tôi: ” Ông Trường trả lương tôi lúc đó là 300 000 đồng Việt nam, cao nhất trong số những Thuyền trưởng của hãng Vishipco Line lúc bấy giờ, mà lúc đó tàu Trường Hải làm navette, chỉ chạy miền Trung: Đà Nẵng, Qui Nhơn, không được về Sài Gòn, nhớ vợ, nhớ con buồn thúi ruột nên tôi chịu hết nổi bèn từ chức, giao quyền chỉ huy cho Thuyền phó là Bùi Xuân Đàm. Ông Trường năn nỉ tôi đi thêm vài chuyến nữa để ông đi kiếm người thay thế nhưng tôi quyết định đi về nhà không đi thêm một chuyến nào nữa vì dù sao cũng có người thay thế rồi, không có gì để lo. Ông Trường chắc giận tôi lắm!” Ai đã từng đi tàu dầu bị đày ra miền Trung không được về Sài Gòn thăm vợ con, quanh năm suốt tháng chỉ thấy biển và núi mới hiểu thấu tình cảnh nầy. Mà đâu phải ông về Sài Gòn là có việc làm liền đâu, ông chỉ về nhà và … thất nghiệp trong khi chờ đợi đi kiếm tàu khác.

Tàu ra Đà Nẵng nhằm lúc biển động, thêm gió  mùa Đông Bắc lắc lư nhiều làm mọi người mệt nhọc và cũng mau đói, khi tàu cập cầu dầu Đà Nẵng, sau khi tàu được cột dây xong, đám Sĩ quan không phận sự kéo nhau đi bờ ăn bún bò, trời lành lạnh, ăn tô bún bò cay xé lưỡi ngon sao là ngon! Hầu hết équipage đều ở Sài Gòn ít ai quê ở Đà Nẵng nên khi ăn uống xong, mọi người lục tục kéo nhau về tàu. Khi tàu về Sài Gòn, mọi người ai nấy về nhà của mình, ngủ qua đêm rồi sáng dậy sớm ra bến xe Phú Xuân đi Nhà Bè xuống tàu ra khơi, đi làm tiếp, cuộc sống thường nhật của dân đi tàu dầu không thay đổi.

Tàu Cypréa

Theo tài liệu, tàu Cypréa được đóng năm 1961 cho hãng SHELL France cho đến năm 1973, nó được bán lại cho Thai Binh Công Ty, một chi nhánh của hãng Vishipco Lines ở Sài Gòn và được đổi tên thành Trường Hải, năm 1975 nó được đổi tên lại thành Maria I. Ngày 30/4/1975, tàu Trường Hải chở 300 người di tản chạy thoát được đến neo ở Singapore, ở đó nó được tiếp tế thực phẩm và nhiên liệu và tiếp tục hành trình đến đảo Guam. Nhưng sau đó nó không được khai thác và bị bỏ phế, trở thành vô chủ và sau cùng bị phá hủy bởi US Coast Guard. Tàu Cypréa được đóng bởi hãng Chantier Dubigeon Normandie Nantes Saint Nazaire-France cho hãng Société Maritime SHELL Français. Tàu dài 71m, bề rộng 14m, trọng tải 2233 tons, phục vụ cho hãng SHELL Vietnam từ 1961 đến 1973. Tàu được trang bị dưới quốc tịch Pháp, căn cứ cảng ở Le Havre.

Also known asTruong Hai Maria 1
IMO number5083411
Call signFNJI
Construction number786
Gross tonnage1527 grt
Tonnage2.233 tons
Beam14m
Length overall71m
Year of construction1961
Year of renaming/broken up1975
Service for Shell1961 to 1973
CargoCrude and white oil products
ClassChemical / Oil Product Tanker
Flag stateFrance
Home portLe Havre
ManagerSociete Maritime Shell Francais
ShipyardChantier Dubigeon Normandie Nantes France
StatusSailing / Sailed for Societe Maritime Shell / Shell France

Tàu Angkor

M/T Angkor

Tàu Angkor được đóng vào năm 1954 tại Nantes do hãng Chantier Dubigeon Normandie Nantes France cho hãng Société SHELL Indochine mang quốc tịch Pháp. Sau đó nó được bán lại cho hãng khác ở Singapore năm 1972 đổi tên lại là Cherry Vinga. Năm 1975 nó lại được bán lại, đổi tên Rainbow, mang quốc tịch Panama. Năm 1982 nó được đổi tên thành Rainbow III cho đến tháng 4 năm 1982 bị phế thải tại Singapore.

Angkor dài 57m, chiều rộng 11m, tirant d’eau 3,35m, vận tốc 10,5 nœuds, động cơ 1140 cv, trọng tải 950 tonnes.

IMO number5017539
ShipyardChantier Dubigeon Normandie Nantes France
Name of the shipAngkor
Type of the shipTanker
Gross tonnage901
DWT966
Length overall60,79m
Beam10,98m
Year of build1954
Other names1954 – ANGKOR (France) – Société SHELL Indochine 1972 – CHERRY BINGA (Singapore) 1975 – RAINBOW (Panama) 1982 – RAINBOW III 04/1982 scrapped at Singapore

Tàu Ankgkor được bảo trì trong ụ của Hải Quân Công Xưởng

Tài liệu của MT Cypréa

Silhouette de Cypréa

Poop deck

Pont 2

Pont 1

Plan général Cypréa 1969

Forecast deck

Détail pont 3

Détail pont 2

Détail pont 1

Détail machine 2

Détail machine 1

Plan 2A

Plan général 4

Plan général 3

Plan général 2

Plan général 1

Plan général

Bloc Passerelle

Tài liệu của MT Angkor

MT Angkor – Pont des embarcations

Angkor – Vue longitudinale

Angkor – Pont dunette

Angkor – Vue en plan

Nguồn: http://vnhanghaiphap.free.fr/?p=7468

Câu chuyện của nữ Hải Quân Đại Tá Quân Y Hoa Kỳ gốc Việt – Nguyễn Viết Kim

06-10-2021 – Nguyễn Viết Kim

Hải quân y sĩ Trung tá (Commander) Josephine Nguyễn Cẩm Vân đã được vinh thăng Đại tá (Navy Captain) vào ngày 29/9/2021. Bộ trưởng bộ Hải Quân Hoa Kỳ nhận lời tuyên thệ của đại tá Josephine Nguyễn. Tháng 4, 1975, trong dòng người di tản, có một sĩ quan hải quân trẻ, tên là Nguyễn Văn Huấn. Anh rời Việt Nam trên một con tàu, mang theo cô con gái nhỏ tên là Minh Tú vừa mới tròn thôi nôi và bỏ lại đàng sau giấc mộng hải hồ của người sĩ quan hải quân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH)…Sang định cư tại Hoa Kỳ, tại vùng phía bắc tiểu bang Virginia, sát cạnh thủ đô Hoa Thịnh Đốn, gia đình ông Huấn sinh hạ thêm một cháu gái vào năm 1977 với tên Việt là Cẩm Vân và tên Mỹ là Josephine Nguyễn. Nay thành Hải quân Đại Tá Quân Y Phi Hành Nguyễn Cẩm Vân (U.S Navy Commander Flight Surgeon).

Sẽ chẳng có chuyện gì đáng nói, nếu người sĩ quan hải quân QLVNCH ấy hàng ngày “đi cày” kiếm tiền nuôi con, cho con học hành, đỗ đạt thành tài…Chuyện đáng nói ở đây là người sĩ quan trẻ phải giã từ màu áo chiến binh ngày nào đã nối dài ước mơ đời lính của mình tới hai cô con gái yêu quý của anh…

 Từ huyền thoại người lính QLVNCH …
Hai cô gái nhỏ Minh Tú và Cẩm Vân lớn lên nơi vùng đất lạ, tiểu bang Virginia và không ít lần thắc mắc về cuộc đời của bậc sinh thành, nguồn gốc của mình. Ông Huấn nhiều khi kể cho con nghe về quá khứ của mình, về hình ảnh anh dũng của người lính QLVNCH, về cuộc chiến Việt Nam, về quê hương bỏ lại nghìn trùng xa cách bên kia bờ Thái Bình Dương…
Hai cô con gái nhỏ ngồi nghe chuyện kể của cha như nghe những chuyện cổ tích từ nhà trường như “Cuộc Chiến Thành Troy”, như “chuyện cổ Hy Lạp Odyssey”, như nhiều chuyện cổ tích thần thoại khác,…
Và có ai ngờ rằng những câu chuyện kể về một cuộc chiến đã qua, về những trận đánh oai hùng trong quân sử hải quân QLVNCH lại trở thành những hạt giống nhỏ, những chồi non và qua thời gian trở nên lớn dần, nẩy mầm, sinh chồi nảy lộc trở thành những ước mơ đời lính trong tâm hồn của các cô gái Mỹ gốc Việt, dù rằng các cô lớn lên trong xứ sở an bình, ở một nơi chốn bình an,… Các cô lớn dần và giấc mộng hải hồ đời lính cũng lớn dần theo năm tháng…
Chính Cẩm Vân cũng tiết lộ trong bài “Female cadets finally take command with top Naval Academy graduating honors” của hãng thông tấn Associated Press vào ngày 27 tháng 5, 1999 là quyết định theo đuổi ngành hải quân của cô là do ảnh hưởng của cả từ người cha và người chị. Cô nói: “Chúng tôi lớn lên trong những câu chuyện kể về sự nghiệp hải quân của cha tôi.”Ngoài ra, một động cơ khác sâu lắng hơn, tiềm ẩn hơn để cô quyết định vào hải quân là ý tưởng đền ơn đáp nghĩa theo truyền thống báo đáp của người Việt. Cẩm Vân nói trong bài viết nói trên của AP: “Bạn muốn đền đáp lại cho đất nước đã giúp đỡ rất nhiều cho gia đình bạn.”

Con đường vào binh nghiệp lận đận của người chị Minh Tú.
Thoạt tiên, ngay khi vừa tốt nghiệp trung học, Minh Tú muốn vào Học Viện Hải Quân Annapolis ngay để nối tiếp sự nghiệp còn dang dở của người cha, thế nhưng con đường vào binh nghiệp của Minh Tú – chị của Cẩm Vân – thật là gian nan. Cô ta bị Học Viện Hải Quân từ chối đến 3 lần, và cuối cùng cô phải đi một con đường vòng để thực hiện được ước mơ: gia nhập lực lượng trừ bị (ROTC: Reserve Officers’ Training Corps). Minh Tú bộc lộ trên báo Mỹ: “Tôi nộp đơn vào Học Viện Hải Quân ngay khi xong trung học, thế nhưng, đơn của tôi bị bác đến 3 lần. Tôi đành phải đi học tạm tại trường đại học George Mason và năm sau lại nộp đơn gia nhập quân ngũ, nhưng vẫn bị từ chối.” Dẫu vậy, Minh Tú không phải là người dễ dàng chấp nhận bỏ cuộc, cho nên cô nghĩ ra cách đi đường vòng. Cô ta kể lại: “Tôi gia nhập Lực lượng Trừ Bị (ROTC), nhờ xuất sắc nên được sự đề cử của tổng trưởng Hải Quân vào Học Viện Hải Quân. Và sau gần một năm dưới màu áo Trừ Bị, tôi được chọn lựa vào trường Dự Bị của Học Viện Hải Quân tại Rhode Island”. Cô ta kể lại rằng đạt mục đích này là giấc mơ sắp thành tựu.
Vào năm 1995, Minh Tú chính thức được nhận vào Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ và cũng vào năm này, một niềm vui lớn cũng đến với cô là người em gái Cẩm Vân được nhận ngay vào Học Viện Hải Quân. Cả hai chị em, một sinh năm 1974 và một sinh năm 1977, đều vào quân ngũ cùng một khóa.
Những câu chuyện kể về người lính hải quân QLVNCH ngày nào từ người sĩ quan trẻ Nguyễn Văn Huấn đã được chính hai cô con gái của anh viết tiếp trong trang sử quân nhân trên đất nước Hoa Kỳ. Vào năm 1999, sau khi ra trường, Minh Tú trở thành sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

-Cẩm Vân và những cánh cửa cơ hội rộng mở
Nếu Minh Tú sẵn sàng cuộc đời quân nhân sau khi tốt nghiệp Trung Học (sau khi giải ngũ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, cô Minh Tú trở thành luật sư và nay là công chức liên bang tại Hoa Thịnh Đốn), thì cô em Cẩm Vân có ý định vào chuyên khoa, vì cánh cửa đại học chuyên môn đã rộng mở ngay sau khi cô tốt nghiệp trung học.
Vừa tốt nghiệp trung học, Cẩm Vân được nhiều trường đại học uy tín như Stanford, Brown, Princeton và Yale nhận vào học. Cô muốn vào một trường nổi tiếng, ra trường với mảnh bằng bác sĩ. Thế nhưng, lời thuyết phục của người cha và người chị khiến cho Cẩm Vân thay đổi quyết định, và đã chọn lựa con đường chông gai và thử thách hơn mà đi: Gia nhập học viện hải quân vào năm 1995, cùng khoá với người chị – Minh Tú.
Con đường nhập ngũ của Cẩm Vân suông sẻ hơn con đường gồ ghề gian nan hơn của người chị Minh Tú. Cẩm Vân thú nhận rằng cô rất vui khi làm theo lời khuyên của gia đình… Và từ ấy, quân lực Hoa Kỳ có thêm hai nữ quân nhân… người Mỹ gốc Việt!

Khi những giọt nước mắt đã biến ý chí người nữ quân nhân gốc Việt thành thép.
Hai chị em Minh Tú và Cẩm Vân tốt nghiệp Học Viện Hải Quân khóa 1999. Riêng Cẩm Vân tốt nghiệp á khoa (hạng nhì) trong một khóa ra trường trên 900 tân sĩ quan và cô cũng lãnh đạo 2,000 sinh viên sĩ quan. Vị thủ khoa chỉ huy toàn thể 4,000 sinh viên sĩ quan trong Học Viện Hải Quân.
Cần nói thêm là Quân Lực Hoa Kỳ có 3 đại học quân sự huấn luyện các sĩ quan, cùng với đại học quân y tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn.
– Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến (Annapolis) U.S Naval Academy, tọa lạc tại Maryland.
– Lục Quân (West Point) U.S Military Academy, ở tiểu bang New York.
– Không Quân (Colorado Springs) U.S Air Force Academy, trong tiểu bang Colorado.
Thông thường các sĩ quan tốt nghiệp đầu bảng các đại học quân sự là các nam sinh viên sĩ quan, năm 1999 có một hiện tượng đặc biệt là tại US Naval Academy, nơi đào tạo các danh nhân như tổng thống Carter, Nghị Sĩ John S. McCain.. đầu bảng có một nữ sinh viên sĩ quan và hạng nhì là một nữ sinh viên gốc Việt, hải quân thiếu úy Nguyễn Cẩm Vân.
Theo hệ thống tự chỉ huy, sinh viên thủ khoa chỉ huy toàn thể 4,000 sinh viên sĩ quan, sinh viên á khoa là phụ tá và chỉ huy 1 trung đoàn 2,000 sinh viên, sinh viên có hạng thứ ba chỉ huy trung đoàn khác.
– Vì sao một cô gái Việt nhỏ nhắn lại có thể vượt qua những nam sinh viên sĩ quan người Mỹ to lớn về thể chất như thế?– Điều gì đã làm cho cô gái Việt trở thành một sĩ quan á khoa và là một trung đoàn trưởng được 2,000 sinh viên sĩ quan người Mỹ nể phục và tuân lệnh?
Chắc quý vị cũng tò mò trước những câu hỏi như thế!
Trong bài viết “Godfrey, Nguyen, Lentz reach pinnacle for ’99 của USNA Public Affairs”, thì cô Cẩm Vân tốt nghiệp á khoa với 3.98 điểm trong số điểm tối đa 4.0, và ba yếu tố cấu thành là: kiến thức văn hóa, khả năng quân sự, yếu tố vượt qua khó khăn. Ông phó khoa trưởng giáo dục Frederic I. Davis của Học Viện Hải Quân nói rằng “bạn không thể nào có thứ hạng cao mà không tỏ ra xuất chúng trong ba lãnh vực nói trên”.Nói về học tập thì cô gái Việt Nam có thể so tài với người Mỹ, thế nhưng, làm sao một cô gái Việt Nam nhỏ bé lại có thể xuất chúng hơn những chàng trai Mỹ to lớn, khoẻ mạnh để trở thành một trung đoàn trưởng lãnh đạo 2,000 sinh viên sĩ quan và tốt nghiệp á khoa?
Chúng tôi bị thu hút vào câu hỏi này và càng tò mò về nữ bác sĩ Hải Quân người Mỹ gốc Việt này, sau thời gian 6 năm trong hạm đội ở lực lượng ứng chiến tiền phương tại Nhật Bản (forward-deployment naval forces), vị bác sĩ này tu nghiệp chuyên môn 2 năm tại University of Pennsylvania Medical Center, một trong các trường thuộc Ivy League, bác sĩ Nguyễn Cẩm Vân có cấp bậc trung tá, phục vụ tổng y viện quốc gia của Quân Lực Hoa Kỳ (Walter Reed National Military Medical Center) tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

– Cẩm Vân kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về cô như sau:
Cô ta vẫn nhớ như in trong đầu những ngày đầu của một sinh viên sĩ quan trong Học Viện Hải Quân. Đó là mùa hè nắng cháy tới 105 độ Fahrenheit. Trong 6 tuần hè đó, mà những tân sinh viên sĩ quan thường gọi là 6 tuần hỏa ngục (thời gian huấn nhục). Dưới cái nắng cháy da trong quân trường đổ lửa, các tân sinh viên sĩ quan, dù nam hay nữ, dù Mỹ trắng hay Mỹ gốc Phi, gốc Á đi nữa vẫn phải học giống nhau từ môn chạy vượt chướng ngại vài dặm mỗi ngày, cho đến bắn súng, hít đất, lăn lộn, bò càng…Không chỉ tập luyện rất gay go như thế mà nhiều khi còn bị đàn anh, đàn chị la hét, khi cô tỏ ra mệt mỏi.
Cô ta kể lại, có lần mệt nhoài, cô núp vào một góc và suýt bật lên tiếng khóc. Cô muốn khóc cho lớn để vơi đi những nỗi buồn bị la rầy từ cấp trên. Một hôm một nữ sĩ quan huấn luyện bắt gặp và mời cô lên văn phòng an ủi là mọi chuyên sẽ trở nên tốt đẹp, và cô không nên tự ái khi bị la vì nhờ vậy cô mới trở nên khá hơn, thoát bỏ đời sống và lối suy nghĩ dân sự để trở thành một quân nhân, một sinh viên sĩ quan…
Cô Cẩm Vân kể lại là khi bước ra khỏi văn phòng sĩ quan cán bộ này, cô bớt buồn và quyết tâm thành công hơn trong thời gian huấn luyện, quyết tâm ở lại quân trường và quyết tâm ra trường với kết quả thứ hạng hàng đầu. Nhiều khi, cô tự an ủi mình là người con gái Việt không nên để người ta cười, người ta chế giễu, người ta lấy làm đề tài cho những chuyện vui đùa khôi hài tại quân trường…
Quyết tâm đó đã giúp cô làm quen với cường độ tập luyện ngày càng gia tăng nặng nề hơn. Những giọt nước mắt, những tự ái và tự hào người Việt hun đúc trong cô, biến ý chí của cô trở nên cứng rắn như sắt thép, và từ đó, những ngày tháng nơi quân trường chỉ thấy mồ hôi của cô chảy và không bao giờ thấy nước mắt chảy nữa.
Ngày xưa, chúng ta nghe đến câu chuyện người thiếu phụ hóa đá và bây giờ, chúng ta nghe câu chuyện về nước mắt tự ái đã biến trái tim và ý chí của cô gái Việt trở nên cứng rắn như đá, như thép.
Cô ta kể lại, như để trả lời câu hỏi là làm sao cô có thể vượt lên trên cả ngàn tân binh to lớn người Mỹ như thế, như sau:
– Trong quân trường, dưới cái nắng thiêu người như thế, trên một lộ trình chạy vượt chướng ngại dài và những bài tập thể lực căng thẳng, sau những đêm, ngày thiếu ngủ, dù ai đi nữa, Mỹ trắng, dù Mỹ gốc Phi hay gốc Á, dù là nam hay nữ tân binh,… cũng sẽ mệt nhoài, kiệt sức, và trong hoàn cảnh ấy, ai cũng giống ai cả, cũng gần ngã gục cả, và chỉ có một thứ làm mình đứng dậy, hiên ngang lao tới là ý chí, là tự ái, là tự tin và tự hào, là tâm lý không muốn cho người ta coi thường, cười nhạo báng người con gái Việt… Người con gái Việt phải vượt lên, lao tới, trở thành ưu tú…
Và cô đã lấy nước mắt pha lẫn mồ hôi, cộng với ý chí kiên cường, cộng với niềm tự hào về đời quân ngũ của người cha mà viết tiếp trang quân sử tuyệt vời mà thân phụ đã dang dở năm nào,…
Cô nói: All I can say is “sure they’re stronger than I am, but when we’re all in the same boat, when it’s 105 degrees outside, when we’re all exhausted from lack of sleep, doing hundreds of pushups and from running numerous miles, it’s your determination that will keep you going”. I never gave up. I never fell out of the runs…
Và cô đã làm được điều đó: Tốt nghiệp á khoa và được là trung đoàn trưởng, lãnh đạo chỉ huy 2000 sinh viên sĩ quan. Đọc câu chuyện về cô, nghe kể về cô, trái tim tôi xúc động trước sự rực rỡ ý chí của một người con gái Việt trẻ tuổi.
Không những ý chí của cô là một tượng đài tuyệt đẹp mà nhân cách của một cô gái Việt cũng được chứng minh, được khẳng định trong quân trường…
Cô kể lại rằng khi sĩ quan cán bộ yêu cầu một phiên làm vệ sinh quân trường, thì cô là người tình nguyện đầu tiên để nhận lãnh trách nhiệm ấy. Chính việc làm này càng làm tăng thêm uy tín cho cô và càng ngày cô càng được các khóa sinh kính trọng và yêu mến…
Và từ đó, ngay trên quân trường, một khả năng lãnh đạo phát sinh trong người con gái Việt.
Cô kể lại rằng nhiều người quan niệm là khả năng lãnh đạo là thiên phú, là trời cho, thế nhưng cô nghĩ là trong mỗi chúng ta đều có năng lực trở thành một người lãnh đạo thành công và giỏi. Năng lực lãnh đạo phát sinh từ thực tế công việc, từ sự cần cù và những học hỏi từ sai lầm mà mình đã vấp. Và đó là những đặc điểm độc đáo từ Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ, một nơi mà theo cô là một phòng thí nghiệm tuyệt vời về khả năng lãnh đạo và chỉ huy.
Hành trình 4 năm tại học viên Hải quân, Cẩm Vân đi từ một cô gái rụt rè, sợ hãi, đến một vị trí Trung Đoàn trưởng, chỉ huy 2000 sinh viên sĩ quan, thì bài học nào cần thiết được rút ra cho khả năng lãnh đạo chỉ huy? Cô đắn đo suy nghĩ và rút ra năm kinh nghiệm sau đây:

1. Đặt lợi ích của người khác trước lợi ích của mình.
Cô nói rằng thuộc cấp của bạn sẽ biết rõ ràng rằng liệu bạn có thật sự lo cho họ hay không bằng cách bạn đối xử với họ thế nào. Nên nhớ bao giờ cũng thực hiện tối đa nguyên tắc này và bạn sẽ được thuộc cấp nể phục.

2. Đừng chẻ sợi tóc làm tư. Đừng micro-manage (đừng quản trị chi tiết):
Nếu bạn giao cho ai việc gì, bạn đề nghị cho họ cách thực hiện và cho họ biết là bạn tin tưởng vào khả năng làm việc của họ. Hãy để cho họ tìm cách riêng để hoàn thành công việc. Hãy để họ bàn với bạn phương cách làm việc và chính họ là người hoàn thành công việc. Làm như thế họ sẽ tự hào về khả năng của họ và cần mẫn làm việc hơn bao giờ hết. Người ta sẽ làm việc hết mình nếu lãnh đạo tin vào họ.

3. Lấy mình làm gương:
Nếu bạn muốn mọi người có mặt vào lúc 8 giờ, thì bạn phải có mặt vào lúc 7:50, chứ đừng đến 8:05 hay 8:10. Châm ngôn trong quân đội là đúng giờ tức là đến trước giờ.

4. Luôn làm điều đúng dù không có ai quan sát hay theo dõi bạn. Có lúc, làm khác đi, bạn sẽ ân hận và bị ám ảnh điều đó.

5. Khen công khai, phê bình kín đáo:
Nhiều thượng cấp và cả cha mẹ phạm sai lầm là la con cái hay thuộc cấp trước mặt mọi người. Làm như thế sẽ hạ thấp, làm mất thể diện người khác và bạn sẽ mất đi sự kính trọng và lòng trung thành của người đó.Trong xã hội ngày nay, nhiều người quên một điều quan trọng nhất trong đời sống. Đó không phải là tiền tài hay địa vị mà đó là cuộc sống của bạn sống thế nào, ảnh hưởng đến xã hội và người khác ra sao, dù chỉ một người mà thôi,… Chính điều này, sự ảnh hưởng xã hội và người khác một cách tốt đẹp mới là giá trị quan trọng của đời sống…
Tính cách lãnh đạo chỉ huy và quan niệm thay đổi đời sống đang hun đúc giá trị người lãnh đạo của một cô gái Việt này và giúp cô vượt lên từ một cô gái Việt bình thường thành một sĩ quan tốt nghiệp á khoa và là một trung đoàn trưởng của Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ.

– Nguồn cảm phục: Những gương tiền nhân trong dòng sử Việt!
Sinh ra trên đất Mỹ và lớn lên ở xứ người, cũng như những người cùng hoàn cảnh, nhiều lúc Cẩm Vân tự hỏi mình: Tôi là người Mỹ hay người Việt?
Cô phải trải qua một quá trình dài để nhận ra sự khác biệt này, chấp nhận căn cước bản thể của mình, và yêu mến cộng đồng của mình, di sản dân tộc mình… Cô tâm sự: “Sự thừa nhận nguồn gốc đã làm cho tôi cảm thấy tự tin hơn, cởi mở hơn với sự đa dạng trong đời sống và có thêm nhiều ý kiến khác biệt. Tôi phát hiện ra những sự dị biệt trong con người và và điều đó làm cho tôi thấy mỗi người trở nên đẹp đẻ hơn đối với tôi…
Trong hành trình tìm thấy bản thể của mình, cô trân quý cha mẹ của cô. Cô nói: Cha mẹ tôi đã liều thân đưa chúng tôi ra đi để có một tương lai tươi sáng hơn, và do đó tôi mới có mặt cùng quý bạn trên đất nước này. Khi nghĩ về điều đó, tôi cảm thấy nợ cha mẹ tôi rất nhiều, và cũng như nhiều cha mẹ khác đã cũng hy sinh như thế vì tương lai của các con cái…
Và tôi luôn muốn nói với mọi người và với bạn là tôi muốn vinh danh cha mẹ tôi, vinh danh cha mẹ bạn, vinh danh tất cả những bậc cha mẹ đã hy sinh liều chết đưa con cái ra đi để có tương lai tươi sáng, vinh danh họ vì những nỗi nhọc nhằn, hy sinh, tủi cực mà họ đã trải qua để có cuộc sống tươi đẹp cho con cái, và vinh danh cả tình yêu mà thế hệ cha anh đã dành cho chúng ta…
Cô tâm sự: “Tôi đã từng khóc trên quân trường, trong cuộc đời vì tự ái. Bạn và tôi có bao giờ nhìn thấy nước mắt của cha mẹ mình chảy ròng trên má để mang lại cuộc sống đầy đủ cho gia đình trên xứ lạ quê người?”…
Cô ta kể lại rằng từ nơi xa xôi ấy, cô vẫn đọc sách sử về văn hóa Việt và cô tự hào về gia sản văn hóa của mình và trong những đêm ngồi đọc sử Việt, cô ngưỡng mộ rất nhiều những nữ anh hùng đất Việt như Bà Trưng, Bà Triệu… Cô tâm sự rằng hình ảnh Bà Triệu làm cô ngưỡng mộ và xúc động nhất. Mới tuổi 20, Bà Triệu đã lãnh đạo khởi nghĩa chống quân Trung Hoa xâm lược, để bảo vệ giang sơn bờ cõi của tiền nhân, và khi mộng không thành thì chấp nhận quyên sinh chứ không nộp mình cho giặc…
Lênh đênh trong hạm đội ứng chiến trên Thái Bình Dương, khi một mình trong văn phòng y khoa trên hàng không mẫu hạm luôn trong tình trạng ứng chiến tại phía bắc Thái Bình Dương, nhiệm vụ chính của bác sĩ phi hành Nguyễn Cẩm Vân là phụ trách lo liệu y tế cho các phi công trong phi hành đoàn của đủ loại phi cơ, Cẩm Vân tự nhủ: Chúng ta còn quá nhỏ bé so với tiền nhân! Và mỗi lần nghĩ về đất nước, mỗi lần mệt mỏi gần gục ngã, hình ảnh Bà Triệu, tấm gương Bà Triệu như là nguồn sinh khí cho cô đứng dậy và vươn lên…
Nguyễn Viết Kim

Nguồn: http://www.vietquoc.org-http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2021/10/cau-chuyen-cua-nu-hai-quan-ai-ta-quan-y.html

Câu chuyện của nữ Hải Quân Đại Tá Quân Y Hoa Kỳ gốc Việt – Nguyễn Viết Kim

Posted by bienxua on 

06-10-2021 – Nguyễn Viết Kim

Hải quân y sĩ Trung tá (Commander) Josephine Nguyễn Cẩm Vân đã được vinh thăng Đại tá (Navy Captain) vào ngày 29/9/2021. Bộ trưởng bộ Hải Quân Hoa Kỳ nhận lời tuyên thệ của đại tá Josephine Nguyễn. Tháng 4, 1975, trong dòng người di tản, có một sĩ quan hải quân trẻ, tên là Nguyễn Văn Huấn. Anh rời Việt Nam trên một con tàu, mang theo cô con gái nhỏ tên là Minh Tú vừa mới tròn thôi nôi và bỏ lại đàng sau giấc mộng hải hồ của người sĩ quan hải quân thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH)…Sang định cư tại Hoa Kỳ, tại vùng phía bắc tiểu bang Virginia, sát cạnh thủ đô Hoa Thịnh Đốn, gia đình ông Huấn sinh hạ thêm một cháu gái vào năm 1977 với tên Việt là Cẩm Vân và tên Mỹ là Josephine Nguyễn. Nay thành Hải quân Đại Tá Quân Y Phi Hành Nguyễn Cẩm Vân (U.S Navy Commander Flight Surgeon).

Sẽ chẳng có chuyện gì đáng nói, nếu người sĩ quan hải quân QLVNCH ấy hàng ngày “đi cày” kiếm tiền nuôi con, cho con học hành, đỗ đạt thành tài…Chuyện đáng nói ở đây là người sĩ quan trẻ phải giã từ màu áo chiến binh ngày nào đã nối dài ước mơ đời lính của mình tới hai cô con gái yêu quý của anh…

 Từ huyền thoại người lính QLVNCH …
Hai cô gái nhỏ Minh Tú và Cẩm Vân lớn lên nơi vùng đất lạ, tiểu bang Virginia và không ít lần thắc mắc về cuộc đời của bậc sinh thành, nguồn gốc của mình. Ông Huấn nhiều khi kể cho con nghe về quá khứ của mình, về hình ảnh anh dũng của người lính QLVNCH, về cuộc chiến Việt Nam, về quê hương bỏ lại nghìn trùng xa cách bên kia bờ Thái Bình Dương…
Hai cô con gái nhỏ ngồi nghe chuyện kể của cha như nghe những chuyện cổ tích từ nhà trường như “Cuộc Chiến Thành Troy”, như “chuyện cổ Hy Lạp Odyssey”, như nhiều chuyện cổ tích thần thoại khác,…
Và có ai ngờ rằng những câu chuyện kể về một cuộc chiến đã qua, về những trận đánh oai hùng trong quân sử hải quân QLVNCH lại trở thành những hạt giống nhỏ, những chồi non và qua thời gian trở nên lớn dần, nẩy mầm, sinh chồi nảy lộc trở thành những ước mơ đời lính trong tâm hồn của các cô gái Mỹ gốc Việt, dù rằng các cô lớn lên trong xứ sở an bình, ở một nơi chốn bình an,… Các cô lớn dần và giấc mộng hải hồ đời lính cũng lớn dần theo năm tháng…
Chính Cẩm Vân cũng tiết lộ trong bài “Female cadets finally take command with top Naval Academy graduating honors” của hãng thông tấn Associated Press vào ngày 27 tháng 5, 1999 là quyết định theo đuổi ngành hải quân của cô là do ảnh hưởng của cả từ người cha và người chị. Cô nói: “Chúng tôi lớn lên trong những câu chuyện kể về sự nghiệp hải quân của cha tôi.”Ngoài ra, một động cơ khác sâu lắng hơn, tiềm ẩn hơn để cô quyết định vào hải quân là ý tưởng đền ơn đáp nghĩa theo truyền thống báo đáp của người Việt. Cẩm Vân nói trong bài viết nói trên của AP: “Bạn muốn đền đáp lại cho đất nước đã giúp đỡ rất nhiều cho gia đình bạn.”

Con đường vào binh nghiệp lận đận của người chị Minh Tú.
Thoạt tiên, ngay khi vừa tốt nghiệp trung học, Minh Tú muốn vào Học Viện Hải Quân Annapolis ngay để nối tiếp sự nghiệp còn dang dở của người cha, thế nhưng con đường vào binh nghiệp của Minh Tú – chị của Cẩm Vân – thật là gian nan. Cô ta bị Học Viện Hải Quân từ chối đến 3 lần, và cuối cùng cô phải đi một con đường vòng để thực hiện được ước mơ: gia nhập lực lượng trừ bị (ROTC: Reserve Officers’ Training Corps). Minh Tú bộc lộ trên báo Mỹ: “Tôi nộp đơn vào Học Viện Hải Quân ngay khi xong trung học, thế nhưng, đơn của tôi bị bác đến 3 lần. Tôi đành phải đi học tạm tại trường đại học George Mason và năm sau lại nộp đơn gia nhập quân ngũ, nhưng vẫn bị từ chối.” Dẫu vậy, Minh Tú không phải là người dễ dàng chấp nhận bỏ cuộc, cho nên cô nghĩ ra cách đi đường vòng. Cô ta kể lại: “Tôi gia nhập Lực lượng Trừ Bị (ROTC), nhờ xuất sắc nên được sự đề cử của tổng trưởng Hải Quân vào Học Viện Hải Quân. Và sau gần một năm dưới màu áo Trừ Bị, tôi được chọn lựa vào trường Dự Bị của Học Viện Hải Quân tại Rhode Island”. Cô ta kể lại rằng đạt mục đích này là giấc mơ sắp thành tựu.
Vào năm 1995, Minh Tú chính thức được nhận vào Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ và cũng vào năm này, một niềm vui lớn cũng đến với cô là người em gái Cẩm Vân được nhận ngay vào Học Viện Hải Quân. Cả hai chị em, một sinh năm 1974 và một sinh năm 1977, đều vào quân ngũ cùng một khóa.
Những câu chuyện kể về người lính hải quân QLVNCH ngày nào từ người sĩ quan trẻ Nguyễn Văn Huấn đã được chính hai cô con gái của anh viết tiếp trong trang sử quân nhân trên đất nước Hoa Kỳ. Vào năm 1999, sau khi ra trường, Minh Tú trở thành sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

-Cẩm Vân và những cánh cửa cơ hội rộng mở
Nếu Minh Tú sẵn sàng cuộc đời quân nhân sau khi tốt nghiệp Trung Học (sau khi giải ngũ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, cô Minh Tú trở thành luật sư và nay là công chức liên bang tại Hoa Thịnh Đốn), thì cô em Cẩm Vân có ý định vào chuyên khoa, vì cánh cửa đại học chuyên môn đã rộng mở ngay sau khi cô tốt nghiệp trung học.
Vừa tốt nghiệp trung học, Cẩm Vân được nhiều trường đại học uy tín như Stanford, Brown, Princeton và Yale nhận vào học. Cô muốn vào một trường nổi tiếng, ra trường với mảnh bằng bác sĩ. Thế nhưng, lời thuyết phục của người cha và người chị khiến cho Cẩm Vân thay đổi quyết định, và đã chọn lựa con đường chông gai và thử thách hơn mà đi: Gia nhập học viện hải quân vào năm 1995, cùng khoá với người chị – Minh Tú.
Con đường nhập ngũ của Cẩm Vân suông sẻ hơn con đường gồ ghề gian nan hơn của người chị Minh Tú. Cẩm Vân thú nhận rằng cô rất vui khi làm theo lời khuyên của gia đình… Và từ ấy, quân lực Hoa Kỳ có thêm hai nữ quân nhân… người Mỹ gốc Việt!

Khi những giọt nước mắt đã biến ý chí người nữ quân nhân gốc Việt thành thép.
Hai chị em Minh Tú và Cẩm Vân tốt nghiệp Học Viện Hải Quân khóa 1999. Riêng Cẩm Vân tốt nghiệp á khoa (hạng nhì) trong một khóa ra trường trên 900 tân sĩ quan và cô cũng lãnh đạo 2,000 sinh viên sĩ quan. Vị thủ khoa chỉ huy toàn thể 4,000 sinh viên sĩ quan trong Học Viện Hải Quân.
Cần nói thêm là Quân Lực Hoa Kỳ có 3 đại học quân sự huấn luyện các sĩ quan, cùng với đại học quân y tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn.
– Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến (Annapolis) U.S Naval Academy, tọa lạc tại Maryland.
– Lục Quân (West Point) U.S Military Academy, ở tiểu bang New York.
– Không Quân (Colorado Springs) U.S Air Force Academy, trong tiểu bang Colorado.
Thông thường các sĩ quan tốt nghiệp đầu bảng các đại học quân sự là các nam sinh viên sĩ quan, năm 1999 có một hiện tượng đặc biệt là tại US Naval Academy, nơi đào tạo các danh nhân như tổng thống Carter, Nghị Sĩ John S. McCain.. đầu bảng có một nữ sinh viên sĩ quan và hạng nhì là một nữ sinh viên gốc Việt, hải quân thiếu úy Nguyễn Cẩm Vân.
Theo hệ thống tự chỉ huy, sinh viên thủ khoa chỉ huy toàn thể 4,000 sinh viên sĩ quan, sinh viên á khoa là phụ tá và chỉ huy 1 trung đoàn 2,000 sinh viên, sinh viên có hạng thứ ba chỉ huy trung đoàn khác.
– Vì sao một cô gái Việt nhỏ nhắn lại có thể vượt qua những nam sinh viên sĩ quan người Mỹ to lớn về thể chất như thế?– Điều gì đã làm cho cô gái Việt trở thành một sĩ quan á khoa và là một trung đoàn trưởng được 2,000 sinh viên sĩ quan người Mỹ nể phục và tuân lệnh?
Chắc quý vị cũng tò mò trước những câu hỏi như thế!
Trong bài viết “Godfrey, Nguyen, Lentz reach pinnacle for ’99 của USNA Public Affairs”, thì cô Cẩm Vân tốt nghiệp á khoa với 3.98 điểm trong số điểm tối đa 4.0, và ba yếu tố cấu thành là: kiến thức văn hóa, khả năng quân sự, yếu tố vượt qua khó khăn. Ông phó khoa trưởng giáo dục Frederic I. Davis của Học Viện Hải Quân nói rằng “bạn không thể nào có thứ hạng cao mà không tỏ ra xuất chúng trong ba lãnh vực nói trên”.Nói về học tập thì cô gái Việt Nam có thể so tài với người Mỹ, thế nhưng, làm sao một cô gái Việt Nam nhỏ bé lại có thể xuất chúng hơn những chàng trai Mỹ to lớn, khoẻ mạnh để trở thành một trung đoàn trưởng lãnh đạo 2,000 sinh viên sĩ quan và tốt nghiệp á khoa?
Chúng tôi bị thu hút vào câu hỏi này và càng tò mò về nữ bác sĩ Hải Quân người Mỹ gốc Việt này, sau thời gian 6 năm trong hạm đội ở lực lượng ứng chiến tiền phương tại Nhật Bản (forward-deployment naval forces), vị bác sĩ này tu nghiệp chuyên môn 2 năm tại University of Pennsylvania Medical Center, một trong các trường thuộc Ivy League, bác sĩ Nguyễn Cẩm Vân có cấp bậc trung tá, phục vụ tổng y viện quốc gia của Quân Lực Hoa Kỳ (Walter Reed National Military Medical Center) tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

– Cẩm Vân kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về cô như sau:
Cô ta vẫn nhớ như in trong đầu những ngày đầu của một sinh viên sĩ quan trong Học Viện Hải Quân. Đó là mùa hè nắng cháy tới 105 độ Fahrenheit. Trong 6 tuần hè đó, mà những tân sinh viên sĩ quan thường gọi là 6 tuần hỏa ngục (thời gian huấn nhục). Dưới cái nắng cháy da trong quân trường đổ lửa, các tân sinh viên sĩ quan, dù nam hay nữ, dù Mỹ trắng hay Mỹ gốc Phi, gốc Á đi nữa vẫn phải học giống nhau từ môn chạy vượt chướng ngại vài dặm mỗi ngày, cho đến bắn súng, hít đất, lăn lộn, bò càng…Không chỉ tập luyện rất gay go như thế mà nhiều khi còn bị đàn anh, đàn chị la hét, khi cô tỏ ra mệt mỏi.
Cô ta kể lại, có lần mệt nhoài, cô núp vào một góc và suýt bật lên tiếng khóc. Cô muốn khóc cho lớn để vơi đi những nỗi buồn bị la rầy từ cấp trên. Một hôm một nữ sĩ quan huấn luyện bắt gặp và mời cô lên văn phòng an ủi là mọi chuyên sẽ trở nên tốt đẹp, và cô không nên tự ái khi bị la vì nhờ vậy cô mới trở nên khá hơn, thoát bỏ đời sống và lối suy nghĩ dân sự để trở thành một quân nhân, một sinh viên sĩ quan…
Cô Cẩm Vân kể lại là khi bước ra khỏi văn phòng sĩ quan cán bộ này, cô bớt buồn và quyết tâm thành công hơn trong thời gian huấn luyện, quyết tâm ở lại quân trường và quyết tâm ra trường với kết quả thứ hạng hàng đầu. Nhiều khi, cô tự an ủi mình là người con gái Việt không nên để người ta cười, người ta chế giễu, người ta lấy làm đề tài cho những chuyện vui đùa khôi hài tại quân trường…
Quyết tâm đó đã giúp cô làm quen với cường độ tập luyện ngày càng gia tăng nặng nề hơn. Những giọt nước mắt, những tự ái và tự hào người Việt hun đúc trong cô, biến ý chí của cô trở nên cứng rắn như sắt thép, và từ đó, những ngày tháng nơi quân trường chỉ thấy mồ hôi của cô chảy và không bao giờ thấy nước mắt chảy nữa.
Ngày xưa, chúng ta nghe đến câu chuyện người thiếu phụ hóa đá và bây giờ, chúng ta nghe câu chuyện về nước mắt tự ái đã biến trái tim và ý chí của cô gái Việt trở nên cứng rắn như đá, như thép.
Cô ta kể lại, như để trả lời câu hỏi là làm sao cô có thể vượt lên trên cả ngàn tân binh to lớn người Mỹ như thế, như sau:
– Trong quân trường, dưới cái nắng thiêu người như thế, trên một lộ trình chạy vượt chướng ngại dài và những bài tập thể lực căng thẳng, sau những đêm, ngày thiếu ngủ, dù ai đi nữa, Mỹ trắng, dù Mỹ gốc Phi hay gốc Á, dù là nam hay nữ tân binh,… cũng sẽ mệt nhoài, kiệt sức, và trong hoàn cảnh ấy, ai cũng giống ai cả, cũng gần ngã gục cả, và chỉ có một thứ làm mình đứng dậy, hiên ngang lao tới là ý chí, là tự ái, là tự tin và tự hào, là tâm lý không muốn cho người ta coi thường, cười nhạo báng người con gái Việt… Người con gái Việt phải vượt lên, lao tới, trở thành ưu tú…
Và cô đã lấy nước mắt pha lẫn mồ hôi, cộng với ý chí kiên cường, cộng với niềm tự hào về đời quân ngũ của người cha mà viết tiếp trang quân sử tuyệt vời mà thân phụ đã dang dở năm nào,…
Cô nói: All I can say is “sure they’re stronger than I am, but when we’re all in the same boat, when it’s 105 degrees outside, when we’re all exhausted from lack of sleep, doing hundreds of pushups and from running numerous miles, it’s your determination that will keep you going”. I never gave up. I never fell out of the runs…
Và cô đã làm được điều đó: Tốt nghiệp á khoa và được là trung đoàn trưởng, lãnh đạo chỉ huy 2000 sinh viên sĩ quan. Đọc câu chuyện về cô, nghe kể về cô, trái tim tôi xúc động trước sự rực rỡ ý chí của một người con gái Việt trẻ tuổi.
Không những ý chí của cô là một tượng đài tuyệt đẹp mà nhân cách của một cô gái Việt cũng được chứng minh, được khẳng định trong quân trường…
Cô kể lại rằng khi sĩ quan cán bộ yêu cầu một phiên làm vệ sinh quân trường, thì cô là người tình nguyện đầu tiên để nhận lãnh trách nhiệm ấy. Chính việc làm này càng làm tăng thêm uy tín cho cô và càng ngày cô càng được các khóa sinh kính trọng và yêu mến…
Và từ đó, ngay trên quân trường, một khả năng lãnh đạo phát sinh trong người con gái Việt.
Cô kể lại rằng nhiều người quan niệm là khả năng lãnh đạo là thiên phú, là trời cho, thế nhưng cô nghĩ là trong mỗi chúng ta đều có năng lực trở thành một người lãnh đạo thành công và giỏi. Năng lực lãnh đạo phát sinh từ thực tế công việc, từ sự cần cù và những học hỏi từ sai lầm mà mình đã vấp. Và đó là những đặc điểm độc đáo từ Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ, một nơi mà theo cô là một phòng thí nghiệm tuyệt vời về khả năng lãnh đạo và chỉ huy.
Hành trình 4 năm tại học viên Hải quân, Cẩm Vân đi từ một cô gái rụt rè, sợ hãi, đến một vị trí Trung Đoàn trưởng, chỉ huy 2000 sinh viên sĩ quan, thì bài học nào cần thiết được rút ra cho khả năng lãnh đạo chỉ huy? Cô đắn đo suy nghĩ và rút ra năm kinh nghiệm sau đây:

1. Đặt lợi ích của người khác trước lợi ích của mình.
Cô nói rằng thuộc cấp của bạn sẽ biết rõ ràng rằng liệu bạn có thật sự lo cho họ hay không bằng cách bạn đối xử với họ thế nào. Nên nhớ bao giờ cũng thực hiện tối đa nguyên tắc này và bạn sẽ được thuộc cấp nể phục.

2. Đừng chẻ sợi tóc làm tư. Đừng micro-manage (đừng quản trị chi tiết):
Nếu bạn giao cho ai việc gì, bạn đề nghị cho họ cách thực hiện và cho họ biết là bạn tin tưởng vào khả năng làm việc của họ. Hãy để cho họ tìm cách riêng để hoàn thành công việc. Hãy để họ bàn với bạn phương cách làm việc và chính họ là người hoàn thành công việc. Làm như thế họ sẽ tự hào về khả năng của họ và cần mẫn làm việc hơn bao giờ hết. Người ta sẽ làm việc hết mình nếu lãnh đạo tin vào họ.

3. Lấy mình làm gương:
Nếu bạn muốn mọi người có mặt vào lúc 8 giờ, thì bạn phải có mặt vào lúc 7:50, chứ đừng đến 8:05 hay 8:10. Châm ngôn trong quân đội là đúng giờ tức là đến trước giờ.

4. Luôn làm điều đúng dù không có ai quan sát hay theo dõi bạn. Có lúc, làm khác đi, bạn sẽ ân hận và bị ám ảnh điều đó.

5. Khen công khai, phê bình kín đáo:
Nhiều thượng cấp và cả cha mẹ phạm sai lầm là la con cái hay thuộc cấp trước mặt mọi người. Làm như thế sẽ hạ thấp, làm mất thể diện người khác và bạn sẽ mất đi sự kính trọng và lòng trung thành của người đó.Trong xã hội ngày nay, nhiều người quên một điều quan trọng nhất trong đời sống. Đó không phải là tiền tài hay địa vị mà đó là cuộc sống của bạn sống thế nào, ảnh hưởng đến xã hội và người khác ra sao, dù chỉ một người mà thôi,… Chính điều này, sự ảnh hưởng xã hội và người khác một cách tốt đẹp mới là giá trị quan trọng của đời sống…
Tính cách lãnh đạo chỉ huy và quan niệm thay đổi đời sống đang hun đúc giá trị người lãnh đạo của một cô gái Việt này và giúp cô vượt lên từ một cô gái Việt bình thường thành một sĩ quan tốt nghiệp á khoa và là một trung đoàn trưởng của Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ.

– Nguồn cảm phục: Những gương tiền nhân trong dòng sử Việt!
Sinh ra trên đất Mỹ và lớn lên ở xứ người, cũng như những người cùng hoàn cảnh, nhiều lúc Cẩm Vân tự hỏi mình: Tôi là người Mỹ hay người Việt?
Cô phải trải qua một quá trình dài để nhận ra sự khác biệt này, chấp nhận căn cước bản thể của mình, và yêu mến cộng đồng của mình, di sản dân tộc mình… Cô tâm sự: “Sự thừa nhận nguồn gốc đã làm cho tôi cảm thấy tự tin hơn, cởi mở hơn với sự đa dạng trong đời sống và có thêm nhiều ý kiến khác biệt. Tôi phát hiện ra những sự dị biệt trong con người và và điều đó làm cho tôi thấy mỗi người trở nên đẹp đẻ hơn đối với tôi…
Trong hành trình tìm thấy bản thể của mình, cô trân quý cha mẹ của cô. Cô nói: Cha mẹ tôi đã liều thân đưa chúng tôi ra đi để có một tương lai tươi sáng hơn, và do đó tôi mới có mặt cùng quý bạn trên đất nước này. Khi nghĩ về điều đó, tôi cảm thấy nợ cha mẹ tôi rất nhiều, và cũng như nhiều cha mẹ khác đã cũng hy sinh như thế vì tương lai của các con cái…
Và tôi luôn muốn nói với mọi người và với bạn là tôi muốn vinh danh cha mẹ tôi, vinh danh cha mẹ bạn, vinh danh tất cả những bậc cha mẹ đã hy sinh liều chết đưa con cái ra đi để có tương lai tươi sáng, vinh danh họ vì những nỗi nhọc nhằn, hy sinh, tủi cực mà họ đã trải qua để có cuộc sống tươi đẹp cho con cái, và vinh danh cả tình yêu mà thế hệ cha anh đã dành cho chúng ta…
Cô tâm sự: “Tôi đã từng khóc trên quân trường, trong cuộc đời vì tự ái. Bạn và tôi có bao giờ nhìn thấy nước mắt của cha mẹ mình chảy ròng trên má để mang lại cuộc sống đầy đủ cho gia đình trên xứ lạ quê người?”…
Cô ta kể lại rằng từ nơi xa xôi ấy, cô vẫn đọc sách sử về văn hóa Việt và cô tự hào về gia sản văn hóa của mình và trong những đêm ngồi đọc sử Việt, cô ngưỡng mộ rất nhiều những nữ anh hùng đất Việt như Bà Trưng, Bà Triệu… Cô tâm sự rằng hình ảnh Bà Triệu làm cô ngưỡng mộ và xúc động nhất. Mới tuổi 20, Bà Triệu đã lãnh đạo khởi nghĩa chống quân Trung Hoa xâm lược, để bảo vệ giang sơn bờ cõi của tiền nhân, và khi mộng không thành thì chấp nhận quyên sinh chứ không nộp mình cho giặc…
Lênh đênh trong hạm đội ứng chiến trên Thái Bình Dương, khi một mình trong văn phòng y khoa trên hàng không mẫu hạm luôn trong tình trạng ứng chiến tại phía bắc Thái Bình Dương, nhiệm vụ chính của bác sĩ phi hành Nguyễn Cẩm Vân là phụ trách lo liệu y tế cho các phi công trong phi hành đoàn của đủ loại phi cơ, Cẩm Vân tự nhủ: Chúng ta còn quá nhỏ bé so với tiền nhân! Và mỗi lần nghĩ về đất nước, mỗi lần mệt mỏi gần gục ngã, hình ảnh Bà Triệu, tấm gương Bà Triệu như là nguồn sinh khí cho cô đứng dậy và vươn lên…
Nguyễn Viết Kim

Nguồn: http://www.vietquoc.org-http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2021/10/cau-chuyen-cua-nu-hai-quan-ai-ta-quan-y.html

Trung Quốc siết chặt cổ Việt Nam bằng bẫy nợ như thế nào?

  • Hiếu Chân
    13 tháng 10, 2021

Núi liền núi, sông liền sông và nợ liền nợ! (Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị trong cuộc gặp người đồng cấp Việt Nam Phạm Bình Minh tại Hà Nội ngày 10 Tháng Chín 2021 (ảnh: Jiang Shengxiong/Xinhua/Getty Images)

Từ một nước nhận viện trợ, Trung Quốc đã vượt qua Hoa Kỳ trở thành nước cho vay và viện trợ lớn nhất thế giới. Việt Nam là một trong nhiều nước vay vốn của Trung Quốc, nhưng ít ai biết được quy mô của món nợ, mục đích vay vốn và cái giá chính trị phải trả cho món vay đó, chỉ biết càng vay mượn nhiều Hà Nội càng lún sâu vào vòng kiềm tỏa của Bắc Kinh.

Dữ liệu về viện trợ và cho vay được Trung Quốc coi là “bí mật quốc gia”, giữ rất kỹ; ngay cả những hợp đồng cho vay giữa Trung Quốc và các nước cũng có những điều khoản bảo mật khiến cho việc phân tích, đánh giá về hoạt động cho vay của Trung Quốc rất khó khăn. Mới đây, Trung tâm AidData của Đại học William & Mary ở Virginia hợp tác với các nhà nghiên cứu của Đại học Harvard và Đại học Heidelberg ở Đức đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về hoạt động cho vay của Trung Quốc và tác động của nó đến tình hình thế giới.

Báo cáo của AidData cho thấy, cho đến năm 2008, viện trợ và cho vay của Trung Quốc vẫn kém xa Hoa Kỳ, nhưng từ năm 2009 xu thế đó bị đảo ngược và từ đó Trung Quốc cho vay nhiều hơn hẳn so với Hoa Kỳ; ví dụ năm 2009 Trung Quốc cho nước ngoài vay $70 tỷ, gấp đôi mức $35 tỷ của Hoa Kỳ.

Dữ liệu của AidData ghi nhận trong 18 năm (2000-2017), Trung Quốc đã viện trợ hoặc cho vay thực hiện 13,427 dự án, trị giá $843 tỷ ở 165 quốc gia; đa số các dự án này nằm trong sáng kiến Vành Đai và Con Đường (BRI) – chiến lược trọng tâm của ông Tập Cận Bình.

Nhưng Trung Quốc và phương Tây phân phối tiền vay theo hai cách hết sức khác nhau. Phần lớn (93%) viện trợ và cho vay của phương Tây thực hiện đúng định nghĩa quốc tế về hỗ trợ phát triển chính thức (official development assistance – ODA) nhằm phát triển kinh tế và phúc lợi của nước đi vay, tức là các nước đang phát triển có thu nhập trung bình và thấp (low and middle income countries – LMIC); khoảng 25% tổng số tiền là viện trợ trực tiếp không hoàn lại (direct grant). Trung Quốc rất hiếm khi viện trợ không hoàn lại, chỉ dành 21% cho các khoản vay ODA, phần lớn là cho vay thương mại mà nước vay phải hoàn trả với lãi suất cao, thuật ngữ tài chính gọi là OOF (Official Other Flows). Khi cho nước khác vay, Trung Quốc không chỉ nhằm mở rộng ảnh hưởng chính trị mà còn đặt mục tiêu thu lợi về kinh tế, chiếm những nguồn tài nguyên quý hiếm và thực hiện chiến lược bá chủ trên toàn cầu.

Những quốc gia dính vào bẫy nợ của Trung Quốc, tính theo tỉ đôla – theo khảo sát mới nhất “Global Chinese Official Finance Dataset” của AidData công bố ngày 29 Tháng Chín 2021

Là nước gần gũi Trung Quốc, Việt Nam đã vay bao nhiêu tiền của nước láng giềng? Câu hỏi đó không dễ trả lời. Theo tiến sĩ Vũ Quang Việt, cựu Chuyên gia tài chính của Liên Hiệp Quốc phụ trách các tài khoản quốc gia thì kể từ năm 2011, Bộ Tài chính Việt Nam đã chấm dứt việc công bố nợ với từng nước mà chỉ công bố tổng số nợ nước ngoài. “Bản tin nợ nước ngoài số 7 công bố năm 2011 cho thấy tổng số nợ của chính phủ Việt Nam với Trung Quốc tính đến hết năm 2010 lên đến 552 triệu đô la Mỹ và khoản nợ do chính phủ bảo lãnh là 1,12 tỉ đô la. Như vậy tổng số nợ Trung Quốc tính đến cuối năm 2010 mà chính phủ trách nhiệm là 1,64 tỉ đô la”, ông Việt viết trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn năm 2018. 

Nhưng theo dữ liệu công bố ngày 29 Tháng Chín vừa qua của Trung tâm AidData, Việt Nam đã vay của Trung Quốc $18.37 tỷ trong thời gian 2000 – 2017, trong số này có $16.35 tỷ là vay thương mại và chỉ có $1.37 tỷ là vốn ODA. Việt Nam xếp thứ tám trong các nước vay nhiều vốn Trung Quốc nhất. Khối nợ này cao hơn nhiều lần so với dữ liệu công bố của chính quyền và chiếm khoảng 5.8% GDP của Việt Nam. 

Những quốc gia dính vào bẫy nợ của Trung Quốc, tính theo tỉ trọng GDP – theo khảo sát mới nhất “Global Chinese Official Finance Dataset” của AidData công bố ngày 29 Tháng Chín 2021

Và đây mới chỉ là số nợ tính tới năm 2017. Từ đó đến nay Việt Nam vẫn tiếp tục vay mượn ngày càng nhiều, nhưng việc vay vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund) và Ngân hàng Phát triển châu Á (Asia Development Bank)… đã không còn thuận lợi như trước do Việt Nam không còn được coi là nước cần ưu đãi về tài chính để xóa đói giảm nghèo. Sự thay đổi này khiến Hà Nội không có lựa chọn nào khác là tìm tới nguồn tiền vay từ Trung Quốc.

Ai là người vay nợ của Trung Quốc? Về đại thể, chính phủ Việt Nam thường vay tiền để bù vào khoản thâm hụt ngân sách do thường xuyên chi nhiều hơn thu; chính phủ cũng đứng ra bảo lãnh để các tập đoàn, công ty quốc doanh của nhà nước vay tiền thực hiện các dự án xây dựng hạ tầng hoặc nhà máy xí nghiệp theo các kế hoạch kinh tế mà Hà Nội đề ra. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thường được nói tới như là con nợ lớn nhất và hầu hết các dự án xây dựng nhà máy điện của tập đoàn này đều sử dụng vốn vay của Trung Quốc. Các tập đoàn Hóa chất, Thép, Đường Sắt v.v. và hàng chục tập đoàn công ty khác cũng dựa vào nguồn vốn vay của Trung Quốc. Các “quả đấm thép” – nói theo từ ngữ của cựu Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, hầu như đều làm ăn thua lỗ, đốt tiền như đốt vàng mã nhưng vẫn được chính phủ Hà Nội ưu ái vì cho rằng đó là thành phần kinh tế “chủ đạo” của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Về phía người cho vay, chính phủ Trung Quốc không đứng ra trực tiếp cho vay mà thông qua các ngân hàng của nhà nước, chủ yếu là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Trung Quốc (China Eximbank), Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (China Development Bank) hoặc các tập đoàn tư nhân như Huawei Technologies. Đa số các món nợ do vậy không hiển thị trong sổ sách kế toán chính thức của chính phủ Bắc Kinh và khi xảy ra tranh tụng thì chính phủ Trung Quốc coi như không dính dáng tới.

Dữ liệu AidData ghi nhận có đến $385 tỷ được cho vay dưới hình thức này và gọi số nợ $385 tỷ này là “nợ ngầm” (hidden debt). Các khoản nợ ngầm ngoài sổ sách chứa nhiều nguy cơ cho các nước vay nợ. AidData cũng cho biết trong số nợ thương mại $16.35 tỷ của Việt Nam có một nửa là hidden debt.

Vay nợ của Trung Quốc không hề rẻ. Lãi suất các khoản mà Trung Quốc cho nước khác vay thường ngang với lãi suất thị trường, khoảng 3%/năm, cộng thêm 0.5% phí quản lý, 0.5% phí cam kết, tổng số khoảng 4.0%. Mức tiền lời này cao hơn rất nhiều lần so với lãi suất 0% của Đan Mạch, 0.2% của Tây Ban Nha, 0.6-1.2% của Nhật Bản, 1.04% của Pháp, 0.75% của Đức, 1.75% của Ấn Độ và 0.9% của các tổ chức tài chính quốc tế, theo dữ liệu của tiến sĩ Việt. 

Trung Quốc buộc các nước vay nợ phải thế chấp (cầm cố) bằng tài nguyên khoáng sản, các cơ sở hạ tầng thiết yếu, đất đai và tài khoản ngoại tệ quốc gia để khi không trả được vốn và lãi, Trung Quốc sẽ chiếm các tài sản thế chấp đó để trừ nợ. Trường hợp của Lào cuối năm ngoái phải bán cho một công ty Trung Quốc mạng lưới điện quốc gia với giá $600 triệu sau khi vay tiền Trung Quốc xây dựng tuyến đường sắt Yumo nối Lào với tỉnh Vân Nam Trung Quốc, hay trường hợp của Sri Lanka phải giao cho Trung Quốc cảng Hambantota sau khi vay tiền để mở rộng hải cảng này là những ví dụ về “bẫy nợ” của Trung Quốc.

Và như vừa nói trên, phần lớn tiền Việt Nam vay của Trung Quốc là tín dụng thương mại, nước đi vay phải chịu nhiều điều kiện ràng buộc rất bất lợi, chẳng hạn như phải sử dụng nhà thầu và công nhân Trung Quốc, phải mua thiết bị và công nghệ Trung Quốc – gồm cả những thiết bị và công nghệ mà Trung Quốc thải ra, như trường hợp các nhà máy nhiệt điện đốt than đang được xây dựng ồ ạt ở các tỉnh ven biển Việt Nam. Việc cho phép hàng chục ngàn người lao động Trung Quốc sang Việt Nam “thực hiện dự án”, phần đông đều không trở về nước mà định cư lấy vợ sinh con ở Việt Nam đã và đang đặt ra những nguy cơ tiềm ẩn về an ninh quốc gia và gây phẫn nộ trong dân chúng địa phương.

Đường sắt Cát Linh-Hà Đông do nhà thầu Trung Quốc thực hiện đầy tai tiếng và gây phẫn nộ trong dân chúng. (Ảnh báo Lao Động)

Các nhà thầu Trung Quốc có nhiều tai tiếng về làm chậm tiến độ, nâng giá dự án lên gấp đôi gấp ba, thiếu minh bạch và chất lượng công trình kém cỏi. Công trình đường sắt Cát Linh – Hà Đông ở Hà Nội bị đội vốn từ $419 triệu lên $866 triệu và sau 13 năm vẫn chưa hoàn thành đoạn đường chỉ dài 13 cây số là một ví dụ tiêu biểu cho các dự án vay vốn Trung Quốc khiến dư luận hết sức bức xúc.

Theo AidData, Việt Nam là nước chậm trễ thứ năm trong việc thực hiện các dự án kinh tế sử dụng vốn của Trung Quốc, bình quân mỗi dự án bị chậm trễ 1,783 ngày (4.9 năm); Việt Nam cũng xếp thứ tư trong 10 quốc gia có các dự án đầy “tai tiếng, tham nhũng”.

Theo tiến sĩ Vũ Quang Việt, từ lâu các cán bộ tài chính Việt Nam đã nhìn thấy thực tế đó và “định hướng trong thời gian tới đối với việc vay nguồn tín dụng ưu đãi của Trung Quốc cần được xem xét, cân nhắc”. Nhưng chính quyền Việt Nam chẳng những không xem xét cân nhắc mà càng ngày càng lún sâu vào cái bẫy nợ mà Bắc Kinh đã giăng ra. Tại sao lại như vậy?

Giáo sư Zachary Abuza của Đại học National War College ở Washington D.C. nhận xét, Việt Nam hy vọng gắn bó mật thiết hơn với Trung Quốc sẽ giúp hạn chế hành vi đe dọa, bắt nạt và xâm lấn của Bắc Kinh. Có thể như vậy, nhưng có một lý do khác không kém phần quan trọng là các món vay của Trung Quốc không có ràng buộc về cải cách quản trị, về dân chủ, nhân quyền, về tính minh bạch chống tham nhũng như điều kiện vay vốn từ các nước phương Tây. Nói cách khác, Trung Quốc rất biết lấy lòng các nhà lãnh đạo độc tài. Ngoài ra, các doanh nhân Trung Quốc rất giỏi đút lót, đưa hối lộ cho các quan chức cầm quyền để thực hiện ý đồ; còn các quan chức Việt Nam thì chẳng quan tâm tới phẩm chất dự án hay bẫy nợ mà chỉ cần tiền tham nhũng để vinh thân phì gia trước khi “hạ cánh an toàn”.

Trung tâm AidData cảnh báo nguồn vốn và cho vay của Trung Quốc đang lôi kéo các nước nghèo lảng tránh các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới hay Quỹ Tiền tệ Quốc tế, củng cố các chế độ độc tài, tham nhũng và xói mòn công cuộc dân chủ hóa trên toàn cầu. Ở Việt Nam, món nợ ngày càng lớn với Trung Quốc còn đặt ra nhiều rủi ro chính trị và tác động tới chính sách của Việt Nam trước những hành vi đe dọa, cưỡng bức và xâm lấn của nước láng giềng phương Bắc, nhất là trong vấn đề Biển Đông. Chừng nào Việt Nam còn có đủ tiền trả tiền lời, với lãi suất cao, cho Trung Quốc thì Hà Nội chưa phải lo nghĩ nhiều, nhưng khi kinh tế đình đốn, ngân sách suy sụp như hiện nay thì nguy cơ bị Bắc Kinh “xiết nợ” đã hiển hiện mà Lào và Sri Lanka là những “tấm gương tày liếp”. 

Sợi xích ràng buộc chủ nợ-con nợ cùng với sự tương đồng về thể chế chính trị độc tài đảng trị sẽ khiến Việt Nam khó mà thoát ra khỏi sự khống chế của Trung Quốc, bây giờ và cả trong tương lai.

Nguồn: https://saigonnhonews.com/thoi-su/van-de-hom-nay/trung-quoc-siet-chat-co-viet-nam-bang-bay-no-nhu-the-nao/

CÓ NHỮNG CHUYẾN TÀU – Vi Vân

Vi Vân.

This image has an empty alt attribute; its file name is cong-truong-me-linh-cac-chien-ham-lst-va-pgm-tren-song-sai-gon.jpg

Trời đã chuyển sang mùa Hạ, hoa phượng tím giăng giăng buồn trên các nẽo đường ở miền Nam California. Chiều nay tôi ngồi trong một nhà hàng bên bờ biển Huntington Beach. Ngoài kia biển xanh bao la bát ngát, sóng ầm ỹ xô đuổi nhau từng đợt, bọt biển tung trắng xóa, đàn hải âu xoãi cánh bay lượn trên lưng chừng trời tuyệt vời như một bức tranh, vài chiếc tàu nhấp nhô xa xa… Tôi từng là chứng nhân của bao nhiêu chuyến tàu ra khơi, trở về; cặp bến rồi rời bến. Tôi cũng đã từng làm người đưa tiễn, nhưng tôi luôn luôn đến muộn, không kịp chuyến tàu, chỉ còn biết đứng bơ vơ trên bến vắng ngóng nhìn theo. Hình ảnh những chiếc tàu Hải Quân trắng tinh lướt sóng ngoài khơi trong chiều nắng Hạ đã làm tâm tư tôi xao động, kỷ niệm những ngày tháng cũ bỗng quay về. Ôi! Sóng biển quyến rũ, trùng dương bao la là niềm đam mê muôn thuở của anh nhưng là nỗi đau dài trong suốt cuộc đời tôi. Tôi còn nhớ rất rõ, ngày đó…

Duong Van Ham Da Nang HQ501 ..jpg

Lần đầu tiên tôi được bước lên chiếc tàu biển là lúc tôi 17 tuổi, vào mùa hè của cuối năm Đệ Tam, đó là chiếc Dương Vận Hạm Đà Nẵng HQ 501 đang cặp bến Bạch Đằng. Cậu Tòng tôi là bạn của vị thuyền trưởng nên cậu đã được mời dùng cơm trưa trên tàu, cậu dẫn chị Thiện Linh và tôi đi cùng.

Chị Thiện Linh lúc đó 20 tuổi, đã vào Đại Học, rất xinh đẹp, nói năng duyên dáng, lưu loát…là cây đinh giữa mấy chàng Hải Quân, còn tôi chỉ là cô gái nhỏ bị bỏ quên không ai để ý tới. Có lẽ vì ái ngại cho tôi nên một anh Thiếu Úy trẻ ngồi cạnh tôi tỏ vẻ quan tâm hỏi han tôi vài câu thân thiện. Anh tự giới thiệu:

– Tôi là Phi Đằng, xin được biết tên cô.

Tôi nhìn chàng thanh niên trẻ có gương mặt rất sáng và nụ cười thật tươi, nhỏ nhẹ trả lời:

– Tôi tên Anh Tâm, là cháu của cậu Tòng.

Anh gật đầu:

– Tôi biết, vừa rồi tôi có nghe Thiếu Tá giới thiệu. Hình như cô không phải ở Sàigòn?

– Dạ phải. Tôi chỉ lên Sàigòn vào mùa hè thôi. Gia đình chính của tôi ở Cần Thơ, gia đình ba mẹ nuôi cũng là dì ruột của tôi ở đây. Dì tôi có tới 10 người con, các anh chị đều thương tôi lắm.

Anh nhìn tôi thắc mắc:

– Tại sao lại có chuyện ba mẹ ruột và ba mẹ nuôi vậy?

– Vì lúc trẻ mẹ tôi sinh khó, nuôi con khó, còn dì tôi sinh đẻ dễ dàng và con cái đều mạnh khỏe, dễ nuôi nên mẹ đưa tôi cho dì nuôi. Nhờ vậy sau nầy mẹ tôi sinh thêm mấy em tôi rất tốt. Khi đến tuổi đi học tôi phải trở về sống với cha mẹ ruột, mỗi năm dành mấy tháng hè cho gia đình thứ hai.

Anh mỉm cười:

– Câu chuyện cô cũng thú vị lắm đó. À! Cô ăn thêm đi, có muốn uống chút rượu nhẹ không?

– Dạ không. Cám ơn anh.

Sau buổi cơm trưa anh dẫn tôi đi xem các nơi trên tàu, từ đài chỉ huy trên cao, phòng máy, phòng ăn, nhà bếp, phòng ngủ…Kế đó chúng tôi ra hành lang nhìn xuống mặt sông. Tôi reo lên:

– Ồ! Cao quá. Đứng đây có thể nhìn ra rất xa. Lúc tàu chạy ngoài biển trời nước mênh mông chắc đẹp và lãng mạn lắm phải không anh?

Anh lại cười. Trời ơi, sao nụ cười tươi và dễ mến như thế! Tôi nghĩ không biết có bao nhiêu cô gái đã khổ vì nụ cười nầy. Anh nói:

– Không hẳn như vậy đâu cô bé. Nếu chỉ đi du ngoạn ngắm cảnh thì rất lãng mạn nhưng chúng tôi là lính chớ không phải là những chàng công tử nhà giàu ngồi trên du thuyền hưởng thụ đâu.

Tôi bắt đầu thấy thân thiện với anh nên vui vẻ hỏi chuyện:

– Sao tàu của anh gọi là Dương Vận Hạm, nghe hay quá vậy? Có phải chiếc nào cũng gọi như thế không?

Anh có vẻ thích thú vì câu hỏi của tôi:

– Thấy cô muốn hiểu biết thêm về Hải Quân nên tôi sẽ nói cho cô rõ. Nhưng trước tiên tôi cần cho cô biết một điều là … thật ra, tôi xuất thân từ trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

– Ồ! Sao bây giờ anh là lính biển?

Anh vừa nhìn ra ngoài mặt sông vừa mỉm cười:

– Cũng vì say mê biển cả, muốn dấn thân vào cuộc sống hải hồ nên tôi theo một số bạn bè cùng khóa xin chuyển qua Hải Quân.

– Như thế cũng được sao anh?

– Được chứ, có người còn chuyển qua Không Quân nữa cơ, nhưng chỉ một số ít thôi. Khi được nhận, chúng tôi cũng phải vào Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang học lại như những sinh viên khác vậy.

Tôi ngạc nhiên:

– Như vậy thời gian học tập của anh nhiều quá, có uổng phí ngày tháng không anh?

Anh lắc đầu ngay:

– Không đâu. Càng học tập nhiều, sự hiểu biết càng rộng. Ở trường Võ Bị tôi rèn luyện được một thân thể tráng kiện, một tinh thần kiên cường, một ý chí mạnh mẽ và hiểu biết thế nào là: TỔ QUỐC, DANH DỰ, TRÁCH NHIÊM hoặc TỰ THẮNG ĐỂ CHỈ HUY. Chúng tôi biết tôn sư trọng đạo, biết yêu thương, kính nể bạn đồng môn, đồng khóa…Bên quân trường Hải Quân tôi cũng học được những điều tốt đẹp không kém. Phải nói tôi là kẻ có nhiều may mắn hơn bạn bè.

Một cô bé như tôi không hiểu nhiều về việc nhà binh lắm nhưng nghe anh nói tôi rất hâm mộ và nể phục anh, tôi thầm nghĩ đây mới thật là người thanh nhiên hoàn hảo, lòng thấy có nhiều thiện cảm với anh. Tôi bỗng nhớ ra:

– À! Anh đã quên câu hỏi vừa rồi của tôi? Các tàu đi biển đều có cùng tên sao?

Tuan duong ham HQ2, HQ6 va HQ5

– Không đâu, để tôi nói sơ sơ cho cô nghe nhé! Hải Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà có nhiều loại tàu lớn nhỏ đủ cở, được phân chia ra nhiều loại, được mang nhiều tên khác nhau như:

– Khu Trục Hạm như chiếc HQ 1, HQ 4…
– Tuần Dương Hạm HQ2, HQ3, HQ 5, HQ 15…
– Hộ Tống Hạm HQ 06, HQ 07, HQ 10…
– Trợ Chiến Hạm HQ 225, HQ 226, HQ 227…
– Giang Pháo Hạm HQ 328, HQ 329, HQ 331…
– Trục Lôi Hạm HQ 114, HQ 115, HQ 116…
– Tuần Duyên Hạm HQ 605, HQ 607, HQ 608…
– Dương Vận Hạm HQ 500, HQ 501, HQ 502…
– Yểm Trợ Hạm HQ 800, HQ 801…
– Cơ Xưởng Hạm HQ 802.
– Bệnh Viện Hạm HQ 400, HQ 401…
– Hải Vận Hạm HQ 402, HQ 403, HQ 404…
– Hoả Vận Hạm HQ 470, HQ 471, HQ 477…
– Huấn Luyện Hạm HQ 451.

Ngoài ra còn có những chiếc Duyên Vận Hạm, Giang Vận Hạm…

Tôi lắc đầu kêu lên:

– Trời ơi! Anh nói tôi không thể nhớ hết. Cái gì mà nhiều tên, nhiều thứ quá vậy?

Anh cười:
– Ồ, tôi quên. Cô làm sao nhớ được và chắc cô cũng không có hứng thú khi nghe tôi nói phải không?
– Xin lỗi anh, tôi biết đó là niềm hãnh diện của các anh. Tuy tôi không nhớ hết nhưng ít ra tôi cũng biết là tôi đang đứng trên chiếc Dương Vận Hạm 501 của anh. Tôi cũng rất hân hạnh được quen biết anh hôm nay, mong có dịp gặp lại.

Mắt anh nhìn ra xa:

– Tôi cũng mong như vậy.

Có tiếng cậu Tòng gọi tôi, anh có vẻ lưu luyến từ giã tôi và hẹn gặp lại lần sau. Một buổi trưa đầy ý nghĩa, một kỷ niệm khó quên với chàng trai của biển, tuy mới quen nhưng chúng tôi cảm thấy như đã là bạn bè từ lâu rồi vậy. Trời mới bắt đầu vào Hạ nắng chưa gay gắt, mây trắng bồng bềnh trôi trên nền trời xanh bao la, tôi bỗng thấy tâm hồn mình thư thái, êm đềm, mát dịu như cơn gió nhẹ thổi lên từ dòng sông.


* * *

Chiều cuối tuần tôi và chị Thiện Linh lang thang trên đường Hàm Nghi. Mây xám giăng giăng trên bầu trời Sàigòn, gió chiều lồng lộng, tôi chợt thấy buồn vu vơ. Chị Linh nắm tay tôi chen ra khỏi giòng người xuôi ngược. Bỗng từ xa tôi thấy một người đi nhanh về phía chúng tôi, người đó là Đằng, chàng Thiếu Úy Hải Quân mà chúng tôi mới gặp mấy hôm trước. Anh mừng rỡ, vồn vả với chúng tôi như người thân thuộc. Tôi thấy chị Linh vui nhiều so với vài hôm trước khi chị có việc giận hờn cùng bạn trai là anh Gilbert đang du học ở Tây Đức. Anh Đằng thả bộ cùng chúng tôi một lúc rồi anh mời chị em tôi vào quán cà phê gần đó. Đằng và chị Linh nói chuyện với nhau có vẻ tâm đắc lắm.

Khi chúng tôi trở về nhà, tôi ngạc nhiên vì nghe chị Linh nhắc về anh Đằng mãi, tôi hỏi chị:

– Chị à, chị và anh Gilbert chỉ giận nhau thôi hay đã dứt khoát rồi? Sao chị nhắc anh Đằng hoài vậy? Trong lòng chị hiện giờ ai quan trong hơn?

– Chị cũng không biết nữa. Có điều khi nói chuyện với anh Đằng chị thấy rất vui mặc dù mới quen. Thôi suy nghĩ nhiều làm gì, vui được thì cứ vui đi. À, anh Đằng có hẹn tối mai mình đi phòng trà Olympia chơi, mẹ chị có thẻ 20% bớt giá của bà chủ tặng, chị sẽ mang theo. Chị có nói anh dẫn thêm một người bạn để em và chị đi chung cho vui.

– Em không muốn đi đâu. Chị kêu anh Đằng dắt thêm bạn tức là chị định đẩy em cho anh chàng nào đó sao? Em không cần đâu.

Chị Linh ôm vai tôi:

– Thôi mà em, đừng giận chị. Vài ngày sau là tàu anh Đằng rời bến rồi không biết bao lâu mới trở về, coi như mình tiễn ảnh vậy.

– Ảnh sắp đi rồi sao? Vậy thì em đi, coi như chào tạm biệt anh ấy.

Chị gật đầu:

– Ừ! Vậy mới được chứ!

Lòng tôi chợt trĩu buồn. Thật lạ, chị Linh và Đằng mới gặp nhau nhưng sao họ mau thân thiện quá vậy? Không lẽ họ bị “ tiếng sét ái tình” rồi sao? Không thể nào chị Linh xa anh Gilbert được. Anh Gilbert và chị quen nhau từ nhỏ, anh đang học ở nước ngoài, là bác sĩ trong tương lai, có lý do gì để chị phụ anh ấy? Bao nhiêu câu hỏi ẩn hiện trong đầu nhưng tôi ngại hỏi chị, sợ chị hiểu lầm, thật tình tôi không muốn chị thân mật với anh Đằng vì tôi quen anh trước chị mà.

Đêm hôm sau đó, trước mặt tôi là anh Quý, một thanh niên trẻ, bạn anh Đằng. Anh Quý là bạn cùng khóa Võ Bị với anh Đằng, đang phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù ở trại Hoàng Hoa Thám. Anh rất lịch thiệp, rất vui vẻ nhưng tôi chỉ nhìn thấy hình ảnh anh Đằng và chị Thiện Linh trong những điệu nhảy khắng khít, đắm say. Anh Quý mời tôi nhảy nhưng tôi từ chối với lý do nhức đầu. Tôi ngồi im, bất động. Trên sân khấu một giọng ca nữ cất lên, bài hát buồn và nức nở như tiếng khóc của một người con gái, bài “ Quand le film est triste”. Bài nầy tôi đã nghe Sylvie Vartan hát mấy lần rồi nhưng sao hôm nay tôi thấy thật hay và thấm thía như nỗi buồn trong lòng tôi …

“ Quand le film est triste, ca m’a fait pleurer.
Ce soir j’ai du travail, il m’a dit vas sans moi. Je m’en suis allée toute seule au cinéma. Les actuallités venaient de commencer. Au bras de mon meilleur amie il est arrivé. Ils sont passés tous les deux sans me voir. Et devant moi, il sont venus s’asseoir
J’ai cru mourir car ils se sont embrassés. Oh beau milieu du dessin animé, moi j’ai pleuré.
Oh, Oh, Oh! Quand le film est triste, ca m’a fait pleurer…”

Mắt tôi bỗng cay sè, tôi đòi uống rượu nhưng anh Quý cản lại:

– Em còn nhỏ không được uống đâu. Uống nước ngọt đi.

Rồi anh kề tai tôi nói nhỏ:

– “Cô bé ngốc” nầy làm sao vậy? Buồn lắm phải không? Nhìn qua là anh biết chuyện gì rồi.

Tôi nổi nóng:

– Ai cho anh kêu tôi là cô bé ngốc? Anh nói gì lung tung vậy? Nhưng tôi… ngốc thật phải không anh?

– Ờ, đúng vậy.

Mắt tôi chợt ướt không biết vì sao. Anh Quý lắc đầu nói với chị Linh:

– Để tôi đưa Anh Tâm về nhà trước nhé! Cô bé nhức đầu rồi.

Chị Linh ái ngại:

– Hay để Linh về luôn.

– Không, Linh ở lại với Đằng đi. Tôi bảo đảm đưa cô bé về an toàn.

Nói xong anh kéo tay tôi ra cửa:

– Ra đây với anh. Anh dẫn em ra Chợ Cũ ăn bò viên nhé? Như vậy vui hơn. Ở đây không thích hợp với em đâu.

– Sao anh tốt với tôi quá vậy?

– Vì anh xem Tâm như em gái anh vậy, bằng lòng không?

– Dạ, thì…cũng được.

Anh Đằng chạy theo, rút một mảnh giấy từ túi áo ra nhét vào bóp tôi, có lẽ anh đã viết sẵn rồi. Tôi không muốn nghĩ ngợi gì nữa, cứ thờ thẩn đi theo anh Quý. Tôi thấy tủi thân vô cùng, có cảm giác như kẻ bị bỏ rơi. Không ai hiểu được tâm tình của cô gái 17 tuổi và chính tôi cũng không hiểu rõ lòng mình tại sao, vì sao như thế. Trong đầu óc tôi cứ mãi nghĩ đến anh Đằng. Rồi mai đây tàu anh rời bến, anh sẽ ra đi, bao giờ gặp lại? Anh vượt ngàn trùng hải lý để rời xa một bờ bến nhỏ anh không muốn ghé, anh muốn cặp vào một bến khác thơ mộng hơn, đẹp đẽ hơn. Tôi bỗng thấy đêm Sàigòn buồn lê thê và gió ngoài sông thổi về mang theo nhiều giá lạnh.

Anh Quý đưa tôi về nhà, chị Linh vẫn chưa về. Tôi uể oải mở tờ giấy anh Đằng bỏ vào bóp tôi lúc tối, trong đó anh hẹn tôi sáng mai lúc 9 giờ trước cửa rạp Rex, anh có việc cần nói với tôi. Tôi nghĩ thầm : nói gì đây chứ? Tôi và anh chẳng là gì cả, và anh cũng đã thân thiện với chị Linh rồi. Tôi đi ngủ và tự nhủ mình sẽ không đi gặp anh làm chi.

Khi tôi mở mắt ra đã 8 giờ sáng, chợt nhớ lời anh tôi phân vân suy nghĩ. Sau một lúc đắn đo tôi quyết định đi gặp anh để xem anh muốn nói gì. Tôi kêu taxi đến rạp Rex hơi sớm nhưng Đằng đã đúng ở đó rồi. Thấy tôi anh chạy đến ân cần:

– Em đến sớm quá.

– Anh còn sớm hơn mà.

Anh cười chỉ tay về phía trước:

– Anh để xe đằng kia. Hôm nay anh đưa em đi Thủ Đức chơi và anh cũng muốn nói chuyện với em nhiều hơn.

Tôi từ chối:

– Em không thể đi được, anh có cần nói gì với em thì nói và cho em về nhà sớm.

Đằng nhìn tôi hơi chút ngạc nhiên:

– Làm gì mà gấp vậy? Thôi được, giờ anh đưa em ra chợ Bến Thành nhờ em mua cho anh vài thứ để anh mang theo tàu. Sau đó anh chở em đi ăn cơm, sẽ nói chuyện với em, rồi đưa em về được không?

– Dạ, vậy cũng được.

Sau khi tôi mua giùm anh vài vật dụng cần thiết cho một chuyến hải hành dài, anh đưa tôi ăn cơm trưa ở nhà hàng Thanh Thế. Những lời anh muốn nói với tôi hôm nay là đính chính cho sự hiểu lầm của tôi vào đêm hôm trước. Anh bảo vì nghe chị Thiện Linh có chuyện buồn nên anh cố làm cho chị vui chớ anh không có tình ý gì với chị. Tôi nhìn vào mắt anh thật lâu, tôi muốn tìm hiểu vì sao anh lại nói với tôi những điều đó, tại sao anh lại đính chính. Tôi hỏi anh:

– Anh nói với em những việc đó để làm gì?

– Vì anh không muốn em hiểu lầm. Anh chưa dám hứa điều gì nhưng anh cảm thấy anh hợp với em hơn, anh mến em hơn. Ít ra trong giờ phút nầy chúng ta cũng coi như bạn thân, có được không em? Mình bắt đầu từ một TÌNH BẠN nhé?

Tôi lặng thinh, chẳng biết trả lời sao trước mặt người con trai mà lòng mình đã lưu luyến ngay từ phút ban đầu. Đằng đưa tôi về, trước khi vào nhà anh nói:

– Ngày mai tàu anh đi rồi. Em có muốn ra bến tàu tiễn anh không, cô bạn nhỏ của anh?

Tôi không trả lời anh, đưa mắt nhìn lên hàng me xanh biếc, vài lá me rơi lác đác trên áo tôi sau cơn gió nhẹ thoảng qua. Tôi chợt nghe lòng mình đang bồi hồi xao xuyến.

Suốt đêm tôi thao thức, ngủ trễ nên hôm sau khi bừng mắt ra thì đã hơn 9 giờ sáng. Tôi kêu xe chạy nhanh ra bến Bạch Đằng hy vọng còn kịp tiễn anh ra khơi nhưng đã muộn. Tàu anh đã chạy ra giữa sông Sàigòn, chỉ còn những cái vẫy tay lưu luyến của kẻ ở lẫn người đi.Tôi nghe như có chút nghèn nghẹn trong lòng, có chút buồn buồn trong mắt, một chút hối tiếc bâng khuâng…


* * *

Tôi trở về Cần Thơ để bắt đầu cho niên học kế tiếp. Trong lúc tôi đang hoài nghi về tình cảm của anh dành cho tôi thì tôi nhận được lá thư đầu tiên của anh viết từ Nha Trang. Trong thư anh chỉ nói về biển xanh cát trắng của miền thùy dương và nỗi cô đơn, nhung nhớ vu vơ của người lính biển. Đến lá thư thứ hai anh dần dần đem sự nhớ mong hướng về một người con gái mới quen. Rồi lá thư thứ ba, thứ tư, thứ năm …tình cảm anh vẫn trao về người con gái ấy, tôi đã ngầm hiểu anh muốn nói đến tôi. Dù nhung nhớ ngập tràn trong thư nhưng anh vẫn chưa thẳng thắn nói ra ba chữ : Anh yêu em, I love you, Je t’aime… Riêng tôi cũng chưa dám chấp nhận anh vì tôi rất sợ sự bay bướm, hào hoa của lính biển. Tôi sợ anh làm tổn thương trái tim non nớt của tôi. Thư viết trả lời anh tôi cho anh biết tôi cũng buồn và nhung nhớ mông lung, nhưng tâm trí tôi đang dành trọn cho mùa thi sắp đến.

Một buổi chiều trước khi vào lớp học Hội Việt Mỹ, tôi đang đứng nói chuyện với Bình và Hiếu hai người bạn cùng lớp thì có người bước tới trước mặt tôi nói lớn:

– Anh Tâm, đi theo anh về nhà.

Tôi nhận ra anh Đằng nên mừng rỡ:

– A! Anh Đằng. Sao anh đến đây giờ nầy?

– Anh đến đón em. Sao không vào lớp mà đứng đây “nhiều chuyện” quá vậy?

Tôi phụng phịu:

– Cái anh nầy, tự nhiên ở đâu về không báo trước gì hết rồi mắng người ta “ nhiều chuyện” chứ? Mà anh về hồi nào? Sao biết em ở đây?

– Tàu anh mới vừa cặp bến. Trong thư trước không phải em có nói với anh là mỗi thứ hai, thứ tư, thứ sáu, em có lớp ở Hội Việt Mỹ lúc 6 giờ chiều sao?

Hai người bạn tôi thấy thái độ không vui của Đằng lẵng lặng bỏ đi mất. Mặc dù anh làm tôi hơi giận một chút nhưng tôi thật vui mừng vì sự xuất hiện của anh. Đằng cho biết anh đã đổi qua một chiếc tàu khác, đó là chiếc Giang Pháo Hạm Thần Tiễn HQ 328, tàu nầy tung hoành trên khắp vùng 4 sông ngòi. Anh nhìn tôi nói như lời tâm sự:

– Anh vẫn say mê biển cả, nhưng đời anh cứ lênh đênh từ các bờ biển miền Trung, từ đại dương mênh mông đến những sông ngòi, kênh rạch của vùng Cửu Long Giang… Nay ghé bến nầy, mai dời bến khác, bạn quen sơ giao thì nhiều, chưa biết ai thật lòng với mình nên anh thấy cô đơn thiếu vắng vô cùng, anh mong sao…

Tôi ngắt lời anh:

– Thôi đi ông ơi, có ma tin ông chớ ai tin. Mấy ông Hải Quân nổi tiếng đa tình, mỗi bến nước một mối tình, rồi ra đi không bao giờ quay về bến cũ. Đừng làm bộ gạt con nít nữa.

Anh trố mắt nhìn tôi:

– Cái cô nầy hay nhỉ? Ngày thường nhu mì, hiền thục sao giờ lại chua như giấm thế?

– Tại anh nói nghe “ chướng tai” quá nên em không nhịn được.

Anh bật cười:

– Bây giờ tôi mới biết rõ cô đấy nhé!

Tôi không chịu thua:

– Anh còn nhiều điều chưa biết về em đâu.

Anh chợt nghiêm mặt lại:

– Thôi không đùa nữa. Hôm nay anh ghé thăm em, ngày mai tàu anh sẽ đi Cà Mau. Gặp lại thấy em vui, khỏe và đang cố gắng học anh rất mừng. Anh biết năm nay em bận học thi Tú Tài I, cố gắng lên nhé! À, hè nầy em có về Sàigòn không?

– Chắc không anh ạ! Em bận lắm. Anh biết chị Thiện Linh của em đính hôn với anh Gilbert rồi phải không? Anh ấy đã về nước.

– Anh đã biết khi anh cặp bến Sàigòn lần trước. Anh mừng cho cô ấy, còn em thì…bao giờ?

Tôi cười nhẹ:

– Anh nói giỡn sao? Em còn nhỏ chưa học hành tới đâu mà. Vả lại ai thích cô bé nhà quê như em hả anh?

Anh chợt nắm tay tôi:

– Nếu có người thích thì em nghĩ sao?

Tôi hơi bối rối khi biết anh chọc mình:

– Có ai nói gì đâu mà em biết.

Anh chợt thở dài:

– Anh không có thì giờ ở đây lâu, em nghỉ buổi học tối nay được không? Anh có nhiều chuyện muốn nói với em.

Tôi làm sao từ chối anh được vì dù tôi cố gắng không dám tỏ thật lòng mình nhưng tự đáy tim tôi hình bóng anh đã ngự trị từ lâu rồi. Tôi đành phải “cúp cua” để đi cùng anh. Đằng hỏi tôi:

– Mình đi ăn được không em? Anh chưa ăn gì cả.

– Tùy anh, em ăn rồi . Anh cứ ăn và em sẽ ngồi nhìn anh thôi.

Đằng và tôi đến một quán ăn bên bờ sông Ninh Kiều gần Bộ Chỉ Huy Hải Quân vùng 4 Sông Ngòi, nơi tàu anh đang neo bến. Đằng kêu thức ăn, tôi ngồi trước mặt anh với ly nước ngọt. Nhìn anh tôi thấy một niềm vui vô hạn. Tôi thật sự đã cảm mến anh rồi, không thể dối lòng mình được nữa. Nếu lần nầy anh hỏi ý tôi chắc tôi sẽ chấp nhận dù có linh cảm rằng mai nầy mưa gió bão bùng sẽ ngập kín đời tôi.

Ngoài kia đêm dần xuống, thành phố lên đèn. Ánh điện phản chiếu toả sáng lấp lánh, chập chờn trên dòng sông Hậu. Điệu tình ca buồn từ một quán nước nào đó theo cơn gió bay xa, dòng sông rì rào, thủ tỉ chuyện yêu đương, đêm Tây Đô huyền ảo mơ màng như ru hồn viễn khách dật vờ say cơn mộng. Tôi ước gì đêm nay dài vô tận, đêm trùng phùng đầu tiên của anh và tôi tuyệt vời làm sao, khó phai nhạt ở mai sau. Đằng vẫn ngồi đó trong tư thế chửng chạc, nghiêm trang. Mắt anh hướng về tôi, lời nói nhiều ở đầu môi nhưng tôi mơ màng nghe không rõ, chỉ loáng thoáng biết hình như anh đang tỏ tình cùng tôi và hy vọng có một tương lai tươi đẹp cho hai đứa. Lời cuối cùng anh hỏi “ em có bằng lòng không, ” tôi nhớ mình đã gật đầu. Bỗng nhiên tôi giật mình hỏi lại anh:

– Ồ! Xin lỗi, anh vừa nói gì?

– Em đã bằng lòng rồi, anh không lặp lại đâu.

Trời ơi! Tôi đã bằng lòng với anh chuyện gì chứ? Hứa làm người yêu của anh hay hứa sẽ làm vợ anh? Tôi tự trách mình vô ý quá. Nhưng không sao, dù gì lòng tôi cũng đã hướng về anh rồi, tôi không hối hận. Chúng tôi rời tiệm ăn bên bờ sông đi ngược lên thành phố. Khi đi ngang Câu Lạc Bộ Sĩ Quan anh đề nghị:

– Chúng ta vào đây nghe nhạc được không em?

– Dạ, tùy anh.

Anh nhìn tôi cười:

– Sao lúc nào em cũng có hai chữ “ tùy anh” hoài vậy?

– Vì em muốn anh vui, không muốn trái ý anh mà.

Anh vỗ đầu tôi rồi kéo tay tôi bước vào Hội Quán. Bên trong hầu hết là những cặp tình nhân trẻ, ban nhạc đang chơi nhạc nhẹ, lãng mạn và nhiều cặp đang trên sàn nhảy. Chúng tôi tìm một bàn ở cuối phòng để tránh gặp người quen quấy nhiễu thời giờ ít ỏi đang có. Trên kia một chàng ca sĩ đang giận hờn trách móc người yêu:

“ …Biết bao lần em đã hứa, hứa cho nhiều rồi lại quên, anh biết tin ai bây giờ?… Nầy em hỡi con đường em đi đó, con đường em theo đó đúng hay sao em? Xa nhau rồi Thiên Đường thôi lỡ, cho thần tiên chấp cánh xót đau người tình si…”*

Đằng nhìn tôi nheo mắt:

– Anh hy vọng em không phải là người con gái đó.

– Anh nói gì vậy, lãng xẹt hà!

Ly rượu chát trên tay Đằng vơi cạn, tôi cũng thấy hồn như chấp cánh bay lên cao, chúng tôi rời Hội Quán. Đằng đưa tôi về nhà bằng những bước chân khua buồn trên đường phố. Anh đùa:

– Buổi học ở Hội Việt Mỹ của em tối nay phải làm bài nhiều quá nhỉ?

– Lỗi tại anh, giờ còn chọc em nữa sao.

Đằng nghiêm chỉnh lại:

– Ráng chờ anh nghe Tâm, dù đi xa đến đâu anh cũng sẽ quay về. Lần tới anh sẽ nói với em một chuyện thật quan trọng, nghiêm túc. Bây giờ mình không đủ thì giờ, anh không muốn nói ra trong lúc gấp gáp thế nầy.

Chúng tôi đi qua nhiều con phố, cả hai im lặng thật lâu, sầu dâng đầy trong mắt. Cơn gió đêm lành lạnh làm tôi chợt rùng mình,

Đằng bỗng đưa tay ôm choàng tôi và nói:

– Em lạnh phải không? Anh không có áo khoác cho em nên đành thế nầy vậy nhé!

Tôi nghe hơi thở nồng nàn từ anh, tim tôi dường như sai nhịp đập, tôi như người mộng du chỉ biết bước theo anh. Ước gì thời gian ngừng đọng lại để tôi được ở mãi bên anh! Nhưng sáng mai tàu anh rời bến, lại một lần nữa tiễn đưa, em sẽ đến thật sớm để kịp tiễn anh, để kịp nhìn tàu anh ra khơi, để kịp vẫy tay chào tạm biệt.

Trên trời cao có vì sao cô đơn le lói trong đêm tối, không gian im vắng lạ thường. Tôi nghe một chút nghèn nghẹn trong lòng và có những giọt nước từ đâu vừa rớt xuống mi tôi.

Sáng hôm sau tôi ra bến tàu thật sớm, không thấy chiếc HQ 328 của anh đâu cả, một chiếc Giang Thuyền nằm ngay vào chỗ tàu anh hôm qua, tôi biết là tôi đã một lần nữa trễ hẹn. Tàu anh đã ra khơi, rời khỏi thành phố Cần Thơ xuôi theo dòng Đại Ngãi… xuống tận Cà Mau. Tôi đứng thật lâu trên bến, mắt hướng nhìn sông Bassac rầm rì bủa sóng ngoài xa, một vùng trời nước mênh mông, một hình ảnh thân quen của những người lính thủy, có anh trong đó. Tôi lửng thửng ra về lòng ngập tràn ưu tư khó tả.

* * *

Hai tuần trôi qua tôi chẳng được tin tức gì về anh cả. Lòng tôi hồi hộp lo âu không xiết, tôi linh cảm có điều gì không tốt đã xảy ra với anh. Tôi tìm anh Điệp là anh họ của tôi đang làm việc tại Bộ Chỉ Huy Hải Quân vùng 4, nhờ anh hỏi thăm về chiếc tàu anh Đằng. Anh Điệp cho biết chiếc HQ 328 khi đang thi hành nhiệm vụ trên sông Ông Đốc đã bị một trái B40 của địch bắn trúng, có một sĩ quan tử thương hai thủy thủ bị thương. Trong lúc tôi đang hoảng sợ, lo lắng hoài nghi thì cũng vừa nhận được thư anh Quý, anh báo tin Đằng đã đền xong nợ nước trên sông Ông Đốc ở Cà Mau, anh bảo khi nào tôi về Sàigòn anh sẽ dẫn tôi đi thăm mộ Đằng. Không còn nghi ngờ, lầm lẫn gì nữa, thật sự anh đã vĩnh viễn ra đi rồi. Tim tôi đau nhói như vừa bị một nhát dao nhọn đâm bất ngờ, tôi tưởng mình đang giữa cơn mơ, tôi không dám tin đó là sự thật. Mới hai tuần trước anh còn ở đây, còn mắng tôi “ nhiều chuyện” cùng bạn học, còn cùng tôi nghe nhạc, còn đưa tôi về qua những con đường im vắng. Anh hứa lần sau trở về sẽ nói một chuyện thật quan trọng và nghiêm túc với tôi, nhưng anh chưa kịp nói, tôi cũng chưa được nghe…

Tôi đứng lặng yên một mình trên bến Ninh Kiều, mắt đăm đăm nhìn về phía trước của Bộ Chỉ Huy Hải Quân. Vẫn còn đó những con tàu lớn, nhỏ neo trên bến nhưng vắng bóng tàu anh. Anh đâu rồi? Trùng dương bao la réo gọi, sông nước dạt dào muôn thuở đợi chờ. Ước mơ, đam mê của anh đó! Và người em nhỏ đang chờ anh trên bến cũ, dù đã mấy lần lỡ chuyến tiễn đưa, vẫn chờ lời hứa hẹn của anh với đôi mắt buồn đọng lệ. Anh đã bỏ tất cả rồi sao?

Đằng ơi! Con tàu nào đưa anh rời bến? Dòng sông nào khóc chuyện biệt ly? Ôi! Những chuyến tàu không có em cùng anh xuôi ngược. Ôi! những chuyến tàu đi mãi không về. Chuyến tàu cuối cùng anh đi có phải là chuyến tàu định mệnh của chúng ta không? Vì mình sẽ không bao giờ còn gặp nhau trên bến đợi. Còn nỗi đau nào dành cho em nữa không anh? Vết thương nầy sẽ theo em trong suốt cuộc đời buồn, khó thể mờ phai.

Đằng ơi! Đằng ơi! Em gọi tên anh giữa tiếng rầm rì của dòng sông đang tiếc thương, đưa tiễn một người về với thiên thu:

Một chuyến ra khơi vĩnh biệt rồi
Tôi thầm gọi mãi cố nhân ơi!
Gửi anh tha thiết lời tâm sự
Thả cánh thư buồn theo sóng trôi…

Vi Vân.

* Bài không tên cuối cùng- Vũ Thành An.

Nguồn: http://batkhuat.net/van-conhung-chuyentau.htm

TIỂU ĐOÀN 39 BIỆT ĐỘNG QUÂN – Vũ đình Hiếu

Fred Caristo, TĐ37, LĐ1/BĐQ

VŨ ĐÌNH HIẾU

huy hieu bdq mau nguy trang

Lời tường thuật dưới đây đăng trên báo Stars and Stripes, ngày 2 tháng 6, 1965 .“Viên đại úy Hoa Kỳ đã trúng đạn tử trận ngay từ lúc bắt đầu trận đánh. Người trung sĩ bị thương trong đêm. Trực thăng không thể bay vào khu vực đang bị tấn công để di tản anh ta, và anh ta bị trúng đạn chết trong đợt tấn công cuối cùng của địch. Lời báo cáo cuối cùng của anh ta trên hệ thông truyền tin là, tuyến phòng thủ sắp sửa bị địch tràn ngập (overrun). Thi thể “bầy nhầy” của hai quân nhân Hoa Kỳ cho biết, họ bị địch quân “bắn cho hả giận” sau khi đã chết, nhưng không bị phanh thây, như thân xác của binh sĩ biệt động quân Việt Nam. Nhiều xác chết bị mổ bụng, gương mặt vẫn còn đậm nét hãi hùng, đau đớn trong những giây phút cuối của cuộc đời. Một thiếu úy biệt động quân không có mặt lúc tiểu đoàn bị tấn công, vào vùng hành quân để đem xác về, than rằng “Tiểu đoàn đâu rồi? Hiện giờ, tôi không có tiểu đoàn. Tiểu đoàn tôi đã chết”. Bài báo kết thúc câu chuyện về tiểu đoàn 39/BĐQ.

Bản báo cáo “Sau cuộc Hành Quân” (AAR – After Action Report), gửi đến cho gia đình quân nhân tử sĩ của trung sĩ TQLC, dựa vào những điều sau đây: Những cuộc phỏng vấn với một thiếu tá, một đại úy lục quân (cả hai người được dấu tên), và ba biệt động quân Việt Nam tham dự trận đánh. Họ kể lại như sau: VC giết tù binh bị thương. Người trung sĩ TQLC bị thương ở đùi, và vài viên đạn bắn vào đầu (bắn sau khi đã chết).
Bản báo cáo cũng cho biết, có một “sĩ quan liên lạc” bên cạnh viên trung sĩ TQLC trong suốt trận đánh, rồi sau đó bỏ rơi người trung sĩ, chạy một mình trước đợt tấn công cuối cùng của địch. Ngoài ra, bản báo cáo có nói rằng, khoảng thời gian sau nửa đêm ngày 31 tháng Năm, viên trung sĩ TQLC đề nghị “nếu, họ có thể cho một trực thăng vào, đó là điều tốt để di tản anh ta và đem về được xác viên đại úy đã trúng đạn chết ngay từ lúc đầu”
Trong tháng Hai năm 2002, tôi liên lạc được với người con gái của cố trung sĩ Willie D. Tyrone, người chiến binh TQLC đã hy sinh, 37 năm về trước trong quận Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Donna Tyrone lúc đó được ba tuổi khi cha cô ta, trung sĩ Tyrone tử trận. Cô ta có nêu vài câu hỏi, muốn biết sự thực, những gì đã xẩy ra cho người cha trong ngày lễ Tưởng Niêm, năm 1965.
“Tại sao bài biết trên báo Stars and Stripes năm 1965, bỏ tên cha cô ta (Tyrone) ra ngoài?”, “Tại sao TQLC/HK lại làm việc trong một đơn vị Lục Quân Việt Nam (Biệt Động Quân)?”, “Ông ta bị mưu sát? Như một vài người bạn đã đặt giả thuyết với cô ta”, “Tại sao cha cô ta không được tản thương?, khi biết rằng ông ta đã bị thương”, “Tại sao người sĩ quan Liên Lạc bỏ chạy, bỏ rơi cha cô ta cho đợt thảm sát cuối cùng?”, “Cha cô ta có xứng đáng được ân thưởng Huy Chương Danh Dự không? Như một số người đề nghị”, và còn nhiều câu hỏi khác nữa.
Quân Việt Cộng tấn công quận Sơn Tịnh vào đêm 29 tháng Năm, năm 1965. Trong kế hoạch, địch sẽ nhử cho quân đội VNCH đổ quân trên con đường đi từ thành phố Quảng Ngãi đến quận Sơn Tịnh. Họ sẽ tổ chức phục kích đánh tan các đơn vị VNCH trước khi vào đến trận điạ.
Đại úy Wallace, cố vấn trưởng tiểu đoàn 37/BĐQ ra lệnh cho tôi, sĩ quan phụ tá cố vấn trưởng, làm nhiệm vụ liên lạc trong bộ chỉ huy hành quân, đặt tạm trong phi trường Quảng Ngãi.
Khi đến bộ chỉ huy hành quân, tôi được lệnh “ứng chiến”, đi theo tiểu đoàn 39/BĐQ. Lý do, “Họ” (cấp chỉ huy Hoa Kỳ) muốn tôi đi thay cho đại úy Christopher O’Sullivan, cố vấn trưởng tiểu đoàn 39/BĐQ (vị đại úy tóc vàng trong tờ Stars and Stripes) là vì ông ta đi phép (R&R) mới trở lại đơn vị, vẫn còn “mới” cho một cuộc hành quân có “tầm vóc” cỡ lớn. Tôi đang xếp ba lô, chuẩn bị đi theo tiểu đoàn 39/BĐQ… thì vị đại úy “đẹp trai, tóc vàng” xuất hiện. Ông ta có vẻ tự tin và hãnh diện làm việc trong tiểu đoàn BĐQ, chống lại lệnh hoán đổi của cấp chỉ huy “Khi nào đại úy O’Sullivan này có mặt ở Việt Nam, không ai có thể thay thế ông ta trong tiểu đoàn 39/BĐQ”. Dó đó, đại úy O’Sullivan, trung sĩ nhất Tyrone lên trực thăng đi vào lịch sử…
Khi vừa vào vùng hành quân, đại úy O’Sullivan trúng một viên đạn vào đầu, chết ngay tức khắc. Trách nhiệm liên lạc, phối hợp hỏa lực nay chồng chất lên đôi vai trung sĩ Tyrone và anh ta là người Hoa Kỳ duy nhất trên trận điạ trong suốt cuộc hành quân. Đến đây có một câu hỏi đáng được nêu lên, trong khi trận đánh đang xẩy ra: Toán cố vấn của tỉnh Quảng Ngãi đâu? Và toán cố vấn của hai tiểu đoàn bộ binh? Đôi khi cứ để câu hỏi đó không có câu trả lời tốt hơn!
Trên bầu trời lúc đó có trực thăng chỉ huy và hai chiếc “gunships”, nhưng không dám bắn yểm trợ vì khoảng cách giữa địch và ta rất gần. Khi chiếc C&C báo tin đại úy O’Sullivan đã tử trận, mọi người Hoa Kỳ trong bộ chỉ huy hành quân sửng sốt. Chris (Christopher O’Sullivan) là người rất tốt, anh ta mất đi để lại vợ và các con ở Astoria, New York. Vấn đề bây giờ là làm sao đem trung sĩ Tyrone ra khỏi trận điạ, anh ta báo cáo bị thương nơi vai trái.
Một lần nữa, tôi được lệnh sẵn sàng “lên đường”, nhưng trời xẩm tối nhanh chóng nên đình lại. Lúc đó trung sĩ Tyrone tiếp tục báo cáo cho biết, tiểu đoàn 39/BĐQ không còn khả năng tác chiến cấp đơn vị nữa. Tiểu đoàn bị phân tán ra thành nhiều toán nhỏ vẫn tiếp tục chiến đấu, và đạn dược đã gần hết.
Tình trạng nơi bãi chiến trường trở nên bết hơn, mấy chiếc trực thăng báo cáo đã gần hết nhiên liệu, và khi họ rời chiến trường, trung sĩ Tyrone sẽ không còn liên lạc được nữa. Lệnh cho mấy chiếc thăng quay trở về phi trường Quảng Ngãi lấy nhiên liệu thay vì về Đà Nẵng. Và điều làm tôi ngạc nhiên, khi chiếc trực thăng chỉ huy (C&C) thả “hành khách” xuống phi trường, lấy nhiên liệu, rồi tự động cất cánh “dông” một mạch về Đà Nẵng (có lẽ viên phi công mục kích cuộc tàn sát ở dưới đất nên…), để lại hai chiếc gunships nằm cô đơn trong phi trường.
Tiếp theo là “Phái đoàn VNCH”, bỗng nhiên dọn dẹp bộ chỉ huy hành quân (tạm thời đặt trong phi trường) rồi ra về (theo kiểu hành chánh). Nhóm cố vấn tỉnh Quảng Ngãi cũng “khăn gói” ra về luôn. Trước khi nhóm cố vấn ra về, có vấn đề bàn cãi về chuyện tiếp tế đạn dược cho tiểu đoàn 39/BĐQ đang bị bao vây. Cả hai phi công trực thăng võ trang đều tình nguyện đem đạn dược vào cho tiểu đoàn BĐQ. Những người còn lại trong “bộ chỉ huy hành quân” gom lại được mười thùng đạn, chất lên một trong hai chiếc trực thăng võ trang. Vị sĩ quan cố vấn trưởng tỉnh Quảng Ngãi ra lệnh cho tôi, đem đạn tiếp tế cho họ (TĐ39/BĐQ) rồi xuống tiếp tay với trung sĩ Tyron trên trận điạ.
Khi tôi được trực thăng đưa vào vùng hành quân, ngay tức khắc, tôi tìm cách liên lạc với trung sĩ Tyron qua máy truyền tin PRC-25. Mặc dầu cuộc bắn giết ở dưới vẫn tiếp tục, trung sĩ TQLC Tyron vẫn tỏ ra bình tĩnh. Địch quân gia tăng áp lực nơi vị trí của anh ta, chúng hy vọng sẽ gây nhiều thiệt hại cho đơn vị BĐQ khi trời vẫn còn chút nắng, chưa tối hẳn.
Phiá bên ta rõ ràng bị áp đảo, từ trên không nhìn xuống chỉ thấy đạn lửa mầu xanh của vũ khí trong khối cộng sản. Khẩu đại liên của biệt động quân đã im lặng, không nghe tiếng súng. Khi trông thấy chiếc trực thăng, địch quân bắt đầu bắn lên làm cho viên phi công mất bình tĩnh, xạ thủ đại liên “gào lên” xin lệnh tác xạ. Viên phi công phụ đang nhắm ổ hỏa tiễn 2.75 ly sẵn sàng khai hỏa, còn viên phi công chính quay sang tôi, nói như hét “Ông bạn muốn chúng tôi làm gì? (khai hỏa, bắn vào mục tiêu nào?), Muốn bọn tôi thả anh xuống chỗ nào?”
Trong khi đó, tôi cũng lụp chụp với “đồ nghề” (vũ khí, ba lô, máy truyền tin, đạn tiếp tế cho BĐQ), vẫn cố gắng liên lạc với trung sĩ Tyrone.
– Anh bị thương nặng không?
– Không!
– Anh có thể di chuyển đến một khoảng trống không? (Để trực thăng xuống bốc)
– Không?
– Anh còn đủ đạn dược không?
– Không nhiều lắm!
Tiếp theo là im lặng… một im lặng hoàn toàn. Viên trung sĩ TQLC can đảm đã khép kín định mệnh của anh ta. Tôi quay lại trả lời viên phi công chính “Đừng đáp xuống, tôi lập lại, không xuống. Đẩy mấy thùng đạn xuống nơi chỗ tôi ném quả khói xanh. Hỏa lực của địch mạnh quá, đủ loại súng tự động và đại bác không giật. Không thể đáp xuống được”.
Chiếc trực thăng đảo một vòng, khi bay ngang qua quả lựu đạn khói mầu xanh, trực thăng xà thấp cách mặt đất khoảng 100 thước, tôi cùng với xạ thủ đại liên, đạp hết mười thùng đạn tiếp tế cho tiểu đoàn 39/BĐQ ra ngoài.
Trực thăng đưa tôi quay trở về phi trường Quảng Ngãi. Vừa ra khỏi trực thăng, tôi nhận được lệnh “làm xếp” trong phi trường, gồm có năm hạ sĩ quan và hai trực thăng võ trang. Chúng tôi làm được gì bây giờ? Dám nhẩy vào chiến trường… Đơn vị của địch đã “dứt điểm” hai tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn… “thượng hạng” của QL/VNCH. Tiểu đoàn 39/BĐQ.
Bài viết này của Biệt Động Quân để truy điệu Trung Sĩ Willie D. Tyrone, một anh hùng trong trận Sơn Tịnh. (1)
Phần trên là bài biết trích ra từ tờ báo “Stars and Stripes” của quân đội Hoa Kỳ thời gian họ tham chiến tại Việt Nam, và phần bổ xung của Fred Caristo, cựu cố vấn tiểu đoàn 37/BĐQ. Tờ báo nói không được hay về QLVNCH. Phần còn lại sẽ được lấy ra từ bài viết “Chiến Đoàn B TQLC/VN trong trận Ba Gia” do cựu Đại Tá Tôn Thất Soạn, một cấp chỉ huy tài ba, đức độ trong binh chủng TQLC.
Đồn Ba Gia nằm hướng tây bắc tỉnh Quảng Ngãi, cách thị xã khoảng mười hai cây số. Đồn này do một đại đội Điạ Phương Quân trấn đóng có hai khẩu đại bác 105 ly. Cộng quân huy động một trung đoàn, tấn công và tràn ngập đồn Ba Gia đêm 29 tháng Năm năm 1965. Bộ tư lệnh Quân Đoàn I điều động trung đoàn 51 Bộ Binh (trung đoàn này biệt lập, sau này sát nhập vào sư đoàn 1 Bộ Binh), tiểu đoàn 39 BĐQ cùng với tiểu đoàn 3 “Sói Biển” TQLC/VN phản công để lấy lại đồn Ba Gia. Lực lượng VNCH gây thiệt hại nhiều cho địch, nhưng sau đó địch quân cũng tăng cường thêm để đối phó với đơn vị đang hành quân giải tỏa Ba Gia.
Bộ tư lệnh Quân Đoàn I xin tăng viện và bộ Tổng Tham Mưu gửi ra vùng I, chiến đoàn B “Bravo” cùng với tiểu đoàn 1 “Quái Điểu” TQLC ra tăng cường. Tiêu đoàn 1 TQLC được lệnh vào trận điạ thay thế cho TĐ39/BĐQ. Tiểu đoàn BĐQ này đã đánh bại một đơn vị VC trong ngày hôm trước, tịch thu nhiều vũ khí, nhưng sau đó địch quân dồn lực lượng chọc thủng phòng tuyến của BĐQ, nên khi được TĐ 1/TQLC vào thay, TĐ39/BĐQ được đưa về tuyến sau. (2)
(1) Theo tài liệu: Patrolling, Summer 2002, trang: 75-78
(2) “Chiến Đoàn B TQLC trận Ba Gia 1965”, cựu Đ/Tá Tôn Thất Soạn.
Dallas, Feb. 9, 2010

Nguồn: http://www.bietdongquan.com

Phạm Khanh – Có những điều chẳng thể quên từ năm tháng cũ…

Tác giả: Pham Khanh

Nhập học niên khóa 1974-1975, trường nó vắng đi một số gương mặt, đó là những người học trễ, đến tuổi lên đường theo lệnh tổng động viên. lớp nó có hai anh Phạm Minh Châu và Nguyễn văn Nghiệp. buồn buồn lúc điểm danh lần đầu thiếu tên hai anh trên danh sách nhưng rồi những niềm vui mới làm nó quên đi một cách nhanh chóng.
Cho đến ngày 24 tháng 2, đang giờ học, nó nhận được giấy của thầy phó tổng giám thị gọi xuống văn phòng. mắt đỏ hoe, mặt thật buồn, không nói không rằng thầy chìa cho nó tờ giấy đóng mộc đỏ. nó ngơ ngác nhìn thầy rồi đọc lướt qua : giấy báo tử và tên Nguyễn văn Nghiệp !! thầy trò lặng người thật lâu nó mới hỏi được : tại sao người ta lại báo cho trường, gia đình Nghiệp hay chưa thầy ? thầy nói thầy gọi điện thoại hỏi rồi, Nghiệp chỉ còn mẹ ở tuốt dưới quê, không liên lạc được, thấy trong hành trang của Nghiệp còn nhiều sách vở có tên trường nên người ta gửi giấy về yêu cầu trường cử người đại diện đến nhận xác và dự tang lễ ở Nghĩa trang quân đội.

Sáng sớm ngày thứ tư 26 tháng 2 năm 1975, nó cùng một số bạn bè đến nghĩa trang, vào ghi danh chờ gọi để nhận xác. chờ mãi, chờ mãi mới đến phiên, mấy đứa theo nhau vào nhà xác. người ta đem ra một bọc lớn, cột thắt với cái thẻ bài đòng đưa. một đứa trong bọn ra đọc thẻ bài – đúng tên của Nghiệp – ký nhận rồi ngây ngô hỏi chú lính có phải mở bọc ra nhận diện không chú. Chú trả lời muốn thì mở chứ còn gì nữa mà nhận diện, đạp phải lựu đạn nát thây rồi. Chú thêm : chút xíu thủ tục, nghi lễ xong rồi là chôn, mấy cháu ra ngoài chờ nghe.
Lại chờ, và trong lúc chờ đợi này nó bắt đầu thấm những kêu la, khóc lóc thảm thiết, vật vã của những bà mẹ mất con, những người vợ mất chồng, những tình nhân mất nhau, những đứa con mất cha. Mít ướt như nó mà lúc đó không khóc nổi, chỉ biết mở mắt trừng trừng nhìn quanh, các giác quan hầu như tê liệt.
Sáu người lính khiêng quan tài ra lễ đường, nhạc trỗi lên, lá cờ được xếp chéo. người lính mang đến trước mặt bọn nó, ngần ngừ không biết phải đưa ai. Chẳng biết tên nào trong nhóm đẩy nó ra, thế là nó thay mặt mẹ già của Nghiệp nhận lãnh lá quốc kỳ Tổ Quốc Tri Ân rồi theo ra nơi hạ huyệt.

Tiễn anh đi xong về lại trường, giao tất cả di vật lại cho thầy phó tổng giám thị rồi nó thẫn thờ ra ngồi ở băng đá trong sân trường. bao nhiêu hình ảnh của anh chập chờn quanh nó, văng vẳng đâu đó còn nghe tiếng anh cười. nó cứ thế mà lâng lâng, lâng lâng… cho đến khi tỉnh lại mới biết là đã được đưa vào phòng y tế nằm và đám bạn đi cùng ban sáng vào hỏi thăm tình trạng của nó đang bị thầy nào đó trách tại sao lại cho nó đi theo. Có tiếng ai đó xin lỗi thầy và thòng thêm ai mà cản nổi đâu thầy, ngang bướng chết người, muốn làm gì là làm thôi. Đang buồn nẫu người nó cũng phải phì cười vì cái nhận xét không thể nào đúng hơn của bạn.
Chút nữa giờ nghỉ trưa, nó sẽ mang một cành hoa và một nén hương ra thắp ở tượng đài chiến sĩ trận vong gần sở để tưởng nhớ đến người bạn một thời chung trường chung lớp nhưng kém may mắn đã bỏ mình như hằng triệu người trai trẻ Việt Nam trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn 1954 – 1975.
viết nhớ
Nguyễn văn Nghiệp
Ðại đội Trinh Sát 7
tử trận ngày 20.2.1975
an táng ngày 26.2.1975
tại Nghĩa trang quân đội E5 – 7 – 25
Chẳng thể nào quên !
Phạm Khanh
Nguồn: hung-viet.org

Anh tôi: người lính Nhảy Dù – Hoàng Bá Nhứt

Hoàng Bá Nhứt

Huy hieu TD7ND
TIỂU ĐOÀN 5 NHẢY DÙ, 1972: TRẤN THỦ BÌNH LONG – THƯỢNG KỲ QUẢNG TRỊ – dòng  sông cũ

Chàng từ sang Đông Nam khởi nẻo
Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu ?
Những người chinh chiến bấy lâu
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây .
Chinh Phụ Ngâm Khúc
– Đặng trần Côn –

Gia đình chúng tôi có 5 anh em. Tôi và người anh kế xem như cùng trang lứa , tròn trèm nhau 2 năm tuổi cách biệt.Thành thử ra , suốt quá trình cuộc đời của hai chúng tôi thường gắn bó với nhau từ thuở ấu thơ , lúc đất nước thanh bình , trong thời chiến khốc liệt cho đến sau ngày mất nước .

Cuôc sống của chúng tôi đổi thay kể từ ngày mẹ chúng tôi dắt dìu đàn con từ bỏ vùng quê Tam Kỳ ra định cư tại Đà Nẵng. Ngày tôi biết được thế giới văn minh là ngày gia đình chúng tôi ghé lại Hội An trên đường ra Đà Nẵng, lần đầu tiên thấy được chiếc xe hơi, đó là những chiếc xe GMC của quân đội quốc gia thỉnh thoảng chạy vù qua trước nhà chúng tôi tạm trú.Cứ mỗi khi nghe tiếng xe hơi là chúng tôi thế nào cũng chạy ra đứng nhìn với vẻ thích thú.

Đà Nẵng, thành phố mà tôi đã cùng chung sống với ông anh này từ khi còn bé cho đến lúc tôi vào Saigon. Cha mất lúc tôi lên 7, mẹ tôi một mình bương chải để nuôi đàn con 5 đứa .Vài năm sau người anh cả vào tận Saigon tìm tương lai qua đường tự lập .Còn lại 4 anh em, hai em gái cách biệt tuổi nhỏ nên ít chơi chung , chúng tôi 2 đứa con trai cặp kè cùng nhau từ thuở đó.

Cầu Nam Ô trên quốc lộ 1, từ Đà Nẵng đi Huế

Thấy mẹ tôi vất vả hàng ngày cho sinh kế gia đình, ông nội tôi khi đó ở riêng xóm nhà phía sau, đứng ra lo cho chúng tôi về mặt tinh thần. Việc đầu tiên , nội cho 2 anh em tôi vào học trường làng do chính nội lập ra và đứng dạy 1 mình. Trường làng của nội tôi có đủ các trình độ cấp sơ và tiểu học ,tổng số học trò được khoảng một vài mươi. Song song đó, nội gởi chúng tôi vào sinh hoạt trong Gia Đình Phật Tử Hòa Thuận, để hiểu chút ít về những lời Phật dạy , theo như lời ông nội ngày xưa thường nói..

Anh và tôi hàng ngày băng ruộng cắp sách đến trường , cuối tuần đến chùa Vu Lan sinh hoạt chung với các bạn thanh thiếu niên Phật Tử. Tuổi ấu thơ của chúng tôi quanh quẩn từ ngã ba Kho Dầu lên đến Chợ Mới, từ các đám ruộng rau muống sau nhà , qua chùa Vu Lan , đến trường làng của nội. Sau này khi trường tiểu học Hòa Vang khai trương , nội gởi chúng tôi vào tiếp tục học tại đây cho có “bằng cấp” với người ta ! Nội nói như vậy!. Anh tôi học trên tôi hai lớp.Thỉnh thoảng trong giờ ra chơi, anh thường ra oai với mấy thằng bạn lớn đôi ba lần ăn hiếp tôi. Đó là khoảng thời gian êm đềm nhất của tôi.Hai anh em cùng bọn trẻ trong xóm , mỗi buổi chiều kéo nhau ra đá banh tại các đám ruông cỏ mọc lởm chởm, ghồ ghề gần cầu De Latte. Có nhiều lần , anh dẫn tôi „phiêu lưu“ dọc theo con đường Đò Xu đất đỏ, ngược dòng sông Hàn ,đến tận bến đò Xu , nơi có cây đa già mà dân chúng quanh vùng cho rằng linh thiêng lắm !Cây Đa già phủ tàng bóng mát rộng lớn, giữa thân cây ai kia đóng vài kệ gỗ nhỏ trên có vài bình đựng nhang sứt mẻ ,chỉ còn trơ lại một ít cộng nhang màu đỏ cắm trong bình, hợp với những giây leo của cành đa rủ xuông, trông rất nặng phần cõi âm .

Hết bậc Tiểu học, anh tôi vào Trung học qua các trường Tây Hồ và Sao Mai.Hai năm sau tôi theo gót anh , nhưng may mắn vào được trường Phan Châu Trinh. Thời gian này, không gian của chúng tôi mở rộng về hướng Đông qua Biển Mỹ Khê , Tiên Sa , hướng Bắc :Nam Ô, đèo Hải Vân , hướng Tây : Phước Tường, Túy Loan , và hướng Nam : Cẩm Lệ, Non nước,Miếu Bông, có khi đến tận Vĩnh Điện, Hội An.

Bạn bè của anh cũng là bạn bè tôi , và đám bạn của tôi cũng là bạn của anh . Chúng tôi chơi chung với nhau rất đề huề, không kể lớn nhỏ, tuổi tác chênh lệch .Thường thì sân bóng rỗ tại sân trường Thọ Nhơn gần nhà là điểm hẹn cuối tuần của cả bọn.Hè thì tụ điểm là các bãi biển Thanh Bình, Mỹ Khê, Tiên Sa….

Sau khi đậu Tú Tài, anh đi làm để giúp thêm sinh kế cho gia đình trong khi chờ lệnh nhập ngũ. Năm 1967 tôi khăn gói vào Saigon tiếp tục đường công danh qua đèn sách. Ngày tôi ra đi , anh đưa tôi lên phi trường Đà Nẵng và gởi cho tôi đi nhờ phi cơ quân sự của một ông lái tàu bay bạn anh. Năm 1968 anh vào quân trường Thủ Đức. Tôi lên xuống thăm viếng anh từ Quang Trung đến Thủ Đức vào thời gian đầu mỗi khóa thụ huấn. Chủ nhật, trong bộ đồ kaki màu vàng với cầu vai Alpha cuả Sinh viên Sĩ Quan , anh cùng tôi lang thang khắp saigon, Chợ lớn cho hết trọn ngày phép, đến chiều anh theo đoàn xe trở lại Quân trường. Mãn khóa , anh tình nguyện vào Sư Đoàn Nhảy Dù.Cuộc đời lính chiến của anh bắt đầu từ đây.Tiểu Đoàn đầu tiên anh phục vụ là Tiểu Đoàn 7 Dù, hậu cứ tại Tam Hiệp Biên Hoà. Anh đeo lon Chuẩn Úy. Thời gian đầu tôi thường đến thăm anh tại dưới chân cầu Phan thanh Giản gần Hàng Xanh Xa lộ, hay dọc theo bờ sông Saigon trước viện bào chế Nguyễn Chí Nhiều, lúc anh nắm trung đội Dù chốt tại mấy nơi này.

Đất nước chiến tranh triền miên.Trời Saigon mưa giăng nắng đỗ, cũng giống như đời lính của anh. Anh đi rồi anh về, anh về rồi lại đi.Tôi vẫn miệt mài trong giảng đường Đại học, anh vẫn lăn lộn qua khắp chiến trường đất nước. Quê nhà thì xa xôi quá! Người anh cả đóng trên cao nguyên . Mẹ và hai em vẫn còn ở ngoài Trung..Mỗi lần tiểu đoàn về hậu cứ ,với vài ngày phép ngắn hạn, tôi là người anh tìm đến trước tiên. Tôi giao cho anh chiếc xe Honda của tôi , anh đi gặp bạn bè đâu đó, có khi vài hôm. Xong chuyện anh, hai anh em mới cùng nhau lang thang khắp saigon, điểm tâm tại quán Thanh Bạch . Ciné Rex, Eden. Khô bò và nước mía Viễn Đông, kem Mai Hương,phở Paster, Hiền Vương, mì xào Hải Ký Tổng Đốc Phương , chúng tôi cũng thường đi tìm mua sách cũ tại các lều sách trên đường Lê Lợi hay khu ngã tư Lê văn Duyệt và Hồng Thập Tự.

Trước mỗi lần hành quân xa, anh đưa cho tôi hết số tiền luơng anh lãnh còn lại.Tôi gởi tiền vào ngân hàng, đến khi anh về. tôi giao trả lại anh để hai anh em xài chung… Rồi bẵng đi một thời gia lâu, rất lâu , tôi không thấy anh về . Chờ đợi và chờ đợi .Sau đó tôi nhận được tin anh đang nằm tại Tổng Quân Y Viện Cộng Hòa. Anh đã bị thương tại chiến trường Mỏ Vẹt trong trận hành quân truy kích VC tận mật khu của chúng trên đất Miên. Nhìn anh trong đôi nạng gỗ qua vết thương còn băng bó , thấy anh mỉm cười khi có người đến thăm anh độc nhất là thằng em trai của anh. Phải, chỉ có hai anh em ở Saigon. Hai anh em níu nhau như chuỗi ngày còn thơ lúc nào cũng chơi chung cùng nhau .Sau thời gian nghỉ dưỡng thương, anh tạm về Trung Tâm Huấn Luyện Dù trại Hoàng Hoa Thám.Tôi cũng được vào ra doanh trại này trong thời gian anh làm việc tại đây. Cuộc chiến càng khốc liêt, anh lại càng gian truân .Lần này anh được chuyển qua Tiểu Đoàn 5 Dù. Anh đưa Bằng Dù của anh cho tôi cất giữ, rồi theo Tiểu Đoàn đi ra Trung mút mùa. Qua báo chí tôi biết được anh và đồng đội đang quần thảo với địch tại vùng núi Hải Vân,Quế Sơn, Thượng Đức, quê hương Quảng nam của chúng tôi.Chả bao giờ anh viết thơ cho gia đình biết tin của anh.

Anh vẫn độc thân nên đời anh như cánh dù lộng gió. Theo thời gian và chiến tích,trên cổ áo trận của anh được gắn thêm một bông mai, hai bông mai, rồi ba bông mai .Cứ mỗi lần anh về thì hai anh em lại tiêu khiển quanh quẩn khắp Saigon cho đến ngày hết phép, anh lại vui vẻ ra đi, cứ thế anh trải qua bao năm lăn lộn trên khắp chiến trường đất nước.

Saigon lúc bấy giờ các nhật báo được phát hành vào mỗi cuối buổi chiều của ngày. Từ sở làm ra , tôi mua vội vài tờ báo quen thuộc . Về nhà việc đầu tiên là tìm tin chiến sự đọc trước.Tôi âm thầm theo dõi bước chân anh qua tin tức và các bài phóng sự chiến trường trên báo chí Saigon.Mỗi khi nghĩ đến câu : “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” của một nhà thơ Trung Hoa đời Đường nào đó. thì lòng lại thấy băn khoăn nhớ về anh .Vào những ngày cuối tháng 3 1975, nóng lòng , tôi đã lái xe lên tận hậu cứ Tiểu Đoàn 5 Dù ở Biên Hoà để hỏi thăm tin tức, nhưng không ai biết tin gì về tiểu đoàn của anh lúc này.

Rồi cuộc chiến bỗng chấm dứt. Anh đã trở về tuy thân thể toàn vẹn, nhưng bị vết thương lớn trong lòng , đó là sự uất ức của người lính khi bị bắt buộc phải buông súng . Cuối cùng , chung với đồng đội ,anh đã bị lùa vào trại tù tập trung trên vùng núi Bắc Việt.Sau bao nhiêu năm ở tù mà không tội, anh đã trở về trong thân xác rã rời , với một tâm hồn trầm mặc . Và hai anh em lại đoàn tụ cùng nhau tại Saigon trong cùng một tâm trạng.

Cũng may nhờ một cơn gió từ phương Tây đã đã lộng thổi vào chiếc dù tưởng như đã rả cánh của anh, đã mang gia đình anh đến tận xứ Hoa Kỳ tự do và an bình.

Hôm nay vào website “nhảy dù”, được đọc bài của Trung tá Bùi Quyền kể lại trận đánh của tiểu đoàn 5 Dù tại mặt trận M´Rach -Khánh Dương, tôi viết vài dòng để nhớ về anh . Mới đó mà đã gần 40 kể từ ngày mất nước.Thời gian qua mau thật ! Anh tôi cũng sắp vào tuổi mà người xưa gọi là “thất thập cổ lai hy”. Bạn bè năm xưa nhìn lại thấy đứa còn đứa mất. Tuy sống ở hai lục địa khác nhau , nhưng qua những kỷ niệm ngày xưa cùng anh tại Đà nẵng và Saigon, tôi luôn luôn cảm nhận được sự gần gũi bên người anh là lính Nhẩy Dù của tôi .

Hoàng Bá Nhứt
Stuttgart-Germany, 15.01.2014

Nguồn: https://hung-viet.org/p18a17884/anh-toi-nguoi-linh-nhay-du

Phi Vụ Cuối Cùng Của Ba Người Phi Công F-5

canhthep.com

96896.p6.jpg (500 x 349, 17.21 Kb)

Chuyện không thể xảy ra Nhưng ĐÃ XẢY RA!…

Tôi thuộc phi đoàn F5 Hồng Tiễn Đà Nẵng, đã từng ngồi trong buồng lái độc nhất một ghế ngồi và không bao giờ tưởng tượng ra được có một ngày, cái buồng lái nhỏ sít sao này lại chứa được đến ba thân thể to cao và đáp thành công xuống phi trường Utapao -Thailand trong phi vụ cuối cùng giờ thứ 25 SaiGon thất thủ !…

Trong hình dưới đây được chụp lại lúc một đại tá Mỹ đón gặp ba ba phi công tại phi trường Pilot Tô phương Cường, Pilot Vũ Ngô Châu ( đã quá vãng ) và Pilot Trần Ngọc Bửu.

96900.image3.jpg (500 x 360, 64.11 Kb)
Click to expand image 96899 to full size (1592 x 2048, 394.95 Kb)
Click to expand image 96898 to full size (1536 x 2048, 74.76 Kb)

Người Đăng: tmh – Jul 30, 2021

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&bn=kq_f5&key=1627691935

Chiến sử Thiết Giáp 1965-1966 – Trần Lý

(trích từ Bản thảo Kỵ Binh Phù Đổng)

                                                    Trần Lý hiệu đính

Năm 1965

  • Trận Đức Cơ (trong cuộc Hành quân Dân Thắng 7 (3-15 tháng 8/1965)

Bản đồ : Đức Cơ- Lệ Thanh (theo Nguyễn Đức Phương)

Trận đánh được ghi rất chi tiết :

  • “Chiến sử Nhảy Dù
  • “VC Summer Monsoon Offensive , May 1966 “ (Theodore Matais)

Xin chỉ ghi phần Thiết  Giáp trong trận :

Ngày 9 tháng 8/1965, một lực lượng đặc nhiệm gồm 2 chiến đoàn được thành lập để mở cuộc hành quân Dân Thắng 7 nhằm khai thông Quốc lộ 19 và tiếp tế cho trại LLĐB Đức Cơ. Cuộc hành quân này do Tư lệnh Biệt Khu 24 trực tiếp chỉ huy”..

– Chiến đoàn Thiết giáp do Trung  tá Nguyễn trọng Luật chỉ huy gồm :

          –  Bộ Chỉ huy Trung đoàn 3 Thiết giáp

          – Chi đoàn 1/5 Chiến Xa (Đ úy Trần văn Thoàn)

          – Chi đoàn  2/6 TVX (Đ úy Dư Ngọc Thanh)

          – Chi đội Xe thám thính M-8

(Các đơn vị tùng thiết có TĐ 21 BĐQ, một pháo độ 105 ly, công binh, vận tải..)

     Chiến đoàn thứ nhì là Chiến đoàn A TQLC gồm 2 TĐ 2 và 5 TQLC)

Đoàn quân giải tỏa xuất phát từ Cầu Cạn (gần Lệ Thanh) trong đội hình tiến quân :     Chiến đoàn Thiết giáp cùng BĐQ đi trước mở đường và Chiến đoàn TQLC đi sau cách khoảng 3 km làm lực lượng tiếp ứng ..

  • Chi đoàn 1/5 Chiến xa (2 Chi đội M41 đầu, 1 Chi đội đoản hậu) cùng 1 ĐĐ BĐQ
  • Tiếp sau là Chi đoàn M-113 và lực lượng còn lại của BĐQ (trừ ĐĐ mở đường)
  • Chi đội M-41 còn lại cùng Công Binh, Pháo binh và tiếp vận , có 4 xe Thám thính M-8 để liên lạc, yểm trợ..

 Chiến đoàn tiến theo lối chân vạc : mội Chi đội luân phiên tiến chiếm các vị trí trọng yếu tùy địa thế và giữ khoảng cách để  các đại bác 75 trên M-41 có thể yểm trợ..

“ Đến 14 giờ khi đoàn quân đến quận Lệ Thanh [ TĐ 295 CS đang chiếm giữ các vùng chung quanh] thì bị 1 TĐ thuộc Trung đoàn 32 CSBV phục kích. 2 chiến xa đi đầu trúng B-40, một bị phá hủy do súng không giật, và Bộ binh CS từ ven làng, khoảng 3 km cạnh QL 19 xông ra tấn công vào TĐ 21 BĐQ đang bảo vệ sườn trái của đoàn quân.. chia cắt đội hình hành quân làm hai phần. Hai phi cơ F-100 của KQHK đến yểm trợ, 1 bị bắn rơi..Đoàn quân phản ứng đẩy lui cuộc phục kích. Đến tối CQ tập kích vào toán hậu tập VNCH nhưng cũng bị đánh tan, phi cơ tiếp tục oanh kích suốt đêm

“ Trong lúc đó, CQ lại tấn công vào đoàn xe yểm trợ đi sau (có 1 Chi đội M-41 và 4 xe M-8).. tuy nhiên đoàn xe giữ vững vị trí và chống trả hữu hiệu

   Sáng 10 tháng 8, VC lại tấn công vào đoàn quân nhưng gặp phản kích của TQLC, Thiết giáp… cùng sự yểm trợ của KQ.. Cuộc phục kích bị phá tan..”Trong khi đó Chiến đoàn Dù tại Đức Cơ tấn công xuống phía Đông QL19..để bắt tay cùng lực lượng tiếp viện.. CQ buộc phải rút chạy

  (Tổng kết : BV có 566 bị hạ, 26 bị bắt  cùng 12 vũ khí cộng đồng, nhiều súng cá nhân; trong số có 2 đại liên 50 và 2 cối 81 bị phá hủy..)

Xin đọc bài “Trận Chiến Đức Cơ” :https://dongsongcu.wordpress.com/2016/06/21/tran-chien-duc-co

  • Trận Pleime

   (Xin đọc bài riêng)

  • Trận Làng 13 bis Dầu tiếng (Tháng 11-1965)

Trận đánh này hầu như không được ghi lại trong quân sử (?) nhưng Hồi Ký của Ông Nguyễn Minh Tánh, một Sĩ quan Thiết giáp đã ghi lại rất nhiều chi tiết và cả những uẩn khúc để Chiến thắng này  bị cả Thiết giáp lẫn SĐ5BB đều ‘cố tình’ quên !

     Trận này (bài Ông Tánh) là Chiến công của Chi đoàn 3/1 Thiết quân vận trong đêm 21 rạng 22 tháng 11 năm 1965 tại Làng 13 bis Xã Đình Thọ Quận Dầu Tiếng..

Bản đồ :  vùng Dầu Tiếng- Đồn điền Michelin)

   Theo Ông Tánh : Chi đoàn 3/1 Thiết Quân Vận, sau trận Bình Giả, đã được ‘tân trang’ hoàn toàn vì ‘quá nát’

   (Trong giai đoạn này, tháng 7 năm 1965,  Chi đoàn 4/1 cũng phải ‘tái hấp’ sau khi bị CQ đột kích và.. phá hủy gần như hoàn toàn : Vị trí đóng quân đêm của Chi đoàn 4/1 tại Bàu Bàng 2, khi tăng phái cho Trung đoàn 7 BB (SĐ5BB) bị tấn công : 7 trong số 13 M-113 bị phá hủy hoàn toàn, các SQ chỉ huy Chi đoàn hầu như  tử trận cùng nhiều quân nhân của Chi đoàn..)   Ngày 16 tháng 11 năm 1965, SĐ 5 BB mở cuộc hành quân an ninh trục lộ QL 13. Trung đoàn 1 Thiết giáp được tăng phái để đưa Chiến đoàn 1 Bravo vào Vùng đồn điền cao su Michelin, Dầu Tiếng. Đơn vị Thiết giáp được chỉ định là Chi đoàn 3/1 Thiết Quân vận do Ông Tánh làm Chi đoàn trưởng.. Chi đoàn xuất phát từ Bình dương với 15 xe, nhưng đến Chơn Thành, 2 xe trục trặc vũ khí phải để lại và do.. dị đoan sợ số 13 nên Ông Tánh khi đến Làng 13 Bis chỉ có 12 xe kể cả 1 xe phun lửa. Ông Tánh từ chối đóng quân chung với Bộ Chỉ huy Trung đoàn 7 (Tr tá Nguyễn văn Tư) và  xin một khu vực phòng thủ riêng..và nhiệm vụ chỉ là hành quân cùng Tiểu đoàn 3/7 bảo vệ an ninh cho công nhân đi.. cạo mủ cao su ! Sáng 21 tháng 4, trong cuộc thám sát vô tình vùng phía Bắc khu đóng quân.. Ông Tánh tìm được một hệ thống giao thông hào do CQ đào sẵn, cho bõ các concertina xuống các hào; đồng thời lo bố trí TVX đề phòng CQ đột kích đêm. Đêm 21 rạng 22 CQ tấn công, pháo kích vào vị trí Chi đoàn 3/1..Xe M-113 phun lửa của Chi đoàn trúng đạn bốc cháy..Thay vì tung các TQV vào hướng tấn công.. ông Tánh cho lệnh lui về sau. Phi cơ đến thả hỏa châu .. lúc 4 giờ sáng và đúng lúc CQ dàn hàng ngang tấn công (nghĩ là Thiết giáp đã bị tiêu diệt, ra thu chiến lợi phẩm)  và các đại liên trên các xe M-113 đã bắn hạ từng lớp CQ  không kịp chạy trốn..

   Ông Tánh cho biết Thiết giáp đã hạ cả trăm CQ, cùng súng bỏ lại  gồm các súng cộng đồng như 3 SKZ 75. một đại bác 57, một phòng không trên xe đẩy và cả trăm súng cá nhân.. Chuyện ‘kỳ lạ’ là Tr Đ 7 dành.. trọn chiến công, dù đơn vị ‘đứng ngoài’ chỉ đem xe vào chiến trường chở xác VC và vũ khí về..trưng bày, lãnh huy chương và.. thăng cấp. Các Vị chỉ huy được mời đến xem..

    Ngày 26 tháng 11 , Chi đoàn 3/1 TQV tăng phái cho Chiến đoàn 7 Bravo, cùng TĐ36 BĐQ ,đến Tha La sửa soạn tấn công vào Căn cứ của Tr Đ Q 762 CSBV.  Bộ Chỉ huy Tr Đ 7 bị CQ đột kích..lúc 5 giờ 30 sáng tại Làng số 6.. Toàn bộ SQ  trong bộ Chỉ huy bị giết, hành quyết tại chỗ (!) do.. Chỉ huy ‘cho tập họp.. điểm danh (trong khu vực hành quân), CQ tiến đánh lúc.. lính và quan còn đang xếp hàng..!!!

Năm 1966

  • Hành quân Cửu Long 15 (Tháng Ba 1966).

Hình :M-113 của Thiết đoàn 6

  Cuộc Hành quân này được Tướng thiết giáp Mỹ Donn Starry ghi lại trong ‘Armoured Combat in VietNam’ trang 31 :“Tháng Ba năm 1966, Quân đội VNCH dự trù mở một cuộc hành quân ‘tìm và diệt’ CQ trong khu vực Mộc Hóa. Các đơn vị tham dự gồm Trung đoàn (Thiết đoàn) 6 Kỵ binh và các đơn vị bộ binh thuộc SĐ 7 BB VNCH. Để có thể đến được Mộc Hóa và sau đó đến vị trí tập trung tấn công ngày 21 tháng 3, không gây báo động cho CQ, Thiết giáp phải di chuyển ngày hôm trước đến Ấp Bắc, cách Mộc Hóa 25 km về phía Nam..Đến Ấp Bắc vào giữa trưa 20 tháng Ba, Thiết đoàn nhận tiếp liệu và  lập các vị trí phòng thủ, tạo nghi binh sẽ ở lại qua đêm, và thông báo rộng rãi sẽ tiến công sáng hôm sau, từ Ấp Bắc về phía Đông Mộc Hóa, tảo thanh một khu vực quanh Tuyên nhơn.. Nhưng ngay khi đêm xuống, Thiết đoàn rời Ấp Bắc và di chuyển đi Mộc Hóa, đến đây trước bình minh..   Sáng sớm 21 tháng Ba, Thiết đoàn 6 cùng các đơn vị tùng thiết vượt kinh lớn tại Mộc Hóa và càn quét về hướng Đông-Bắc; đồng thời  các đơn vị bộ binh khác được trực thăng vận tạo một một chốt chặn giữa kinh đào và biên giới Miên.. Sau khi vượt kinh, thiết giáp dàn quân, các chi đoàn tiến hàng dọc, các chi đội đầu tạo đội đội  hình ‘wedge’ theo sau là các chi đội yểm trợ  cùng tiến..    Đến 9 giờ sáng, Chi đoàn 1/6 do Đ úy Tiến chỉ huy gặp một lực lượng CQ không rõ quân số, tại khu vực 8 km Đông-Bắc Mộc Hóa, và Chi đoàn lập tức tiến công . Cỏ cao đã giới hạn tầm quan sát, VC rút chạy. Thiết giáp truy kích dọc bồ kinh, đến một vị trí cách Mộc Hóa 14km Đông Mộc Hóa.. 12 giờ trưa,  VC bắt đầu chống trả bằng đủ loại súng nhỏ.. Thiết giáp tìm cách dồn địch vào các nơi trống trải nhưng CQ đã phản ứng bằng súng cối, súng chống chiến xa từ các hầm hố cố thủ đã xây dựng sẵn.. Cỏ cao giúp CQ dễ ẩn nấp và làm Thiết giáp gặp trở ngại, không thấy rõ mục tiêu xạ kích.. CQ toan tính bao vây và  tấn công thiết giáp từ nhiều hướng. Một xe M-113 chỉ huy bị trúng đạn chống chiến xa nơi pháo tháp : xạ thủ tử trận cùng 3 cố vấn bị thương.. Thiết giáp rút ra để tải thương và tái tập trung xếp lại đội hình..Trong khi Đ úy Jerell Hamby, Cố vấn Chi đoàn lo điều khiển liên lạc cùng trực thăng tản thương.. Thiết giáp quyết định dùng hỏa công.. đốt cỏ bằng Xe phun lửa.. Các vị trí ẩn nấp của CQ bị lộ..và Thiết giáp mở cuộc tấn công toàn diện.. Trận đánh kéo dài đến chiều tối, dọc theo con kinh về hướng Đông..Khi ngưng tiếng súng : 200 VC bị hạ tại chỗ,  17 tù binh và 89 vũ khí bị tịch thu gồm cả súng cộng đồng.  Theo Cố vấn Mỹ nhận xét : Thiết giáp, khi được sử dụng đúng binh pháp. Kế hoạch hành quân chu đáo, sẽ trở thành một lực lượng xung kích lý tưởng tại Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long..

  • Hành quân Gia Đằng (có thể theo Quân sự Hoa Kỳ là Operation Quảng Điền

trong khoảng 18 đến 20 tháng 8 năm 1966).

Bản đồ :  Tiến công vào Phù Liệu

Cuộc Hành quân này được ghi trong Armor Số March-April 1967 (Street Without Joy Revisited) của Đ Úy Edward Laurance, cố vấn Thiết đoàn 1

   Cuộc Hành quân do SĐ1BB tổ chức với mục đích lùng và diệt CQ hoạt động trong khu vực Quảng Điền (Quảng Trị). Lực lượng Hành quân được chia thành 2 Chiến đoàn 11 và 41

  Chiến đoàn 41 gồm 2 TĐ TQLCVN (1 và 2) và  Chi đoàn 1/1 TQV yểm trợ : TQLC tiến quân trên bộ, ngoại trừ 1 ĐĐ tùng thiết theo xe tiến song song vào mục tiêu .. Khoảng 4 giờ chiều, CQ phản ứng bằng đủ hỏa lực gồm, cối 82, đại liên 50 và Súng không giật 57  từ hướng làng Gia Đằng..Trước hỏa lực CQ, quân VN lui lại khoảng 300 m để phi cơ và pháo binh oanh kích, tiếp tục bao vây CQ ba mặt.. Trong khi đó Chiến đoàn 11 gồm 1 TĐ BB và Chi đoàn 2/1 đang tiến vào mục tiêu chỉ cách 3km từ hướng Bắc đánh xuống…CQ rút khỏi khu vực để lại vài xác cùng vũ khí .. Trong lúc các đơn vị VNCH sửa soạn chấm dứt cuộc hành quân, tình báo địa phương cho biết nơi tập trung của 1 TĐ CQ ngay trong vùng.. (1 dân vệ khi về nhà tại  làng Phù Liêu, 8km Đông Bắc Quảng Trị được cấp báo có một đơn vị CQ đông đảo đang chiếm làng).. Bộ Chỉ huy Hành quân phản ứng thật nhanh. Một ĐĐ Bảo An được đưa đến làm nút chặn tại phía Tây. TQLC được trực thăng vận vào phía Nam mục tiêu; TVX của Chiến đoàn 41 tiến công để bắt tay với TQLC. Pháo binh và Trực thăng xạ kích liên tục dọn đường cho cuộc tấn công.. Sau 3 đợt tấn công của Thiết giáp và TQLC phối hợp.. VC tạm lui để cố thủ.. Chiến đoàn 11 tấn công xuống.. CQ không kịp tái tổ chức và.. quay súng chống đỡ..Hỏa châu soi sáng suốt đêm.. CQ chỉ còn đường chạy về  hướng sông..

   Chiến trường được tảo thanh lúc bình minh :

VNCH mất 37 tử trận trong đó Thiết giáp mất 6 kỵ binh ; 104 bị thương (33 kỵ binh)

CSBV : 154 xác bỏ lại, 38 bị thương bị bắt, 60 tình nghi..58 vũ khí cá nhân, 12 súng tự động, 2 súng cối và 2 súng chống chiến xa..(Cố vấn Mỹ ghi nhận phản ứng nhanh của Bộ Chỉ huy Hành quân, khai thác tin tình báo và sử dụng Thiết kỵ tạo bất ngờ lớn cho CQ..)

  • Hành quân Vị Thanh (1 tháng 9 năm 1966)

Cuộc hành quân này được ghi lại trong Tập san “Armor : Nov-Dec. 1969) và đơn vị thiết giáp tham chiến là Chi đoàn 2 Thiết đoàn 9 Kỵ binh. Kế hoạch hành quân 1/9/1966 dự trù tấn công vào một căn cứ VC tại Hòa Quới,  9km Tây-Bắc Vị Thanh , gần U Minh. Tin tình báo cho biết tại đây có kho vũ khí và công binh xưởng VC.  Lực lượng chính là Trung đoàn 31 BB có Chi đoàn 2/9 (do Tr Úy Châu Quang Chương chỉ huy) tăng phái. Các đơn vị BB được trực thăng vận (3/31) và chuyển vận bằng quân xa (2/31) từ Sóc Trăng vào các vị trí tiến công. Chi đoàn 2/9  là xung kích mũi chính cùng TĐ 44 BĐQ, vượt ruộng lầy tấn công vào bộ chỉ huy của TĐ 207 Chủ lực Tỉnh VC   Trận đánh có kết quả : VC bỏ lại 221 xác, 11 bị bắt; 61 vũ khí bị tịch thu gồm cả súng cối, súng máy và nhiều súng cá nhân..ngoài ra rất nhiều quân dụng như máy truyền tin (long range CW radio) thiết bị, thuốc từ Bắc Việt và tài liệu quân sự VC bỏ lại tại Trạm Chỉ huy. Thiệt hại của Chi đoàn 2/9 rất nhẹ, riêng TĐ 3/31 có 21 tử trận và 73 bị thương..

   Sau khi VC rút chạy, Chi đoàn 2/9 tiếp tục hành quân truy kích trong vùng về lại Vị Thanh ngày 5 tháng 9..(Bài học rút được trong Chiến thắng này là : “Dùng cái bẫy VC .. để phá bẫy’: VC cho tin giả là chỉ có 2 trung đội du kích canh kho tiếp liệu và giăng bẫy phục kích tập trung trên 700 quân trong khu vực đầm lầy..dự tính thiết giáp không vượt nổi kinh rạch.. Họ tính sai và TĐ 207VC coi như bị xóa tên..)

  • Hành quân Đại Bàng 800 (12 tháng 11 năm 1966)

   Theo “Binh chủng Nhảy Dù-20 năm Chiến sử” (Võ Trung Tín và Nguyễn Hữu Viên)

Trong Quân Sử Hoa Kỳ, cuộc Hành quân này nằm trong khuôn khổ một kế hoạch Hành quân rộng lớn hơn trong đó có 3 cuộc Hành quân: Irving/ Đại Bàng và Mãnh Hổ 6 ; kéo dài từ 2 tháng 10 đến 24 tháng 10 năm 1966.. (Đại Bàng còn gọi là Eagle Claw 800)

     Trịnh Tiếu (Trưởng Phòng 2/QĐ2 , lúc xảy ra Trận đánh) trong  GeneralHieu.com lại ghi là trận này diễn ra vào khoảng đầu năm 1967 ?

  Cuộc Hành quân này có mục đích tảo thanh Quân CS hoạt động tại Tỉnh Bình Định, được phối hợp giữa quân VNCH cùng quân đội các Đồng Minh Mỹ (SĐ 1 Không Kỵ) và Đại Hàn (SĐ Mãnh Hổ). Thành phần quân VNCH  tham chiến gồm SĐ 22 BB và Chiến đoàn II Nhảy Dù (gồm 3 TĐ 3, 6 và 9). Thiết đoàn 2 do SĐ 22 BB sử dụng trong đó một Chi đoàn được tăng phái cho Tr Đ  41/22  Tướng Hiếu, dựa theo nguồn tình báo riêng, đã không theo kế hoạch sửa đổi của Tướng Mỹ John Norton, vẫn đưa 2 TĐ của Tr Đ 41 (do Tr Tá Bùi Trạch Dzần chỉ huy) vào vùng trách nhiệm dự định và cho lệnh sửa soạn các hầm hố cố thủ tại vị trí đóng quân.. CQ đúng theo dự trù liền bao vây và  tấn công.. Nhưng Tướng Hiếu đã chờ sẵn với 1 TĐ BB trừ bị của Tr Đ 41 cùng Chi đoàn Thiết giáp tăng phái.. Ẩn và chờ cách  đó 10km và Lực lượng này đã đánh bọc hậu CQ và bao vây CQ. SĐ 1 Không Kỵ HK dùng toàn bộ trực thăng vũ trang yểm trợ. Pháo Binh Việt Mỹ bắn phá mục tiêu  tối đa.Chiến trường được soi sáng liên tục..và Thiết giáp Mỹ tiếp viện đến bao vây.

   CQ (SĐ Sao Vàng), rút chạy.. để lại 300 xác cùng đủ loại vũ khí cá nhân và cộng đồng..

              (Xin đọc tiếp Chiến sử Thiết Giáp 1967-1968)              

Trần Lý hiệu đính 2021

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Phạm Đoan Trang: chân dung thế hệ Việt 2021

13/10/2021Pham

Trùng Dương

Tôi muốn thay đổi Việt Nam theo hướng làm sao để cho con người được tôn trọng hơn, con người đối xử với nhau với tình yêu, thương yêu nhau nhiều hơn, thương nhau hơn, yêu nhau hơn, tin tưởng nhau hơn. Nhiều khi chỉ cần như thế thôi đã là dấu hiệu đầu tiên của phát triển rồi.
–Phạm Đoan Trang

Tôi không quen biết cô. Chỉ đọc biết về cô qua các bài báo trên Mạng. Nhưng sáng sớm hôm nghe tin hai nhà báo, Maria Ressa của Phi Luật Tân và Dmitry Muratov của Nga, vừa được trao giải Nobel Hoà bình vì đã kiên trì xử dụng và do đấy đề cao quyền tự do ngôn luận ngay tại xứ sở bóp nghẹt quyền căn bản này của họ, tôi liên tưởng ngay tới cô.

“Nền báo chí tự do, độc lập và dựa vào dữ kiện nhằm phục vụ công cuộc chống lại sự nhũng lạm quyền lực, dối trá và tuyên truyền,” bà Berit Reiss-Endersen, chủ tịch Ủy ban Giải Nobel Na Uy, giải thích lý do chọn hai nhà báo để trao giải Hoà bình. “Không có tự do ngôn luận và báo chí, ta sẽ bị khó khăn trong việc quảng bá tình hữu nghị giữa các quốc gia, cổ vũ việc giải giới và tạo dựng một trật tự thế giới tốt đẹp hơn trong thời đại này.”

Tôi không nhớ trong quá khứ có nhà báo nào đã được trao giải Nobel, trừ nữ ký giả Svetlana Alexievich, song giải thưởng bà được là về văn chương–cũng là lần đầu tiên một nhà báo được giải văn chương, cho thấy văn chương và báo chí không còn hố ngăn lớn như trong quá khứ khi nhà văn thường “nhìn xuống” nhà báo, cho họ chỉ là những kẻ đi thu lượm dữ kiện và thiếu óc sáng tạo.

Mới trưa hôm trước đọc bài của Quỳnh Vi về “tội” của Đoan Trang khiến cô bị chế độ Việt Cộng bắt bỏ tù với bản án 20 năm cách nay vừa đúng một năm. Đó là “tội” làm báo viết về chính trị và nhân quyền. Tôi quay quắt với ý nghĩ về Đoan Trang. Không ai có thể làm gì cho cá nhân của cô cả, dù có muốn. Vì chắc chắn cô sẽ trả lời là đừng làm gì cho cô, cũng đừng vận động xin trả tự do cho cô và can thiệp cho cô đi ra nước ngoài, vì đấy không phải là điều cô muốn—cô đã từng có cơ hội đi ra và ở lại nước ngoài, nếu muốn. Mà hãy làm cái gì cho Việt Nam, cô nói trong cuộc phỏng vấn ngắn song cô đọng trước ngày cô bị bắt.

Cũng đúng một ngày trước ngày tuyên dương giải Nobel Hòa bình về tay hai ký giả Ressa và Muratov, do một trùng hợp đầy ý nghĩa, ngày 7 tháng 10 cũng là ngày kỷ niệm một năm kể từ khi Đoan Trang bị nhà cầm quyền Hà Nội bắt giam với bản án 20 năm tù, nặng hơn nhiều lần cả tội giết người ở Việt Nam, chỉ vì đã hành xử quyền tự do ngôn luận, còn được gọi là Đệ tứ quyền, bên cạnh các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Đoan Trang sinh năm 1978 tại Hà Nội, con út trong một gia đình nhà giáo, lớn lên trong một khu xóm nghèo tại phía nam Hà Nội. Trong bối cảnh này, việc cô trở nên gần gũi với những người thấp cổ bé miệng cũng là lẽ tự nhiên.

“Khi tôi còn nhỏ và sống với cha mẹ trong một khu xóm nghèo ở phiá nam Hà Nội, tôi nhớ có nghe thấy những người đàn bà gào khóc, giọng khàn đặc vì sợ hãi và vô vọng, ‘Ối con ơi là con …’” cô viết trong blog cá nhân cô bắt đầu giữ từ 2006, bằng tiếng Anh để có dịp trau giồi Anh ngữ, tại phamdoantrang,com. Blog này ngưng sau tháng Bẩy 2018, có lẽ sau khi cô chuyển sang FaceBook để mau chóng và rộng rãi tiếp cận hơn với người đọc và bận rộn với những công trình viết lách khác.

“Tôi nhớ những gương mặt mệt mỏi của những người phải phấn đấu để sống còn, làm vô số nghề không tên gọi: đạp xe xích lô, sửa giầy, trạm chổ đũa, vv. Tôi nhớ có tự hỏi tại sao quanh tôi nhiều người chết khi còn trẻ; một bữa tôi hỏi người bạn, tại sao đời người ở đây rẻ rúng làm vậy, thì anh ta trả lời: ‘Đời của ai? Bạn nghĩ là đời bạn đáng giá gì ấy hả?’”

Năm cô 12 tuổi, cô kể trên trang blog cá nhân, cô nghe và “phải lòng” các bài hát của nhóm The Beattle từ cái máy cassette của nhà hàng xóm và cố ghi lại lời. Từ đó nảy sinh lòng yêu thích học tiếng Anh.

Năm 2001, cô tốt nghiệp Đại học Ngoại thương, chuyên về kinh tế thế giới. Chính trong thời gian tại đại học này, cô và các bạn làm quen với Internet. Cô kể trong blog về giai đoạn này: “Hồi ấy Internet còn rất phôi thai ở Việt Nam, và bọn sinh viên tụi tôi còn rụt rè và thận trọng khi lướt mạng… Chúng tôi không có sách vở, song đã bắt đầu nhận ra rằng thực tế đã không thực sự được mô tả trung thực trong sách vở mình đọc. […] Vì lẽ đó, sinh viên tụi tôi học bằng những bài kinh tế lấy trên Mạng, hoặc viết hay dịch bởi các nhà báo.”

Với trình độ học vấn và khả năng ngoại ngữ Anh và Tây Ban Nha của cô, Đoan Trang dư sức để xây dựng cho mình một đời sống hơn cả sung túc. Nhưng cô chọn đi về ngành báo chí. Trong chục năm đầu, cô cộng tác với các báo của chế độ, tường thuật về đủ mọi đề tài, kể cả những đề tài không thích hợp để đăng tải, cho các báo điện tử, đài truyền hình.

Cũng trong thời gian đầu thế kỷ, với ảnh hưởng của Internet, giới trẻ ở Việt Nam bắt đầu tìm thấy tiếng nói của mình. Họ đã cất lên phản đối việc Trung Cộng xâm chiếm biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam; phản đối việc nhà cầm quyền cho thuê đất, thuê rừng dài hạn, gây thiệt hại tới môi trường; phản đối việc Hà Nội chặt cây xanh. Cung cấp cho họ các tài liệu liên hệ là Phạm Đoan Trang và các thân hữu của cô. Họ là tác giả của những bài phân tích về liên hệ Trung-Việt, và nhiều tài liệu khác làm nền tảng cho các cuộc tranh đấu. Đoan Trang như tìm thấy sức mạnh nơi kiến thức và ngòi bút.

Vào năm 2009, một biến cố đã đưa cô tới một ngã rẽ sang hẳn một hướng khác của cuộc đời. Vào ngày 27 tháng Tám, 2009, cô và hai blogger khác, Người Buôn Gió (tên thật là Bùi Thanh Hiếu) và Mẹ Nấm (tên thật là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh), bị công an bắt về tội xâm phạm an ninh quốc gia khi in áo t-shirts chống lại các mỏ khai thác bô-xít ở Cao nguyên. Họ được tha sau chín ngày bị giam. Trong thời gian này, Đoan Trang đang làm cho báo điện tử VietnamNet. Cô viết trên trang blog cá nhân là cô không dính dáng gì tới việc in t-shirt, không cả mặc cái áo đó một lúc nào, và cũng chẳng đuợc ai bàn thảo về việc đó. Dù vậy, VietnamNet vẫn cho cô nghỉ việc không một lời giải thích. Từ đó, cô cũng dần dời xa khỏi giới truyền thông lề phải.

Trước những đàn áp, bắt bớ, đánh đập và giam cầm người biểu tình chỉ để hành xử quyền tự do ngôn luận và hội họp nhằm bảo vệ đất đai của tiền nhân, Phạm Đoan Trang dần trở thành một nhà hoạt động tranh đấu cho nhân quyền. Vào năm 2012, cô trở thành một trong những nhà báo đầu tiên tường trình về việc nhân quyền ở Việt Nam bị xâm phạm với thế giới bên ngoài. Năm sau, theo lời mời của cơ sở Villa Aurora, nơi dành cho giới nghệ sĩ cư trú và sáng tác, phối hợp cùng Đại học Nam California, Đoan Trang tới Hoa Kỳ. Cô theo học khoá 10 tháng về chính trị học trong thời gian này. Cùng với các thân hữu, cô bắt đầu công cuộc vận động cho nhân quyền cho Việt Nam với các tổ chức quốc tế, như Liên Hiệp Quốc, và đã đi vận động tại nhiều nơi tại Bắc Mỹ và Âu châu.

Cũng vào thời kỳ này, vào cuối năm 2014, cùng với hai luật sư trẻ, Trịnh Hữu Long và Trần Quỳnh Vi, Đoan Trang thành lập Tạp chí Luật Khoa, một dự án của tổ chức phi lợi nhuận Sáng kiến Pháp lý Việt Nam (Legal Initiatives for Vietnam), để phổ biến những bài vở nhằm nâng cao kiến thức và hiểu biết về các vấn đề chính trị, pháp luật và xã hội dân sự.

Giới thiệu tạp chí điện tử này, Đoan trang viết trong blog cá nhân: “Tôi hiểu sự sợ hãi do chỗ không biết tí gì về luật pháp, không cả biết làm thế nào để bắt đầu thoát ra khỏi khu rừng vĩ đại um tùm đó. Tôi hiểu mọi sự có thể choáng ngợp như thế nào, và tôi biết (phần nào) việc dính dấp tới các sự việc liên hệ tới ‘các toà án’ với một tiếng nói quá yếu ớt, không biết phải làm gì và nên tin ai, khoan nói tới việc dùng luật pháp để bảo vệ chính mình…. Nói một cách tổng quát thì việc khám phá và nghiên cứu luật khoa là những bước khởi đầu trên đường xây dựng một thể chế pháp trị vậy.”

Ba trong bốn sáng lập viên của Tạp chí Luật Khoa. (Ảnh liv.ngo)

Vào ngày 26 tháng Giêng, 2015, mặc dù có vài tổ chức đề nghị để thu xếp cho cô ở lại Mỹ, nhưng Đoan Trang quyết định trở về Việt Nam. Từ đấy, cô vừa viết báo, in sách và tham gia các hoạt động cho nhân quyền, dân chủ và môi trường tại quê nhà. Tất nhiên cô, như nhiều nhà hoạt động cho nhân quyền tại Việt Nam, trở thành cái gai của chế độ và mục tiêu của những trò bẩn thỉu của công an, như bắt bớ, đánh đập, kể cả đổ keo vào khoá nhà cô để ngăn không cho cô đi tham dự vào các cuộc gặp gỡ với các phái đoàn ngoại quốc. Vào giữa năm 2016, khi vụ cá chết hàng loạt ở vùng biển Miền Trung do hãng chế tạo thép Formosa sả chất thải ra biển, trùng lúc Tổng thống Obama tới thăm Việt Nam. Đoan Trang bị công an chặn giữ xe chở cô ở Ninh Bình suốt 26 tiếng đồng hồ không cho cô tới Hà Nội gặp TT Obama khi ông có buổi tiếp kiến với các nhà tranh đấu cho dân chủ.

Về biến cố cá chết hàng loạt vì chất thải Formosa, Đoan Trang phối hợp với các thân hữu sưu tập và xuất bản cuốn “Toàn cảnh Thảm hoạ Môi trường Biển” vào cuối năm 2016, hiện có bán trên Amazon.

Bị công an theo giõi, khống chế, xách nhiễu kiểu côn đồ, Đoan Trang hầu như không đi được tới đâu mà không bị công an giả côn đồ cản trở, gây rối, có khi hành hung vô cớ. Song ngồi ở nhà không có nghĩa là cô bó tay không làm gì cả. Cô viết sách. Những đầu sách của cô, hoặc viết riêng hoặc viết chung với nhiều tác giả, hiện bầy bán trên Amazon và các trang mạng khác.

Vài tựa sách, do Phạm Đoan Trang viết hoặc soạn chung với các tác giả khác, hiện bầy bán trên Mạng, một số đầu sách có thể tìm thấy trên Amazon.com

Sau khi xuất bản cuốn Chính Trị Bình Dân,” một tổng quan về các thể chế chính trị trên thế giới nhằm lấp đi phần nào khoảng trống kiến thức về khoa chính trị học vốn bị coi là nhậy cảm trong nước, vào cuối năm 2017, bị công an xách nhiễu, Đoan Trang phải vào Sài Gòn trốn tránh. Có dạo cô ẩn náu trong khu Vườn Lộc Hưng tới khi nơi này bị nhà cầm quyền chiếm đất phá bỏ. Trong ba năm, theo lời các thân hữu của cô, từ giữa năm 2017 tới khi bị bắt vào cuối tháng 10, 2020, cô đổi chỗ ở tới 60 lần.

Dù vậy, Đoan Trang vẫn tiếp tục hợp tác với các thân hữu trong và ngoài nước thực hiện những bản báo cáo nhằm hướng dẫn dư luận vốn bị bưng bít, như về các đặc khu kinh tế tại Việt Nam và hậu quả; về vụ chiếm đoạt đất đai Đồng Tâm. Đặc biệt là vào tháng Hai, 2019, các bạn và cô thiết lập Nhà Xuất bản Tự Do, một cơ sở xuất bản sách “độc lập, với hoạt động chính là xuất bản và phát hành các ấn phẩm không chịu sự kiểm duyệt của chính quyền Việt Nam,” theo lời giới thiệu trên trang mạng của nhà xuất bản. Có lẽ nhờ tài trợ của một số nhà hảo tâm và quan tâm nước ngoài, những ấn phẩm này được phát hành thông qua hình thức bán và kể cả cho tặng (ebook) miễn phí.

Người phụ nữ nhỏ bé và can trường (có một thời gian phải chống nạng vì bị công an côn đồ xách nhiễu đánh què chân) này, dù vậy, không khỏi có những lúc nghe lòng trùng xuống. “Một nhà báo và tác giả độc lập dưới chế độ độc tài toàn trị có nghĩa là bạn có thể bị bắt và thẩm vấn, thậm chí bị hành hung bất cứ lúc nào mà không có bất kỳ biện pháp bảo vệ, không thể đi lại trong nước,” Đoan Trang tâm sự.

“Bạn cũng có thể bị quản thúc tại gia hoặc gần như trở thành người vô gia cư. Bạn có thể không thể đi chơi, đi lại bình thường trên phố vì có thể ai đó đang theo dõi bạn hoặc tệ hơn là ai đó bạn không quen biết có thể bất ngờ tấn công bạn từ phía sau,” cô Đoan Trang tiếp. “Gia đình bạn bị theo dõi chặt chẽ, bạn bè và những người ủng hộ bạn cũng có thể bị cảnh sát quấy rối… Bạn phải sống trong nỗi ám ảnh thường trực rằng bạn là kẻ thù đáng bị trừng phạt của nhà nước… Chắc chắn bạn khó có thể chết, vì họ không có chủ ý giết bạn. Nhưng bạn không thể sống bình thường như những người khác hoặc như trước kia. Nỗi đau khổ, trầm cảm và suy sụp tinh thần chồng chất sẽ tàn phá và giết chết bạn dần dần.”

Dù vậy, Đoan Trang thường tìm an ủi nơi âm nhạc. Hình ảnh cô với cây đàn guitar nổi bật trong kho hình trên trang FaceBook của cô (vẫn được nuôi dưỡng bởi người thân mặc dù cô đang ở tù và bị cấm tiếp xúc với bất cứ ai, kể cả thân nhân).

“Nếu tôi không có cây đàn guitar bên cạnh, có lẽ tôi đã phát khùng,” Đoan Trang nói.

Hình bên trên, từ trái qua Nguyễn Anh Tuấn, Phạm Đoan Trang và Trịnh Hữu Long. Vào tháng 6/2018, trong lúc những cuộc biểu tình chống hai dự thảo của Luật Đặc khu Kinh tế và Luật An ninh mạng nổ ra, Đoan Trang cùng luật gia Trịnh Hữu Long và nhà hoạt động Nguyễn Anh Tuấn đã bắt tay vào viết cuốn sách “Học chính sách công qua chuyện đặc khu.” Giữa tháng 12/2018, cuốn sách này được Luật Khoa Tạp chí xuất bản. (Ảnh: Luật Khoa Tạp chí). Hình bên phải, Đoan Trang và nghệ sĩ Saxophone Đặng Vũ Lượng tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh vào tháng 3/2017. Âm nhạc đã giúp nâng đỡ tinh thần cho Đoan Trang trong những ngày trốn tránh đàn áp xách nhiễu của công an. (Ảnh Pham Doan Trang/FB).

Nhưng cái quan trọng hơn cả đối với Đoan Trang là có người đọc những gì cô viết, với mục đích là chuyển tải kiến thức và hy vọng trong công cuộc xây dựng một tương lại tốt đẹp hơn cho Việt Nam.

Ngày 12 tháng Chín, 2019, tổ chức Phóng viên Không Biên giới đã quyết định trao giải thưởng Tự do Báo chí năm 2019 cho Đoan Trang.

Trả lời BBC Tiếng Việt, Đoan Trang đã nói về mong muốn của mình sau khi nhận giải thưởng này: “Tôi mong là trong tương lai gần, ở Việt Nam tiếp tục có thêm nhiều người mạnh dạn lên tiếng, nói lên quan điểm, chính kiến của mình trong các vấn đề chính trị xã hội.”

“Đặc biệt,” cô tiếp, “tôi rất mong đợi sẽ có sự xuất hiện của thêm nhiều cây viết, nhiều nhà báo tự do, nhà báo độc lập, các blogger có nghề viết chuyên nghiệp, kể cả các nhà báo ‘lề phải’, tham gia vào công cuộc vận động dân chủ hóa xã hội thông qua con đường truyền thông.”

Đầu tháng Sáu, 2020, liên minh lớn nhất thế giới của các nhà xuất bản (International Publishers Association) đã trao giải thưởng Prix Voltaire 2020 cho NXB Tự Do. Đây là giải thưởng vinh danh tinh thần tự do xuất bản của IPA dành cho các tổ chức xuất bản trên thế giới. Trong quá khứ, vào năm 2011, nhà thơ Bùi Chát và nhà xuất bản Giấy Vụn do anh và một nhóm trẻ chủ trương tại Việt Nam cũng đã được IPA trao giải này, nhằm vinh danh lòng can đảm và kiên trì đã liên tục, trong gần một thập niên trước đó, xuất bản các sách bị cấm mặc dù điều kiện sinh hoạt khó khăn và môi trường kiểm duyệt khắt khe của chính phủ Việt Nam Cộng sản.

Theo tạp chí Luật Khoa, mà Đoan Trang là một thành viên trong ban biên tập, thì nhà báo Phạm Đoan Trang bị công an bắt giữ vào ngày 6 rạng sáng ngày 7 tháng 10, 2020.

“Tin tức nhanh chóng được truyền đi. Tất cả người thân, bạn bè, đồng nghiệp, những người trong giới hoạt động trong lẫn ngoài nước đều đau buồn, nhưng không ai ngạc nhiên,” Luật Khoa viết.

Biết trước sẽ có ngày này, nên Đoan Trang cũng đã chuẩn bị sẵn sàng.

Tài khoản Facebook cá nhân của cô gần như ngay lập tức được chuyển giao cho người thân quản lý,” Luật Khoa tường thuật. “Thông điệp của Đoan Trang chuẩn bị từ hơn một năm trước trong các lá thư, cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh, được truyền đi rộng rãi. Nó xuất hiện trên những tờ báo lớn của nước ngoài. Video phỏng vấn cô cũng được công bố ngay sau đó.”

Trong video phỏng vấn cô thực hiện bởi Project 88, một tổ chức gồm nhiều thành viên nước ngoài thành lập với mục đích vận động cho tù nhân lương tâm tại Việt Nam, Đoan Trang tâm sự, người viết xin mạn phép ghi lại toàn bộ bản chép lại bên dưới.

Điều mong muốn lớn nhất của tôi là nâng con người lên.

Tôi hay nói đùa với chính mình, tôi là người dành cả tuổi thanh xuân để nâng người khác lên.

Nâng người khác lên được hiểu là gì? Trang bị kiến thức cho họ, trang bị kỹ năng cho họ, trao đổi thông tin với họ, tôn trọng họ, nâng họ lên để họ cảm thấy họ được tôn trọng, cảm thấy họ là con người, họ quý giá, họ xứng đáng sống một cuộc sống tốt đẹp.

Tôi muốn thay đổi Việt Nam theo hướng làm sao để cho con người được tôn trọng hơn, con người đối xử với nhau với tình yêu, thương yêu nhau nhiều hơn, thương nhau hơn, yêu nhau hơn, tin tưởng nhau hơn. Nhiều khi chỉ cần như thế thôi đã là dấu hiệu đầu tiên của phát triển rồi.

Muốn phát triển đất nước nói chung, chúng ta phải phát triển nhiều thứ chứ không chỉ riêng kinh tế. Mà ngay cả muốn phát triển kinh tế, chúng ta cũng đừng quên là phải phát triển một thứ quan trọng, đó là niềm tin của nhau. Đúng không ạ? Khi không có niềm tin thì người ta khó làm việc với nhau lắm. Khi không có niềm tin thì người ta khó làm ăn, khó hợp tác.

Dân không tin nhà nước, nhà nước không tin dân, dân không tin nhau. Chúng ta khó làm ăn lớn với nhau, không làm được gì.

Và như vậy chúng ta buộc lòng phải làm truyền thông; phát triển truyền thông, giáo dục, xuất bản.

Cho nên những điều tôi làm thì có rất nhiều những điều tỉ mỉ, tỉ mỉ, những điều không thể nói ra được, vì nó rất là nhỏ. Nhưng mà tựu chung lại tất cả nó chỉ có một sợi chỉ xuyên suốt là: Tôi luôn luôn mong muốn nâng người ta lên, nâng người đọc lên, mang lại kiến thức cho người ta, cho người đọc, mang lại cho họ hiểu biết, cho họ hiểu được rằng: tinh thần như thế này mới là sống dân chủ, thế này là văn hóa dân chủ, thế này là tinh thần cao thượng, đàng hoàng, trách nhiệm.

Tất cả những điều này tôi nghĩ tôi có thể truyền tải, truyền đạt được cho người đọc thông qua sách, báo, nhất là sách. Sách dưới mọi hình thức, sách nói, sách truyền hình, sách tiếng, sách in.

Từ lâu tôi đã để ý một đặc điểm của phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt Nam: Đó là các nhà hoạt động cứ tham gia hoạt động một thời gian rồi bị bắt đi tù. Sau đó cộng đồng dư luận trong nước cũng như dư luận hải ngoại lên tiếng kêu gọi trả tự do cho người đó, Free X, Free Y, Free X, v.v. Một thời gian thì họ được trả tự do, họ đi nước ngoài, thế là hết. Khép lại vòng đời của một nhà hoạt động.

Tôi thấy cái việc đi hoạt động, hoạt động mạnh mẽ, dấn thân, sau đấy khi đi tù, ngồi tù một thời gian rồi đi nước ngoài, rồi chấm dứt, tôi thấy nó, nó có gì đó phí phạm, cảm thấy vòng đời hoạt động của một nhà hoạt động ngắn quá, không đủ để, mặc dù nó có ý nghĩa nhưng không đủ để tạo ra một sự thay đổi nào cả.

Và càng ngày tôi càng nhận ra một điều, thực tế khá là cay đắng trong cái việc đó. Tôi nhận ra một điều là chính quyền cộng sản Việt Nam lợi dụng chuyện đó. Thay vì tiến hành những cải cách lớn, cải cách pháp lý, cải cách mang tính toàn diện và cách mạng như là cải cách thể chế, sửa đổi pháp lý, thay đổi luật này, sửa đổi luật kia, tăng cường quyền tự do của người dân, v.v. Thay vì làm những điều đó thì họ chỉ đơn giản là bắt rồi thả mọi người, bắt một cá nhân nào đấy rồi thả. Thế là được tiếng tôn trọng nhân quyền, tôn trọng các cam kết quốc tế.

Nghĩa là bằng cái việc bắt rồi thả người một cách có tính toán như vậy, họ nghiễm nhiên lờ tịt đi những cải cách lớn, những vấn đề thật sự là sinh tử và mấu chốt cho sự sống còn và phát triển của đất nước. Chính quyền đang lợi dụng điều đó, bắt thì không bị làm sao cả, thả thì được tiếng là tôn trọng nhân quyền và tôn trọng các cam kết quốc tế. Và lại cũng lờ được những đòi hỏi cải cách kia.

Vậy có lợi như vậy thì tại sao không bắt? Tại sao không tiếp tục cái việc là cứ bắt rồi người ta kêu gọi thả thì lại thả, đổi lấy một số cái điều ước quốc tế, một số hiệp định thương mại, một số thỏa thuận, một số hợp đồng bán vũ khí nào đấy với nước ngoài, tất cả những cái đó.

Còn với bản thân nhà hoạt động thì đương nhiên sau một thời gian hoạt động dấn thân, rồi đi tù, trả giá bằng những bản án tù nhiều năm, chịu những khổ đau trong tù thì họ xứng đáng được nghỉ ngơi, họ cũng xứng đáng được ra nước ngoài. Mặc dù điều đó theo tôi nghĩ là chấm dứt cuộc đời hoạt động của họ. Tôi nghĩ rằng về phía những nhà hoạt động không có gì đáng trách, họ xứng đáng những điều đó.

Rồi cuối cùng chỉ còn lại mỗi người dân Việt Nam là thiệt, đất nước Việt Nam là thiệt, bởi vì là bao nhiêu năm qua cuộc đấu tranh vẫn vậy, tình hình vẫn vậy. Không thay đổi gì hết.

Vậy cho nên tôi rất rất mong việc đi tù của mình hay bất kỳ nhà hoạt động nào khác phải mang lại ý nghĩa nào đó. Nó phải có tác dụng thật sự là một sức ép ngược lại đối với chính quyền, để buộc chính quyền thay đổi, để buộc nhà nước cộng sản này phải thay đổi. Chứ nó không thể là cái để nhà nước cộng sản này lợi dụng.

Chúng tôi không phải là hàng hóa để nhà nước cộng sản đem mặc cả với nước ngoài để đổi lấy các hiệp định thương mại hay là các thỏa thuận này nọ, đổi lấy những lợi ích cho tập đoàn cầm quyền chứ không phải của người dân. Chúng tôi không chấp nhận cái địa vị hàng hóa đó.

Tôi muốn nếu mình đi tù thì cái sự đi tù của mình phải là sự hy sinh có ý nghĩa. Nó phải nhằm mục đích nào đấy và nó phải đạt được mục đích đấy. Mục đích đó có thể là gây sức ép để buộc nhà nước, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải thay đổi.

Tôi mong muốn là nếu tôi có đi tù, tất cả những hoạt động bên ngoài, những hoạt động từ trước giờ tôi vẫn làm phải tiếp tục bình thường, thậm chí mạnh hơn.

Tôi rất không tán thành việc trong một một nhóm, một tổ chức có cá nhân đi tù, lập tức cả tổ chức kêu gọi nhau: nằm yên! nằm yên! nằm yên để lắng xuống. Trong khi đó lẽ ra việc cần làm là làm mạnh hơn.

Không có điều gì dở hơn bằng một tổ chức mà người lãnh đạo bị bắt mà tổ chức tan nát như ong vỡ tổ. Bởi vì khi điều đó diễn ra thì công an cộng sản thấy rằng họ làm đúng, họ làm việc quá hiệu quả, bắt một người mà trị được muôn người thì tại sao không bắt? Bắt được một người mà rắn dập cả đầu, tiêu diệt cả ổ thì tại sao không bắt? Nói chung là bắt nữa chứ không có chuyện nó dừng lại.

Cho nên tôi nghĩ rằng là phải cố gắng hết sức để mình tổ chức, chuẩn bị các công việc, chuẩn bị nhân sự, chuẩn bị tâm lý, chuẩn bị kỹ năng cho anh chị em mình. Để đến khi mình có bị bắt thì các anh chị em tiếp tục hoạt động thay mình.

Nếu anh chị em không tiếp tục được thì đó là lỗi của mình. Lỗi của mình là không chuẩn bị được, đã không giúp cho anh em mạnh lên, đủ mạnh để tự đứng được sau khi mình bị bắt.

Không thể nói là do bị đàn áp quá. Bao giờ mà chả bị đàn áp? Còn chính quyền cộng sản là còn đàn áp người đối lập, không bao giờ hết.

[TD2021-10]

Nguồn: https://vietluan.com.au/57690/pham-doan-trang-chan-dung-the-he-viet-2021

Tạ lỗi cùng con – Quan Dương

  • Quan Dương
    10 tháng 10, 2021

Trong hình là vợ và đứa con gái đầu lòng của tôi chụp vào năm 1977. Vợ tôi từ một cô nữ sinh khuê các xinh đẹp của trường Trung học Quang Trung, Bình Khê, Bình Định nhưng chỉ hai năm sau ngày 30 Tháng Tư 1975 đã trở thành một cô thôn nữ nhìn già hẳn đi vì mỗi ngày phải ra ruộng và chiều về ôm con để đợi chồng mà không biết ngày tháng nào chồng mình được thả về.

Đứa bé trong hình tên Lục Bình Hạ Uyên. Tháng Năm 1975 khi tôi bị bắt vào trại lao động khổ sai của bên thắng trận thì Lục Bình lúc đó mới chỉ là bào thai năm tháng còn đang nằm trong bụng mẹ. Tháng Chín 1975 Lục Bình được sinh ra đời trong lúc tôi mặc áo tù nhân phá rừng làm đường ở trại Đồng Găng thuộc tỉnh Khánh Hoà. Tháng Tư 1976 vợ tôi ẵm con chưa đầy bảy tháng tuổi lặn lội đường xa đi thăm tôi ở Đồng Găng. Đó là lần đầu hai cha con tôi được nhìn thấy nhau. Gọi là nhìn thấy nhau vì đám cán bộ cai tù không cho phép tôi được ôm con mình.

Tháng Sáu 1976 tôi được chuyển từ Đồng Găng ra trại A.30 Tuy Hòa. Mỗi một chiếc GMC là 50 tù binh ngồi chồm hổm chen chúc nhau. Phía trên là hai khẩu AK 47 chĩa thẳng với tư thế sẵn sàng nhả đạn nếu tụi tôi có động tịnh gì. Khi đi ngang thị trấn Ninh Hòa là nơi tôi được sinh ra và lớn lên, nhìn qua thành xe tôi thấy lại những con đường mà mới ngày nào tôi còn cắp sách đi trên đó đến trường. Nhưng con đường gần gũi đến thế mà giờ đây chừng như xa vời vợi.

Tháng Mười Hai 1977 vợ tôi ẵm Lục Bình thăm tôi lần nữa tại trại A30. Lúc này Lục Bình đã biết đi chập chững và tôi được phép ôm con. Đó là lần duy nhất trong cuộc đời tôi được ôm con trong vòng tay. Nhìn vợ tôi xơ xác, nhìn Lục Bình ốm tong teo vì thiếu dinh dưỡng lòng tôi đau như cắt mặc dù hình hài tôi cũng chẳng ra gì sau hai năm cuốc đất làm ruộng bất kể nắng mưa cùng những cơn đói triền miên.

Tháng Tư 1978 tôi được đưa ra tổ nuôi heo của trại. Khu chăn nuôi nằm ngoài vòng rào. Công việc của tôi mỗi ngày đến tổ xay giã để sàng cám gánh về nấu cháo cho heo. Tôi có người bạn thân chí cốt tên Cao Điền ở trong tổ thợ mộc. Mỗi lần đi gánh cám tôi thường mon men đến tổ thợ mộc để tán dóc với hắn. Hai đứa thân nhau từ nhỏ sống cùng quê đi lính cùng ngày, ở tù cùng chỗ cho nên tuyệt đối tin tưởng với nhau. Hai thằng thường nghe ngóng tin tức để thắp cho nhau hy vọng là có một ngày nào đó thoát được ra ngoài. Vào một ngày như mọi lần khi đang nói chuyện thì Cao Điền buột miệng hỏi tôi:

– Con mày sao bị mất vậy?

Tôi nghe như đất trời xung quanh sụp đổ. Tôi hỏi ngược lại hắn

– Ai nói với mày?

Hắn biết mình vừa hớ miệng nhưng đã lỡ nên trả lời:

– Bữa trước bà xã tao thăm nuôi có nói và gia đình dặn là giấu mày vì sợ mày ngã quị.

Hắn còn nói thêm:

– Con mày mất vào ngày mồng 10 Tết.

Tính ra từ ngày con tôi mất đến ngày tôi biết tin là bốn tháng. Tôi không nói tiếng nào lẳng lặng gánh hai thùng cám trở về tổ nuôi heo. Ngang đám rẫy mì thấy không có ai, tôi chui vào đó ngồi và nước mắt không biết từ đâu tuôn xối xả. Tôi khóc ngon lành.

Mới ngày nào cuối Tháng Tư 1975 trên đường di tản của một chiến binh thất trận trong lòng tôi có rất nhiều điều muốn gửi gấm đến con mình. Tôi định mai này khi con tôi ra đời và lớn lên tôi sẽ kể cho con mình nghe lịch sử của một đất nước vừa bị xóa tên trên bản đồ đầy đau thương và bi tráng. Nay điều đó đã không còn ý nghĩa nữa vì con tôi đã bỏ ra đi. Rồi tôi liên tưởng đến tiếng búa đóng đinh lên nắp hòm nhốt kín con mà không có tôi bên cạnh. Thắt lòng.

Tôi đã không chu toàn trách nhiệm để gìn giữ đất nước và con. Xin tạ lỗi.

TẠ LỖI CÙNG CON

Thôi nhé con không có ba đưa tiễn
Ngày con đi về cuối trời miên viễn
Trời cũng buồn ảm đạm mưa tuôn
Xám cả đất trời xám cả Qui Nhơn
Con lặng lẽ không một lời than thở
Rớt lạnh lùng một cơn bão nhỏ
Từ quê nhà theo bước con đi
Ngày xa con xiềng xích cột chân tay
Trong song sắt ba ngậm hờn vong quốc
Viết sẵn cho con một tờ di chúc
Con đi rồi ba biết gửi cho ai
Nụ hôn đầu theo gió gửi vào nôi
Thành nụ cuối theo mây về nẻo vắng
Thế là hết. Nay đã thành quá vãng
Tờ di chúc buồn theo năm tháng không quên
Những yêu thương không kịp gửi về con
Những rướm máu trong lòng ba quặn thắt
Con có trách sao ba không về vuốt mắt
Không ôm con ủ lạnh dưới trời mưa
Chỉ một lần thôi cũng đủ ấm con thơ
Chỉ một lần thôi là điều con ước nguyện
Những tiếng búa thay tiếng lòng đau điếng
Gọi ba về khẩn thiết con mong
Mà ba thì đang quị ngã bên đường
Vẳng bên tai tiếng đinh trên nắp hòm tê tái
Thế là hết đâu mong gì trở lại
Những nhát búa buồn vọng mãi trong đêm
Theo thời gian ôm nỗi nhớ gọi tên
Con có trách ba cúi đầu nhận tội
Thế là hết ba đã không trở lại
Cho trọn tình con dù chỉ một lần
Ngày con đi ba quị té bên đường
Tay run run đánh rơi tờ di chúc

(Bài thơ làm tại Trại A30 – năm 1979)

Nguồn: https://saigonnhonews.com/van-hoa-van-nghe/ta-loi-cung-con/

Lời Cam Kết Của TT Nixon Gửi TT Thiệu Trên Thư 05.1.1973 Bị Xóa Bỏ Khi Công Bố Trên Thư Viện BNG…

11/10/2021

  • Đào Văn

*TT Nixon <20.1.1973>:Tôi phải biết liệu bây giờ ông  có sẵn sàng tham gia với chúng tôi trong thỏa hiệp này không, và tôi phải có câu trả lời của ông  trước 1200 giờ Washington, ngày 21 tháng 1 năm 1973

* TT Thiệu <21.1.1973>: Tôi  chấp nhận lịch trình của Ngài đã đề ra liên quan đến việc ký tắt  thỏa hiệp vào ngày 23 tháng 1 (1973)
* TT Thiệu triệu tập “Hội nghị Diên Hồng”tại Vũng Tàu từ 23.1.1973 đến 25.1.1973, về việc phía VNCH sẽ ký kết hiệp định Paris vào ngày 27.1.1973.
* Nghị sĩAbourezk <13.5.1975>Tôi có bản sao của hai bức thư xuất hiện trên New York Times vào ngày 1 tháng 5 năm 1975 đã được  Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch miền Nam Việt Nam công bố  ngày 30 tháng 4 năm 1975  tại Washington.

Dao Van

Bài viết sau tóm lược dựa và tài liệu của  Tiểu ban Phân tách Quyền lực thuộc  Ủy ban Tư pháp Thượng viện, và  tuyên bố của TBT đảng cộng sản Liên Xô Khrushchev 1960 phát động chiến tranh giải phóng chống đế quốc Mỹ. Vào ngày 30 tháng 4 của năm 1975, tại thủ  đô Hoa Thịnh Đốn, Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng công bố cho báo chí Mỹ các lá  thư tổng thống Nixon  đã gửi  cho tổng thống Nguyễn văn Thiệu vào các năm 1972 và 1973 hứa hẹn sẽ giúp phía VNCH một khi phía CSBV vi phạm hiệp định Paris 1973.   Dựa vào tin tức trên báo chí nên phía  nghị sĩ thuộc  Tiểu ban trong Ủy Ban Tư Pháp Thượng Viện  đã gửi thư đến Bộ Ngoại Giao, đến Tòa Bạch Ốc yêu cầu TS Kissinger và Tổng thống Ford  trao  cho Ủy Ban các lá thư mà TT Nixon đã gửi cho TT Thiệu. Vị nghị sĩ này  cho biết phía quốc hội  Hoa Kỳ  dự trù mở cuộc điều trần để tìm hiểu về sự vụ vào các ngày 13-14-15 tháng 5 năm 1975. Sau đây là các thư trao đổi liên quan đến nội vụ

 * Bộ Ngoại Giao trả lời TNS  James  Abourezk ,

Bộ Ngoại Giao , Washington, D.C., ngày 12 tháng 5 năm 1975.

Thưa Nghị Sĩ- Tôi viết thư này để đáp lại bức thư đề ngày 2 tháng 5 năm 1975 của nghị sĩ  gửi cho Bộ trưởng Kissinger, trong đó nghị sĩ yêu cầu Bộ trưởng cung cấp cho Tiểu ban phân tách quyền lực bản sao thư từ giữa Tổng thống Nixon và Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Do vụ việc liên quan đến thư từ của Tổng thống, chúng tôi đã chuyển yêu cầu của nghị sĩ  đến Tòa Bạch Ốc. Chúng tôi đã thông báo cho Tòa Bạch Ốc  về những hạn chế về thời gian của Tiểu ban đối với vấn đề này và rằng yêu cầu của nghị sĩ phải được quan tâm ngay lập tức.

Trân trọng,

Robert J. McCloskey , Phụ tá  Bộ trưởng Quan hệ Quốc hội. {p.316}

* Thư  gửi Tổng thống  Ford của TNS Abourezk

Vào ngày 2 tháng 5, tôi đã yêu cầu Tổng thống và Bộ Ngoại giao cung cấp cho Tiểu ban Phân tách Quyền lực của Ủy ban Tư pháp Thượng viện, bản sao  các bức thư ngày 14 tháng 11 năm 1972 và ngày 5 tháng 1, ngày 17 và 20 năm 1973 do Tổng thống Richard M. Nixon gửi cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trong đó Tổng thống Nixon đưa ra các cam kết  viện  trợ đối với miền Nam Việt Nam trong thời kỳ hậu hòa đàm; bản sao các bức thư ngày 11 tháng 11, và ngày 20 tháng 12 năm 1972 của Tổng thống Thiệu gửi Tổng thống Nixon về sự viện  trợ của Hoa Kỳ đối với miền Nam Việt Nam trong giai đoạn sau hiệp định; và các bản sao của bất kỳ tài liệu hoặc thông tin nào khác liên quan đến các thư từ này. Vào ngày 12 tháng 5, Robert J. McCloskey, Phụ tá Bộ trưởng Quan hệ Quốc Hội  Bộ Ngoại giao, đã trả lời rằng yêu cầu của tôi  đã được chuyển đến Tòa Bạch Ốc .

Trong lá thư của tôi gửi đến Tổng thống, tôi yêu cầu Tổng thống trả lời trước ngày 7 tháng 5 để chúng tôi có thể sử dụng thư từ này trong các phiên điều trần của chúng tôi, về các thỏa thuận hành pháp dự trù  tổ chức vào ngày 13, 14 và 15 tháng 5. Ông William T. Kendall đã trả lời vào ngày 3 tháng 5  xác nhận đã nhận được thư của tôi, và  hứa sẽ chuyển thư của tôi đến với  Tổng thống. Trong hai cuộc điện đàm sau đó, ông Kendall đảm bảo với nhân viên của tôi rằng sẽ có phản hồi trước phiên điều trần.

Đáng tiếc, điều đó đã không xảy ra và các cuộc điện thoại tiếp theo đến văn phòng của ông Kendall đã không được đáp trả lại. Chúng tôi bắt buộc phải có các bản sao thư của Nixon và Thiệu để chúng tôi sử dụng trong  các phiên điều trần, và để chúng tôi nghiên cứu kỹ hơn về toàn bộ vấn đề liên quan đến  các thỏa thuận hành pháp, đặc biệt là các giải pháp pháp lý về các thỏa hiệp đó. Thời gian chờ đợi đã qua lâu mà không có câu trả lời, tôi kính đề nghị Tổng thống trả lời trước ngày 5 tháng 6.{p.316}

Cuộc điều trần ngày 13.5.1975

Hôm nay, Tiểu ban Phân tách Quyền lực bắt đầu xem xét lại các vấn đề liên quan đến các thỏa thuận hành pháp thay vì các hiệp ước, trong việc ký kết các thỏa thuận quốc tế. Trong khi tiểu ban đã  tổ chức các cuộc điều trần  về chủ đề này vào năm 1972, nhưng  vấn đề vẫn chưa bao giờ được giải quyết. Dự thảo  luật  được thông qua lần  đầu tiên tại các phiên điều trần, và cuối cùng đã Thượng viện thông qua,  nhưng lại bị   bức tử trong Ủy ban Nội quy Hạ viện – passed the Senate last session only to die in the House Rules Committee. {p.1}


  Các vấn đề gây ra bởi việc hành pháp sử dụng các thỏa thuận hành pháp có tác động rất cụ thể,  là làm xói mòn niềm tin của người dân vào chính phủ của họ – practical effect of undermining the faith of the people in their government.   Có lẽ ví dụ điển hình nhất về việc lạm dụng các thỏa thuận hành pháp đã được biết đến cách đây 2 tuần. Tôi có bản sao của hai bức thư xuất hiện trên New York Times vào ngày 1 tháng 5 năm 1975 đã được   Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch miền Nam Việt Nam công bố  ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại Washington. Tôi xin nhấn mạnh rằng nội dung của những bức thư này được lấy từ tờ Times; cả Bộ Ngoại giao và Tổng thống đều từ chối các yêu cầu này.{p.3}

* Thư của TT Ford trả lời  TNS Abourezk

Tòa Bạch Ốc ngày 27.05.1975 – Cảm ơn nghị sĩ đã gửi thư đề ngày 2 tháng 5 và ngày 22 tháng 5 liên quan đến các phiên điều trần của Tiểu ban phân tách quyền lực để xem xét các thỏa thuận và cam kết hành pháp. Tôi rất tiếc là tôi không thể trả lời một cách chắc chắn yêu cầu của nghị sĩ về bản sao các bức thư mà Tổng thống Nixon gửi cho Tổng thống Thiệu trong giai đoạn 1972-1973 mà nghị sĩ đã yêu cầu. Theo nguyên tắc cơ bản của quan hệ ngoại giao là giữ bí mật các cuộc trao đổi giữa các nguyên thủ quốc gia.

   Việc hai trong số các bức thư Nixon-Thiệu được công khai mà chưa được phép không ảnh hưởng đến trách nhiệm của tôi về nguyên tắc bảo vệ bí mật trao đổi giữa những người đứng đầu chính phủ.

Tuy nhiên, trước mối quan tâm của nghị sĩ về các cam kết liên quan đến viện trợ cho miền Nam Việt Nam, nghị sĩ nên biết rằng Tổng thống Nixon và các thành viên trong Chính quyền của ông ta đã tuyên bố công khai và nhiều lần rằng Hoa Kỳ dự định tiếp tục mối quan hệ về viện trợ với Việt Nam Cộng hòa và phản ứng quyết liệt trước những hành vi vi phạm Hiệp định Hòa bình Paris năm 1973.

Tôi đánh giá cao tầm quan trọng của mối quan tâm của Tiểu ban về các thỏa thuận hành pháp và quyền lực hiệp ước của Thượng viện và tin tưởng rằng những quan điểm này sẽ hữu ích trong tiến trình tham khảo của nghị sĩ. Trân trọng, GERALD R, FORD. {p.318}

* Cuộc điều trần ngày 25.7.1975

Tiểu ban Phân tách Quyền lực tiếp tục các phiên điều trần về việc Tổng thống sử dụng các thỏa thuận hành pháp để ký kết các thỏa thuận quốc tế. {Các phiên điều trần trước vào các ngày 13.5.1975 <p.1> , ngày 14.5.1975 <p.77>, ngày 15.5.1975 <p.155>}. Ông Monroe Leigh, Cố vấn Pháp lý của Bộ Ngoại giao, sẽ  trình bày vào sáng nay. {p.222}

“…” – Ông LEIGH. Tôi đã nói rằng Quốc hội không có quyền can thiệp vào  cuộc đàm phán của Tổng thống.

– TNS ABOUREZK. Tôi đồng ý với điều đó. Tôi nghĩ rằng ông ta có thẩm quyền duy nhất để đàm phán, nhưng không có quyền thực hiện các thỏa thuận. Chúng riêng biệt. Tôi không nghĩ rằng chúng tôi đã nói rõ điều đó trong cuộc đối thoại cuối cùng của chúng tôi.

– Ông LEIGH. Thành thật mà nói, thưa Chủ tịch, tôi không nhớ thông báo của chúng tôi về việc này. Tôi nghĩ rằng quan điểm của tôi luôn là có những lĩnh vực nhất định mà Quốc hội không thể hạn chế quyền của Tổng thống khi đưa ra một số loại thỏa thuận nhất định. Ví dụ, thỏa thuận về sự công nhận-  a recognition agreement –  là một thỏa thuận mà tôi nghĩ rằng Quốc hội không thể hạn chế Tổng thống trong việc đưa ra quyết định . Tôi cho rằng quyền hạn tiếp các đại sứ là quyền  độc lập, hợp hiến.

– TNS ABOUREZK.  Chúng tôi đồng ý rằng Tổng thống có quyền duy nhất để đàm phán, và có lẽ là một ý kiến hay để ngăn cản 535 nhà đàm phán cố gắng thực hiện các thỏa thuận quốc tế. Tuy nhiên, khả năng đưa ra  thỏa thuận một khi  cuộc đàm phán đạt  kết quả  như  trường hợp các hiệp ước, thời cần tham vấn với Thượng viện.{p.223}

* Bài báo trên tờ NY Thời Báo ngày 30.4.1975

Phần trên trong cuộc điều trần ngày 13.05.1975, có ghi đoạn văn:”Tôi có bản sao của hai bức thư xuất hiện trên New York Times ngày 1 tháng 5 năm 1975 đã được Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch miền Nam Việt Nam công bố vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại Washington. Tôi xin nhấn mạnh rằng nội dung của những bức thư này được lấy từ tờ Times” {p.322-323}. Người viết tóm lược nội dung như sau.

WASHINGTON, ngày 30 tháng 4 – Hôm nay, một cựu quan chức Nội các Sài Gòn đã công khai lá thư của Tổng thống Richard M. Nixon hứa với Chính quyền Sài Gòn năm 1972 và 1973 rằng Hoa Kỳ sẽ “có hành động trả đũa nhanh chóng và nghiêm khắc” và sẽ “đáp trả bằng toàn bộ lực lượng” nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định ngừng bắn Paris.

    Một phụ tá của Ngoại trưởng Kissinger vào thời điểm đó cho biết trước khi ký kết, trong một lá thư ông Nixon đã hứa rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng trước những  cuộc tấn công của Cộng sản, nhưng cựu Tổng thống không nói cụ thể.
    Nội dung của các bức thư do Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch công bố, về khả năng Mỹ sử dụng lực lượng quân sự trả đũa, cụ thể hơn là  phía Tòa Bạch Ốc  đưa ra vào đầu tháng này về vấn đề ” đảm bảo bí mật “cho Sài Gòn lần đầu tiên được công khai.
    Thật trùng hợp với những tiết lộ của ông Hưng, tại một cuộc họp báo có nhiều người tham dự tại khách sạn Mayflower, Tổng thống Ford đã chính thức từ chối cung cấp cho Quốc hội bản sao các lá thư của Nixon – Thiệu với lý do giữ bí mật ngoại giao.
     Tổng thống đã thông báo sự từ chối của mình trong một bức thư gửi cho chủ tịch vào thứ Sáu tuần trước, và Thượng nghị sĩ Sparkman đã công khai bức thư vào chiều nay.

     Tôi đã đọc chúng và tôi tin rằng những gì chúng tôi nói vào thời điểm đó vẫn đúng với ngày hôm nay,” Ron Nessen, thư ký báo chí Tòa Bạch Ốc  nói, “vào thời điểm đó” có nghĩa là đầu tháng này. “Không có điều gì đã nói với Thiệu một cách riêng tư khác về bản chất với những gì đã được nói công khai -Nothing that was said to Thieu privately differs in substance from what was said publicly.”

    Nhưng những tiết lộ cho thấy rằng ông Nixon, trong nỗ lực tranh thủ sự ủng hộ của ông Thiệu đối với lệnh ngừng bắn ở Paris – các hiệp định ngừng bắn  đang được đàm phán trong ba tháng cuối năm 1972, và vào tháng 1 năm 1973, đã gây áp lực mạnh mẽ lên Sài Gòn và  các lời hứa quan trọng chưa được tiết lộ cho Quốc hội hoặc cho công chúng Mỹ biết vào thời điểm đó.

Ông Hưng, 40 tuổi, có bằng tiến sĩ kinh tế của Đại học Virginia, đã công bố những lá  thư của ông Nixon gửi ông Thiệu, trên đó có dấu hiệu thuộc  văn phòng phẩm của Tòa Bạch Ốc, đề  ngày 14/11/1972 {p.323-324} và ngày 5 tháng 1 năm 1973 {p.325-326}  Ông ta cũng trích dẫn từ các bức thư đề ngày 17 tháng 1, và ngày 20 tháng 1 năm 1973 nhưng không cung cấp toàn văn.

Ông  Hưng  nói với các phóng viên rằng ông  ta đã có những bức thư thuộc quyền sở hữu của mình đã “một thời gian”, và có chúng khi ông  ta đến đất nước này hai tuần trước trong nhiệm vụ xin viện trợ. Ông Hưng cho biết ông đã công khai các bức thư này mà ông Thiệu không hề hay biết “theo  lương tâm mách bảo –  Mr. Hung said he was making the letters public without Mr. Thieu’s knowledge “at the dictates of my conscience.”
“Tôi tin chắc rằng cuộc thảo luận của tôi với các ông  ngày hôm nay không chỉ vì lợi ích của người dân Việt Nam, mà về lâu dài, nó rất quan trọng vì lợi ích của người dân Hoa Kỳ,” ông ta nói theo bản văn đã được đánh máy trước đó – he said in a statement he had typed out beforehand.   

Điều gì khiến ông Thiệu lo lắng –Ông Thiệu đặc biệt lo lắng về sự tiếp tục hiện diện  của quân đội Bắc Việt Nam ở miền Nam Việt Nam, và  rằng hiệp định  thiếu bảo đảm khi  thực thi. Các cuộc đàm phán ở Paris sẽ được nối lại vào ngày 20 tháng 11, và ông Nixon, vào ngày 14 tháng 11 năm 1972, đã viết thư cho ông Thiệu, kêu gọi ông đừng lo lắng về những điểm cụ thể trong hiệp định. “Nhưng điều quan trọng hơn là những gì chúng tôi nói trong thỏa thuận là vấn đề này” – sự hiện diện của quân đội Bắc Việt – “là những gì chúng tôi hành động trong trường hợp kẻ thù tiếp tục gây hấn,” ông Nixon viết. “Ngài có sự đảm bảo tuyệt đối của tôi rằng nếu Hà Nội không tuân thủ các điều khoản của thỏa thuận này, tôi có ý định thực hiện hành động trả đũa nhanh chóng và nghiêm khắc – Mr. Nixon wrote. “You have my absolute assurance that if Hanoi fails to abide by the terms of this agreement it is my intention to take swift and severe retaliatory action.”

“Trên tất cả,” ông Nixon viết, “chúng ta phải ghi nhớ điều gì sẽ thực sự duy trì thỏa thuận.” “Tôi nhắc lại lời đảm bảo của tôi,” ông ấy tiếp tục, “rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng rất mạnh mẽ và nhanh chóng đối với bất kỳ vi phạm thỏa thuận nào.” Tuy nhiên, ông Nixon cảnh báo rằng để có thể làm điều này một cách hiệu quả, “điều cần thiết là tôi phải có sự ủng hộ của công chúng và chính phủ của các ông, không trở thành chướng ngại cho một nền hòa bình mà công luận Mỹ hiện nay đều mong muốn.” Bức thư ngày 5 tháng 1 năm 1973 {p.325-326} được viết ngay sau khi Mỹ kết thúc cuộc ném bom  một cách nặng nề vào Hà Nội dịp lễ Giáng sinh, sau cuộc hội đàm Kissinger-Tho vào tháng 12.( Ghi chú: Vì tài liệu quốc hội dày trên 500 trang, để bạn đọc dễ dàng kiểm chứng, người viết đã tách riêng 2 trang <325-326> ghi nội dung lá thư ngày 05.1.1973, và trang 326 có kèm bản chụp lời cam kết với chữ ký của TT Nixon, người viết dùng làm logo đề tài của bài viết nêu trên  [1])

Giọng điệu của ông Nixon cứng rắn hơn đối với ông Thiệu, nhưng lại kèm theo lời hứa trả đũa. Ông Nixon lại bác bỏ quan ngại của ông Thiệu về quân đội Bắc Việt hiện diện trên lãnh thổ của ông ta và cảnh báo về “hậu quả nặng nề nhất” sẽ phải gánh chịu nếu chính phủ của ông Thiệu “từ chối hiệp định và tách khỏi Hoa Kỳ”. “Nếu ông  quyết định, như tôi tin tưởng ông  sẽ đi với chúng tôi, ông  có sự đảm bảo của tôi về sự hỗ trợ tiếp tục trong giai đoạn sau đàm phán và chúng tôi sẽ đáp trả bằng toàn bộ lực lượng nếu thỏa hiệp  bị Bắc Việt Nam vi phạm”, ông Nixon đã viết – “Should you decide, as I trust you will, to go with us, you have my assurance of continued assistance in the post-settlement period and that we will respond with full force should the settlement be violated by North Vietnam,” Mr. Nixon wrote.   “Toàn lực,” ông Hưng nói, được các quan chức cấp cao Sài Gòn giải thích có nghĩa là những hành động tương tự như vụ ném bom nặng nề vào miền Bắc Việt Nam và phong tỏa  cảng Hải Phòng vào tháng 5 năm 1972, và vụ đánh bom Giáng sinh. 

   Vào ngày 20 tháng 1, khi các cuộc đàm phán gần như kết thúc, ông Nixon đã gửi điều mà ông Hưng gọi là “tối hậu thư” cho ông Thiệu: “Như tôi đã nói với các ông, chúng tôi sẽ ký tắt hiệp định vào ngày 23 tháng 1. Tôi phải biết liệu bây giờ ông  có sẵn sàng tham gia với chúng tôi trong thỏa hiệp này không, và tôi phải có câu trả lời của ông  trước 1200 giờ Washington, ngày 21 tháng 1 năm 1973 – As I have told you, we will initial the agreement on January 23. I must know now whether you are prepared to join us on this course, and I must have your answer by 1200 Washington time, January 21, 1973″( Ghi chú: thư viện BNG có ghi lại nội dung lá thư này  [2]).  Ông Hưng hôm nay nói: “Những áp lực, cùng với những đảm bảo,“ đã thành công trong việc buộc Tổng thống Thiệu phải đồng ý ký hiệp định vào ngày 27 tháng 1 năm 1973 – successfully forced President Thieu to agree to sign the agreement on Jan. 27, 1973.”  Ông Hưng là phụ tá riêng cho ông Thiệu vào năm 1973.

Ông Nixon lần đầu tiên công khai đe dọa sử dụng vũ lực chống lại Hà Nội được đưa ra trong cuộc họp báo ngày 15 tháng 3 năm 1973. Ông Nixon nói: “Chúng tôi đã thông báo cho Bắc Việt về mối quan ngại của chúng tôi về sự xâm nhập này, và những gì chúng tôi tin rằng đó là sự vi phạm lệnh ngừng bắn. Tôi chỉ đề nghị rằng dựa trên những hành động của tôi trong bốn năm qua, Bắc Việt không nên coi thường biểu hiện lo lắng như vậy khi họ nổi điên, liên quan đến một hành vi vi phạm. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói. “

Ngày 3 tháng 5 năm 1973, ông Nixon nói: “Chúng tôi đã nói với Hà Nội, một cách riêng tư và công khai, rằng chúng tôi sẽ không dung thứ cho những vi phạm hiệp định.” Nhưng đến cuối tháng 6 năm 1973, ông Nixon miễn cưỡng ký một nghị quyết  của Quốc hội – nhằm chế việc tuyên chiến, và cắt toàn bộ viện trợ quân sự  cho Đông Dương kể từ  ngày 15 tháng 8 năm 1973. Điều này, như Tòa Bạch Ốc  đã loan báo  trong tháng này, nghị quyết này đã  hạn chế các  sự đảm bảo  của ông Nixon  hứa hẹn trước đây.  {p.322-323}–  {page 1 – page 326} [3]

* Xóa bỏ lời cam kết của TT Nixon … khi lá thư công bố  trên  thư viện BNG (lá thư ngày 05.1.1973) 

 Phần trên dựa theo  bản văn của Thượng viện xác nhận:”Tôi có bản sao của hai bức thư xuất hiện trên New York Times ngày 1 tháng 5 năm 1975 …”  Nơi trang 325 và 326  trong tài liệu của quốc hội có ghi lại nội dung bức thư ngày 05.1.1973 [1].  Tuy nhiên nội dung lá thư  TT Nixon gửi TT Thiệu ngày 05.1.1973 phổ biến trên thư viện online của BNG lại bị xóa bỏ đi một đoạn văn về sự cam kết:

Should you decide, as I trust you will, to go with us, you have my assurance of continued assistance in the post-settlement period and that we will respond with full force should the settlement be violated by North Vietnam.”.[4]

Dao Van 2

* Thư của TT Thiệu trả lời về yêu cầu của TT Nixon ký thỏa hiệp

Phần trên việc TT Nixon đòi hỏi  TT Thiệu   phải có câu trả lời của ông  trước 1200 giờ Washington, ngày 21 tháng 1 năm 1973″. Phía TT Thiệu đã có thư hồi đáp, nội dung được phổ biến trên Thư viện Bộ Ngoại Giao online: 

Gửi Ngài Tổng thống, (Sài Gòn ngày 21 tháng 1 năm 1973)

Đại sứ Bunker đã chuyển cho tôi vào đầu ngày hôm nay lá thư của Ngài  ngày 21 tháng 1, trong đó Ngài  yêu cầu tôi cho Ngài biết trước 12 giờ trưa, ngày 21 tháng 1, theo giờ Washington, rằng liệu Chính phủ Việt Nam có tham gia với Ngài trong việc ký tắt  Hiệp định vào ngày 23 tháng Giêng và ký kết chính thức vào ngày 27 tháng Giêng. Tuy nhiên, tôi phải nói rằng tôi không thể chấp nhận những cáo buộc của Ngài về sự chậm trễ  thông báo cho chính phủ của Ngài biết nhận xét của chúng tôi  liên quan đến thỏa hiệp này, vì chúng tôi nhận được phiên bản mới nhất của thỏa hiệp vào ngày 11 tháng 1, và những điểm mà Chính phủ Việt Nam đã phản đối trong các bức thư trước của tôi liên quan đến những thay đổi có trong phiên bản mới nhất đó. Đối với văn bản tiếng Việt của các nghị định thư, chúng tôi mới nhận được bản văn  từ Đại sứ quán Hoa Kỳ trong ngày hôm nay. Về vấn đề này, tôi xin nhắc lại với các Ngài  bản ghi nhớ của Chính phủ Việt Nam đã được gửi cho Đại sứ Bunker vào ngày 19 tháng 1 và lá thư của tôi ngày 20 tháng 1. Trước những tuyên bố của Ngài rằng viện trợ của Hoa Kỳ cho VNCH sẽ bị cắt đứt nếu tôi không tham gia cùng Ngài,  và những nhận xét của Ngài khiến cho mối quan hệ của chúng ta bắt buộc phải đặt mối quan hệ của chúng ta trên một cơ sở mới, nên tôi đã đi đến các quyết định sau đây.

     Liên quan đến việc Hà Nội từ chối rút quân khỏi miền Nam Việt Nam sau khi ngừng bắn, tôi phải nói thẳng rằng tôi không thấy có các điều khoản nào về sự  đảm bảo mà Ngài nêu ra đã đủ để khắc phục tình trạng này. Tuy nhiên, vì lợi ích của sự thống nhất giữa hai Chính phủ của chúng ta, và trên cơ sở đảm bảo mạnh mẽ của các Ngài  về việc tiếp tục viện trợ và hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam sau khi ngừng bắn, tôi  chấp nhận lịch trình của Ngài đã đề ra liên quan đến việc ký tắt  thỏa hiệp vào ngày 23 tháng 1, tùy thuộc vào sự khác biệt giữa văn bản tiếng Anh và tiếng Việt mà tôi đã đề cập với Ngài  trong các lá thư trước đây của tôi.” [5]

* TT Thiệu triệu tập “Hội nghị Diên Hồng” tại Vũng Tàu bàn về hiệp định Paris

 Theo văn bản ghi trên, TT Nixon ấn định ngày 23.1.1973 là hạn chót phía VNCH  ” phải có câu trả lời ” về  bản hiệp định…Tổng thống Thiệu  đã triệu tập cuộc họp tại Trung Tâm Huấn Luyện Cán Bộ  XDNT tại Vũng Tàu, từ chiều 23.1.1973 đến sáng ngày 25.1.1973 để chia sẻ các khó khăn và  phía VNCH bị buộc phải ký kết hiệp định chính thức vào ngày 27.1.1973.

  Chủ tọa “Hội nghị Diên Hồng” là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và các phụ tá tại Phủ Tổng thống. Ngoài các viên chức  Phủ Tổng thống, thành phần tham dự còn bao gồm các vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện, Thủ tướng và  toàn thể thành viên trong nội các Trần Thiện Khiêm, các sĩ quan cao cấp thuộc Bộ TTM và các Quân đoàn, các nghị sĩ, dân biểu  đứng đầu các ủy ban thuộc Thượng Viện và Hạ viện VNCH. Phía 14 người trong BĐD thuộc hội đồng Đô-Tỉnh-Thị toàn quốc cũng được mời tham dự, người viết thuộc thành viên trong BĐD cũng có mặt trong phiên họp này.

Dao Van 3

     Vì  thỏa hiệp dự định được ký kết chính thức vào ngày 27.1.1973, nên phía VNCH chưa công bố  việc ký kết cho công chúng biết.   Nhưng sáng ngày 25.1.1973 khi rời cuộc họp tại Vũng Tàu, trên đường về tỉnh, người viết ghé cư xá sĩ quan cố vấn Mỹ thuộc Quân Đoàn 3 tại Biên Hòa, nơi đây đã thấy báo chí Mỹ  đề ngày 25.1.1973 loan tải về việc ký kết hiệp định.Qua sự kiện này lại cho thấy cách hành xử giữa nước lớn với nước nhỏ …

    Năm 1960, tại đại hội đảng lần thứ 81 tại Moscow,  TBT đảng Khrushchev lên tiếng kêu gọi phát động chiến tranh giải phóng để chống  lại đế quốc Mỹ, đồng thời thông báo ” Một phong trào dân tộc  giải phóng, nhằm trực tiếp chống lại đế quốc Mỹ và những kẻ làm tay sai  của chúng, đang phát triển ở Nam Việt Nam và Lào –A national-democratic movement, directed against the U.S. imperialists and their flunkeys, is developing in South Vietnam and Laos[6]. Sau đó tại Việt Nam, Mặt Trận DTGPMNVN ra đời vào ngày 20.12.1960.

    Năm 1961 về phía Mỹ, nhằm chống lại Liên xô qua chiến tranh giải phóng,  ngay sau khi nhậm chức vào tháng 1.1961, TT Kennedy phát động chiến tranh chống nổi dậy, chống giải phóng – Counter Insurgency Progam / CIP  – Nhưng chỉ sau khi nền đệ Nhất VNCH  bị lật đổ, thời Mỹ mới có thể đưa quân vào Việt Nam (Mar.1965) để thực hiện chiến lược này .  Khi muốn rút quân đi, Mỹ cũng làm áp lực để rồi  nền Đệ Nhị VNCH không còn tồn tại …Sự việc được Tướng Westmoreland đã công khai bật mí  về mục tiêu chiến lược của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.  Tướng Westy tuyên bố rằng ”  chúng  tôi không bao giờ được quyền đế cắt đứt con đường này  dù chúng tôi dư sức làm điều đó, vi` con đường này là mạch sống của địch quân và việc cắt đứt con đường này sẽ giảm thiểu các chiến lược của chúng tôi rất nhiều.” <Việt Báo ngày 03.09.2021>.

Trong cuộc chiến vừa qua, quân và dân miền Nam Việt Nam không thua  vì thiếu tinh thần và  khả năng chiến đấu, mà thua vì  Mỹ  đã dùng chiến tranh Việt nam để chia rẽ khối cộng sản, ” làm rạn nứt quan hệ giữa Liên Xô và Trung Cộng” – “Trong suốt thập niên 1960, sự cay đắng của mối thù Trung-Xô không có khả năng hòa giải sớm là yếu tố quan trọng khiến cho Hoa Kỳ quyết định can thiệp quân sự vào Việt Nam-the bitterness of the Sino-Soviet feud and the unlikelihood of early reconciliation constituted an important factor in the US decision to intervene militarily in Vietnam”.<Việt Báo ngày 03.09.2021> . Vì vậy nhằm  thực hiện mục tiêu ” chiến lược ”  để chống Liên Xô, Mỹ đã không thực thi lời cam kết ” will respond with full force ” nên nền đệ Nhị VNCH bị hy sinh.

Đào Văn

Bài viết tới  tiêu đề:  TT Ngô Đình Diệm chết vì  TT Kennedy …(theo tài liệu  giải mật sau này của BNG), và bản photo bức điện viết tay của  TT NĐ. Diệm viết vào hồi 4 giờ chiều ngày 01.11.1963 (theo tài liệu của NSA archives).

Nguồn:

[1]- Google book {page 325-326} Thư TT Nixon gửi TT Thiệu ngày 05.1.1973

[2]- Thư viện BNG 20.1.1973:Message From the President’s Assistant for National Security Affairs (Kissinger) to the Ambassador to Vietnam (Bunker)

[3]- Google Book, {p1} – {p326}: Congressional Oversight of Executive Agreements, 1975

[4]- Thư viện BNG 05.1.1973:The text of a letter from President Nixon to President Thieu

[5]- Thư viện BNG 21.1.1973 Letter From South Vietnamese President Thieu to President Nixon

[6]- Tuyên bố của TBT Khrushchev 1960:Statement Of 81 Communist And Workers Parties Meeting In Moscow, Ussr 1960

Nguồn: https://vietbao.com/a309821/loi-cam-ket-cua-tt-nixon-gui-tt-thieu-tren-thu-05-1-1973-bi-xoa-bo-khi-cong-bo-tren-thu-vien-bng-

Đơn vị đầu tiên – Giang Đoàn 23 Xung Phong – Di Trương

Di Trương

Huy hieu GD23XP. TVQ Collection

Khóa 5 OCS làm lễ mãn khóa tại trường Sĩ Quan Hải Quân Newport, Rhodes Island  ngày 8 tháng 12 năm 1970.  Sau khi tham dự khóa huấn luyện tác chiến trong sông rạch ở Treasure Island California, chúng tôi về đến phi cảng Tân Sơn Nhất Sài gòn vào khoảng 10 giờ sáng ngày 23 tháng 12 năm 1970.

Vì không có nơi nào ở Sài gòn để tạm trú nên tôi theo Hiển T5 về ở tạm nhà nó  gần cầu Công lý.  Chập tối hôm đó tôi đón taxi đến nhà Lịch T7 ở Ng Tri Phương CL để chuyển mấy món quà Giáng Sinh cho mấy em của Lịch cho kịp trước lễ Nửa Đêm. Thật ra thì Lịch có ý muốn gởi tôi đem về mấy trăm đô cho gia đình cùng vài món quà nhỏ cho các em, nhưng tôi không dám nhận tiền với lời biện minh rằng tôi không thể hoàn trả lại nếu chẳng may bi hải quan phi cảng tịch thu.

Về những ngày mới vào HQ, tôi không còn nhớ mình từ Căn cứ HQ Tiên Sa Đà Nẵng vào Sài gòn bằng phương tiện gì nữa, nhưng chắc chắn một điều là kể từ khi trình diện tạm trú tai Bạch Đằng 2 là bắt đầu làm con bà phước cho đến khi trình diện đơn vị đầu tiên,  Giang Đoàn 23 XP tại hậu cứ ở ngã ba Vĩnh long – Cần thơ.  Thời gian ở trại BD2, tôi chỉ có một lần dạo chơi khu vực nhà thờ Đức Bà và đại lộ Lê Lợi – bị dòng người đẩy đi thì đúng hơn – vào đêm Noel 1969 cùng với Thương V5 rồi khuya về ngủ trên tầng thượng của trung tâm văn hóa Pháp là chỗ ở của gia đình người bà con của Thương.  Đó là lần đầu trong đời tôi cảm nhận được sự náo nhiệt và hào hứng của đêm Giáng Sinh ở Sài gòn.  Lúc ở trung tâm huấn luyện Quang Trung, tôi thường ở lại giữ sam vào cuối tuần.  Vài lần có theo Thạnh về chơi ở khu chung cư Cầu Muối.  Lúc ở APL, tôi thường ở lại tàu chuyên tâm học tiếng Anh vi tự thấy mình kém tiếng Anh so với đa số anh em xuất thân từ trường Tây; vả lại cũng chẳng biết đi đâu vào cuối tuần.  Cũng có vài lần theo về nhà Lịch chơi và được cho ăn phở gà tiệm nhà rất ngon.  Thường thì Lịch đem xôi gà hay Chinh đem bánh pate chaud vào cho ăn vào tối chủ nhật. Tôi thấy vui và biết ơn các bạn ấy lắm.

Ngày chọn đơn vị, nhìn bảng liệt kê các đơn vị tôi không có ý tưởng gì rõ rệt để chọn cho mình đơn vị đầu tiên, ngoài ý muốn khám phá vùng sông nước miền Tây.  Dương, bạn cùng khóa, người Cần thơ nói với tôi sẽ chọn về Vĩnh long vì là đơn vị gần Cần thơ nhất trên bảng.  Thế là tôi và Dương cùng chọn Vĩnh long với hy vọng có thể sớm làm quen với cô giáo sinh sư phạm Vĩnh long nào đó.  Tôi chọn GD23XP, Dương chọn GD31XP.  Ngày trình diện đơn vị mới biết là chung Liên GD 23/31 XP.

Hậu cứ Liên GD23/31XP ở ngay chợ nhỏ VL, ngay trong CCHQ/VL, gần ngã ba đi Cần thơ.  Đêm đầu tiên, chúng tôi khoảng bốn người gồm tôi, Dương, và một người nữa không nhớ tên được NVChín khóa 20NT dẫn bộ đến thăm trường Sư phạm Vĩnh long cách hậu cứ chưng hơn cây số trên đường đi Cần thơ.  Chín phục vụ trước ở GD31 và có gia đình ở Vĩnh long nên được yêu cầu hướng dẫn mọi người.  Chúng tôi đi loanh quanh trong khu nam sinh viên trước rồi men qua khu nữ sinh viên nhưng không có ai lai vãng bên ngoài vào giờ ấy.  Khi mọi người muốn về thì cổng chính đã đóng chặt nên chúng tôi phải hồi hộp leo tường nhảy ra ngoài.  Kỷ niệm về trường Sư phạm Vĩnh long chỉ có thế nhưng mài vẫn chưa quên.  Khoảng một năm sau đó tôi có quen một nữ giáo sinh sư phạm VL tên là Chi phụ bán hàng trong Câu lạc bộ tại hậu cứ.  Cô Chi là em của Thượng sĩ QNT căn cứ HQ Vĩnh long (không biết tên).

Giang Đoàn Xung Phong Hải Quân VNCH – Nguyễn Văn Ơn – biển xưa

Thật ra thì thời gian tôi ở tại hậu cứ đơn vị ở VL không nhiều, thường là vài ba ngày khi được thay thế để về nghỉ ngơi từ vùng hành quân chính là sông Hàm Luông Bến tre, hay khi dẫn toán chiến đĩnh về nhận tiếp liêu.  Đặc biệt có một lần ở lại hậu cứ trên ba tháng với nhiệm vụ xử lý CHP GD23XP (thuyên chuyển) chuẩn bị sẵn sàng cho đợt thanh-tra thường niên BTL/HQ. Tôi đã làm mới hay bổ sung những tài liệu chứng từ tham mưu, tác chiến, bảo trì chiến đĩnh àcho GD23XP; nói chung là hoàn chỉnh tất cả những thiếu sót so với bảng liệt kê trong cẩm nang thanh tra BTL/HQ, kèm thêm việc tô điểm bộ mặt của đơn vị về hình thức bên ngoài.  Tôi được đơn vi trưởng cho phép chi văn phòng phẩm rộng rãi để đợt thanh tra được hứa hẹn tốt đẹp cùng với vài SQ già khác lo về ngoại giao.  Sau khi thanh tra với kết quả tốt như mong muốn, tôi được thưởng mấy ngày phép, rồi lại được chỉ định trở xuống vùng hành quân ở Bến tre như trước.

Tôi quen cô Chi trong thời gian chuẩn bị thanh tra đơn vi.  Chi không đẹp, chỉ ưa nhìn thôi. Tuy câu lạc bộ và phòng hành quân giang đoàn, nơi tôi thường xuyên có mặt chỉ cách nhau một khoảng sân, tôi hiếm khi vào đó. Họa hoằn lắm là chỉ ghé mua thuốc Capstan nguyên gói khi có đủ tiền, không đích thân mua lẻ vì sợ bị coi thường. Có một lần tôi ghé câu lạc bộ vào buổi trưa vắng khách, nói vài câu làm quen với Chi, định bụng sẽ hỏi mua chịu gói Capstan. Đến gần tủ thuốc lá mới thấy có ghi không bán chịu thuốc lá. Tôi hỏi bâng quơ tại sao và được biết đó là quyết định của chủ CLB.  Phải chịu nhịn thèm thôi. Chi hình như có cảm tình với tôi và đoán được ý nghĩ của tôi nên sau một hồi im lặng, Chi phân bua rằng mỗi tối trước khi đóng cửa CLB, chị của Chi, chủ CLB luôn kiểm tiền bán thuốc trong tủ thuốc. Chi được dặn không bán chịu thuốc hút. Trưa hôm sau, thằng em binh nhất (quên tên) làm phòng nhân viên kế bên cười cười chào tôi và nói cô Chi nhắn hỏi Tr/U D hôm nay sao không thấy qua chơi! Tôi bảo hắn trả lời cô Chi là ghiền thuốc hút từ hôm qua đến nay muốn chết, chơi không nổi. Tôi thách hắn có ngon thì mua thiếu giùm gói Capstan trước. Hắn chỉ cười rồi lủi mất. Xế chiều, đang ngồi một mình ngáp bâng quơ trong phòng hành quân thì thằng em lại ghé qua đưa gói Capstan và cười nói ông trúng mánh rồi Tr/U ơi, cô Chi nói chỉ bán thiếu cho một mình ông thôi rồi cổ phải lấy tiền riêng bỏ vào tủ thuốc để khỏi bị bà chị phát hiện.  Thế rồi thằng em này lại có vài dịp khác giúp tôi việc này, mặc dù tôi qua gặp Chi nói chuyện mưa nắng thường hơn một chút. Sau này tôi mới biết là thằng em cũng chẳng tử tế mấy đâu, cứ mỗi lần mua thiếu giùm tôi một gói Capstan thì hắn cũng mua thiếu một gói cho hắn!

Dần dà tôi cũng cảm nhận được tình cảm của Chi đối với tôi. Rất tiếc tôi không nghĩ gì sâu sắc mà chỉ thích nhìn Chi đi ngang qua từ cổng đơn vị đến CLB, tay nghiêng vành nón che nắng trưa với dáng người dong dỏng cao lồ lộ dưới gió từ mặt sông thổi lên.  Có một lần Chi nói nhà Chi ở bên kia cầu Thiền Đức và ngỏ ý mời tôi đến thăm chơi vào cuối tuần. Tôi đã hứa qua loa mà chưa lần nào ghé thăm.

Tro chien ham Nguyen Duc Bong HQ231.jpg

Chỉ thế thôi đến khi tôi rời GD23XP về trình diện HQ231, không một lời từ giã Chi.  Sau này có dịp ôn lại chuyện cũ, tôi thấy dù sao thì mình cũng có lỗi với Chi vì đã biết tình cảm của cô ấy đối mình mà ngày ấy mình vẫn lững lờ như cá vàng trong hồ kiếng.

Có lẽ một phần là vì tôi đang để tâm đến một người con gái khác ở Thị Nghè, háo hức chờ điện thoại của nàng từ SG gọi xuống, vài lần mỗi tuần, thường vào khoảng xế trưa. Cũng có thể là vì một cô gái trẻ tôi mới quen ngoài chợ Nhỏ VL, ngay phía trước hậu cứ, nơi tôi thường dùng cơm trưa ở một quán cóc trong chợ này.  Tháng nào cũng chỉ đóng trước được khoảng mười ngày tiền cơm sau khi trả hết tiền bia ghi nợ ở quán Chị Chín bên hông hậu cứ.  Những ngày còn lại ăn cơm sấy chiên với thịt gà hộp ration C cầm hơi cho đến ngày lãnh lương. Đôi khi ngán cơm sấy thịt hộp quá phải nhờ hạ sĩ tà lọt khu SQ độc thân mua cơm thiếu giùm vì không dám vác mặt ra quán.  Sát vách quán cơm ngăn bằng lưới B40 là sạp bán dép lào, nơi cô gái trẻ mới quen có thể nhìn và nghe mọi chuyện bên quán cơm.  Một hôm, bị bạn bè thách đố lớn tiếng cho cô ấy nghe, ăn trưa xong tôi bạo gan bước vòng qua sạp bán dép tìm cách làm quen.  Tôi bối rối cất lời chào và nhờ cô tìm giúp cho một đôi dép vừa chân. Cô gái, tên H Vân, có lẽ cũng bối rối chẳng thua gì tôi vì đã nghe và thấy hết màn thách đố trước đó và biết mọi người đang theo dõi chúng tôi. Trong lúc Vân chọn dép và đưa tôi ướm thử, tôi kín đáo nhìn Vân và đồng ý với bạn bè là Vân trẻ đẹp nhất khu chợ này.  Vân chọn đôi nào tôi cũng mỉm cười lắc đầu.  Sau cùng Vân nhìn tôi bằng đuôi mắt và hỏi thế Tr/U muốn tìm đôi dép… như thế nào ạ . Im lặng một lúc tôi mới nói muốn tìm một đôi dép mà cả hai chiếc cùng quay về bên trái. Sau một giây ngạc nhiên, mọi người cùng cười vang, cô Vân thẹn đỏ mặt nhưng chẳng chịu nhường, cô trả lời chậm rãi là nếu đôi chân Tr/U bị tật thiệt thì Tr/U có thể mua giùm hai đôi giống nhau rồi đổi thành một đôi quay bên này, một đôi quay bên kia tùy ý. Mọi người lại cười vang lần nữa. Lần này chính tôi bị bối rối thật sự vì tôi đâu có muốn mua dép mà lại hai đôi chớ không phải một.  Tôi phân trần với Vân rằng không phải là chân tôi có tật đâu nhưng vì tôi đã có một đôi dép với hai chiếc cùng quay về bên phải rồi, cô nghĩ tôi mua hai đôi để làm gì chứ. Vân không nói thêm gì nữa chỉ liếc tôi một cái sắc lẻm như muốn nói rằng thôi ông ơi tôi biết tỏng hết rồi, ông chỉ muốn làm quen thôi chứ mua chác gì phải không. Tôi thấy hôm nay như thế đủ rồi nên nói lớn cho mọi người nghe, nếu cô không chịu bán đôi dép theo ý tôi thì thôi tôi xin cám ơn nhé, à trưa mai tôi có thể ghé thăm cô nữa không. Không có chi đâu Tr/U, ông có thể ghé lúc nào cũng được từ mười giờ rưởi sáng đến ba giờ chiều, vào giờ khác thì má em sẽ ngồi coi sạp thay em. Tôi cuốc bộ về đơn vị lòng thấy vui vui, hình như có một ngọn đèn xanh le lói đã được bật lên một nơi nào đó !

Bẵng đi vài hôm vì bận việc tôi mới lại ra quán ăn cơm trưa. Vừa bước vào chị Bảy chủ quán đã cười toe và nói nhỏ vào tai tôi khi vói tay để ly đá lạnh lên bàn, chà, mấy ngày nay cô ấy cứ nhìn qua đây hoài, còn hỏi chị cái ông Tr/U gì đó sao không thấy ra ăn cơm. Tôi chỉ cười và liếc mắt qua phía ấy thì bắt gặp cô Vân cũng đang liếc qua bên này. Rồi, có chuyện rồi, tôi tự nói với mình như thế và quyết định ăn nhanh xong sẽ qua thăm Vân.

Sau đó, cứ vài bữa tôi lại ghé thăm Vân một lần, không phải tại sạp dép mà tại nhà, vào buổi sáng. Nhà lá trong hẻm nhỏ, gõ cửa liếp theo ám hiệu ba cái liền hai cái rời, vì chỉ có một mình Vân ở nhà dọn dẹp, nấu cơm, ăn trước một mình rồi ra sạp bán từ mười giờ rưởi sáng để mẹ Vân về nghỉ. Nhà chỉ có hai mẹ con. Gặp ở nhà thật thoải mái vì chỉ có hai đứa, hẻm nhỏ lại rất vắng vẻ. Vân học tới lớp bảy, nghỉ học phụ với mẹ buôn bán vì nhà nghèo. Nhìn dáng phổng phao và cách ăn nói cũng khá già dặn, tôi cứ yên chí Vân ít nhất cũng phải là mười tám tuổi. Cho đến khi Vân nói nàng mười sáu tuổi và đưa tôi xem thẻ căn cước bọc nhựa còn rất mới để chứng minh.  Thôi, chết rồi, ở tù như chơi.

Cuộc tình thơ mộng này rồi cũng chấm dứt sau gần một năm. Thơ mộng vì duy nhất chỉ có một lần tôi ôm Vân vào vòng tay định trao nụ hôn đầu, Vân run quá xá, thấy tội nghiệp nên đã thôi không tiếp tục. Chỉ thế thôi. Sau đó tôi chủ động chấm dứt, nhờ hạ sĩ tà lọt trả lại khung hình Vân tặng và một tập nhạc. Cuộc tình chấm dứt không một lời giải thích cho Vân, không một cơ hội cho Vân hỏi lý do. Tôi đã tránh mặt Vân suốt một thời gian dài cho đến khi thuyên chuyển về HQ231. Không gặp được tôi bằng mọi cách, Vân đã khóc rất nhiều. Kể cả Vân, cả bạn bè không ai biết được lý do, có lẽ là cho đến sau này. Chỉ mình tôi biết. Cả tôi và Vân đều quá trẻ, tôi là con bà phước ở vùng châu thổ Cửu long, là lính chiến hải hồ không bến đợi. Gặp nhau, quen nhau, yêu nhau mà không thể đến hôn nhân được thì tốt hơn nên chia tay lúc cần chia tay đường ai nấy đi như chưa từng quen biết nhau. Đừng để người con gái bị thiệt thòi sau cuộc tình, phải nguyên vẹn như lúc đầu khi chia tay. Sẽ giận, sẽ trách, và rồi sẽ quên, mọi thứ vẫn y nguyên để mỗi người tiếp tục sống cuộc sống của riêng mình. Tôi rời GD23XP Vĩnh long về HQ 231 âm thầm không một lời ly biệt đầu thu 1973.

Di Truong

Nguồn: http://www.bienkhoi.com/so-47/don-vi-dau-tien.htm

Những Oan Hồn Trên Đại Lộ Kinh Hoàng – Trần Đức

Trần Đức

Thấm thoắt đã 30 năm trôi qua kể từ ngày một đoạn đường số 1 dẫn từ Mỹ Chánh ra Quảng Trị đã được đặt cho cái tên là “đại lộ kinh hoàng”.

Một người lính TQLC, nước mắt chan hòa, đứng lặng giữa hàng trăm, hàng ngàn xác chết bên cạnh những chiếc xe đạp, xe gắn máy, nằm ngổn ngang, chỏng gọng, những gồng gánh, bao bọc bị đạn pháo đổ ra tung tóẹ Những chiếc xe jeep, xe thùng hồng thập tự, vết đạn xuyên lỗ chỗ. Ngọn gió Lào nóng rát mặt đẩy đưa cánh cửa xe cho thấy những xác người nằm trên băng ca, những cọng băng phất phơ chỉ còn bám vào bộ xương khô bởi mấy rẽ xương sườn.

Có bộ xương em bé nằm trên bộ xương người mẹ dưới một bụi gai. Có xác khô đét như người tiền sử nằm giữa đám cỏ may bên lề đại lô… Có xác nằm sấp, có xác nằm co như còn mong bờ đất dưới ruộng che chở cho mình thoát tầm đạn giặc…

Tất cả im lă.ng. Không có tiếng người, không có tiếng chim. Chỉ có những tiếng phành phạch của những tấm bạt xe, những manh quần, vạt áo cứng còng vì bê bết máu khô đang bị gió lùa bay lên như những cái vẫy tay kêu cứu. Thỉnh thoảng, có một mảnh vải, một mảnh băng tuột ra, bay bổng theo gió rồi mắc trên những bụi cây gai trên đồng trống khô cằn…

Trên mặt lộ, mỗi xác chết như đã in hình dáng của mình trên nhựa đường bằng một quầng đen đậm.

Đó đây, giữa đám xác người, người ta còn nhìn thấy rải rác những đuôi đạn súng cối 61 ly và B40 là những vũ khí có tầm xa không quá 1 cây số nằm ngổn ngang. Thì ra cộng quân đã đứng rất gần để tác xạ vào đám dân Quảng Trị chạy loạn. Họ đã bắn như bắn biạ Bắn cho chết đến người cuối cùng. Bất kể đàn ông, đàn bà. Bất kể người già hay trẻ thợ Thật là rùng rợn. Hình ảnh này trong trận tấn công “Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972” ghi sâu mãi mãi trong ký ức của những người đã chứng kiến thảm-cảnh người dân Quảng Trị phải gánh chịu và tội ác chiến tranh của những người Cộng Sản.

Đoàn quân tiến ra Quảng Trị, trả lại sự lặng yên, hiu quạnh cho đoạn đường chết chóc. Thoáng nhìn trong đội hình, có người làm dấu thánh giá, có người chắp tay niệm Phật. Chỉ tiếc không có nén hương, ngọn nến thắp lên để sưởi ấm những oan hồn mà thân xác còn phơi giữa đồng khô, cỏ cháỵ

Đoạn đường mang tên “Đại Lộ Kinh Hoàng” nay không còn xác chết, không còn dấu vết của tội ác. Họ đã được thân nhân mang về mai-táng ngay sau đó. Nhưng từ năm 1975 mỗi năm đến ngày giỗ tập thể, hàng ngàn gia đình ở vùng quê hương Quảng Trị chỉ âm thầm thắp nén hương thơm tưởng nhớ. Không ai dám hé răng nửa lờị Có những người không còn thân nhân thì mồ hoang, mả lạnh, không chút khói hương. Nghĩ đến xót xa làm sao! Họ đã chết tức tưởi mà đến nay họ còn u uất nơi bờ cao bụi rậm, không sao siêu thoát được. Hẳn họ không sao có thể ngờ dược là 30 năm sau, người đời vẫn còn nhớ thương ho..

Tin từ trong nước cho biết, Trong thời gian từ ngày 28-4 đến ngày 2-5-2002 vừa qua, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Quảng Trị đã tổ chức tại chùa Long-An thuộc quận Triệu Phong đàn tràng cầu siêu cho những nạn nhân bị Cộng Sản sát hại trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 tại Quảng Tri.. Đại lễ được sự hộ niệm của quý thầy từ các vùng lân cận, đặc biệt của Tăng Đoàn Thừa Thiên – Huế. Người ta ghi nhận, có quý Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Hòa Thượng Thích Như Đạt, Hòa Thượng Thích Phước Duyên cùng đông đảo quý Thượng Tọa, Đại Đức và Tăng Ni.

Trong suốt thời gian đại lễ, đồng bào hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị đã tề tựu rất đông để tham dự, có những buổi lên đến vài ngàn người, mặc dù chính quyền địa phương đã cho cán bộ đi từng nhà để ngăn cản, đe dọa, chặn đường, cấm cho thuê xẹ Thượng tọa Thích Hải Tạng, trụ trì chùa Long An cho biết, nhân dịp này, đồng bào đã mang hàng trăm linh vị các nạn nhân của cộng sản trong Mùa Hè Đỏ Lửa đến chùa để xin được giải oan siêu thoát.

Trước khi khai đàn, theo nguyện vọng của đồng bào, quý Thầy đã vào tận Đại lộ kinh hoàng, từ Cầu Dài về phía Hải Lăng, để rước thỉnh các hương linh của nạn nhân cộng sản về đạo tràng chùa Long An. Một tiết mục đặc biệt khác của đại lễ là lễ Phóng sinh đăng, kết thuyền hoa đăng cúng ngay trên dòng sông Thạch Hãn. Vào ngày cuối của đại lễ, cũng có một trai đàn chẩn tế để giúp đỡ cho các gia đình nghèo khổ cơ nhỡ tại địa phương.

Người lính TQLC của 30 năm trước, hôm nay cũng chan hòa lệ rơi khi được tin những oan hồn uổng tử trong Mùa Hè Đỏ Lửa trên Đại Lộ Kinh Hoàng đã được tăng ni phật tử tới tận nơi rước vong về chùa giải oan, siêu thoát. Họ không những được sự tế độ của chư tôn đức mà còn được sự tưởng nhớ của hàng ngàn Phật tử Thừa Thiên, Quảng Trị và hàng triệu đồng bào ta tưởng nhớ tới ho.. Hơn 2 triệu người Việt sống tha hương trên đất khách quê người cũng hướng về Quảng Trị, hướng về Đại Lộ Kinh Hoàng và thắp nén hương lòng tưởng nhớ tới họ, cầu nguyện cho họ được siêu thoát và được tiêu-diêu miền cực lạc.

Việt Nam còn nhiều oan hồn còn dật dờ nơi nhà tù, trại giam, ven rừng, ven suối, hoang đảo, đại dương. Việt Nam còn nhiều anh linh những người đã hy sinh để bảo vệ bờ cõi, chiến đấu giải phóng dân tộc. Những vị này đã bỏ mình vì sự độc ác của đảng và chế độ cộng sản trên quê hương thân yêu của chúng tạ Cả nước cần cầu siêu cho ho..
Nhưng điều cần phải làm là rửa hờn cho họ và tiếp nối ý chí anh dũng của ho…

TranĐuc

Sep 04, 2007

Nguồn: trích từ báo Copbien.com-http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1188942012&first=1740&last=1799

Chuyện bá láp : Cô Vít và Nợn – Lý sự Cùn

                                                                          Lý sự Cùn

    Lý Toét viết chuyện bá láp, giải oan cho Ngựa, không phải hầu tòa vì liên can đến Cô Vít thì Cô Heo lại kêu ! Lý Toét định viết ‘chuyện Heo’ nhưng sợ Quý vị nhăn mặt, thấy tựa.. ‘Chuyện con heo’, nhắm mắt.. ‘delete’ liền nên xin đổi thành Lợn và Lý toét là dân ‘ri cư’ nên thường viết là .. con Nợn !

    Nhưng tại sao Nợn lại .. liên can đến Cô nàng tiên (xẩm) cánh dơi Cô Vít ?

   Truyện dài thuộc loại ba sàm.. trong nhà ngoài phố, thả trong “Ao thả Vịt” :

  • Nợn và thuốc chủng ?

    Mỹ Quốc luôn có các chuyện tào lao khó hiểu, Ông Tổng Thống hô hào ra lệnh bảo dân đi tiêm chủng ngừa Cô Vít.. Dân nói ‘No’ , Cụ Tổng cho tiền thưởng mời đi chích, vẫn chê, Ngài bèn ra lệnh : không chích không cho làm việc, về nhà nuôi.. gà, nghe vợ dạy dỗ : Dân ô kê , về thôi và ăn tiền thất nghiệp, khỏi làm đi lãnh thực phẩm phát không ! Tại sao kỳ dzậy ? Dân Việt chạy.. cửa sau để chích, khoe loạn xà ngầu ta được chích thuốc xịn (Pờ phai dzơ), ngay cả vàng mã đốt gửi xuống Cõi Âm, giá thuốc  chủng cũng.. khác nhau !

   Ông Tổng Mỹ thua Quan Tòa khi người ‘không chích’ viện lý do tôn giáo (??) Các ông Thầy Tu (ngon hơn Thầy Thuốc, Thầy cãi.) đã từng khuyến cáo tín đồ tẩy chay thuốc chủng J&J, và quý vị đấm ngực nghe theo.. không xài J&J : Lệnh Cha Xứ ở gần phải nghe còn lệnh các ông Giám mục và cả Ngài Giáo Hoàng.. xa lắm ?

  Nay đến phiên.. không chích vì liên quan đến Nợn !

  “ Số là trong thuốc chủng ngừa covid-19 lại.. có thành phần ‘nào đó’ từ Nợn ? và luật Islam thì cấm.. liên hệ với Heo”

Gelatin lấy từ Heo, Bò được dùng làm chất ổn định hóa (stabilizer) trong thuốc chủng , giúp thuốc giữ mức độ hiệu nghiệm trong thời gian phân phối..

  Các thuốc chủng Pfizer, Moderna và AstraZeneca cho biết là trong công thức không có gelatin nhưng các thuốc của các Công ty khác như Sinovac, Sinopharm và CanSino Biologics (đều của Tàu, vua thịt heo quay da giòn)  lại.. giữ bí mật không công bố.

    J&J, Novavax , Gamaleya Research .. đều im lặng, chờ.. dại sao nói ?

  Các Ông Đạo Imam của Hội Đồng Islam thế giới đã ra giáo lệnh (edict) chống AstraZeneca.. ‘Haram’ cấm xài vì có.. Nợn”, nhưng ai muốn chích thì cũng.. ô kê ?

    Thế là.. có vấn đề ‘tôn giáo’.. có thể viện dẫn để người Mỹ theo Đạo Islam có quyền từ chối.. chủng ngừa mà Cụ Tổng Mỹ phải thua (religious exemption, từng chấp nhận cho Quý vị giáo chúng của Jehovah Witness)..

(Quý vị không.. tin Lý Toét.. mời đọc nhen :https://health-desk.org/articles/are-there-any-covid-19-vaccines-that-use-pig-fat-or-pork-products

  • Nợn gây dịch Covids

   Đây là Truyện.. Tàu (?) có thật nếu vị nào tin là có Ngài Trư Bát giới !

   Sau khi tạo hỏa mù, đổ tội lung tung chỉ muốn cãi ‘bựa’ là vi rút Chệt không từ Vũ Hán.. khi thì cho là tại dơi, tại cầy hương, tại tê tê..tại cá ‘đông lạnh’ (cô vít mặc áo len Tàu?) nay các ngài heo quay lại đưa thêm lý thuyết.. Cô vít đến Vũ Hán từ.. đầu heo đông lạnh nhập vào Tàu , bán tại  Huanan Seafood Wholesale Market?

  Ngày 23/11/2020, các Ông ‘khoa học’ Tàu loan báo ..có 22 ca nhiễm Covid-19 trong đó 2 ca, một tại Thiên Tân và một tại Thượng Hải..do ăn.. đầu heo nhập cảng từ Bắc Mỹ (nhưng họ không thử nghiệm siêu vi ‘nếu có’ trong đầu heo (Reuters Nov 24-2020)

Đầu.. Heo

  Lý Toét miễn bàn thêm, vì các khoa học gia Tẫu còn tào lao xịt bộp , vô địch..Cùn hơn xa Ný Toét

Xin mời quý vị tìm đọc trong “South China Morning Post”..:https://sg.news.yahoo.com/coronavirus-china-covid-19-origin-114810299.html

  • Nợn và.. Thở cùng Cô vít ?

   Những ngày đầu khi Mỹ bị Cô vít Tàu xâm lăng, Chính quyền (ông Trâm lúc đó) xấc bấc xang bang, chống đỡ lung tung thiếu khẩu trang để bịt.. thiếu nước sát trùng.. thiếu luôn giấy vệ sinh.. ? Nhưng nguy hại nhất là thiếu cái gọi là văng-ti-la-to.. Ông Trâm ra lệnh ngừng sản xuất.. xe tăng, tàu bò.. Công ty GM lo làm.. Văng-ti-la-to ngay lập tức..

Các ông Thống đốc NewYork, California.. dành nhau mua cái ‘quái quỷ’ này!

Vậy thì cái quái này là cái gì, liên hệ đến Cô vít và .. cả Nợn nữa..Lý Toét vội cầu cứu Bác Xã Xệ, trên thông thiên văn, dưới thông địa lý; Bác Phán : Đồ ‘nhaque’ :  Cái văng-ti la-to là cái máy bơm!  giống bơm.. xe đạp đó! khác một chút là thay vì bơm hơi vào cái xăm ruột lốp thì bơm hơi vào phổi? Lý Toét vẫn mù mờ hỏi thêm Bác Xã.. liệu có giống cái ‘bơm Dove” thời Việt Nam Cộng Hòa không? bị mắng liền .. các này bơm vào phổi, đổ dấm dớ, dở hơi!

    Thôi đành vào Gu-Gờ : Văng-ti la-to là tên Mít của Ventilator, các Ông Đốc gọi là “Máy trợ thở”, đưa không khí thở được (breathable), vào và ra (hai chiều) khỏi phổi giúp người bệnh thở khi ‘không thở nổi’. Máy trợ thở của xứ Tân tiến như Mỹ là cả một hệ thống điều hành bằng computer..dùng trong phòng cấp cứu, phòng chăm sóc đặc biệt (Intensive care hay ICU).. và cả khi gây mê..

   Tuy nhiên, các Ông bà Đốc cũng cho biết : bệnh nhân cũng có thể dùng ‘mặt nạ nối với bao bơm không khí bằng tay (bag valve mask) .. cũng thở được đó mà.

   Nàng Cô vít chui vào phổi, gây nhiễm tế bào phổi, người bệnh khó thở, hết hơi nên cần đến ventilator ! Ông bà Đốc gọi là acute respiratory distress syndrome (Lý Toét dốt không biết dịch.. !)

    Khi có dịch Covid, các Nhà thương tại Mỹ không chuẩn bị nên có những nơi như NewYork .. thiếu máy, có nơi lại.. thừa (bỏ trong kho không dùng..) như Oregon.. Và vì cung cầu không đồng bộ nên lung tung và lúng túng.. Ông FDA cũng đành chấp thuận cho xài máy Phillips dù .. chưa đủ thử nghiệm.. NASA cũng nhập cuộc chế máy VITAL (Ventilator Intervention Technology Accessible Locally) giao cho 8 công ty ‘quốc phòng Mỹ, sản xuất cấp tốc nhanh hơn cả phi thuyền không gian..    

Máy thở NASA

   Ông NewYork, thấy bệnh nhân Tiểu bang của mình chết vì Covids quá xá kêu la to nhất, đổ cho Tổng Trâm không làm đủ ventilator.. vì người mắc covids tại NewYork khi nhập viện là ‘bị’ nhét ống thở ‘tú đờ suỵt’..Kho chứa 20 ngàn máy mà vẫn kêu! Ông Cali khá hơn, không la to, nhưng có tiền đi mua gom máy các nơi.. về để dành?
   Nhờ cơn ‘sốt Ventilator’ mới biết được nhiều điều thật ngộ trong thế giới ‘ta bà’ này.

  • Ông Putin ngon lành.. biếu không cho Mỹ vài chục ngàn máy ventilator (made in CCCP) Đốc tờ Mỹ không đọc được chữ Nga.. thua, và FDA cũng lắc không dám nhận dù cho ‘free’ hoàn toàn bao luôn phí tổn chuyên chở!
  • Thiếu ‘máy xịn’ nên có nhiều nhà phát minh đã ‘chế’ nhiều máy ‘dã chiến’, gọi chung là Open-source Ventilators.. Ai xài thì..xài, miễn là có thổi ra hơi : có còn hơn không mà.

(Các ông phó kỹ sư (CHXHCN= Xạo Hết Chỗ Nói) công bố làm ra máy bơm tay, từ máy bơm bóng bay , bơm không khí vừa nhanh vừa gọn, giá rẻ rề, đòi bán cho Mỹ vì.. Cột đèn Mỹ đòi về Việt Nam.. trốn Cô vít, VN có cả Chiến dịch Giải cứu Kiều bào đó!)

    Hai Công ty Ventec Life Systems và General Motors ngay 4/2020 đã tung ra 30 ngàn máy Ventec-Pro, quảng bá là ..ngon lành ?    Các Viện ĐH Mỹ cũng nhào vô chia phần..làm ra các máy giá rẻ (có máy giá chỉ bằng 4% của hệ thống đang sử dụng tại Nhà thương, Máy Coventor do Boston Scientific chế tạo).

  • Giá một Hệ thống xịn (full featured) từ 30 đến 50 ngàn đô lận.. UCLA Biodesign ráp một máy respirator từ các linh kiện mua tại Home Depot.. Hoạt động ngon lành (thử nghiệm tại UCLA Simulation Center) và giá chỉ vài trăm đô.
  • Nhiều vị Bác Sĩ khuyên bệnh nhân nhiễm cô vít nếu còn thở được và mức oxy tại phổi còn trên 80% thì.. ráng thở vì vào ICU ‘thọc’ ống.. cơ hội ‘hết thở’ cao hơn !.. lý do là khi đặt ống thở còn kèm theo nhiều vấn đề khác nữa không phải chỉ lá cái ống và cái máy bơm đơn giản, mà còn nhiễm trùng, hư phổi nhanh hơn (ventilator-associated lung injury (VALI).. Người được nhét ống bị delirium (lơ mơ không tỉnh thức); nằm bất động lâu và không nói được.. (WebMD không làm thống kê.. có bao nhiêu bệnh nhân bị tử vong không do Cô vit mà do.. đút ống thở ?)
  • Khi có thuốc chủng : Các Tiểu Bang ‘đầu cơ tích trữ’ văng-ti la-to’ ôm máy tồn kho..thuê chỗ cất : Ông NewYork còn vài chục ngàn, ông Cali cũng vài chục : đang mong có dịch ‘ngộp thở’.. đem ra xài chơi ! Để lâu quá.. ‘Expire’ lại phải bỏ, Sang như Huê Kỳ !

Tại sao lại có Nợn dính vô vụ thở này?

                                                             Lợn .. bơi và thở?

    Lý toét quen biết một Bà Bác sỹ Thú Y (DVM) đàng hoàng, có cả một Clinic mang tên “Aviary & Exotic..” chuyện trị.. ‘Chim’ và thú hai cẳng (không trị thú 4 cẳng), hỏi về ăn gà, vịt.. có bị nhiễm Cô vít không ? Bà không giả nhời mà lại cho bài viết về Nợn có cái tên thiệt lạ : “Pigs can breathe through their butts. Can humans?.. Bài báo cho biết là nhờ Nợn nên có thể khỏi xài văng-ti la-to

   Tuyệt vời khi bài báo viết (The Scientist,May 14, 2021)  rõ hơn  :

” Các nhà nghiên cứu tìm ra, chuột và heo có khả năng thu nhận oxygen vào máu, qua đường ruột.. và nếu áp dụng được vào cho người.. sẽ giúp các bệnh viện giảm nhu cầu cần đến ventilator”.

Nhóm nghiên cứu của BS Takanori Takebe (GS ĐH Medical & Dental Tokyo) đang nghiên cứu về Tế bào gốc tại Trung Tâm Nghiên cứu Y khoa Cincinnati, ứng dụng các kết quả nơi chuột, thử nghiệm thêm qua heo, để có thể sau đó .. tiếp tục nghiên cứu cho người : Chuột có thể nhận oxy qua đường ruột..oxy được đưa vào theo đường hậu môn, giúp chuột đang trong môi trường thiếu oxy.. gia tăng khả năng sống còn đến hơn 75%. Nhóm nghiên cứu sau đó chuyển sang dùng dạng ‘oxy hóa lỏng thử trên heo và kết quả còn khả quan hơn..   Nghiên cứu xa hơn,  nhóm Takebe thử dùng ‘perfluorodecalin’ (PFD), một loại fluorocarbon lỏng có thể ‘mang’ một lượng cao oxygen, PFD đang được dùng cho trẻ sơ sinh bị bệnh phổi (acute respiratory distress syndrome, kiểu Covid-19 gây ra khi nhiễm phổi) khó thở..PDF cũng là một chất ‘tạo sức căng bề mặt’ (surfactant) (trong các tế bào phế nang có một lớp chất căng bề mặt để giúp tăng sự trao đổi không khí), do đó PDF có thể cũng có tác động này bên trong ruột..

                                                               Thử nghiệm về PFD

   Áp dụng các thử nghiệm về PFD đạt được trên chuột.. Nhóm nghiên cứu thử tiếp trên Heo : các kết quả rất tốt, lượng PFD có thể gia tăng và không gây phản ứng độc hại..

   Các kết quả ghi nhận từ heo sẽ đem thứ trên người (clinical)

Nếu thành công, thì có thêm một phương thức đưa oxygen giúp thở vào cơ thể không tùy thuộc vào ống qua ‘văng-ti la-to ‘cửa trên’ mà lại theo lối ống.. hậu môn (kiểu rửa ruột ?, tránh nhiều phản ứng phụ khi dùng.. máy thờ đường trên?

Tất cả đều nhờ .. có Nợn.

                                                                                          Lý Sự Cùn  10/2021

Quý vị đã đọc Chuyện con Nợn, xin mời đọc.. con Ngựa tại : https://bienxua.wordpress.com/2021/10/01/chuyen-tao-lao-co-vit-ngua-va-lon-ly-su-cun/embed/#?secret=OSzjvCeM27

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Trang hồi ký không bao giờ quên – Tamar Lê

10/10/2021Hoai Duyen

Tamar Lê

Vào cuối tháng Tư năm 1975, Khi đó, tôi đang dự hội nghị quốc gia ở Schonell Special Education Research Centre của đại học Queensland. Một tuần được rời xa Tasmania để khi trở về thì tình yêu Tasmania sẽ dâng trào hơn nữa. Nhưng trong tâm hồn tôi hình như có gì bất ổn.

Khi tôi trình bày xong bài research của mình thì một đồng nghiệp kêu tôi ra uống café trên campus và chia sẻ: “I am sorry to let you know that Saigon is in pain at the moment, many people want to get out.” Tôi chạy về phòng xem tin tức trên TV và thấy Saigon đang ở trong một sự xáo trộn lớn. Tôi vội gặp Professor Betty Watt, conference convenor, xin phép về Tas sớm hơn để theo dõi tình hình ở quê nhà vì lòng tôi rất bất ổn.

This image has an empty alt attribute; its file name is Thao-whitlam.jpg

Thật vậy, lúc đó Mr. Gough Whitlam là Thủ Tướng thứ 21 của Úc. Buồn thay, vì lý do nào đó, ông ‘e ngại’ trong việc giúp người tỵ nạn Việt Nam qua Úc. Tôi cũng có liên lạc với vài người trong quốc hội Úc để nhờ họ ‘năn nỉ’, nhưng không đưa đến đâu. May quá, được biết Thủ Tướng Whitlam sẽ xuống thăm Tasmania vào June 1975, nên tôi cố gắng xem sao. Báo chí ở Tasmania rất ủng hộ tôi trong việc này. Nhiều sinh viên của tôi, nhất là anh Garry Bense, chủ tịch sinh viên ở Launceston campus  dàn xếp cho tôi gặp Thủ Tướng. Tôi cố hết mình thuyết phục ông, nhưng buồn ơi chào mi.

Khi Thủ Tướng Whitlam thất cử và ông Fraser lên thay thế, cánh cửa cho Vietnamese refugees được mở rộng. May thay, Ông Ian Macphee là Immigration Minister với lòng đầy thiện cảm, đã giúp đỡ mở rộng  vòng tay cho người Việt tỵ nạn vào Úc. Từ đó, người Việt mình tay bắt mặt mừng hớn hở đến Úc và bắt đầu đóng góp cho nước đang cưu mang mình trên nhiều lãnh vực.

Hồi còn học ở Đại Học Monash, vào weekend tôi hay đi Point Cook thăm một gia đình Việt Nam, và khi xe chạy qua Footscray tôi cố lái mau hơn vì ‘sợ ma’, cảnh vật rất đìu hiu… Nay trở lại Footscray, đi đâu cũng gặp người Việt mình, nói cười thân thiện, làm tôi cứ ngỡ mình đang đi trên một con phố nào đó của Saigon năm xưa.

Thành phố xưa một lần gặp lại

Vui rộn ràng lẫn buồn chứa chan

Ngày tháng cũ ân tình chất ngất

Chào Sàigòn nỗi buồn riêng mang. (VD)

Nguồn: https://vietluan.com.au/57421/trang-hoi-ky-khong-bao-gio-quen-tamar-le

Những mạch nước ngầm

  • Phan Tấn Thiện
    10 tháng 10, 2021

Minh hoạ: Rowan Heuvel/Unsplash

Thanh Tâm, tên thật của một người con gái ở miền cuối đất Việt. Người ta không còn nhớ họ nàng là gì, chỉ nhớ  rằng nàng có đôi mắt bồ câu đen láy, chiếc mũi dọc dừa thẳng tắp và tiếng nói thoang thoảng hương thơm. Tuy gian lao khổ cực như những cô gái cùng lứa tuổi sinh ra trong hoàn cảnh của một đất nước chiến tranh, nhưng nàng có một mái tóc đen dài trên bờ vai thon nhỏ, đôi môi như lúc nào cũng chực sẵn một nụ cười trên hàm răng trắng đều tăm tắp. Môi nàng hồng như đóa hoa hé nở trong buổi sáng mùa Xuân, má nàng như màu phấn nhạt; những lúc càng mệt nhọc bao nhiêu thì đôi má nàng càng hồng đậm thêm bấy nhiêu.

Thanh Tâm sinh trưởng trong một gia đình trung nông, cách tỉnh lỵ chừng ba mươi cây số. Cha mất sớm, nàng còn một mẹ già và ba người anh trai. Những năm chiến tranh ác liệt, theo dòng người ly hương, mẹ nàng đưa gia đình về sống hẳn nơi thành phố tỉnh lỵ của quê nhà, nằm trong vùng kiểm soát của người quốc gia. Xa quê hương nhà cửa, ruộng vườn với cuộc sống tản cư cơ cực nhưng gia đình tránh được bom đạn của cả hai bên, nhất là sự bắn giết, chết chóc hàng ngày mà Việt cộng thường nhắm vào những gia đình không ưa Việt cộng.  

Gia đình được chính quyền cấp cho một căn nhà lợp tôle sơ sài làm bằng những  vật liệu nhẹ, nằm sau lưng nhà thờ Chính Tòa.  Nơi đây đêm đêm sau giờ học nàng thường quỳ gối cầu nguyện hàng giờ.

Trong những năm cuối của bậc trung học, Thanh Tâm rất được nhiều người ngưỡng mộ, chú ý vì nhan sắc đã đành mà phần lớn cũng nhờ vào bản tính hiền lành, e thẹn. Như bao nhiêu chàng trai trẻ khác, Tuấn cũng thật tình chiêm ngưỡng nhan sắc của Thanh Tâm, nhưng không có dịp gặp riêng, tâm sự để thổ lộ nỗi lòng của mình. Tình cảm của những cậu học trò nghèo mới lớn như cơn gió thoảng vào cuối Hạ, man mác trong lòng nhưng cũng dễ bay đi…

Sau khi tốt nghiệp trung học, nàng nhận lời cầu hôn của Triết, giáo sư Anh Văn, dạy tại trường. Cuộc hôn nhân diễn ra tốt đẹp như lòng mong mỏi của nhiều người.

Đám cưới chẳng bao lâu, chiến cuộc xảy ra ở Miền Nam lại gia tăng khốc liệt.  Triết, chồng nàng, bị động viên nhập ngũ. Trường Bộ Binh Thủ Đức lại có dịp đón chào những chàng trai ưu tú của miền Nam quyết đem thân ngăn làn sóng đỏ.

Minh hoạ: Mike Swigunski/Unsplash

“… thành ngăn sóng đỏ mây sừng sững…”

(Chú thích 1: Thơ Vũ Hoàng Chương.)

Sau khi mãn khóa sĩ quan, Triết được chuyển về giữ một tiền đồn ở Dakto, miền cao nguyên nước Việt.  Nơi đây là một tiền đồn hẻo lánh, thường bị áp lực thường xuyên của lính cộng sản Bắc Việt. Theo Hiệp Định đình chiến 1973, quân đội Bắc Việt phải rút về phương Bắc. Nhưng không, quân đội Bắc Việt Nam không chịu rút quân về phương Bắc như quy định của Hiệp Định Paris 1973, một mặt hứa rút quân, mặt kia gia tăng vũ khí, quân số và tạo điều kiện tấn công tới tấp. Bắc Việt có trăm ngàn lý do để bội ước, mà không đếm xỉa gì đến Hiệp Ước, Hòa Đàm.

Khi chiến thắng thì ai cũng biết là miền Bắc thắng miền Nam, và lúc nào họ cũng vỗ ngực tự hào. Nhưng khi thế giới lên án Bắc Việt là quân hiếu chiến, xâm lăng thì họ lại cho rằng đây chỉ là vấn đề nội bộ của Miền Nam. Kỹ thuật lừa dối tinh vi được tuyên truyền lập lại hằng giờ qua mọi phương tiện truyền thông, cộng phong cách ứng xử điêu luyện của những diễn viên trên sân khấu chính trị tài tình đến nỗi ngay cả những học giả, văn nhân, những nhà trí thức rường cột hình thành tư tưởng của miền Nam không biết đâu là chân mà đâu là giả! Đến khi đụng mặt rồi thì mới ngã ngửa ra rằng đây chỉ là bọn cướp ngày mà giả danh là Tiên là Phật!

Chiến tranh có những tính toán bất nhân của kẻ chủ tâm gây chiến làm cho người trong cuộc thường mất tỉnh táo để thấy rõ dã tâm của kẻ xúi giục mình! Một trong những chiến thuật bất nhân mà người cộng sản thường áp dụng là “chiến thuật biển người”. Kẻ đằng sau gây chiến chủ trương rằng chết bao nhiêu cũng mặc miễn là được chiến thắng cuối cùng và, nhất là khi cuộc chiến xảy ra giữa bên này và bên kia chiến tuyến, khi một người bị chết vì vũ khí của bên kia thì những người thân còn lại của kẻ chết sẽ chỉ biết căm thù kẻ địch và sẵn sàng nhả đạn vào kẻ thù mà không cần nhìn rõ và biết ai là thủ phạm chính gây ra thảm cảnh tương tàn. 

Họ muốn quân ta chết nhiều chừng nào thì lòng căm thù của những người thân còn sống đối với kẻ bên kia chiến tuyến nhiều chừng nấy, và chính lòng căm thù này sẽ đóng góp một phần không nhỏ vào yếu tố giành thắng lợi cuối cùng do những kẻ chủ chiến gây ra mà ngay những người chết khi xuống mồ cũng chẳng biết mình chết vì ai! Miệng thì lúc nào họ cũng cho rằng: “con người là vốn quý của xã hội…” nhưng chính ra trong ý đồ và lương tâm của họ: Quân ta càng chết nhiều chừng nào thì chiến thắng gần kề hơn chừng nấy.  

Vừa lên tiền đồn thì Triết đụng ngay trận lớn. Theo những người còn sống trong trận kể lại thì địch quân như bầy kiến thiêu thân, hết lớp này ngã lớp khác tiến lên theo sự đốc thúc dồn dập bởi cấp chỉ huy của họ. Triết bắn đến viên đạn cuối cùng và chấp nhận hy sinh. Trong đêm Triết hy sinh thì Thanh Tâm cũng sinh được cho chàng một bé gái.  Âu cuộc đời cũng có những định mệnh thật tình cờ: Hoa Lan lại nở trên đầu súng!

***

Delaware là một tiểu bang nhỏ ở miền Đông nước Mỹ. Nơi đây có một gia đình người Việt đầu tiên đến định cư do sự bảo trợ của một nhà thờ trong vùng. Người chồng trên sáu mươi tuổi, ngày ngày chẳng biết làm gì. Nỗi buồn của kẻ xa quê, tỵ nạn trong cảnh nước mất nhà tan, bút mực nào nói lên cho xiết!

Cuộc sống trôi đi thật đơn điệu và nhàm chán, nhưng ít ra cũng thoải mái hơn là sống trên quê cha đất tổ trong vòng kiểm soát độc ác của người tự nhận là đồng bào của mình. Nhà ở cho gia đình là một căn nhà độc lập với khu vườn thật rộng. Ngày ngày không biết làm gì để quên đi nỗi nhớ quê hương, chủ nhà ra ngoài mua mấy thứ rau quả về trồng làm thú tiêu khiển. Vài dây bầu, vài cụm bí ngô, bí đao, mướp hương bắt đầu nhú lên trong khu vườn nhỏ. Đất cũ đãi người mới. Không biết bao lâu, bầu bí mướp trong vườn nhà ông xum xuê tươi tốt. Ông lại làm giàn theo kiểu ở quê mình cho chúng bò lên xanh kín một vùng. Ban đầu thì gia đình ăn, ăn không hết lại cho lối xóm. Cho không hết thì ông lại đem ra những tiệm tạp hóa Á châu trong vùng gửi bán.  

Ông cũng chẳng ngờ rằng nhu cầu rau quả trong vùng mỗi lúc một gia tăng. Ông và vợ ông mới nghĩ đến chuyện phát triển khu vườn của mình thành một nông trại nhỏ chuyên trồng rau quả cho người châu Á. Ông gửi thư qua Cali, những vùng có đông người Việt xin hạt giống rau thơm, cải rổ, diếp cá, ngò gai, rau muống, tần ô,… mà người mình thường ưa chuộng. Thế là năm sau trong vườn ông ngoài bầu bí mướp xanh tươi còn có nhiều loại rau thơm, rau muống, cải xanh… mù mịt khắp trời.

Những tiệm tạp hóa địa phương xung quanh không tiêu thụ hết những rau quả ông trồng trong vườn. Ông nhờ đứa con trai đang làm công nhân trong hãng Mỹ cứ cuối tuần Thứ Bảy, Chủ Nhật dùng xe Van nhỏ chở xuống tận Phila, New York giao thử cho những siêu thị người Việt, người Tàu đang mở tại đây. Thế là chiếc điện thoại nhỏ bé trong nhà lâu nay nằm chèo queo, ít người gọi nay thì bận rộn liên tục. Những cửa hàng, siêu thị trên New York, Phila gọi đến nhà ông tới tấp. Họ đang cần những món rau quả mà ông đang có. Vườn nhà ông dầu rộng đến thế cũng không đủ sức cung cấp hàng cho các thành phố lớn nước Mỹ. Ông lại nghĩ ngay đến việc mình phải cần những vùng đất rộng hơn.

Tương tự như những tiểu bang khác trên Bắc Mỹ này, Delaware có những nông trại bỏ hoang mà người bản xứ chưa tận lòng khai thác. Thế là trong vòng ba năm ông Hai Khương mua thêm những nông trại bỏ hoang trong vùng với giá rẻ bất ngờ.

Người ta thường nói nước Mỹ là xứ của cơ hội! Mà cơ hội đang gõ cửa nhà ông.  Một người già cả trên sáu mươi tuổi với người vợ đầu hai thứ tóc, trình độ học vấn tầm thường, tiếng Anh tiếng Mỹ ấp úng chẳng thông, nhưng sau năm năm định cư trên đất Hoa Kỳ ông đã trở thành triệu phú mà nhiều đồng hương không bao giờ ngờ tới được chuyện này.  

Tiền bạc thì có rồi cũng đỡ lòng lo những cơn túng thiếu, nhưng lòng người viễn xứ vẫn cảm thấy như mình còn thiêu thiếu một cái gì? Thiếu một quê hương, hay thiếu cái tình của người bà con chòm xóm? Nghĩ sao làm vậy, vừa nghe Thanh Tâm, con chú của mình thoát được ra khỏi nước, hiện đang định cư tại Colorado, ông Hai liền viết thư báo cho cô em biết rằng ông hiện có công ăn việc làm tương đối ổn định tại đây, nếu Thanh Tâm muốn có cuộc sống ổn định như ông hãy mau thu xếp về hẳn bên ông và ông sẽ giúp đỡ cho trong những ngày đầu mới tới.  

Được thư hồi đáp của Thanh Tâm. Nàng muốn về bên ông anh họ của mình nương tựa. Ông Hai Khương mừng lắm. Ông lập tức mua một nông trại nhỏ cách nhà ông chừng vài dặm đường. Nói nông trại nhỏ là so với đất đai ở Mỹ chứ nói theo kiểu Việt Nam mình thì là “địa chủ” chứ chẳng chơi. Nông trại rộng hơn 25 ắc-cờ (acres), ước lượng bằng 10 mẫu tây bên mình, khoảng chừng một trăm công đất. Trên mảnh đất lại có căn nhà gạch một tầng ba phòng ngủ, sạch sẽ khang trang. Đủ cho hai mẹ con Thanh Tâm làm chỗ trú thân. 

Ông bỏ ra khoảng 25% trị giá của căn nhà để cho Thanh Tâm mượn trước làm khoản tiền trả trước theo yêu cầu của ngân hàng, phần còn lại thì ngân hàng cho mượn. Ông cũng đã tính rằng nếu Thanh Tâm chịu khó làm ăn như gia đình ông thì lợi tức do rau quả mang lại cũng đủ trả nợ hàng tháng cho ngân hàng và dư sống thoải mái cho một người vừa mới định cư. Điều quan trọng là phải cần mẫn làm ăn, chịu khó chịu khổ, một nắng hai sương chăm lo rẫy bái của mình, như vợ chồng ông đã làm thì chẳng mấy chốc dầu là phụ nữ thì cũng khá giả như ông.  

Minh hoạ: Josefina Lacroze/Unsplash

Tháng ngày rồi cũng trôi qua! Không biết khi ông Nguyễn Du viết truyện Kiều ông có thấy rõ là hồng nhan thì mệnh bạc hay không? Bạc hay không bạc thì đời chưa biết nhưng cũng có chuyện lạ xảy ra.  

Ngay bên miếng đất của Thanh Tâm làm chủ có một công ty của Mỹ đang xây dựng một hệ thống cống rãnh thoát nước cho thành phố lân cận trong vùng. Hàng ngày công ty Mỹ cứ cho máy bơm, đào xới, và hút nước liên tục. Công ty hàng xóm cứ vô tư làm việc của họ, máy càng bơm càng đào xới bao nhiêu thì bên nhà của Thanh Tâm đất càng sụt xuống bấy nhiêu. Rồi thì nguyên căn nhà của Thanh Tâm phía sau bị nứt ra, cả trăm công đất đang bị thiếu nước để trồng trọt. Thanh Tâm đem chuyện này trình bày, than phiền cùng ông Mỹ hàng xóm kia, nhưng ông hàng xóm cứ lờ đi và cho rằng chuyện ông làm chẳng mắc mớ gì đến chuyện sụt nhà, thiếu nước cho đám rẫy của cô nàng cả.  

Như chúng ta thường biết, nhà trong nông trại cái này cách cái kia thật là xa. Gặp ông hàng xóm cậy mình là người bản xứ, tiếng Anh tiếng Mỹ song toàn nên có phần hách dịch coi thường lời than phiền của những người phụ nữ hàng xóm da vàng, mới đến định cư.

Nói mãi, phân trần mãi cũng không xong, quá ức lòng, Thanh Tâm viết thơ gửi ngay cho anh chàng Tuấn mộng mơ, như đã nhắc ở trên. Tuấn mộng mơ là bạn học cũ của Thanh Tâm khi hai người còn học chung lớp Đệ Tam C ở trường trung học ở quê nhà. Tốt nghiệp đại học Luật xong anh chàng này ghi danh vào Luật sư Đoàn tại Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn, dưới thời luật sư Trần Văn Tốt đang là thủ lãnh. Chưa hoàn tất ba năm tập sự thì biến cố nước mất nhà tan xảy ra, chàng cũng đành đem bằng luật sư về treo lên xó bếp và lên rừng làm nghề đốn củi.

Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân.” Trời không nỡ phụ lòng người tốt. Sau bao lần bầm dập, tù tội, rốt cuộc Tuấn cũng đến được bến bờ tự do, và định cư tại Hoa Kỳ. Lịch sử sang trang cũng làm cho con người chín chắn hơn. Chàng không còn nhiều mộng mơ như trước nữa. Qua đây, sau vài năm đi làm lao động chân tay, Tuấn quyết định trở lại trường để thử câu học tài thi phận. Tuấn đã hoàn tất chương trình kỹ sư ở một đại học danh tiếng ở phía Đông. Đời tưởng thế mà vui, nhưng cũng chưa vui! Vài năm sau chàng lại nộp đơn vào trường luật Mỹ và một trong những trường ở Massachusetts, tiểu bang phía Đông lại có dịp đón chàng trai nước Việt này.

Thanh Tâm được tin Tuấn qua sự trao đổi của nhóm bạn học cùng ban Văn Chương cũ ở trường xưa. Được biết Tuấn đang hành nghề luật sư tại Mỹ. Thanh Tâm viết thơ nhờ bạn mình, coi thử có đường nào giải quyết tình trạng phiền nhiễu, nhức đầu của mình không.  

Được thư của Thanh Tâm, Tuấn liền gọi điện thoại cho nàng và chuẩn bị lên đường. Từ Boston, Massachusetts, Tuấn lái xe thẳng một mạch xuống Delaware. Sau khi nghe câu chuyện của bạn kể, đồng thời quan sát những sự việc xảy ra ở chung quanh như lời tường thuật của Thanh Tâm ở trong thơ. Tuấn bàn với Thanh Tâm và đề nghị rằng mình sẽ khởi tố công ty Mỹ kia với ba tội danh khác nhau, nếu trúng được một thì cũng đạt được yêu cầu của mình rồi. Sau khi xin phép và được chuẩn y bởi Tòa Án địa phương, Tuấn nạp đơn khởi tố công ty Mỹ đó.

Trên toàn Bắc Mỹ vùng nào cũng vậy, đều có những đạo luật liên quan đến vấn đề dự trữ, sử dụng nguồn nước trong vùng (Water Resources Act). Sau khi tham khảo thêm về luật trách nhiệm dân sự (Torts), Tuấn mộng mơ quyết định khởi tố công ty Mỹ và ông hàng xóm dưới ba tội danh khác nhau:

  1. Vô ý làm thiệt hại tài sản của người hàng xóm;
  2. Làm phiền nhiễu cuộc sống an lành của người láng giềng; và
  3. Không tuân thủ bổn phận theo luật định, có nghĩa là xài nước quá sự qui định của đạo luật Water Resources Act hiện áp dụng tại Delaware.

Nội vụ được Tòa án của Delaware đăng đường xét xử. Bên nguyên lẫn bên bị đều đồng ý vấn đề sẽ được giải quyết trên cơ sở phân tranh của câu hỏi pháp lý sau đây:

  1. Người chủ của một miếng đất có quyền gì đối với nguồn nước nằm bên dưới miếng đất của mình, nếu nguồn nước đó không phải là những nguồn nước ngầm chảy theo những mạch nước có sẵn?
  2. Và nếu người khác vì vô tình hay cố ý gây phiền nhiễu cho láng giềng của mình bằng cách cứ tiếp tục bơm nước trong vùng đất của mình quá lượng quy định trong đạo luật Water Resources Act gây thiệt hại cho nguồn nước của người hàng xóm làm mất sức nâng đỡ của đất bên họ và gây thiệt hại vật chất cho người láng giềng của mình thì có chịu trách nhiệm dân sự về vấn đề này hay không?”

Chuyện tưởng rủi mà may, lần này thẩm phán đăng đường xét xử cũng lại là người Việt. Luật sư bên kia không phản đối. Thẩm phán tên là Lữ Tấn Phương, có biệt danh là thẩm phán Hồ Lang được cử làm chánh thẩm. Nơi đây chúng tôi cũng xin mở ngoặc đôi dòng về vị thẩm phán này.

Tiên sinh vốn người Bình Định. Sau khi tốt nghiệp luật khoa Đại học Sài Gòn, ông về làm việc tại Nha Trang trên danh biểu của Luật sư Đoàn Tòa Thượng Thẩm Huế, dưới thời Luật sư Lý Văn Hiệp làm thủ lãnh. Tiên sinh vốn sính văn chương lại uyên thâm luật pháp, được quý đồng nghiệp kính yêu vì kiến văn quảng bác lại thêm là người có đức độ mềm mỏng dễ thương.

Theo lời kể lại của những người thân ở trại tỵ nạn cộng sản tại Hong Kong, khi hai vợ chồng tiên sinh thoát được đến Hong Kong tỵ nạn cộng sản, đêm đêm vợ chồng tiên sinh lên trên chỗ cao nhìn về phương Nam nơi quê hương yêu dấu ngày xưa mà nước mắt cứ chảy dài!

Sau khi định cư tại Mỹ, tiên sinh cùng gia đình cũng trải qua những ngày tháng cơ cực của những người mới định cư. Sau vài năm lao động chân tay như bao nhiêu người khác, gia đình tiên sinh lại trôi dạt về phía Đông nước Mỹ. Nơi đây tiên sinh trở lại trường học tập, dừng chân lấy lại phong độ cũ của mình.

Để xử vụ án này, ngài Chánh thẩm Việt Nam phán rằng: “Luật về nguồn nước ngầm chảy dưới mặt đất được chia làm hai loại: Loại nước ngầm chảy theo mạch có sẵn còn gọi là nước mạch; còn loại khác là loại nước ngầm không chảy theo mạch nhất định còn được gọi là nước ngầm thẩm thấu qua mặt đất chảy theo những hướng bất định.”

Minh hoạ: Dan Meyers/Unsplash

Để xét xử vụ án cho thật công bằng thiểm văn phòng sẽ xem xét vụ án theo luận cứ chủ quyền của nguồn nước ngầm dưới mặt đất trong phạm vi của luật tài sản (Property Law.)

Sau khi lắng nghe tranh biện dài dòng của nguyên đơn và bị đơn trong vụ án, Thẩm phán Hồ Lang dừng lại suy nghĩ một chút rồi ông nói tiếp:

” … Nói gì thì nói, trong hệ thống Luật Common Law mà chúng ta đang áp dụng tại các quốc gia nói tiếng Anh, như Hoa Kỳ, Canada, Úc Châu và Anh Cát Lợi…, chúng ta đều phải công nhận rằng hệ thống Common Law đã để lại cho loài người một gia tài đồ sộ về luật pháp, một kho tàng kiến thức cho nhân loại. Nếu các bạn không tin, hãy thử dở ra một bản án phán quyết bởi các Tòa Tối cao Pháp viện của các nước nêu trên, chúng ta sẽ thấy rằng đây là những áng văn chương tuyệt vời, có tính cách hàn lâm cũng như những khuôn mẫu về luật pháp mà mọi luật gia phải nghiên cứu kỹ khi tranh biện trước tòa. Người thẩm phán xử án mặc dầu có quyền hạn bao la nhưng không thoát ra khỏi định luật stare decisis (stay with what has been decided.) Thiểm văn phòng cũng không đi ra ngoài khuôn khổ đó. Như đã tuyên bố trước, sau khi xem xét các án lệ nổi tiếng của các quốc gia khác nhau và quan điểm của các thẩm phán tiền nhiệm, bổn tòa quyết định áp dụng án lệ Mayor, Councillors and Citizens of Perth v. Halle (1911) 13 CLR 393  đã áp dụng tại Úc, bản án này rất gần gũi với bản án mà bổn tòa đang thụ lý. Trong vụ án này, nguyên đơn đã sử dụng những máy bơm nước có công suất cao nên Học Thuyết về Quyền Sử Dụng Hợp Lý và Học Thuyết Tương Quan cũng nên nhắc đến. Bị đơn có quyền bơm nước trong lãnh thổ của mình nhưng bơm nước như thế nào đừng làm thiệt hại cho những chủ đất liền kề, khiến cho đất của người ta mất đi sự nâng đỡ tự nhiên của nó, tôi đành phải phán quyết rằng bản án có lợi cho nguyên đơn…”

Bản án nói trên, với phán quyết dài dòng sau khi viện dẫn những án lệ nổi tiếng đã xử tại Mỹ, Canada và Úc Châu, tác giả đành phải ghi lại ngắn gọn ở đây. Biết bao nhiêu nỗi vui mừng cho Thanh Tâm và chàng Tuấn mộng , khi đi kiện lại là người thắng cuộc.

              ***

Đêm trên một vùng quê nhỏ ở tiểu bang Delaware, trăng thượng tuần vừa lên. Dưới giàn mướp hương là một chiếc bàn con có trải vải trắng và chai rượu mùi. Hai người bạn xưa xa cách nhau hơn 30 năm gặp nhau giữa xứ lạ quê người, thôi thì có bao nhiêu câu chuyện để mà kể lể.

Thanh Tâm hỏi nhỏ Tuấn:

– Lúc này còn mơ làm văn thi sĩ như khi chúng mình còn học trung học không?

– Nếu bạn có đọc lại “Thuở Mơ Làm Văn Sĩ” của Nhật Tiến thì sẽ thấy hình ảnh của chúng mình trong đó. Thuở ấy chúng ta còn học trung học, nhà nghèo quanh năm chỉ có hai bộ đồ, tiền không một xu trong túi mà cứ ôm mộng vá trời, nghĩ lại cũng buồn cười cho những mộng mơ của mình nhỉ! Qua đây, phần lo cơm áo, phần lo học vấn nên những mộng mơ xưa cũ cứ tan đi theo ngày tháng, nói gì đến chuyện văn chương.

Thanh Tâm hỏi tiếp, chúng mình học Ban C, là ban văn chương, triết học thế nào cái nghiệp nó cũng quyện theo mình, không biết lâu nay Tuấn có thử làm thơ không?  Nếu có đọc lại nghe chơi.

Chai rượu trên bàn đã vơi đi phân nửa. Thanh Tâm chỉ uống chút đỉnh cầm khách còn bao nhiêu Tuấn cứ tì tì cạn chén, lại thêm có cá mú chưng tương, vịt hầm bát bửu để đưa cay, trăng lên bát ngát trên cánh đồng xa. Tuấn nói trong hơi rượu:

– Mình đọc cho Tâm nghe một bài thơ mà mình làm khi còn học kỹ sư, nếu dở thì cấm cười nghe.  Mình làm bài này khi còn ở trọ trong một phòng nhỏ gần đường Queen và đường Bathurst ở Toronto, một đêm đang làm toán thì thấy trăng lên bên khung cửa, mình lấy tựa đề là:

Trăng Bắc Mỹ

Đêm nay ngồi học bên khung cửa.

Phòng trọ cô đơn, bạn bè cùng mây trôi.

Ta ngắm nhìn trăng Bắc Mỹ soi.

Như loáng chút âm ba ghé về qua ngõ hẹp

Dòng đời chói lòa xô nghiêng!

Đất nước đảo điên nên bóng trăng không rơi vàng trên mặt sách.

Quan san xa cách!

Đường Cẩm Văn, Háo Đức mờ mờ.

Trăng đêm nay treo trên Bắc Mỹ,

To và Lạnh nhưng không rung được một lời thơ!

Nhớ ánh trăng xưa

lướt qua lều cỏ,

Ai ngồi một dáng liêu trai.

Thuyền đêm chập chờn khuấy động

Ta bước đi như trong cơn mộng.

Xa trông vài đốm lửa chài.

Bóng trăng trên quê cũ là ánh điện của tuổi thơ.

Có hàng tre nghiêng theo làm chứng.

Nhìn nồi canh tập tàng ngút khói,

Trăng chờ người trăng xế đầu thôn.

Đêm nay nhìn trăng Bắc Mỹ

Giải lên những dãy lầu cao.

Cảnh trí mộng mơ như mất tự thuở nào!.

Chỉ còn nỗi lạnh, cô đơn len theo từng sợi vải.

Quê nhà ngàn dặm xa!

(Trích thơ của Phan Tấn Thiện)

Thanh Tâm ôm bụng cười, thơ ông thì buồn lắm, thôi đừng đọc thơ nữa, ông thường nhắc đến quê nhà, chắc nhớ quê nhà lắm phải không? Tuấn ơi! bạn nhận xét như thế nào? Hy vọng mình có về thăm lại quê nhà được không? Trong cơn say Tuấn nói như nức nở, không biết có phải là mình nói hay không hay chỉ mượn lời của Tam Quốc Chí.

– Tâm ơi! Cộng đồng chúng ta như một đống cát, khi hợp khi tan, kẻ trên vẫn biếng nhác kiêu hãnh, kẻ dưới thì cố nịnh hót tâng công. Kẻ địch trà trộn vào hàng ngũ chúng ta quá đông. Các quốc gia giúp đỡ người tỵ nạn cứ tiếp tục mù lòa nghênh ngông. Mênh mông mặt biển Thái Bình Dương kia biết chừng nào ta mới nhìn lại được non sông!

Nói xong Tuấn lại tợp thêm một ngụm rượu nữa. Xa xa có một vì sao băng thật nhanh vào cuối hàng cây. Phương Đông trời vừa ưng ửng sáng.

Nguồn: https://saigonnhonews.com/muon-neo-duong-doi/nhung-mach-nuoc-ngam/

Cố Đại tá Võ Khâm – Người ở lại Bu-Prang

10/10/2021Pham

Phạm Tín An Ninh

(Để tưởng niệm Cố Đại Tá Võ-Khâm)

Tôi gặp Trung Tá Võ Khâm lần cuối cùng vào buổi trưa thứ bảy, ngày 3 tháng 11 năm 1973. Một ngày mà tôi không thể nào quên, cho dù thời gian đã qua khá lâu và cuộc đời trải qua biết bao nhiêu dâu biển.

Hôm ấy, được tin tôi về phép, sau một thời gian dài ở chiến trường Kontum, từ Nha Trang ông lái xe ra Ninh Hòa thăm vợ chồng tôi, cho quà các cháu và rủ bọn tôi ra ăn trưa tại quán Thái Thị Trực. Đây là quán nem có thương hiệu nổi danh từ rất lâu, không chỉ ở thị trấn Ninh Hòa mà khắp cả tỉnh. Cùng đi với ông hôm ấy có anh Trần Hữu Dũng. Anh Dũng nguyên là giáo sư trung học ở Nha Trang, động viên vào Khóa 16 Thủ Đức, lúc ở đơn vị tôi anh giữ chức vụ Đại đội trưởng Đại đội Chỉ Huy Công Vụ, sau này được điều động về làm Phụ Tá Trưởng Phòng Nhất Sư Đoàn. Anh vừa được thuyên chuyển về Tiểu Khu Khánh Hòa hơn ba tháng trước, nơi Trung Tá Khâm đang làm Tiểu Khu Phó. Đang ăn, bất ngờ có vợ chồng Trần Ngọc Thăng đến tìm tôi. Thăng là bạn cùng khóa Thủ Đức và sau này cũng về đơn vị tôi. Khi ấy Thăng cũng vừa bàn giao nhiệm vụ tiểu đoàn trưởng để chuyển sang trung đoàn khác và đang nghỉ phép cưới vợ. Cả bốn thầy trò hôm ấy đều rất vui mừng, bởi trước kia chúng tôi đều có thời phục vụ dưới quyền Trung Tá Võ Khâm, trong thời gian gần ba năm (11/1966 – 7/1968) khi ông là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44BB, một trong những trung đoàn thiện chiến và lập nhiều chiến công cho Quân Đoàn II/ QK2. Riêng tôi, đã từng có khá nhiều kỹ niệm đặc biệt với ông.

Tháng 3 năm 1965 ra trường, tôi được bổ nhậm về Tiểu Đoàn 3/44, môt đơn vị trực thuộc Sư Đoàn 23 BB, có bản doanh tại Ban Mê Thuôt, nhưng riêng tiểu đoàn lúc ấy được chọn làm đơn vị trừ bị, hành quân lưu động trong khắp lãnh thổ Vùng 2 Chiến Thuật, dưới sự điều động trực tiếp của Quân Đoàn. Liên tiếp mấy năm theo đơn vị, liên tục hành quân gần như khắp mọi nơi. Có khi buổi sáng còn ở núi rừng Quảng Đức, buổi chiều đã có mặt ở bờ biển Tuy Hòa, Phan Thiết. Thời gian này, sĩ quan không đủ, nên sau khi lên thiếu úy một vài tháng, tôi được lên nắm đại đội Ngày 19.6.1967, may mắn được thăng cấp trung úy (nhiệm chức) và sau một lần bị thương ở chân trái trong trận phản phục kích tại Ngã ba Dak-Song, Quảng Đức, xuất viện, tôi được chỉ định sang làm Trưởng Ban 3/Tiểu Đoàn kiêm Đại Đội Trưởng Đại Đội Chủ Huy Yểm Trợ, thay thế Trung Úy Đặng Trung Đức vừa nhận lệnh thuyên chuyển về giữ chức vụ Trưởng Ban 3/Trung Đoàn thay thế Đại Úy Mai Lang Luông ra làm tiểu đoàn trưởng. Anh Đặng Trung Đức tốt nghiệp Khóa 19 Võ Bị Đà Lạt và là người bạn rất thân thiết với tôi bởi truớc đó, cả hai cùng làm trung đội trưởng trong một đại đội, mà anh đại đội trưởng là niên trưởng Khóa 16 VB của Đức. Cả hai anh Võ Bị này đều là những cấp chỉ huy xuất sắc sau này.

Thời gian này, Đại Tá Trương Quang Ân vừa về nhậm chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB. Ông là vị sĩ quan nổi tiếng từ Binh Chủng Nhảy Dù, gốc Thiếu Sinh Quân, từng tốt nghiệp thủ khoa hầu hết tất cả các khóa học tại những quân trường nổi tiếng: Khóa Thiếu Sinh Quân, Khóa 7 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt và hai khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, tại Đà Lạt, sau đó tại Leavenworth Hoa Kỳ. Ông có tiếng tài ba, liêm khiết nhưng cũng rất nghiêm khắc, đặc biệt đối với những sĩ quan dưới quyền. Làm việc với ông, dù ở phương vị nào, thường bị phạt dễ hơn là được khen thưởng, Ông cân nhắc rất kỹ lưỡng mỗi khi đề bạt hay thăng cấp một sĩ quan, ngay cả việc đề nghị huy chương.

Đại Tá Trương Quang Ân về nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB vào ngày 24.11.1966 thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Văn Mạnh đi làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV/ Vùng 4 CT. Ngay trong buổi họp đầu tiên, với sự có mặt của tất các sĩ quan thống thuộc Sư Đoàn, từ cấp đại đội trưởng trở lên, ông công khai tuyên bố cách chức Trung Tá Bùi Th. H. (Trung đoàn trưởng của tôi thời điểm ấy), vì đã có nhiều sai phạm trong thời gian làm trung đoàn trưởng, đặc biệt vừa mới có hành vi hối lộ, khi nhờ người mang (biếu) cho ông tân tư lệnh một bao thư tiền. Sự kiện trong buổi gặp đầu tiên này đã tạo nên một không khí khá nặng nề, căn thẳng trong Sư Đoàn. Riêng anh em ở Trung Đoàn 44 thì rất vui mừng, vì trong mấy năm làm trung đoàn trưởng, ông Trung Tá Bùi Th. H. này đã chia phe kết cánh, tham nhũng, phá nát trung đoàn.

Người được chọn để thay thế chức vụ Trung Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Võ Khâm, vừa mới về Sư Đoàn và đang giữ chức vụ Trưởng Khối CTCT/ SĐ.  Lúc ấy, mọi người đều nghĩ rằng, ông Tư Lệnh đã cân nhắc rất kỹ lưỡng, khi đưa ra quyết định này. Trước khi về sư đoàn, Thiếu tá Khâm từng là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Quảng Ngãi. Giữ chức vụ này hơn hai năm, trong lúc quan lộ đang lên, được các thượng cấp hài lòng, thì ông xin từ chức. (Sau này ông cho chúng tôi biết, vì Quảng Ngãi là quê hương ông, nơi có cha mẹ và thân tộc họ hàng sinh sống, ông không muốn làm ảnh hưởng đến họ, và ngược lại cũng không muốn bị họ làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ của mình, Hơn nữa ở vùng này, tinh thần đảng phái cũng khá phức tạp, luôn đè nặng trên trách nhiệm của ông, nên ông xin từ chức sớm. Và từ đó ông luôn tránh những chức vụ có liên quan tới hành chánh, mặc dù đã nhiều lần được thượng cấp hỏi ý kiến).

Thiếu Tá Khâm về nhận nhiệm vụ khi bản doanh Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn đồn trú tại Tháp Chàm (Ninh Thuận), một tiểu đoàn tăng phái cho TK Ninh Thuận, một tiểu đoàn biệt phái dài hạn cho TK Lâm Đồng, đang hành quân tại Di-Linh, hai tiểu đoàn còn lại đang hành quân dài hạn tại Phan Thiết, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Trung Đoàn. Trong đó có Tiểu Đoàn 3/44 của tôi và Tiểu Đoàn 4/44 vừa mới được thành lập xong hơn một tháng trước từ Dục Mỹ trở về.Thời gian này tình hình tỉnh Bình Thuận khá mất an ninh, đặc biệt tại Mật Khu Lê Hồng Phong, một cứ địa lâu đời của Cộng quân khá rộng lớn, kéo dài từ bờ biển đến rừng núi, có lợi thế cho địch quân xâm nhập, ém quân và cất giấu vũ khí. Đặc biệt một quãng đường khá dài gần 40 cây số cùa Quốc Lộ số 1 và đường Hỏa Xa nằm trong khu vực, gây gián đoạn lưu thông không những cho tỉnh mà còn cho cả nước.

Trung Đoàn đặt Bộ Chỉ Huy Hành Quân tại căn cứ Bình An, nằm bên Tỉnh lộ 8, giữa Phan Thiết – Thiện Giáo. Phía trên, khoảng năm cây số, tiếp giáp vùng núi, có căn cứ Virgina của quân đội Hoa Kỳ, đồn trú cấp đại đội cùng một pháo đội Pháo Binh.

Một ngày sau khi tiểu đoàn vừa chấm dứt cuộc hành quân tảo thanh bốn ngày trong Mật Khu Lê Hồng Phong, kéo về nghỉ quân dọc theo Quốc lộ, trong khu vực Mara, vào buổi trưa, tôi được anh âm thoại viên cho biết có Trung Úy Đức, Ban 3 Trung Đoàn muốn gặp tôi ở đầu máy. Đức báo cho tôi biết ông Trung Đoàn Trưởng đang trên đường đến thăm tiểu đoàn bằng trực thăng H-34. Đức bảo tôi lo an ninh bãi đáp và bảo ông tiểu đoàn trưởng chuẩn bị đón và thuyết trình. Anh còn nói thêm là anh không đi theo mà chỉ có Trung úy Minh Ban 2, Trung sĩ Kim Nữ Quân Nhân và một âm thoại viên mang máy tháp tùng. Cũng không có cố vấn Mỹ, vì anh cố vấn của trung đoàn và của cả tiểu đoàn đã về họp ở MACV.

Tiểu Đoàn tôi giống như tình trạng các tiểu đoàn khác, trong mấy năm qua không có tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn trưởng lúc ấy là Thiếu Tá Nguyễn Văn X., xuất thân từ hàng hạ sĩ quan trong quân đội Pháp. Nghe nói ông khá thâm niên, cả cấp bậc thiếu tá lẫn chức vụ tiểu đoàn trưởng, nên rất bất mãn vì không được thăng cấp hay giữ một chức vụ cao hơn, thường hay lầm lì, gắt gỏng, do đó cũng thường bị thuyên chuyển đi khắp Sư Đoàn. Không biết có phải vì lý do đó, hay giữa hai ông có điều gì không vui, mà khi mới nghe tôi báo tin, ông liền bảo: “Chú mày lo tiếp đón và thuyết trình cho ‘thằng chả’, bảo tôi đang lên cơn sốt rét.” Tôi vừa ngạc nhiên, ngỡ ngàng vừa bực dọc, lo lắng.

Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn trú đóng trong một ngôi nhà ngói bỏ hoang, nằm trơ trọi bên cạnh Quốc lộ,  bị sập mất một phần mái, phải dùng mấy tấm poncho che đỡ mưa nắng. Nơi đón thượng cấp chỉ là một khoảng nền nhà loang lổ, một tấm bản đồ treo trên giá xếp và mấy cái ghế được đóng bằng thùng đạn Pháo Binh. Đang gọi báo tin cho các anh đại đội trưởng, nghe tiếng trực thăng, tôi vội kéo anh sĩ quan Ban 2 và anh sĩ quan Truyền tin ra đám đất trống phía trước Quốc Lộ, thả trái khói màu đánh dấu bãi đáp.

Khi bước xuống, thấy ba đứa tôi đứng nghiêm chào, Thiếu Tá Trung Đoàn Trưởng hỏi:

–  Ông tiểu đoàn trưởng của các anh đâu?

– Dạ, thưa Thiếu Tá, ông tiểu đoàn trưởng đang bất ngờ bị lên cơ sốt rét.

Tôi trả lời và nhìn thấy nét mặt ông sa sầm lại.

Tôi mời ông vào Bộ Chỉ Huy để nghe thuyết trình tình hình và phối trí lực lượng, nhưng khi vừa bước vào căn nhà, nhìn thấy ông tiểu đoàn trưởng đắp tấm poncho-light nằm dài trên ghế bố, nghiêng mặt quay vào vách, ông khựng lại, hỏi tôi một câu cộc lốc:

– Ông làm chức vụ gì ở đây?

Tôi đứng nghiêm:

– Thưa Thiếu Tá, tôi là Trưởng ban 3 kiêm Đại Đội trưởng Đại Đội Chỉ Huy!

Ông xua tay bảo tôi không cần phải thuyết trình mà đưa ông ra thăm đại đội. Ông theo tôi đến Ban Quân Y, Truyền Tin và dừng lại khá lâu ở Khẩu đội súng cối 81 và Đại bác SKZ 57 ly. Kiểm tra sơ qua các khẩu súng và hầm đạn, ông quay sang nghiêm mặt hỏi tôi một loạt các câu hỏi: khẩu đội có bao nhiêu người, súng nặng bao nhiêu, một quả đạn nặng bao nhiêu, cấp số đạn có bao nhiêu quả, bắn xa bao nhiêu??? Có câu tôi trả lời được, nhiều câu tôi im lặng vì mù tịt, các anh khẩu đội trưởng vừa lên tiếng nhắc bị ông quát, đứng im.

Có lẽ vì “giận cá chém thớt” nên ông lớn tiếng xài xể tôi một trận ngay trước mặt lính tráng thuộc cấp. Tính tôi xưa nay vốn chịu đựng và lễ phép với cấp chỉ huy nên chỉ ngậm môi đứng im chịu trận. Nhưng khi nghe ông nói “chỉ huy mà như ông thì chỉ có giết lính!” thì sự chịu đựng của tôi đã quá mức. Tôi “bùng nổ”, nhưng vẫn đứng trong thế nghiêm:

– Tôi xin không đồng ý với cách lãnh đạo chỉ huy của Thiếu tá. Là một cấp chỉ huy đâu cần thiết phải biết tường tận các chi tiết nhỏ nhặt như thế, bởi còn có các trưởng ban, các khẩu đội trưởng chuyên môn. Chẳng lẽ là Đại Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy tôi cũng phải biết bên ban Quân Y có các loại thuốc gì, sử dụng ra sao. Việc đó có anh sĩ quan Trợ Y lo. Hơn nữa dù sao tôi cũng là một cấp chỉ huy trực tiếp với lính, nếu có sai phạm điều gì xin Thiếu tá cứ phạt tôi vài chục ngày trọng cấm hay cách chức tôi, chứ không thể mạt sát tôi trước hàng quân,  như thế làm sao tôi còn tư cách để chỉ huy họ được. Tôi xin từ chức và xin Thiếu tá cho tôi giữ bất cứ nhiệm vụ nào khác, hay thuyên chuyển đến bất cứ đơn vị nào cũng được.

Ông khựng lại im lặng giây lát rồi bảo cô Trung sĩ Nữ Quân Nhân ghi tên và số quân của tôi rồi đi thẳng ra phi cơ. Tôi vẫn tháp tùng ông ra bãi đáp và đứng nghiêm chào ông khi máy bay cất cánh.

Ngay tối hôm ấy, Ban Truyền Tin nhận sư vụ điện của Trung Đoàn, yêu cầu tôi bàn giao nhiệm vụ và theo phương tiện sớm nhất về trinh diện Trung Đoàn Trưởng. Khi nghe ông Tiểu Đoàn Trưởng báo lại, tôi bảo  “chắc vụ này là tôi phải gánh cho Thiếu Tá đây!”.

(Nhưng rồi sau đó không lâu ông Tiểu Đoàn Trưởng cũng nhận lệnh về trình diện Sư Đoàn. Không biết ông thuyên chuyển đi đâu, mà từ ngày ấy, cả trung đoàn không ai còn dịp liên lạc hay biết gì về ông, hơn nữa ông cũng chẳng thân thiết với ai)

Hai hôm sau tôi theo chuyến tiếp tế, về BCH Trung Đoàn xin trình diện, nhưng ông Trung Đoàn Trưởng không tiếp. Tôi xuống Ban 3 ngồi phụ việc với anh Đức và ăn ngủ chung một bunker với anh. Mấy lần gặp ông, tôi đứng nghiêm chào, nhưng ông vẫn im lặng tránh sang nơi khác. Anh Đức bảo tôi yên chí, vì tính ông trung đoàn trưởng hơi nóng, bốc đồng và hờn dỗi vậy thôi, chứ tốt và thương anh em lắm. Đúng một tuần sau, một buổi chiều khi biết ông vui vẻ và đang ăn cơm, anh Đức bảo tôi cứ đến gõ của xin gặp. Gõ cửa ba lần, ông mới mở, tay vẫn cầm bát cơm và đôi đũa, trợn mắt nhìn tôi, hỏi: “Ông lại muốn gì nữa đây?” Tôi đứng nghiêm thưa:

 – Xin Thiếu Tá giao công việc cho tôi làm, bất cứ việc gì cũng được, nếu không thì xin trả tôi ra lại tiểu đoàn, vì tôi là sĩ quan, ăn lương quân đội. Thi hành lệnh Thiếu Tá tôi về đây đã đúng một tuần rồi mà không được giao nhiệm vụ gì, tôi thấy như mình đang ăn gian lương của quân đội!

Ông bảo anh lính nấu ăn riêng của ông mang lên thêm một cái bát, đôi đũa, rồi tự tay bới cơm vào bát, bảo tôi ngồi xuông dùng cơm. Tôi từ chối. Ông trợn mắt bảo: “ông lại không tuân lệnh tôi nữa phải không?” Tôi đành ngồi xuống phía đối diện, ngập ngừng cầm đũa. Cơm rất ngon nhưng tôi nuốt không trôi. Ăn xong, ông rót một ly whisky, bảo: “cái này thì tôi mời ông.” Lúc này tôi mới thấy ông nhoẻn miệng cười, bảo tôi ở lại đây chơi và nói chuyện với ông, rồi nhỏ giọng:

– Mấy ngày nay, tôi giả bộ làm nghiêm không thèm tiếp để xem ông có năn nỉ hay quậy phá gì không, nhưng mà ông ngon lành lắm. Tôi chịu!

Rồi ông đổi cách xưng hô:

– Thực ra tôi cũng hơi bực mình do thái độ vô kỷ luật và mất lịch sự của tay Thiếu tá X. (tiểu đoàn trưởng),  nhưng sau đó nghĩ lại tôi thấy mình nóng, la chú mày hơi quá, sau đó thấy tôi nghiệp và quí chú, vì chú tỏ ra khẳng khái và nói năng cũng chí lý. Tôi thích những người thẳng thắn như vậy, chứ cứ cúi đầu gọi dạ bảo vâng thì tôi chán lắm! Thôi, chú ở lại đây làm việc với tôi, kể từ nay mình xem như anh em.

Ông bảo tôi cứ tạm phụ làm việc với anh Đức, phụ trách ở Trung Tâm Hành Quân, lo thêm việc bay tiếp tế, sắp xếp trực thăng vận và các cuộc di chuyển. Đi họp hành với các Tiểu Khu hay Sư Đoàn ông luôn gọi tôi theo. Ông còn bảo tôi sang ăn cơm với ông và dọn đến phòng của ông ở cho vui, vì phòng còn rộng, nhưng tôi tìm cách từ chối, bảo thích ở với anh Đức, bởi là bạn thân từ lúc mới ra trường, mấy năm ở cùng một đại đội.

Sau trận Mậu Thân, Trung Đoàn tạo chiến thắng lớn, tiêu diệt gần như toàn bộ lực lượng địch, giải tỏa thành phố Phan Thiết, đặc biệt khu lao xá nằm sát tòa tỉnh từng bị Cộng quân chiếm đóng, Thiếu Tá Võ Khâm được đặc cách thăng cấp trung tá tại mặt trận, nhân dịp này ông cũng được nhận một huy chương ngôi sao bạc của Quân đội Hoa Kỳ. Buổi lễ trao gắn cấp bậc và huy chương được tổ chức trang trọng tại Tòa Hành Chánh Tỉnh Bình Thuận dưới sự chủ tọa của Đại Tá Tư Lệnh Trương Quang Ân, Đại Tá Cố Vấn Trưởng Sư Đoàn và có cả Tướng Peers, Tư Lệnh Các Lực Lương Hoa Kỳ Tại Cam Ranh.

Sau đó, Trung Đoàn chỉ để lại khu vực núi Tà Dôn một tiểu đoàn, các đơn vị còn lại, kể cả Chi Đoàn 4/8 TQV tăng phái, cùng Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn di chuyển về Sông Mao, tiếp nhận doanh trai của Sư Đoàn 5 BB để lại. Tuy nhiên toàn bộ hậu cứ vẫn còn ở Tháp Chàm, vì chưa đủ phương tiện và an ninh lộ trình để chuyển về Sông Mao. Doanh trại mang tên “Trại Lý Thưởng Kiệt” bây giờ chính thức là bản doanh của Trung Đoàn 44BB.  Một doanh trại khá rộng lớn, khu MACV, cư xá sĩ quan còn khá mới và đẹp, đặc biệt tư thất dành cho Trung Đoàn Trưởng là một villa mới,  rộng rãi và nhiều phòng ốc, nằm không xa và có cửa bên hông để bước sang Trung Tâm Hành Quân.

Khi khu tư thất vừa được chỉnh trang và sắp xếp đầy đủ tiện nghi cần thiết, ông kéo tôi về ở với ông, giao cho tôi một phòng nhỏ phía sau. Đúng lúc bà xã tôi từ Ninh Hòa vào thăm (lúc này đang mang thai đứa con đầu lòng), ông bảo tôi lấy xe của ông đi đón và nhường cho tôi phòng ngủ của ông, vì có cái giường ngủ khá rộng và trong phòng đầy đủ tiện nghi hơn, ông cũng cho anh tài xế chở anh đầu bếp đi chợ Phan Rí mua nhiều tôm cá tươi về đãi vợ chồng tôi. Ông gần gũi thân tình, xem vợ chồng tôi như là em út trong nhà. Ở chơi với bọn tôi hai hôm, tiệc tùng vui vẻ, rồi ông chia tay về Đà Lạt, nhân được nghỉ phép năm ngày. Vợ con ông sống ở Đà Lạt và rất hiếm khi đến đơn vị gặp ông.

Trung tá Khâm xuất thân từ một dòng dõi thế giá ở Quảng Ngãi. Ông từng theo học tại đại học Hà Nội và có Cử nhân văn chương Pháp, nói tiếng Pháp và tiếng Anh rất lưu loát. Ngoài cái dáng trí thức, ông còn là một sĩ quan phong độ và có tiếng khiêu vũ đẹp và điêu luyện trong sư đoàn. Nhiều nữ sinh, cô giáo, kể cả một số “bà chủ” doanh gia “mết” ông, nhưng ông chỉ “văn nghệ” cho vui, chứ luôn trung thành với bà xã, hơn nữa bà cũng từng là giai nhân một thời ở xứ Hoa Anh Đào- Đà Lạt. Trong một dịp hành quân tại Đà Lạt, ông có kéo tôi đến nhà dùng cơm. Vợ ông dáng dấp quí phái, luôn vui vẻ bặt thiệp. Khi ấy ông bà có bốn con nhỏ, cháu nào cũng xinh xắn dễ thương.

(Ông Bà Võ Khâm)

Cùng lúc thành lập đại đội trinh sát, Trung Đoàn nhận thêm một tiểu đoàn Pháo Binh

105 ly và được tăng phái dài hạn một đại đội Công Binh để chỉnh trang doanh trại, sửa sang phi trường, thiết lập hệ thống phòng thủ, các kho đạn, kho xăng, kể kể kho xăng JP4 cho trực thăng Hoa Kỳ. Các tiểu đoàn tăng phái dài hạn cho TK Lâm Đồng, Ninh Thuận đều nhận lệnh trở về doanh trại Sông Mao để được tái trang bị và bổ sung quân số, tái huấn luyện tại chỗ. Lúc này Trung Đoàn đảm đang rất nhiều công việc, ông bảo tôi sang tạm kiêm nhiệm Ban 4 Trung Đoàn thay thế một vị đại úy Khóa 6 Thủ Đức có lệnh giải ngũ. Ông cũng giao cho tôi trách nhiệm lập kế hoạch và xin phương tiện, phối họp lo việc an ninh lộ trình để di chuyển toàn bộ hậu cứ từ Tháp Chàm về Sông Mao. Sau khi sắp xếp hậu cứ xong, tôi tiếp tục theo ông trong các cuộc hành quân.

***

Tháng 5-1968, Trung Đoàn được tăng phái Thiết Đoàn 8 Kỵ Binh do Trung tá Nguyễn Xuân Hường chỉ huy từ Ban Mê Thuột di chuyển xuống Sông Mao, tăng cường thêm một Đại Đội Công Binh của Quân Đoàn, thành lập Chiến Đoàn Đặc Nhiệm nhằm giải tỏa toàn bộ Mật Khu Lê Hồng Phong, phát quang toàn bộ cây cối và thiết lập những con đường ngang dọc nhằm chia cắt mật khu để dễ quan sát và kiểm soát. Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn Đặc Nhiệm đặt tại khu vực Long Hoa, trong một bunker lớn được Công Binh thiết lập.

(Tr Tá Võ Khâm trong cuộc hành quân tại Mật Khu LHP 5/68)

Vào một ngày nghỉ quân để tu bổ các xe M-113, cơ giới Công Binh và nhận tái tiếp tế tất cả sĩ quan cơ hữu và tăng phái có lệnh tập trung tại Trung Tâm Hành Quân (khá lớn) để chờ đón vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Thói quen của ông Tư Lệnh, thường không cho biết trước chính xác thời điểm ông đến, đích thân ông hay sĩ quan tháp tùng chỉ gọi khi trực thăng sắp đáp. Hôm ấy không biết máy móc trục trặc điều gì mà ông gọi mấy lần vẫn không ghe âm thoại viên trả lời. Khi nghe tiếng trực thăng đảo mấy vòng. biết ông Tư Lệnh, nên Trung úy Đức tung trái khói màu đánh dấu bãi đáp và báo Trung Tá Khâm và Trung Tá Hường ra đón Tư Lệnh. Đại Tá Trương Quang Ân bước vào phòng họp với thái độ rất giận dữ, rảo mắt hỏi “ông nào là sĩ quan Truyền Tin?”  Trung úy Nguyễn Văn Muôn đứng lên trình diện. Ông Tư Lệnh nghiêm nét mặt, ra lệnh một vị đại úy tháp tùng (Đại úy Dương Đức Sơ, Phụ Tá Phòng 1 Sư Đoàn) dùng trực thăng C&C của ông đưa Trung úy Muôn vào giam  ở QCTP Phan Thiết. Không khí căn thẳng, nặng nề. Bất ngờ Trung Tá Khâm đưa tay về hướng Đại úy Sơ, nói lớn trong sự bực dọc:

– Anh không được đưa Trung úy Muôn của tôi đi đâu cả. Anh ta không có tội tình nặng nề gì đến phải bị giam như thế. Nếu có giam thì xin giam tôi đây, vì tôi là cấp chỉ huy ở đây, là người chịu trách nhiệm trước Đại Tá Tư Lệnh, chứ không phải là trung úy Muôn.

Rồi ông quay sang, đứng nghiêm nhìn thẳng vào Đại Tá Tư Lệnh:

– Xin lỗi Đại Tá, kể từ giờ phút này, tôi xin được từ chức Trung Đoàn Trưởng, xin Đại tá đề cử người thay thế.

Không khí nặng nề, ngột ngạt. Mọi người vẫn đứng im tại chỗ. Đại tá Tư Lênh quá bất ngờ, trố mắt,  giận xanh mặt, không nói một lời nào, rời khỏi TTHQ lên trực thăng bay đi.

Dù không biết việc làm của ông Trung Đoàn Trưởng đúng hay sai ở mức độ nào, nhưng hầu hết sĩ quan có mặt hôm ấy đều lộ vẻ cảm kích và thán phục thái độ cương trực cùng với lòng yêu thương, chở che thuộc cấp của ông, đặc biệt trước một vị Tư Lệnh nổi tiếng nghiêm khắc như Đại tá Trương Quang Ân. (Có lẽ trong cuộc đời chỉ huy, ông chưa bao giờ nghĩ sẽ gặp phản ứng của một sĩ quan dưới quyền như thế.)

Hai tuần sau, Trung Tá Khâm có lệnh bàn giao Trung Đoàn cho Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh, từ Trường Võ Bị Đà Lạt thuyên chuyển về. Hai người cũng đã từng quen biết, và gia đình Trung Tá Thịnh cũng sống ở Đà Lạt.

Trung Tá Khâm về BTL Sư Đoàn, tạm thời đảm nhận chức vụ Tham Mưu Trưởng, thay thế Trung tá Châu Văn Tiên theo học Khóa CHTM Cao Cấp. Sau đó vài tháng, ông xin thuyên chuyển về Quân Đoàn III, và làm Chỉ Huy Trưởng một  TTHL của Quân Đoàn tại Phước Tuy, Vũng Tàu  (không phải TTHL Vạn Kiếp).

***

Khoảng giữa năm 1971, trong một chuyến công tác tại quận Ninh Hòa, ông bất ngờ ghé thăm bà xã tôi, cho quà các cháu và cho biết là ông vửa được thuyên chuyển về Nha Trang, làm Tiểu khu Phó TK Khánh Hòa, Ông bảo nhắn cho tôi biết và khi nào có dịp về Nha Trang nhớ đến gặp ông. Mấy tháng sau, tôi về Nha Trang, ghé vào Tiểu Khu tìm ông. Ông mừng lắm, bảo tôi theo ông về Giảng Hotel (còn có tên Khách sạn Thanh Hà), một khách sạn lớn nằm cạnh bờ biển Nha Trang, đưa tôi lên căn phòng lớn ở tầng thứ năm. Phòng có hai giường đôi và đầy đủ tiện nghi, có cả cái bếp nhỏ. Ông bảo mặc dù được ông Tỉnh trưởng Lý Bá Phẩm cấp cho một căn cư xá nhỏ nằm cạnh Tiểu Khu, nhưng ông xin nhường lại cho người khác, thuê dài hạn căn phòng trong khách sạn này sống cho thoải mái, hơn nữa thỉnh thoảng còn đón bà xã từ Đà Lạt xuống chơi. Ông cũng quen thân với Tướng Nguyễn Ngọc Oánh, CHT/ TTHL Không Quân , nên khi nào có đông đủ các con xuống thăm, ông được Tướng Oánh cho mượn Phòng Khách của Không Quân nằm trong Trại Long Vân, kế phi trường Nha Trang, rộng rãi và nhiều tiện nghi hơn để các cháu được thoải mái. Ông còn cho biết ông chủ Giảng Hotel vốn là bạn vong niên nên giá cả cũng rất phải chăng. Ông đi tìm đưa cho tôi mấy cái chìa khóa, bảo cứ giữ lấy, khi nào có dịp về Nha Trang cứ ghé lại đây ở chơi với ông. Tôi từ chối, bảo tình hình chiến trường Cao nguyên coi bộ bắt đầu sôi động, thế nào Trung Đoàn cũng phải di chuyển lên đó.  tôi khó có dịp về lại đây.

(Cùng vợ con – vài tháng trước khi ông hy sinh)

Trong lúc dùng cơm trong restaurant ở tầng dưới khách sạn, ông tâm sự:

– Tình hình lúc này ngày càng bất lợi cho miền Nam, sau trận Hạ Lào Lam Sơn- 719, báo chí Mỹ đua nhau nói xấu miền Nam thậm tệ, có dấu hiệu Mỹ rút quân bỏ rơi VNCH. Đáng buồn là mấy ông lớn cứ vẫn chia phe kết nhóm, không tập trung sức lực để giữ nước, một số thì tham nhũng, trong lúc anh em binh sĩ ngày càng khổ cực, chết chóc nhiều hơn ngoài chiến trường. Moa nản quá, mấy lần xin  được giải ngũ về Đà Lạt kinh doanh với bà xã mà không được. Đang tính xin chuyển về một nơi nào ở Đà Lạt thì Đại Tá Phẩm lại xin đích danh moa về đây. Anh Phẩm cũng từng là bạn thân lúc trước.

Khi chia tay, ông nắm vai tôi dặn dò:

– Chú mày ở sư đoàn lâu quá rồi, tình hình này sẽ không khá đâu, xin thuyên chuyển về đây ở với moa cho vui, có khó khăn gì cứ cho moa biết.

Tôi gật đầu hứa với ông, mặc dù trong lòng chưa hề tính tới điều này.

***

Mãi từ ngày ấy cho đến ngày 3.11.1973, tôi mới có cơ hội được gặp lại ông, khi từ Nha Trang ông lái xe chở theo anh Trần Hữu Dũng ra Ninh Hòa thăm vợ chồng tôi và rủ đi ăn trưa tại quán nem Thái Thị Trực. Khi chia tay, ông bảo tôi sáng ngày mai, Chủ Nhật, đưa vợ con vào Nha Trang ở chơi với ông vài hôm. Ông còn móc túi lấy xâu chìa khóa, tách ra một chìa đưa cho tôi, bảo là chìa khóa căn phòng của ông trên Giảng Hotel, khi nào đưa vợ con vào cứ việc tới đó mà ở. Ông sẽ ngủ đêm trong văn phòng, bởi những ngày trực hay cấm trại ông vẫn ngủ trong đó.

Tôi cầm lấy chìa khóa, nhưng hẹn là đến chiều thứ hai bọn tôi mới có thể vào Nha trang với ông được, vì sáng mai, Chủ Nhật, tôi đã có hẹn phải đưa mấy cháu về quê thăm thân phụ tôi. Lâu lắm rồi, tôi cũng chưa về phép thăm ông. Trước khi bước lên xe, ông và cả anh Dũng siết tay tôi thật chặt, nhắc cùng gặp lại vào chiều thứ hai.

Không ngờ đó lại là cái siết tay cuối cùng.

Chiều thư hai, vợ chồng tôi cùng mấy đứa con đến Nha Trang với lòng hăm hở. Vào Tiểu Khu, tìm đến văn phòng ông thì thấy đóng cửa. Tôi đến văn phòng Tham Mưu Trưởng, nằm bên cạnh, gặp trung Tá Ngô Quý Hùng, mà tôi đã có dịp nói chuyện với ông vai lần trước đó. Tôi tròn mắt thẫn thờ khi Trung tá Hùng cho biết là Trung Tá Võ Khâm bị mất tích tại Bu-Prang, Quảng Đức vào tối hôm qua. Tôi ngạc nhiên tột cùng. Nước mắt bỗng trào ra, chân như muốn khụy xuống. Tôi bảo với Trung Tá Hùng là tôi mới gặp ông ấy trưa hôm qua khi ông ra thăm vợ chồng tôi ở Ninh Hòa. Trung tá Hùng giải thích trong niềm xúc động:

– Quả thật là mỗi con người có cái số.  Đúng ra là Trung Tá Khâm không có nhiệm vụ phải lên Quảng Đức, nhưng trước đây hơn một tuần, tình hình tại Quảng Đức bất ngờ sôi động, trong lúc các đơn vị chủ lực bị kẹt ở Kontum và Pleiku, nên Quân Đoàn mới lệnh cho Tiểu khu Khánh Hòa thành lập gấp một Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, đem theo hai tiểu đoàn điạ phương quân và đại đội trinh sát của Tiểu Khu tăng cường cho Quảng Đức, hỗ trợ cho mặt trận Đức Lập. Lên trên đó được năm ngày, thì Tướng Toàn đến thị sát,  khiển trách Trung tá Ph., Chỉ huy trưởng BCH/ Chiến Thuật, chê ông này không có khả năng và kinh nghiệm tác chiến, vì mấy năm chỉ ngồi ở các Ùy Ban Liên Hiệp Quân Sự Bốn Bên. Tướng Toàn nêu đích danh Trung Tá Võ Khâm, khi gọi điện thoại chỉ thị Đại tá Phẩm đưa ông lên thay thế gấp. Sáng sớm Chủ Nhật, hôm qua, Trung Tá Võ Khâm bay lên Quảng Đức bằng trực thăng, chưa kịp chỉnh đốn xong hệ thống phòng thủ, thì ngay buổi tối, cả một trung đoàn CS có cả chiến xa T-54 tấn công tràn ngập ngọn đồi tại Bu-Prang nơi BCH Chiến Thuật trú đóng, sau khi bắn hàng ngàn quả pháo đủ loại vào căn cứ. Sau gần nửa tiếng đồng hồ cầm cự, vì quân trú phòng quá ít, lực lượng tiếp viện không thể đến kịp, hầu hết sĩ quan đều bị chết hay bị bắt, trong số đó có Trung Tá Võ Khâm, Trung Tá Huỳnh Trung Quận, Đại Úy Trần hữu Dũng… (Trung Tá Huỳnh Trung Quân nguyên là CHT/ Trung Tâm YTTV/ TK Kontum và Đại úy Trần Hữu Dũng nguyên là Phụ Tá Phòng 1/ SĐ 23BB, cả hai vừa mới thuyên chuyển về TK/ Khánh Hòa và tháp tùng Trung Tá Khâm lên Quảng Đức).

(Căn cứ Bu Prang – nơi Tr.Tá Võ Khâm đã vĩnh viển nằm lại)

Trung Tá Hùng biết tôi là em út và rất thân quen với Trung Tá Khâm nên cho biết bà Võ Khâm đã được báo tin và đang trên đường từ Đà Lạt xuống đây, ông có hẹn sẽ đón bà, bảo tôi ngồi chờ. Gặp lại bà trong tình huống này, tôi chỉ biết cúi đầu chào rồi ngậm ngùi ngồi nghe bà nói chuyện với Trung Tá Hùng. Sau khi nghe tường trình sự việc, bà khóc ngất, gục xuống bàn. Trung Tá Hùng mời bà và tôi cùng đi dùng cơm tối, nhưng tôi chối từ, vì trong lòng đang có quá nhiều cảm xúc. Nhớ tới cái chìa khóa phòng mà Trung Tá Khâm đã ưu ái đưa cho tôi hôm thứ bảy tại Ninh Hòa, tôi lấy ra và đưa lại cho bà. Bà bảo sẽ ở lại Nha trang vài hôm để chờ theo dõi tin tức của ông. Tuy nhiên, Trung Tá Hùng nói nhỏ cho tôi biết, theo lời kể của một số binh sĩ thoát ra được, Trung Tá Khâm đã chết ngay từ những cơn mưa pháo, trước khi chiến xa tấn công tràn ngập căn cứ.

 Tôi rất đau buồn vì đã vĩnh viễn mất đi một vị đàn anh khả kính, một cấp chỉ huy cương trực, luôn sống hết mình với thuộc cấp. Riêng với tôi, ông xem như một người em. Có với tôi rất nhiều kỷ niệm. Tôi không bao giờ quên ông, quên những ngày làm việc dưới quyền, bên cạnh ông, cùng hình ảnh hiền lành và cử chỉ thân tình ông đã đối với vợ chồng tôi, đặc biệt trong lần cuối cùng tại quán nem Ninh Hòa, chỉ trước một ngày ông hy sinh.

Sau 1975, trong những ngày tù tội khốn cùng tại các trại tù tận vùng Việt Bắc, tôi bất ngờ gặp lại anh Huỳnh Trung Quận tại Trại 6 Nghĩa Lộ. (Anh bị bắt trong trận Bu-Prang cùng một số sĩ quan khác.) Tôi còn nhớ mang máng lời kể của anh về trận đánh tại căn cứ Bu-Prang ngày ấy. Khi căn hầm BCH bị ngập khói cay và bị sập một phần do pháo CS bắn vào, Trung Tá Võ Khâm đã chạy ra, chui vào gầm chiếc xe truyền tin phía trước, và ngay sau đó chiếc xe này bị pháo thiêu hủy,  anh nghĩ rằng ông không kịp thoát ra và tử thương ngay tại đó. Có thể bọn chúng đã đào hố chôn các tử thi ở một chỗ nào đó, cũng có thể xác Trung Tá Khâm đã bị thiêu hủy. Chúng tôi đều nhắc tới ông với lòng tiếc thương, xúc động, nhưng rồi thầm nghĩ, có thể việc hy sinh bất ngờ của ông, dù có làm đau lòng cho gia đình, con cháu, nhưng biêt đâu lại có ý nghĩa, vinh quang cao cả hơn là nếu ông vẫn còn sống để phải nhận nỗi khốn khổ nhục nhằn như chúng tôi cùng những bạn bè của ông hôm nay?

Sau khi ở tù ra, tôi bất ngờ gặp lại người bạn học cũ ở Nha Trang, anh Trương Tiến Ích, nguyên là trung úy Trợ Y của BCH / Chiến Thuật Khánh Hòa, dưới quyền của Trung Tá Khâm, khi tham dự trận đánh Bu-Prang năm ấy. Ích bị bắt. Một ngày sau, khi bị trói tay dẫn đi cùng một số tù binh khác trên một triền núi thì bị phi cơ thả bom. Lợi dụng lúc bọn VC náo loạn, tìm chỗ ẩn nấp, Ích lăn xuống núi chui trốn trong một hang đá, cà giây trói vào cạnh đá cho đứt để tháo ra, rồi đến tối, nhìn sao Bắc Đẩu tìm hướng đi, mãi hơn năm ngày sau mới về đến được Đức Lập. Anh kể lại trận đánh và trường hợp Trung Tá Khâm tử trận cũng trùng hợp như lời của anh Huỳnh Trung Quận trong trại tù số 6.

*** 

Mới đây, bất ngờ có dịp liên lạc với các cháu, con của Trung Tá Khâm, tôi rất cảm động khi biết là phu nhân của ông cũng đã qua đời từ lâu, và sau 1975 bà cùng các cháu đã từng trải qua một thời lầm than cơ cực, Bây giờ mấy cháu lớn vẫn sống ở Đà Lạt, cháu trai út, sinh ra sau khi bố không còn, nên được bà cô mang về quê nội chăm sóc từ nhỏ, lớn lên trong ngôi nhà từ đường ở Quảng Ngãi, sau này khi lập gia đình thì chuyển về sống ở Phan Rang để gần các anh chị, còn hai cháu khác đang ở Mỹ. Dù qua nhiều thăng trầm, nhưng cuộc sống của tất cả các cháu đều được hoàn mỹ, các cháu nhỏ nội ngoại thì đều học hành thành đạt. Tôi mừng thầm và nghĩ phần lớn có lẽ nhờ vào đức độ của Ông Bà. Trông tấm ảnh các cháu gởi cho, tôi thấy phảng phất hình ảnh của Ông Bà ngày trước, cháu nào cũng khôi ngô, xinh đẹp, và có đậm nét nhân hậu, dễ thương.

(Phần mộ của Bà Võ Khâm nằm cô đơn một mình tại Đà Lạt)

Chính các cháu đã gợi lại ký ức giúp tôi ngồi viết lại những dòng này, dù rất muộn màng nhưng với đầy cảm xúc. Và qua tâm tình, các cháu cho biết, khi còn bé thì bố đã mất và  mẹ cũng qua đời sớm, nên các cháu hoàn toàn không biết gì về bố mình ngày xưa, đặc biệt là đời quân ngũ cũng như cả cái chết của ông. Đó là lý do để tôi ngồi viết tỉ mỉ bài viết khá dông dài này.

 Xin nguyện cầu, ở một cõi xa xăm nào đó, Ông Bà vẫn mãi nắm tay bên nhau trong niềm hạnh phúc vĩnh hằng. Nơi đó sẽ không còn chiến tranh, thù hận và chia ly, đau khổ.  Cầu mong các con cháu của ông – một cấp chỉ huy đã hết lòng yêu thương đồng đội, một chiến sĩ đã chiến đấu và hy sinh trong nghiệt ngã, vùi thây tại chiến trường – được ơn trên ban cho nhiều ơn phước.

Phạm Tín An Ninh

(tháng 102021)

Nguồn: https://vietluan.com.au/57478/co-dai-ta-vo-kham-nguoi-o-lai-bu-prang

Cố Thiếu Tá “Bắc Đẩu” Nguyễn Ngọc Bích – Người tử trận 3 lần.

 TINA PHAM SƯU TẦM

Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Thiết Đoàn 18 KB được lệnh tăng cường cho chiến trường Quảng Trị, phía bắc sông Thạch Hãn. Một quả pháo 130mm của địch quân CSBV đã rơi ngay chiếc Thiết vận xa M-113 của Đại Úy Nguyễn Ngọc Bích và ông đã tử trận. Ngày 27/4/1972, thi hài cố Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Bích được di tản về Mỹ Chánh, Quảng Trị bằng quân xa GMC, đến Cầu Ga thì quân xa chở thi hài ông bị trúng đạn hỏa tiễn tầm nhiệt AT-3, ông tử trận lần thứ nhì.

Đồng đội đã đóng cho ông một chiếc áo quan tạm thời thứ hai và tiếp tục di tản. Ngày 30/4/1972, quân xa sang sông bị mắc lầy và xe ông trúng đạn pháo kích một lần nữa, ông tử trận lần thứ 3 trước khi thi hài ông được đưa về với gia đình!

Cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh nghe được câu chuyện thương tâm này, đã cảm kích và sáng tác bài hát BẮC ĐẨU để tặng người Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân Thiết Kỵ QL-VNCH Nguyễn Ngọc Bích. BẮC ĐẨU là danh hiệu truyền tin của cố Thiếu Tá.

Về Bắc Đẩu Nguyễn Ngọc Bích: Cố Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Bích tốt nghiệp Khóa 18/SQTB Thủ Đức và Khóa 13 Sĩ Quan Căn Bản Thiết Giáp. Ông là Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn 218 thuộc Thiết Đoàn 18 Kỵ Binh QL/VNCH. Đơn vị ông đã từng lập công trong trận tái chiếm căn cứ Alpha trên chiến trường Kampuchia và đã được trao tặng huân chương Anh Dũng Bội Tinh Nhành Dương Liễu.

Bắc Đẩu…

Người bỗng trở thành vì sao Bắc Đẩu,
lẻ loi tinh cầu đêm đen không dấu
Một tối chớm hè đạn pháo chuyển mưa
Cây “Cầu Gà” nhỏ anh qua anh qua
Vì sao Bắc Đẩu trôi dạt đêm mưa,
người xa cách người, nước mắt tiễn đưa
đã thấy xót xa
Một lần anh đi đã thấy xót xa từ ngày hôm qua
Đây thinh không thiên thần lên tiếng hát,
chiêu hồn người từ hỏa ngục dương thế .
Kìa bầu trời Ngọc Bích đã thênh thang …
Ôi …lời mời gọi anh bước chân sang .
Xin muôn năm như vì sao sáng đó
Hỡi người định mệnh là vì sao lẻ .
Dậy đi Bắc Đẩu! Dậy đi Bắc Đẩu! .
Bừng mắt dậy soi sáng thiên thu.
Người tên “Bắc Đẩu” chết trận hôm nao?
Một áo quan đóng vội một chuyến cuối phiêu du …
“Có thấy dấu chiến xa của người của hôm qua ?”
“Có thấy chiếc mũ đen của người lạc trong đêm?”
Người tên “Bắc Đẩu” chết trận La Vang,
liệm xác ba lần …
Ngọc bích cũng tan chỉ còn vì sao thôi,
chỉ còn vì sao thôi …
Cuộc đời vài mươi năm
Người vội về xa xăm

Nguồn: http://saigonecho.com/index.php/lich-su-vn/chien-tranh-vn/hoi-ky/4918-ngu-i-t-tr-n-3-l-n-c-thi-u-ta-b-c-d-u-nguy-n-ng-c-bich

Cao Điểm 601 – Vĩnh Hiếu, Phi đoàn 215 Thần Tượng

Lời người viết: Gủi đến các bạn Không quân một phi vụ đáng nhớ tại Bồng Sơn, Phù Cát.
Riêng tặng tất cả các bạn Hoa tiêu Trực thăng Võ trang của KL/VNCH

Vĩnh Hiếu
Phi đoàn 215 Thần Tượng

Mới mười giờ sáng mà không khí đã bắt đầu oi bức, ánh nắng chói chang của miền Trung dần dần nung nóng vạn vật. Hai chiếc trực thăng võ trang ầm ỉ nối đuôi nhau trên phi đạo sẵn sàng cất cánh. Ngồi trong phòng lái, chiếc áo giáp nặng chình chịch đè nặng trên đùi ép chặt vào lồng ngực, tôi cảm thấy khó chịu nghẹt thở. Từ trong chiếc helmet mồ hôi chảy rịn xuống trán, cái nóng của Phù Cát vào mùa hè thật khủng khiếp.
Kiểm soát đồng hồ phi cụ một lần cuối, tôi nâng và đẩy nhẹ cần lái về phía trước lấy cao độ và vận tốc. Dưới sức nặng của hàng ngàn viên đạn mini gun cùng hai bó rocket đầy ắp con tàu rung chuyển rời khỏi mặt đất. Phi đạo chạy dài trước mặt, hơi nóng lung linh bốc lên trên mặt nhựa đường đen bóng tạo nên ảo tưởng của một mặt nước . Lên tới 3 ngàn bộ, tôi nghiêng cần lái bay về hướng biển. Phi trường Phù Cát , những hangar khổng lồ, khu barracks, nhà cửa, bunkers…trông như những mô hình xinh xắn. Những chiếc máy bay nằm trên bến đậu cùng mấy chiếc khu trục, vận tải bận rộn lên xuống như những đồ chơi trẻ con…
Nhìn người hoa tiêu phụ đang theo dỏi vào dãy đồng hồ phi cụ tôi bấm nhẹ nút intercom, chỉ về hương biển:
-Cậu bay đi…
Gió lồng lộng thổi vào thân tàu hai bên hông của mở tung, nghe phần phật như tiếng reo vui của không gian chào đón. Châm điếu thuốc Capstan, mùi khói tỏa thơm lừng. Nhìn những sợi khói bay nhiểu loạn trong không khí tôi trầm tư suy tưởng. Những tháng năm rong ruổi trên đường mây rộng, bôn ba khắp nẻo chiến trường vùng II, lăn lộn từ mặt trận này đến mặt trận khác, cọ sát cùng hiểm nguy và chết chóc đã chai mòn cảm giác khiến tôi không còn những xúc động như buổi ban đầu khi phải lao vào vùng lửa đạn.. Những con tàu vỡ nổ, bạn bè bỏ nhau đi, những cơn say chiến trận, săn đuổi, tàn phá, máu và mùi vị chiến trường…Tất cả chỉ là nổi dửng dưng như thói quen ăn, ngủ, làm việc mổi ngày.
Phi vụ hành quân ở Qui Nhơn, Phù cát, phần nhiều chỉ là phi vụ yểm trợ quân bạn qua những đụng độ nhỏ với du kích địa phương. Địa thế chiến trường phía Đông Quốc lộ 1 chạy dài từ Bắc xuống Nam không hiểm trở như rừng núi trùng điệp vùng cao nguyên Ba mê Thuộc, Pleiku, Komtum. Đây chỉ là bình nguyên với những thôn xóm rải rác. Miền đất nghèo khó, sông khô suối cạn, cỏ cây èo uột không một màu xanh tươi. Khởi động một trận địa chiến nơi đây sẽ là một sự tự sát cho địch, không có chổ ẩn núp và đường thoái không có, chúng sẽ làm mồi cho pháo binh hay khu trục.
Điếu thuốc vừa tàn thì hai chiếc trực thăng võ trang vừa đến vùng hoạt động. Bầu trời trong vắt, lác đác vài cụm mây trắng nỏn, phía dưới là biển mênh mông một màu xanh lục. Những cồn các trắng phau chạy dài dọc theo bờ. Những ngôi làng nho nhỏ nằm e ấp uống lượn những con suối xanh, bao bọc bởi những ô ruộng hình bàn cờ, yên bình hiền hòa dưới ánh mặt trời như chưa một lần bị tàn phá bởi bom đạn chiến tranh.
-Charlie, Charlie, Hổ gọi…
-Nghe năm, thấy hai bạn rồi….Hướng 11 giờ, cao độ 6000 feet, thấy Charlie chưa?
Tôi ngước đầu lên tìm. Chiếc C&C bay tít mải trên cao. Nhìn kỷ mải tôi mới nhận ra một chấm đen bay vòng vòng trên dãy núi trọc cao không quá hai bộ nằm chơ vơ giửa đồng băng trơ trụi. Ngọn cao nhất hướng Bắc, phía Nam thoai thoải ba ngọn đồi, dọc theo đỉnh xuống chân là con đường mòn dẩn đến căn cứ Hải quân sát ngay mé biển với những mái tôn chấp chóa dưới ánh nắng chói chan. Mấy chiếc hải thuyền neo cạnh cầu tàu vẩn im lìm trong cơn ngủ mệt. Tôi nhấn intercom nói với người hoa tiêu phu:
-Mấy ông thần Hải quân này sướng thật, suốt ngày ăn nhậu đồ biển. Bạn nhớ không lần trước biệt phái cho bộ Chỉ huy Duyên hải, phi hành đoàn được ăn uống một bửa linh đình…
Có tiếng xè xè trong máy:
-Mảnh Hổ, Charlie. Bạn thấy ngọn núi cao phía Bắc không, nơi có khói đang bốc lên. Đó là căn cứ pháo binh bị mất tối hôm qua. Mình cần yểm trợ quân bạn tái chiếm, nghe rỏ?
Tôi cầm cần lái bay về hướng đó:
-Có phải chổ hình tam giác màu đất đỏ không? Trả lời?
-Đúng năm, cẩn thận đó, quân bạn đang bám sát vòng ngoài. Hổ đánh cho đẹp, đừng bắn ra ngoài đồn. Nghe rỏ trả lời?
Giảm cao độ xuống thấp tôi bay sát gần đến đỉnh núi để quan sát rỏ hơn. Ngọn núi trọc, ngay giủa đỉnh là một căn cứ hoả lực pháo binh hình tam giác, những công sự hình như đã bị đổ bể khá nhiều vì đạn pháo. Những cụm khói còn bốc lên chứng tỏ đã qua những lần giao tranh trước đó, nay thì im lìm bất động. Nhưng bunker cũng bị tan nát khá nhiều. Đêm qua căn cứ bị tràn ngập bởi địch quân, bây giờ bám trụ, nhất định tử thủ cao điểm nằm chênh vênh trên mỏm núi, chung quanh là vực sâu hay vách núi dốc ngược. Con đường mòn dẩn lên đỉnh chạy từ những ngọn đồi thấp hơn phía Nam đã bị địch cưa xẽ. Quân bạn đã vất vả vô cùng mới lên được vị thế bây giờ và hiện tại thì bị kềm chân tại chổ.
Cao điểm nằm trên đỉnh núi, được mang tên đồi 601, nổi lên giủa đồng bằng là một điểm chiến lược vô cùng quan trọng. Từ vị thế cao, tầm quan sát quét được tất cả những hoạt động của phi trường Phù cát cùng mọi di chuyển trên Quốc lộ 1. Địch chỉ cần đặt vài ba khẩu phòng không cũng như những đạn pháo thì có thể kiểm soát được một vùng rộng và có thể đe dọa căn cứ Hải quân gần đó.
Hai phi tuần khu trục được điều động lên từ sáng sớm để yểm trụ cho quân bạn nhưng không hoạt động được vì quân bạn quá gần mục tiêu, phải cần sự chính xác tối đa.
Tôi nói vói người hoa tiêu phu:
-Mục tiêu nhỏ như cái đít chén thế này thì mấy ông khu trục chắc chịu thua.
Nói xong tôi bấm nút liên lạc với chiếc số 2, nảy giờ đang lặng lẽ theo phía sau:
-Lấy trục Tây Đông, gió 100…
Tôi chăm chú nhìn vào mục tiêu một lần cuối rồi cho tàu chúi mủi lao xuống. Hai trái rocket đầu tiên như hai trái tên lửa phóng ra nổ vở tung lên trong hàng rào căn cứ. Chiếc tàu nghiêng hẵn về phía trái đưa hông cho người xạ thủ nhoài hẳn người ra ngoài, chỉ mủi mini gun sáu nòng siết chặt cò súng…Tiếng nổ của hàng ngàn viên đạn từ họng súng hướng về phía mục tiêu. Tiếng gầm thét của khẩu súng sáu nòng, tiếng vỏ đạn rời rào rào trên sàn tàu, tiếng động cơ, tiếng cánh quạt xé gió kêu phành phạch tạo thành một âm thanh khủng khiếp bên tai tôi. Máu trong người như sôi sục vì cơn say khích thích, chiếc phi cơ rung chuyển cùng nhịp cùng nhịp điệu của từng sợi giây thân kinh trong cơ thể.
Tiếng súng vừa dứt, con tàu đã bay ra khỏi tầm tác xạ, tôi ngậm miệng nuốt khan một làn hơi cho tai bớt ù, đoạn quay ngoái lại nhìn chiếc số hai đang chúi mủi xuống vào đỉnh núi. Bốn trái rocket phóng ra kéo theo những làn khói trắng phí sau, nổ lốm đốm trong vòng rào.
-Đẹp lắm. Tôi la lên.
Trên đỉnh núi, những đám khói mù quyện chung với bụi đỏ do sức nổ của nấy trái nổ bốc lên cao rồi theo gió dạt về hướng Tây tan loảng vào không gian. Bổng mắt tôi dừng lại nơi góc phía Đông của căn cứ: những điểm sáng nhấp nháy liên tục như ánh sáng phản chiếu từ một chiếc gương nhỏ chấp chóe dưới ánh mặt trời…Một cảm giác lạnh như luồng điện chạy dọc theo sống lưng tôi. Phòng không! Chỉ có phòng loại lớn mới có thể nhận thấy được dưới ánh sáng mặt trời như thế này.
-Hổ hai, break, break…Phòng không, phòng không…Tiếng tôi lạc hẳn vì lo ngại cho chiếc số hai đang vô tư lao vào mục tiêu.
Nhìn qua người hoa tiêu mới nét mặt bất động, bình thản. Có lẽ anh ta chưa nhận thức được sự hung hiểm đang chờ đợi, chưa biết sự đe dọa của những khẩu phòng không cở lớn. Bàn tay tôi nắm chặc cần lái, mồ hôi rịn chảy. Từ giây phút này trận chiến đã đổi chiều. Kẻ thù mà chúng tôi phải đương đầu không phải là một nhóm du kích ô hợp mà là thứ kẻ thù có tầm vóc. Một đơn vị chính quy với hệ thống phòng không hạng nặng đang quyết tâm tử thủ cao điểm mà chúng đã bỏ máu xương ra để chiếm được. Tôi hốt hoảng:
-Charlie, Hổ gọi….
-Nói đi…
-Hổ ghi nhận có phòng không hạng nặng…

Từ ngày khoác lên mình bộ áo phi hành với hàng ngàn giờ bay trên chiếc trực thăng võ trang này, đối đầu với bao nhiêu mặt trận lớn nhỏ, tôi đủ kinh nghiệm để ý thức rằng chiếc UH-1 với vận tốc chậm, hỏa lực hạn chế chỉ hửu hiệu trong những phi vụ đổ quân, truy lùng du kích, đánh phá những mục tiêu nhỏ có giới hạn. Đối đầu trực tiếp với phòng không vùng trời trơ trụi này là một sự chênh lệch, không tương xứng, như trứng chọi đá. Tôi cố dè dặt để kềm hảm một thứ can đảm ngu xuẩn nào có thể làm cho phi hành đoàn của hai chiếc trực thăng này sẽ bị hy sinh một cách vô nghĩa. Nếu có đánh đổi tánh mạng, thì cũng phải đem một thành quả hay chiến công nào về cho quân bạn hay Tổ quốc.
Trong khả năng hạn hẹp của trực thăng võ trang, chúng tôi thường phải dùng những chiến thuật thích hợp với hoàn cảnh trận chiến để sống còn và có thể gây sự tổn thất cho địch. Trong những vùng núi rừng rậm vùng cao nguyên Pleiku, Bamethuot, Komtum hay Tam biên chúng tôi thường bay thật sát ngọn cây, làm những vòng quẹo gắt, đột xuất đánh mau đánh mạnh rút nhanh. Dưới những tàng cây che phủ kín, những chiếc trực thăng ồn ào bay vút qua đầu địch thật nhanh làm địch trở tay không kịp để bắn, tạo sự an toàn cho phi hành đoàn. Tôi còn nhớ tại Gia nghĩa, phía Tây Bắc Bamethuot, trong một phi vụ đổ viển thám: một chiếc tàu chỉ huy C&C dẩn đường cho một phi vụ thả toán Lôi Hổ gần đường mòn Hồ chí Minh. Chúng tôi hai chiếc trực thăng bay theo trong phi vụ dẩn đường và yểm trợ để bốc quân bạn lên nếu có đụng trận. Bay sát ngọn cây vào vùng khi gần tới mục tiêu, trước mặt tôi phát giác một con đường đất đỏ rộng đủ cho hai chiếc xe chạy ngược chiều thoáng hiện dưới mặt rừng già rậm rạp. Tim tôi như ngưng đập khi nhìn thấy những quân xa CS ngụy trang kỷ càng lủi vào những bụi cây để núp khi nghe tiếng động ầm ỉ của những con chim sắt trong vùng. Vừa bay vừa nhìn quan sát đưới những tàn cây rậm rạp, những căn nhà là lúp xúp khắp mọi nơi , thỉnh thoảng còn có vài con chó chạy rong đưa mỏ lên trời sủa, hay những con heo chạy sổ chuồng.
Bây giờ tại vùng đồng không mông quạnh này thì chiến thuật đó kể như vô dụng. Địch và ta đối đầu với nhau như hai anh cao bồi đấu súng, địch phơi lưng ta phơi bụng. Với những khầu phòng không, tối thiểu 12 ly 7, hai chiếc trực thăng võ trang này với tốc độ quá chậm có lẽ là mục tiêu quá dể dàng cho địch quân. Bay vòng phía Đông đỉnh núi, tôi suy nghĩ, những giọt mồ hôi rịn ra trên tráng. Nếu bay cao khỏi tầm súng địch thì những trái đạn rockets sẽ không còn chính xác và sẽ rơi không kiểm soát vào vòng vây quân bạn quanh đỉnh đồi, nếu đến gần hơn thì chúng tôi sẽ làm mồi cho những họng súng đang lăm le chực sẳn phía dưới. Tiến thoái lưỡng nan.
Tôi bay một vòng rồi quyết định đánh thử một pass ở cao độ vừa phải, những trái rockets thăm dò từ đầu tiên rớt rải rác khắp chu vi chiếc đồn hình tam giác này.
Nhìn trên cao những trái nổ tung bụi mù đỏ, rơi rải rác trên mặt đất, không ảnh hưởng gì đến địch quân đang cố thủ trong những hầm hố và công sự chắc chắn đào khắp chu vi của căn cứ. Tôi ý thức rằng muốn diệt được những ổ súng đó, những trái rockets phải được bắn bằng một độ chính xác tối đa, điều đó đòi hỏi chúng tôi phải bay thật gần mục tiêu mới có thể khả thi được.
Nhìn đồng hồ vừa quá mười giờ, ánh nắng gay gắt của mặt trời chênh chếch hướng Đông của đỉnh núi, tôi lóe ra một ý định. Bay một vòng về hướng Đông, từ bở biển trên cao độ tôi sẽ dùng mặt trời để làm phương tiện ngụy trang cho chúng tôi. Tôi sẽ đánh từ trên cao xuống, phía sau trên cao là mặt trời chói sáng, trước mặt dưới thấp là mục tiêu. Khi chúng tôi lao vào đầu địch xạ kích, chúng sẽ bị chói lòa mắt khi nhìn lên để bắn trả lại chúng tôi. Một ý kiến đã giúp cho tôi cảm thấy được an toàn đôi chút, nhưng chỉ có một đều làm cho tôi thất vọng khi nhận thấy chiều gió đang thổi từ ngoài biển vào, có nghỉa là chúng tôi sẽ bị gió đuôi, một điều tối kỵ nhất để bắn cho chính xác. Gió sau đuôi tàu thổi tới sẽ làm giảm sức nâng con tàu đang lao vào vùng tử địa, và có thể làm lệch những đường đạn đạo.
Không có một giải pháp nào tốt hơn, tôi ra gọi Hổ hai vẩn kiên nhẩn bay khoảng cách sau lưng:
-Hổ hai sẳn sàng chưa, cẩn thận cần chính xác đó…trả lời.
Không nghe gì cả ngoài một tiếng “xè” trong tầng số tôi biết chiếc số hai. Tôi kiểm điểm lại phi cụ đồng thời bật hai nút rockets lên vị thế “on”. Từ tâm điểm của cái tam giác vây quanh công sự trên đỉnh núi, tôi vẽ một đường thẳng tuởng tượng tới mặt trời, con đường đó là trục xạ kích mà chúng tôi phải theo. Tất cả đã sẳn sàng, tôi cho chiếc phi cơ nhào xuống theo con đường vô hình này, ngọn gió đuôi thốc vào chiếc tàu làm nó lao xuống với một vận tốc quá nhanh ngoài ý muốn, con tầu lắc lư rung chuyển. Tôi chỉ còn vài giây đồng hồ để mắt vào máy nhắm, khi mục tiêu vừa lọt vào tầm bắn tôi bấm nút….
Một loạt 8 trái rockets nối đuôi nhau phóng xuống đỉnh núi, nổ tung khắp căn cứ, tung những bụi đỏ mù mịt….
-Hổ một, Hổ một- Đây Charlie…Chiếc tàu C&C chở cấp chỉ huy bộ binh đang quan sát từ cao độ la thất giọng trong tần số:
-Ngưng ngay, ngưng bắn…
Vừa lúc đó chiếc trực thăng thứ hai lao vào như tung ra sáu trái đạn rải rác trên cao điểm.
Một lần nửa tiếng nói của Th/T Đức từ C&C la thất thanh:
-Hổ, Hổ ngưng ngay, bạn bắn quá gần quân bạn, ngưng ngay…
Tôi nghe trong tần số bộ binh, quân bạn đang la hét trong tần số vì có những trái quá gần vòng vây phe ta. Có lẽ chiến thuật này không thể áp dụng được vì không thể có sự chính xác được, tôi thất vọng kéo con tàu ra khỏi vùng bay lên cao độ để chờ. Bầu trời trong sáng với những cụm mây lơ lủng, dưới đất những bải các vàng ôm ấp vùng nước xanh lơ với những ngọn sóng bạc đầu thật đẹp, không hề mang một sắt thái chiến tranh nào cả. Khẩu phòng không vẩn im lặng, cái im lặng của một sự dọa nạt. Mồ hôi lấm tấm trên áo, ướt sũng lưng áo, tôi liên tưởng đến những người bạn đồng đội đã ra đi trong vùng trời lửa đạn. Trước mặt tôi đã chừng chứng kiến những người bạn trên chiếc trực thăng nổ tung trên lưng trời vì những đại đạn hoặc hỏa tiển phòng không, hay rơi xuống đất tan tành từng mảnh. Tôi ước ao có được trong tay một hỏa lực mạnh mẽ hơn, những quả bom ngàn cân để giáng xuống đầu địch giải quyết chiến trường nhanh chóng.
Sau nửa giờ bay vòng chờ trên không, hai chiếc trực thăng đáp xuống căn cứ Hải Quân kế cận mé biển đổ xăng và lấy thêm đạn dược. Tôi mở cửa bước xuống, vương vai làm vài động tác cho giản gân cốt. Bên kia, Tr/u Thành, lái chiếc Hổ 2 đang đứng “tưới cỏ” sau lưng đuôi tàu, nhe miệng cười. Tôi đến gần, tháo nón bay ra, trong tiếng động ầm ỉ của hai con tầu, nói lớn:
-Không xong rồi, mày check tàu coi lủng lổ nào không?
-Tao dính hai viên ở sau đuôi nhưng không sao.
Nói xong anh nhe miệng cười để đưa hàm răng trắng đều dưới bộ râu mép cắt xén cẩn thận, đẹp và rất đểu như tài tử Clark Gable. Thành nói tiếp:
-Tao nghĩ mình chẳng làm gì được, chỉ đưa bụng vào cho tụi nó chơi thôi…
Tôi chưa chịu thua, một sáng kiến khác lại lóe trong đầu làm tôi vô cùng phấn khởi. Tôi cúi xuống nhặt một cây khô đang nằm trên mặt đất, đến trước mặt Thành tôi vừa vẽ những đường trên cát đỏ vừa nói:
-Đây là căn cứ, vừa nói tôi vừa vẽ hình tam giác, súng tụi nó đặt ngay góc hướng Đông…Tao muốn mày che mắt tụi nó, rồi tao sẽ vào thật gần tối đa chơi một pass mà thôi.
Thành lắng nghe chau mày chưa hiểu:
-Mày bảo tao che mắt tụi nó bằng cách nào, đưa bụng vào à…Xong anh ta cười mỉa mai…
Tôi tiếp tục nói:
-Gió từ hướng Đông vào khoảng 20 knots. Mày trang bị tất cả hai bó bằng rockets khói cho tao…Mày tính làm sao mà chỉ một pass thôi mày phóng hết tất cả rockets xuống ngay vòng ngoài căn cứ hướng Đông trên đỉnh núi giủa quân bạn và địch, không cần chính xác lắm chỉ cần một màn khói che họng súng phòng ngay góc đồn tao chừng vài chục mét là OK. Phần còn lại để tao lo. Mày đồng ý là phải thụt lọt vào hố công sự mới khóa được họng súng tụi nó không? Đánh bậy xung quanh chẳng nhằm nhò gì mà còn bị tụi nó chê…
Những trái hỏa tiển này không có một khả năng tàn phá nào ngoài việc tạo nên những cụm khói tráng mà những phi vụ quan sát thường dùng để đánh dấu mục tiêu.
Thành gật đầu biểu sự đồng tình. Từ ngày về phi đoàn 215, chúng tôi đã bay chung với nhau biết bao nhiêu phi vụ, chung chia bao cảnh vui chơi cũng như khổ cực. Chúng tôi hiểu và gần gủi nhau như ruột thịt. Bạn bè thường gọi anh là Thành “lưởi lê” nhưng tôi đã không hiểu vì sao lại xuất phát cái tục danh như vậy. Anh là một trong những người bạn thiết từng cùng đi qua với tôi trong những đoạn đường gai lửa của phi công trực thăng thời chiến. Cuộc đời gian khổ nhưng đầy ý nghĩa cực cùng mà tôi đã yêu mê. Chúng tôi đã từng kinh qua những sự hiểm nghèo ngoài chiến trận, đã thương yêu gắn bó nhau trong những bửa cơm gạo sấy, nửa khoang thịt hộp, cùng đói cùng no trong những ngày biệt phái hành quân. Nhớ những buổi chiều thua bài, không một đồng dính túi đã được uống những ly cà fe dã chiến với những điếu thuốc gói ghém tình thương. Anh là một người khéo léo như những người nội trợ đảm đang. Những phi vụ có dịp đáp xuống buông Thượng, anh lấy xăng đổi mấy con gà vịt hay bẻ măng đem về trại biệt phái biến ra những bửa cơm ngon lành. Hay dùng lụu đạn xin của quân bạn thả xuống suối xuống ao bắt nhũng con cá lóc cá trê hay thỉnh thoảng đem về nhũng chú mểng hay heo rừng con lở đi lạc vào họng súng của anh. Kỷ niệm nhiều kể mải không hết.
Hai chiếc guns đã trở lại phía Đông của mục tiêu, vòng trên cao nhìn xuống đỉnh núi quan sát cho rỏ chi tiết một lần cuối tôi gọi chiếc số hai đang theo sau:
-Hổ 2, lúc nào sẳn sàng báo cho tao biết trước..Good luck!.
Nói xong tôi bay vòng ra sau lưng Hổ hai chờ trên cao độ. Kéo mủi tàu chậm lại, chiếc trực thăng ngóc đầu hầu như lơ lửng trên trên đầu trục tác xạ, giống như một chiến sĩ gò cương ngựa đứng dừng chăm chú quan sát địch thủ trước khi quất ngựa tấn công xuống núi. Tim tôi đập nhảy nhịp, hồi hộp theo dỏi Hổ hai đang lao mình vào mục tiêu. Những tia chớp nháy bắt đầu chiếu lên cuống quýt từ mỏm núi, có lẽ những viên đạn vô hình đang nhắm thẳng vào chiếc phi cơ mong manh của Thành.
Hai, ba, bốn…sáu…bảy…Từng cặp hỏa tiển phụt ra từ hai bên sườn tàu Thành, kéo theo những lằn khói trắng dài. Tất cả mười bốn trái rơi rải rác đúng ngay ý muốn của tôi, cách khẩu phòng không chừng vài chục thước. Thành đánh như để và thật đẹp mắt. Đám bụi mù tung lên rồi nở bung những cụm khói trắng phau,chầm chậm vương lên theo gió trải dài theo triền núi tạo thành một bức màn dày đặc che khuất phía mặt hướng Đông của căn cứ…
Không chậm trể tôi cho chiếc tàu lao xuống, như con chim đại bàng lăng sả vào con mồi, vận tốc tăng dần, mắt không rời điểm mục tiêu đã ghi trong đầu, mặt dù bây giờ đã bị che khuất bởi những đám khói trắng. Hổ hai đã làm xong nhiệm vụ, quay ngược lại vùng biển dưới thấp cánh quạt chấp chóa dưới ánh mặt trời. Càng đến gần, tôi thấy rỏ từng nét, từng khúc giao thông hào với những bao cát, những bunker rách nát…Khói trắng bây giờ đã hoàn toàn che phủ mục tiêu của tôi, nhưng cũng là một màn an toàn để bảo vệ cho chiếc trực thăng đang hun hản liều mạng lao đến gần. Con tầu lên đến vận tốc quá cao rung chuyển từng lắc lư, tôi hồi hộp ghìm chặt cần lái, ngón tay đang để vào nút bắn…
Xoẹt…xoẹt…xoẹt…Những trái hỏa tiển vội vàng tung ra khỏi giàn phóng như sợ không còn đủ thời gian. Ầm…Ầm…Ầm…Con tàu đã quá gần mục tiêu để tôi có thể nghe được tiếng súng nổ đủ loại đang cố bắn loạn xạ xuyên qua màn khói trắng. Những tiếng ục ục của cao xa phòng không bắn liên hồi vào mục tiêu vô hình. Tôi tung hê tất cả những gì có thể có rồi cho con tàu quẹo thật gắt về phía trái. Chiếc trực thăng nghiêng gần 90 độ, rung lên dữ dội, cách quạt chém gió phành phạch như muốn đứt lìa con tàu. Tôi la lớn:
-Minigun! Minigun!…
Tức thời tiếng gầm kinh khủng của khẩu súng sáu nòng quay như chong chóng khạc ra những hàng trăm viên đạn đại liên dòn dã vào hướng đầu địch quân. Con tầu vừa khạc đạn vừa chúi mủi bay lài xuống triền núi.
-Hổ một, Hổ một Charlie gọi…Tiếng Th/T Đức vang trong tầng số.
-……
-Đẹp lắm ngay trên target…
Tôi thở hắt trên tầng số chưa kịp trả lời, miệng khô đắng lại không nói thành tiếng, tim đập hổn loạn…Vài phút sau khi ra khỏi vùng nguy hiểm, kiểm soát lại phi cụ thấy mọi sự đều bình thường, tôi giao cần lái cho người hoa tiêu phụ, tay móc một điếu thuốc Capstan bật lửa châm hút. Điếu thuốc cháy rít lên trên những ngón tay còn rung động vì cảm giác…
-Hổ một, Charlie…
-Hổ nghe…Tôi lấy chân đạp intercom trả lời.
-Hổ có monitor tần số FM của bộ binh không?
-Không, rè quá tôi không nghe được….
-Quân bạn báo cáo dàn phòng thủ cũng như ổ cao xa đã bị tiêu diệt…Đẹp lắm, bộ chỉ huy quân bạn có lời khen, nghe không trả lời.
Thở dài nhẹ nhỏm tôi thấy vui trong lòng tôi quay qua nói với người hoa tiêu phụ:
-Thôi thế là tốt rồi, không ai bị gì…
Tiếng Charlie lại một lần nửa oang oang trong máy:
-Thái Dương mời tất cả hợp đoàn ăn cơm trưa tại bộ chỉ huy. Tất cả đáp tắt máy xe sẽ ra đón…nghe Mảnh hổ.
Tôi bấm nút nghe tiếng xè trong máy thay câu trả lời, rồi đưa điếu thuốc lên môi hít một hơi dài. Hôm nay là ngày cuối cùng của hai tuần biệt phái tại Phù Cát. Mai về Nha trang thấy lại biển thân quen, thấy hàng thùy dương bên bờ cát trắng và nụ cười của em yêu đang mong chờ….

Nguồn: http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&site=kq&bn=kq_chuyendoilinh&key=1167937836&first=1860&last=1919

Đời sống mới cho người Việt ở Tasmania – Tamar Lê

09/10/2021Hoai Duyen

Tamar Lê

Đời sống mới ở Tasmania

Khi Thủ Tướng Malcom Fraser lên cầm quyền, Tasmania mong được  đón nhận Vietnamese refugee, vì Sydney và Melbourne được xem như đất lành chim đậu cho nhiều người Việt được chấp nhận qua Úc. Tôi cũng mong sao có nhiều người Việt sẽ chọn Tassie làm quê hương thứ hai, và mình cũng được ‘sum vầy’ với đồng hương.

Trước 1975, tiểu bang Tasmania là đất ‘da trắng’, rất ít người Á Châu, và người Việt mình thì lèo tèo mấy gia đình, phần đông là sinh viên Colombo  Plan. Tui là người Việt Nam duy nhất ở thành phố Launceston, nên mỗi khi ra đường, người ta ‘xúm nhau xem’, coi mình như ‘người lạc bến’, luôn luôn tận tụy giúp đỡ, phải nói là được ‘nâng niu’ như nâng trứng…  Hehehe

Khi Mount Saint Canice, một tu viện Công giáo trước đây ở thành phố Sandy Bay, vùng ngoại ô giàu có hàng đầu của Hobart, được chọn làm nơi cư trú cho người Việt tị nạn, một số ít cư dân ở đó có cảm giác ‘khó chịu’… nhưng bằng cách nào đó họ đã thích nghi được với cảm xúc và thái độ của mình khi thế giới đang thay đổi.

Khi tôi trở lại Tassie lần đầu tiên, tôi cảm thấy rất vui vì những người ở lại Tasmania trong nhiều năm đã rất thành công. Ví dụ, Tân và Oanh đến Hobart với hai bàn tay trắng, và với trái tim cao đẹp và khối óc mạnh mẽ, họ đã tạo dựng được danh tiếng và phúc lợi tuyệt vời, sở hữu một ngôi nhà xinh đẹp ở Sandy Bay và nhà hàng Vietnamese Kitchen nổi tiếng trong khu du lịch Salamanca danh tiếng.

Một ví dụ khác là Quơn và Điệp, tốt nghiệp ngành tin học và làm việc cho Công ty Thủy điện trong ban nghiên cứu nhiều năm. Hai cậu con trai của họ hiện là bác sĩ chuyên khoa trong bệnh viện lớn ở Sydney và Brisbane.

Cố giáo sư Thông Nguyễn đến từ New Zealand, cựu sinh viên Colombo Plan, là người Việt Nam đầu tiên làm Trưởng khoa (Dean) Kỹ sư và Khoa học của Đại học Tasmania… và nhiều câu chuyện thành công khác như thế.

Bây giờ nhìn lại những thành tích tuyệt vời của họ ở Tasmania, người Việt mình, tôi cảm thấy thật hạnh phúc và tự hào, như tôi đã từng chuyện trò với báo chí ở Tasmania lúc đó: “Những người này chỉ có thể thành công”; họ có thể đối mặt với mọi thử thách khó khăn để đi lên với cuộc sống mới.

Nguồn: https://vietluan.com.au/57290/doi-song-moi-cho-nguoi-vie%cc%a3t-o-tasmania-tamar-le

Cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân: Hiện Tượng Độc Nhất‏ – Nhóm Paltalk tổng hợp

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ

Để biết được đầy đủ hơn về cuộc đời kiệt liệt của một người lính cực lớn, chúng ta phải bắt đầu lại chuyện kể từ thời điểm sớm nhất, ngày TSQ Trương Quang Ân tốt nghiệp thiếu úy khóa 7 Sĩ Quan Hiện Dịch Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt với vị thứ thủ khoa, tháng 12, năm 1952.

Thiếu úy Trương Quang Ân có đủ tất cả điều kiện thuận lợi để được thuyên chuyển đến một văn phòng bình yên tránh nơi lửa đạn, hoặc một đơn vị tham mưu, chuyên môn (mới thật sự đúng với khả năng tham mưu sắc sảo của ông sẽ được chứng thực ở thời gian sau). Nhưng không, ông đã chọn binh chủng Nhảy Dù, đơn vị tổng trừ bị cho những chiến trận lớn nổ rộng suốt miền châu thổ Bắc Việt Nam, nơi những đỉnh núi cao lẫn trong mây vùng bắc Trường sơn dọc biên giới Lào Việt.

Trận Bản Hiu Siu cuối năm 1953 bùng nổ trên vùng Cánh Đồng Chum nơi cao nguyên Trấn Ninh, vị trí xung trí xung yếu của miền Trung Lào, đầu nguồn sông Nậm Ngung, do tướng Cogny, tư lệnh quân đội Pháp miền bắc Đông Dương chỉ huy có mục đích bẻ gãy mũi tiến công của cộng sản có ý tiến về thủ đô Vạn Tượng của Lào (nhưng sau nầy hồ sơ trận liệt giải thích, và giải thích đúng, đấy là ý niệm điều quân của phía bộ đội cộng sản cố đánh lạc hướng, hoặc là cách nhử quân đội Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ)

Bộ phận địa phương giữ Bản Hiu Siu xin quân tăng viện, Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù, đơn vị đầu đời của Thiếu úy Trương Quang Ân nhảy xuống với 2 đại đội của Tiểu đoàn 7 Dù tăng pháị (Lưu ý, tất cả các tiểu đoàn Dù vào giai đoạn nầy mang phiên hiệu BEP hoặc BPC – Battaillon Parachustiste Colonial, thuộc Liên đoàn Không vận số 3 (GAP/3è- Groupe Aeroporté) của quân đội Liên hiệp Pháp; chỉ mỗi Tiểu đoàn 5 Dù nơi miền Nam mới có danh hiệu Tiểu đoàn Nhảy Dù Việt Nam (BPVN) Trận đánh không cân sức diễn ra ngay từ phút đầu tiên vì bộ đội Việt Minh sẵn có ưu thế quân số, chuẩn bị, chọn lựa và chiếm giữ trận địa. Nhưng dần dần thắng lợi nghiêng về phía quân Nhảy Dù bởi sức chiến đấu quá đổi kiên cường. Phản công, giữ vững, kiểm soát được những vị trí xung yếu của vùng Cánh Đồng Chum, đẩy quân đội cộng sản trở về hướng Bặc Thành. Quả chiến trận không phải là điều bất ngờ, bởi Tiểu đoàn 3 Dù là một đơn vị ngoại hạng của 17 tiểu đoàn tổng trừ bị mặt trận phía bắc Việt Nam, như trường hợp một đơn vị bạn khác, Tiểu đoàn 6 Dù (6è BEP) đã từng chận đứng một sư đoàn cộng sản (SĐ/320) để những đồn bót thuộc tả ngạn sông Đà có thời gian triệt thoái trong chiến dịch rút bỏ Na Sản, Nghĩa Lộ (cùng năm 1953) Kết quả trận đánh đồng thời đã chứng minh cho thành phần lãnh đạo Pháp Việt thấy rõ một yếu tố mới: những sĩ quan trẻ, những hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt (tình nguyện) trong đơn vị chính là nhân tố kết nên thắng lợi.

Quân đội chỉ mới khai sinh trong vài năm qua (1951) nay đã dần trở nên là đạo quân chính qui của một quốc gia đang trong giai đoạn lịch sử quyết định về bản lãnh và giá trị của mình. Chiến sử dài theo những năm sau đã chứng thật đánh giá buổi ban đầu nầy: Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù Việt Nam là một trong những đơn vị đầu tiên của quân đội Cộng Hòa được tuyên dương Bảo quốc huân chương, kỳ hiệu đơn vị mang dây biểu chương Tam hợp vàng xanh đỏ do công trận chỉ huy bởi những những thiếu úy, trung úy của năm 1953 nầy, những sĩ quan có tên Trương Quang Ân, Phan Trọng Chinh…

Bộ tư lệnh quân đoàn viễn chinh Pháp với lớp cán bộ nhà nghề cũng đã nhận ra khả năng lãnh đạo tiềm ẩn nơi viên thiếu úy trẻ tuổi mà họa hằm lắm mới biểu lộ ra đối với những sĩ quan trẻ tuổi cực kỳ xuất sắc, như những Thiếu úy de Gaulle, de Lattre của học viện quân sự Saint Cyr, những người đã từng nắm giữ vận mệnh quốc gia và quân đội Pháp, nên họ mau chóng đưa Trung úy Ân vào trường tham mưu quân sự tại Pháp vào năm sau, 1954 khi ông vừa được đặc cách vinh thăng trung úy tại mặt trận.

Những sĩ quan chỉ huy Trường Sĩ Quan Đà Lạt và ở bộ tham mưu Liên đoàn Không vận số 3 quả thật đã không lầm khi đánh giá như trên. Hơn thế nữa, họ còn có dự định chọn viên trung úy ngoại hạng nầy vào chức vụ chỉ huy Đại đội xung kích Lê Dương Sen Đầm cho chiến trường Algérie đang bắt đầu có dấu hiệu sôi động. Khóa sĩ quan tham mưu tại Pháp cốt để làm đầu cầu cho dự định nầy. Thêm một lần nữa, ông lại đỗ thủ khoa khóa học, trên cao hơn toàn thể những học viên có 75 quốc tịch của khối Liên hiệp Pháp, đa số là người Tây Âu.

Trung úy Trương Quang Ân đậu hạng thủ khoa mà không hề có tị hiềm từ những học viên, bởi qua bản tự đánh giá, khóa học đồng ý hầu như toàn thể về người sĩ quan Việt Nam tài năng xuất sắc nầy.

Sau thất bại Điện Biên Phủ, tháng 5, 1954, bộ tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp cố gắng tập trung những tiểu đoàn Nhảy Dù còn lại ở miền Bắc đưa gấp vào Đà Nẵng, Nha Trang, để từ đây có kế hoạch tái trang bị, bổ sung sang chiến trường Bắc Phi. Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù trở nên đơn vị trụ cột đầu tiên của Liên đoàn Nhảy Dù Việt Nam, thành lập ngày 29 tháng 9, 1954, và Trung úy Trương Quang Ân ở lại với quân đội Việt Nam dưới phiên hiệu đơn vị mới như một điều tất nhiên, nhưng cũng do lời kêu gọi từ một Thiếu sinh quân khác, người anh cả của toàn quân, Thiếu tướng Lê văn Tỵ, vị Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mở đầu kỳ độc lập, tự chủ nơi miền Nam, 29 tháng 11, năm 1954.

Ngày 1 tháng 1, 1955 bắt đầu năm mới với những biến động chính trị nghiêm trọng xẩy ra tại thủ đô Sài Gòn từ những mầm mống va chạm sẳn có giữa các lực lượng giáo phái, tổ chức vũ trang với chính phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm vừa được thành lập ngày 20 tháng 7, 1954. Chính phủ mới mang đủ tất cả gánh nặng của quá khứ gần 100 năm lệ thuộc người Pháp, tình thế quân sự suy sụp hỗn loạn sau thất trận Điện Biên Phủ của quân đội Pháp và công cuộc định cư hơn triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam. Các lực lượng chống đối kết hợp thành Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm giải tán nội các, cải tổ chính phủ và chấp thuận để họ duy trì tình trạng cát cứ của những tổ chức quân sự tại những địa phương riêng biệt. Chính phủ Sài Gòn giữ nguyên lập trường: thống nhất quân đội trước khi bàn đến những cải tổ chính trị.

Thành phần mặt trận gồm 3 khuynh hướng: Phe ôn hòa muốn trở về hợp tác với chính phủ; phe trung lập không có ý kiến và thành phần quá khích nhất quyết tổ chức nổi loạn quân sự. Lực lượng Bình Xuyên dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Lê văn Viễn (quân hàm do chính phủ Pháp trao gắn theo nguyên tắc đồng hóa) thuộc nhóm thứ ba.

Ngày 1 tháng 1, 1955 Thủ tướng Ngô Đình Diệm đóng cửa các cơ sở kinh tài quan trọng của Bình Xuyên, sòng bạc Đại Thế Giới, Kim Chung và nhà chứa Bình Khang; ngày 26 tháng 4, cách chức tổng giám đốc Cảnh sát và Công an của Lại văn Sang, một người thân tín đắc lực của Thiếu tướng Viễn. Cuối cùng việc phải đến, ngày 28 tháng 4, lực lượng Bình Xuyên nổ súng tấn công quân chính phủ, nhưng Liên đoàn Nhảy Dù với 4 Tiểu đoàn 1, 3, 5, 6 đã hình thành những trụ cột chống đỡ nền móng quốc gia. Chỉ một ngày sau, quân Nhảy Dù đã làm chủ tình hình toàn bộ đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngày 30 tháng 4 Nhảy Dù và Bình Xuyên dàn trận đối diện dọc kinh Đôi bên kia cầu chữ Y. Dù đã được người Pháp ngấm ngầm hỗ trợ nhưng Bình Xuyên không thể nào là địch thủ của những tiểu đoàn Nhảy Dù thiện chiến nên mặt trận Sài Gòn mau chóng kết thúc vào ngày 5 tháng 5, tàn binh Bình Xuyên rút về Rừng Sát, vùng sình lầy dọc theo sông Sài Gòn và Đồng Nai lập thế chống cự. Tháng 9, lực lượng chính phủ mở cuộc hành quân Hoàng Diệu truy quét đám phản loạn, cũng với lực lượng Nhảy Dù làm thành phần xung kích. Ngày 24 tháng 10 kết thúc chiến dịch, nơi khuôn viên Dinh Dộc Lập lần đầu tiên diễn ra khung cảnh đại hội ân thưởng toàn quân kể từ ngày mở nước về phương Nam. Cũng là lần đầu tiên, quân, quốc kỳ cùng bay rạng rỡ trên kỳ đài tòa dinh thự báo hiệu thống nhất quân đội, chủ quyền quốc gia qui về một mối.

Trung úy Trương Quang Ân đứng hàng đầu giữa những chiến binh của quân đội Cộng Hòa được tuyên công. Ông được trao gắn một lần hai Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, hiện tượng độc nhất đã xẩy ra trong các quá trình nghi lễ trao gắn huy chương. Cho dù về sau nầy khi chiến trường trở nên nặng độ và có những chiến công lớn lao với những nhân vật xuất chúng khác như Lưu Trọng Kiệt, Hồ Ngọc Cẩn… cũng không hề được lập lại thêm lần thứ hai.

Năm 1957, Đại tá Nguyễn Chánh Thi thay thế Đại tá Đỗ Cao Trí giữ chức tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù. Đại úy Trương Quang Ân cùng với viên tiểu đoàn trưởng, Thiếu tá Phan Trọng Chinh, rời Tiểu đoàn 3 Dù về bộ tư lệnh với chức vụ mới, trưởng phòng 3, và tham mưu trưởng Liên đoàn. Bộ tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù với thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu tài năng mới mẻ nầy đã nhanh chóng canh tân, trở nên một đại đơn vị mẫu mực đối với toàn quân, có phẩm, lượng cao về khả năng hành quân tác chiến lẫn tổ chức tham mưu.

Một sự kiện quan trọng xẩy ra trong đời sống cá nhân Đại úy Trương Quang Ân, đồng thời cũng là một biểu tượng đặc thù của binh chủng nếu không nói của toàn quân độị Ông làm lễ thành hôn với Chuẩn úy Dương thị Thanh, một trong những nữ quân nhân đầu tiên của binh chủng Nhảy Dù. Cuộc kết ước được chính vị tư lệnh làm chủ hôn, và hôn lễ được thực hiện theo nghi thức thuần túy quân đội: Đại úy Trương Quang Ân trao nhẫn đính hôn cho nữ Chuẩn úy Dương thị Thanh từ nơi cửa máy bay, xong hai người cùng nắm tay điều khiển dù nhảy xuống đất nơi bãi đáp Ấp Đồn, Hóc Môn.

Cảnh tượng cảm xúc trên chắc hẳn không phải là màn trình diễn của đôi vợ chồng trẻ muốn làm nên sự kiện độc đáo ngoạn mục, nhưng đấy là hành vi biểu hiện lòng sắc son của hai người lính muốn kết hợp lời nguyền hiến dâng đời sống bản thân, gia đình cho Quân Đội và Tổ Quốc. Chúng ta không nói điều ước đoán theo cảm tính, bởi cuộc sống đầy chiến đấu của hai người suốt quãng đời tiếp theo đã hiện thực nghi lễ cao thượng của buổi thanh xuân nầy trong bầu trời và trên mặt đất quê hương.

Năm 1959, Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù được thành lập, Đại úy Trương Quang Ân nhận lãnh chức vụ tiểu đoàn trưởng đầu tiên của đơn vị. Lần xuất quân của Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù cũng là dịp phá vỡ huyền thoại về mật khu Bời Lời (vùng tây bắc ven đô nằm dọc sông Sài Gòn), căn cứ địa đã được lực lượng quân sự cộng sản thành hình từ chiến tranh 1945-1954, nay đang được củng cố cho cuộc chiến mới với nhiệm vụ chiến thuật quan trọng, từ đây làm khu vực bản lề tiếp vận của 3 tỉnh Gia Định, Bình Dương, Hậu Nghĩa, hình thành đầu cầu để tiến chiếm Sài Gòn (chiến dịch Mậu Thân 1968 chứng thực cho quan điểm chiến thuật nầy) Tiểu đoàn 8 Dù đã truy kích địch dài theo con sông, phá vỡ toàn thể những địa đạo vừa được xây dựng, đánh bật tất cả các cụm, tổ du kích, đuổi sạch đám cán bộ vừa trở lại từ miền Bắc, nay được gài chặt với cơ sở địa phương để hình thành lớp cán bộ hạ tầng của Mặt trận giải phóng miền Nam. Công trận nầy cùng lần với những đơn vị quân đội khác đã kiến tạo nên một thời hưng thịnh bình yên từ 1954 đến 1960 ở miền Nam. Dân chúng từ Sài Gòn có thể ra đi bất cứ nơi nào trong đêm và trở lại thủ đô vào giờ rạng sáng để làm việc. Có mấy ai trong thuở ấy và sau nầy nhớ lại buổi bình an kia để nhắc nhở đến gian khổ của mỗi người lính, những người không ai biết đến tính danh. Người hiến dâng đời sống mình cho quê hương, đồng bào nhưng không hề nói lên lời, dù là lời đơn giản, khiêm nhượng.

Biến cố 11 tháng 11, 1960 lần đầu tiên đẩy quân đội trực tiếp tham dự vào diễn trường chính trị, Liên đoàn Nhảy Dù lại là thành phần nòng cốt quyết định để thực hiện việc dứt điểm chế độ và người lãnh đạo. Nhưng Đại úy Trương Quang Ân đã vô cùng tinh tế để nhận rõ nguyên do lẫn hậu quả của lần bạo loạn tranh chấp, ông từ nhiệm cáo bịnh lánh mặt khỏi cảnh huống khốc liệt, vị tiểu đoàn phó được chỉ định tạm thời thay thế ông trong tình thế khẩn cấp. Cuộc đảo chính 11 tháng 11 thất bại, những giới chức cao cấp của Liên đoàn Dù phải chịu cảnh chạy trốn, lưu vong ra khỏi nước, hoặc bị bắt giữ; các đơn vị phải tái biên chế, xáo trộn, thay đổi cấp chỉ huy. Chỉ riêng Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù vẫn giữ nguyên phong độ và khả năng chiến đấu truyền thống bởi Thiếu tá Trương Quang Ân lại trở về, giữ vững đơn vị tồn tại, phát triển sau cơn hỗn loạn.

Năm 1962, ông di chuyển từ trại Trần Quí Mại của Tiểu đoàn 8, nơi khuôn viên căn cứ Hoàng Hoa Thám của Lữ đoàn Nhảy Dù trong phi cảng Tân Sơn Nhất về trại Quang Trung, Tam Hiệp, Biên Hòa, bản doanh Tiểu đoàn 5 Dù, cũng là của Chiến đoàn 2 Dù, đơn vị chỉ huy chiến thuật vừa được thành lập gồm các Tiểu đoàn 5, 6, 7.

Doanh trại xây trên một ngọn đồi hùng vĩ bên cạnh sông Đồng Nai, và người chỉ huy đầu tiên của đơn vị tân lập đã thực hiện những nền tảng vô cùng kiến hiệu để các tiểu đoàn thuộc quyền có điều kiện thuận lợi khai triển tối đa năng lực chiến đấu với tầm vóc mới. Thiếu tá Trương Quang Ân đã chứng thực một khả năng lãnh đạo lớn trong cương vị mới, với kích thước của người chỉ huy tài năng, đạo đức tưởng chừng chỉ có trong những huyền thoại về những con người của lịch sử phương Đông xưa cũ.

Vào một buổi họp của toàn thể sĩ quan thuộc các tiểu đoàn trực thuộc và bộ tham mưu chiến đoàn, mọi người đã vào ghế ngồi để đợi vị chỉ huy trưởng. Cây kim chỉ phút của chiếc đồng hồ ở phòng hội sắp sửa chập vào số 12 để chỉ đúng 12 giờ, giờ bắt đầu buổi họp, nhiều người sửa soạn đứng lên để chào đón chiến đoàn trưởng, họ nhìn ra cửa, hướng về phía văn phòng của Thiếu tá Ân cách hội trường một khoảng đồi khá xa, trống trải nằm phơi dưới nắng hạ chí miền Nam. Bỗng một bóng người xuất hiện từ khung cửa căn phòng, gỡ chiếc nón đỏ cầm tay và chạy về phía hội trường với tốc độ cực nhanh, Thiếu tá chiến đoàn trưởng Trương Quang Ân bước vào hội trường. Sau khi đội lại chiếc mũ, chào tay trả lại lệnh chào kính của toàn thể sĩ quan. Ông nói gấp:

– Xin lỗi quí vị sĩ quan, tôi bị trễ gần một phút vì phải trả lời điện thoại với Đại tá tư lệnh, nên anh em phải ngồi đợi!

Thiếu tá Ân nhìn lên kim đồng hồ vừa nhếch quá chữ số 12. Tính chính xác, hành vi nghiêm chỉnh, sự kính trọng đối với tất cả các cấp quân đội là cách xử thế thường hằng mà người chỉ huy Trương Quang Ân luôn thực hiện, tổng hợp tấm lòng của kẻ sĩ khiêm cung, nhân ái và tính nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm cao của người lính.

Hàng tháng, nếu không phải bận hành quân, ông soạn lịch trình đến thăm viếng, kiểm soát những tiểu đoàn thuộc quyền. Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù của Thiếu tá Nguyễn văn Minh, người bạn cũ cùng Trường Thiếu Sinh Quân là đơn vị ông lưu tâm nhất vì ở nơi xa xôi (Vũng Tầu) so với 2 tiểu đoàn 5, 7 cùng trong vùng Biên Hòa của chiến đoàn.

Mỗi lần thăm viếng đều được ông chuẩn bị nghiêm chỉnh như một cuộc thanh tra đơn vị, mà bản thân ông là người trước tiên phải hội đủ khả năng, tư cách, phẩm chất của một giới chức chỉ huy, thanh tra. Trước ngày đi, ông nói cùng Đại úy Nguyễn Thái Hợp, nay đã kiêm nhiệm chức vụ tham mưu trưởng chiến đoàn:

– Đại úy nhớ nhắc nhở, kiểm soát anh em mình phải mang đủ bi đông nước, lương khô để khỏi làm phiền dưới Tiểu đoàn 6 nghe!

– Nhưng Thiếu tá Minh đã báo cho tôi bằng 106 (máy truyền tin siêu tần số dùng bạch thoại để chuyển những nội dung không cần phải mã hóa) là dưới đó đã chuẩn bị bữa ăn cho chiến đoàn mình rồi Thiếu tá!

– Đại úy Hợp vội vã trả lời.

– Cơm thân mật trong tiểu đoàn hay tiệm ngoài phố?

– Thiếu tá Ân hỏi gấp.

– Vâng, ở một tiệm nơi Bãi Sau!

– Vậy đại úy phải nói liền với Thiếu tá Minh là tôi không nhận. Mình đi thanh tra tiểu đoàn chứ đâu phải đi Vũng Tàu tắm biển, ăn tiệc!

Cuối cùng, ông lên xe với nón sắt hai lớp, súng Colt nơi thắt lưng có bi đông nước đầy, gói lương khô, và ngồi thẳng trong suốt chặng đường đi từ Tam Hiệp, Biên Hòa về đến Tiểu đoàn 6 ở Vũng Tàu.

– Đường đi xa hơn trăm cây số, Thiếu tá dựa lưng một chút cho đỡ mỏi! – Người tài xế ái ngại nhắc nhở.

– Không được đâu, mình tới thăm viếng, thanh tra mà lưng áo bị nhăn như thế trông thấy có vẻ thiếu kính trọng đơn vị và anh em! Thiếu tá Ân giải thích với người tài xế, không quên hỏi thêm:

– Mà anh có đem đủ bi đông nước dùng cho cả ngày và nhớ bỏ thuốc lọc nước vào chưa?

Cũng liên quan đến người tài xế, chiếc xe, một hôm ông gọi bà vào văn phòng với vẻ nghiêm trọng, và sau đó có những lời:

– Mình là sĩ quan nữ quân nhân, mình biết cũng rõ quân kỷ như tôi; thế nên, chiếc Jeep là của chiến đoàn cấp cho chiến đoàn trưởng, chứ không phải cho riêng cá nhân tôi. Vậy khi nào mình đi thăm gia đình binh sĩ với tư cách chủ tịch gia đình binh sĩ Chiến đoàn 2 thì mình sử dụng và ngồi vào ghế trưởng xa. Nhưng ngoài giờ làm việc, nếu cần chú tài xế đưa đi đâu thì mình phải ngồi băng sau, vì xe đó là của quân đội chứ đâu phải của riêng gia đình mình. Tôi đã dặn chú ấy, khi nào không có mặt tôi thì lưng ghế trưởng xa phải gập xuống, vậy mình đừng bảo chú ấy làm trái lời tôi!

Bà im lặng nghe, và tuân theo lời ông không một phản ứng nhỏ tị hiềm, khó chịu, dẫu bà chỉ thua ông một cấp bậc.

Đầu năm 1965 để chuẩn bị đưa ông vào những chức vụ cao hơn, Bộ Tổng tham mưu tuyển chọn Trung tá Ân theo học Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Vào thời điểm nầy, tiếng Anh vẫn còn là một ngôn ngữ xa lạ đối với những sĩ quan xuất thân từ quân đội Liên hiệp Pháp, nhưng ông đã vượt qua khỏi trở ngại kia bằng biện pháp: luôn luôn trên tay, trước mặt, trong tầm với, có những sách tự học Anh ngữ. Ông vào Trường Sinh Ngữ Quân Đội với thái độ chuyên cần của một sinh viên chuyên khoa, và sử dụng toàn bộ thời giờ vào công việc đọc, viết, học tài liệu khóa học và tài liệu nghiên cứu. Và cũng như hai mươi năm trước, Trung tá Trương Quang Ân lại tốt nghiệp khóa học với vị thứ thủ khoa kèm lời khen ngợi nồng nhiệt kính phục từ ban giám đốc trường. Đây là học viên tốt nghiệp với số điểm cao nhất từ trước đến naỵ Ông đứng đầu trên 45 sĩ quan cao cấp của quân đội toàn thế giới, kể cả những tướng lãnh, cấp tá thuộc quân lực Mỹ.

Năm 1966, trong buổi tiệc tiễn ông đi làm tỉnh trưởng Gia Định, binh sĩ, hạ sĩ quan của bộ chỉ huy chiến đoàn và sĩ quan của những tiểu đoàn trực thuộc trong vùng Biên Hòa đều được mời tham dự. Mỗi người có một hộp giấy gồm 2 pâté chaud, 2 bánh ngọt và 1 sandwich; thức uống gồm một chai bia và nước ngọt Quân tiếp vụ. Trung sĩ Đâu, Ban 2 chiến đoàn vốn là tay ưa ăn nhậu, cất tiếng rổn rảng:

– Trung tá đi làm tỉnh trưởng cái tỉnh to nhất nước mà không cho tụi em uống một bữa cho đã!

Trung tá Ân nghiêm sắc mặt, nhưng từ tốn nói với Đâu:

– Trung sĩ Đâu nói như vậy là phụ lòng tôi, bữa tiệc nầy là do tiền lương tôi xin lãnh trước để đãi anh em. Chứ còn như trong Chợ Lớn đã có mấy tiệm ăn, tửu lầu gì đó, nghe tin tôi về làm tỉnh trưởng, họ đã đưa đề nghị đãi hết người của chiến đoàn mình. Nhưng đó là của họ, mình ăn làm chi anh Đâu!

Căn phòng im lặng, lắng xuống, Đâu cười cười:

– Em nói giỡn cho vui thôi, tụi em biết ông thầy nghèo mà, ông thầy cho uống chi tụi em cũng chịu hết. Vì được ở với ông thầy là vui rồi, nay ông thầy đi tụi em buồn lắm!

Vô tình, Đâu đã nói lời tiễn biệt chính xác, hàm xúc nhất với tấm lòng đơn giản trung hậu của người lính đối với một cấp chỉ huy hằng sống với đơn vị mà âm hưởng luôn bền chặt tồn tại.

Nhưng nếu có một lần người chỉ huy Trương Quang Ân phải chịu nhận phần tiêu cực thất bại trong toàn bộ sự nghiệp của mình lại là chính với chức vụ không tiếng súng, tại văn phòng bình yên nơi tòa tỉnh trưởng Gia Định.

Vào một ngày của năm 1967, Đại tá tỉnh trưởng Gia Định nhận danh thiếp thiếu tá chánh văn phòng của vị phu nhân một viên tướng cao cấp nhất của quân lực. Viên thiếu tá đặt lên bàn giấy ông tỉnh trưởng tập hồ sơ thổ trạch đứng tên bà tướng với lời yêu cầu ông phê chuẩn sự hợp thức hóa tình trạng sỡ hữu phần đất của bà. Sau khi xem xét kỹ hồ sơ và những qui định hành chánh về thủ tục hợp thức hóa đất đai thuộc phạm vi tỉnh, Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân có lời quyết định:

– Thiếu tá có thể trở về trình với bà tướng như thế nầy: Tôi đã xem xét kỹ càng về thủ tục hợp thức hóa thổ cư, điền thổ theo như các qui định hành chánh cho phép, nhưng lô đất nầy dẫu thuộc về tỉnh Gia Định, cũng là công thổ quốc gia nên tôi không thể hợp thức hóa quyền sỡ hữu của bà đối với phần đất đó được!

Khoảng một thời gian ngắn sau, viên thiếu tá trở lại với lá thư viết tay của bà tướng cũng với yêu cầu như đã kể với lời lẽ quyết liệt dứt khoát hơn, kèm theo ý nghĩa đe dọa, chức vụ ông có thể bị ảnh hưởng xấu nếu tiếp tục đường lối cũ. Và Đại tá tỉnh trưởng Gia Định cũng trả lời dứt khoát với nội dung minh bạch như đã nói một lần:

– Công thổ, công điền không thể bị chiếm đoạt, sang nhượng cho bất cứ ai.

Kết quả Đại tá tỉnh trưởng Gia Định bàn giao chức vụ lại cho một viên đại tá sau nầy phải ra tòa vì tội buôn lậu và tham nhũng. Đại tá Trương Quang Ân rời tỉnh Gia Định với luyến tiếc của mọi tầng lớp thân hào, nhân sĩ cùng binh sĩ, đồng bào các quận ven đô. Hãy nghe anh Heo, trung đội trưởng Nghĩa quân ấp Vĩnh Lộc, xã Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình nói với chúng tôi (Tiểu đoàn 9 Dù đang giữ an ninh vòng đai Biệt khu Thủ đô vào thời điểm 1966-1967):

– Từ khi có ông tỉnh với mấy anh về đây, ban đêm tui ngủ ở nhà và đi nhậu như ở Sài Gòn!

Nếu Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân còn ở Gia Định vị tất các đơn vị Việt cộng có thể ngang nhiên tập trung nơi những chỗ ém quân ở Nhị Bình, Thạnh Lộc (Gò Vấp), hoặc Bà Điểm, Bà Hom (Hóc Môn), hay Phú Lâm, An Lạc (Bình Chánh)… để tấn công vào Sài Gòn trong những ngày đầu năm 1968. Và nếu điều nầy không xẩy ra thì chắc rằng mặt trận Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định ắt sẽ có những hình thái khác. Đau thương của dân chúng, sinh mạng người lính hẳn sẽ bớt phần khốc liệt oan khiên hơn. Nhưng bởi người lính đã ra đi. Vị tỉnh trưởng thanh liêm phải rời bỏ nhiệm sở.

***

Phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột hôm ấy có một sinh hoạt khác hơn ngày thường với giàn quân nhạc của Sư đoàn 23 Bộ Binh đứng xếp hàng nhiêm chỉnh. Phòng khách phi trường được quét dọn sạch sẽ, có mặt gần như đầy đủ thành phần sĩ quan cao cấp của đơn vị và tiểu khu Darlac, đơn vị hành chính cùng có chung một địa bàn hoạt động với Sư đoàn, lực lượng diện địa quan yếu của Khu 23 Chiến thuật. Chiếc máy bay C-47 hàng không quân sự đáp xuống, lố nhố những hành khách quân nhân và gia đình ào ra từ cửa máy bay. Giàn quân nhạc chuẩn bị nhạc cụ, sửa soạn trình tấu khúc Thượng Cấp Võ; đám sĩ quan vội vã xếp đội hình, tất cả chờ đợi viên tân tư lệnh xuất hiện. Họ chờ một tướng lãnh mặt trận có uy danh với những chiến công nơi trận địa mà ông đã thu đạt từ binh chủng Nhảy Dù qua những chức vụ sĩ quan chỉ huy những đơn vị tác chiến. Nhưng vị tướng với vóc dáng, y phục, cách thế như chờ đợi ấy đã không xuất hiện. Người ta chỉ thấy một người lính với nón sắt hai lớp, lưới ngụy trang, quân phục tác chiến xanh của bộ binh, vai mang ba lô, tay xách sac marin đi lẫn vào cùng đám quân nhân hành khách.

– Hay là ông chưa tới? Có thể ông đi máy bay Air Việt Nam để được sạch sẽ, lịch sự hơn chăng?!

Đám sĩ quan nghi lễ bàn tán.

Bỗng một người nhác thấy người lính đi hàng cuối mang bảng tên màu trắng kẻ chữ “Ân” đen trên nắp túi áo và ngôi sao huy hiệu cấp tướng màu đen may tiệp vào cổ áo tác chiến. Không một chiếc huy chương ở phần ngực áo. Người nầy vội vã, hốt hoảng:

– Vào hàng! Vào hàng! Phắc!

Hành khách quân nhân cuối cùng kia vội đi nhanh đến chỗ viên sĩ quan trưởng toán chào kính, và nói nhanh, dẫu tiếng nhỏ nhưng dứt khoát:

– Trung tá cho anh em nghỉ, tôi không thể nhận! Và khi đứng hẳn trước đoàn người, tướng Trương Quang Ân khiêm tốn giải thích:

– Cám ơn anh em đã đón tôi với đủ lễ nghi quân cách, nhưng tôi không được phép nhận vì chưa bàn giao đơn vị. Vậy chỉ cho tôi một xe Jeep cũng như những sĩ quan vừa đáo nhậm đơn vị mới và chờ cho tôi bàn giao với vị chỉ huy trưởng xong, các anh em hẳn dành cho tôi quân lễ đối với một tân tư lệnh!

Ông lên một chiếc Jeep trần trụi, sửa lại thế ngồi, bi đông nước, khẩu súng Colt, chiếc nón sắt hai lớp đội thẳng, sát xuống mí mắt đúng quân phong, quân kỷ ấn định.

Đoàn xe ra khỏi phi trường, hướng khu dân cư nơi đặt những cơ sở quân sự của khu chiến thuật và tòa tỉnh trưởng. Sau chiếc Jeep cũ kỷ chở vị tân tư lệnh, một chiếc khác bóng loáng mới tinh khôi cắm cờ hiệu cấp tướng không người ngồi, chạy theo giữa bụi mù.

Ngay sau khi nhậm chức, Tướng quân được dịp chứng nghiệm khả năng chỉ huy vào dịp Tết Mậu Thân, 1968 khi quân cộng sản tổng tấn công miền Nam mà thị xã Ban Mê Thuột với bộ tư lệnh Sư đoàn 23 là mục tiêu đầu tiên bị Trung đoàn 33 Cộng sản Bắc Việt tập trung dứt điểm. Liền sau giờ giao thừa, lúc 1 giờ 35 đêm 29 rạng 30 tháng 1, 1968, 4 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 33 tăng cường 2 Tiểu đoàn 401 và 301 Cơ động tỉnh và 4 đại đội địa phương cùng du kích đồng loạt tấn công những mục tiêu của thị xã.

Sở Hành chánh tài chánh, tòa hành chánh, dinh tỉnh trưởng, bộ chỉ huy tiểu khu, Đại đội 514 Vận tải, trại gia binh Đại đội Trinh sát, cư xá sĩ quan và bản doanh bộ tư lệnh sư đoàn là những vị trí phải được chiếm cứ trước hết. Bởi phía chỉ huy quân sự đối phương hiểu rõ rằng, nếu đập vỡ được cơ quan chỉ huy, khống chế được thành phần nhân sự hoặc thân nhân, gia đình của lực lượng trừ bị tiếp ứng (Đại đội Trinh sát, thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu sư đoàn) thì cuộc tấn công ắt chiếm giữ phần ưu thắng.

Nhưng tất cả mũi tấn công đồng bị chận đứng trước cổng các doanh trại và âm mưu lùa dân vào thị xã biểu tình thực hiện bước tổng nổi dậy tiếp theo hoàn toàn bị thất bại. Bởi từ bộ tư lệnh Sư đoàn 23, Tướng quân đã điều động ngay trong đêm cuộc phản công với Thiết đoàn 8 Kỵ binh, các Tiểu đoàn 2, và 3 thuộc Trung đoàn 45 Bộ Binh và Đại đội 45 Trinh sát đang hành quân bên ngoài thị xã. Lực lượng tấn công cộng sản hóa thành bị bao vây, chia cắt bởi đoàn quân tiếp ứng. Sáng ngày 30 (mồng một Tết âm lịch) lực lượng thiết kỵ và bộ binh của sư đoàn đã hoàn toàn giữ vững những vị trí, cơ quan quân sự, hành chánh trọng yếu của tỉnh và thị xã.

Về mặt chiến thuật, chúng ta có thể nói rằng âm mưu tiến chiếm Ban Mê Thuột bị dập tắt từ giờ phút đầu tiên, chỉ trừ những cơ sở như ty ngân khố, Sở Hành chánh tài chánh số 3 còn bị những tiểu tổ du kích chiếm đóng mà vì cốt tránh thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản chung nên phía tiểu khu, bộ tư lệnh sư đoàn chưa cho lệnh phản kích lấy lại.

Tính đến ngày mồng 6 Tết, mặt trận Ban Mê Thuột hoàn toàn được giải tỏa, Trung đoàn 33 và các đơn vị địa phương, du kích bị đánh bật ra khỏi vành đai thị xã để lại 924 xác trên hiện trường và 143 bị bắt sống.

Nhưng mỉa mai thay, có một “lạnh nhạt cố ý” rất đáng chê trách: suốt chiến dịch ca ngợi thắng lợi kiên trì giữ vững miền Nam sau biến cố lớn lao nầy, công trận thủ thắng ở mặt trận Ban Mê Thuột “hình như” được cố ý loại bỏ. Điều nầy càng thấy được cụ thể qua tập quân sử tổng kết “Cuộc Tổng Công Kích – Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Tết Mậu Thân 1968″, danh tính vị Tướng quân tư lệnh Sư đoàn 23, Chuẩn tướng Trương Quang Ân hoàn toàn không được nhắc tới một lần, cho dù có hình ảnh của người cùng viên tư lệnh Quân khu đi xem xét chiến lợi phẩm sau khi mặt trận im tiếng súng và quân địch đã toàn phần bị đánh bại.

Khi những người cầm quyền quốc gia, lãnh đạo quân đội xem nhẹ kẻ sĩ, bạc đãi chiến sĩ, danh tướng thì chỉ dấu suy thoái của quốc gia, quân đội đó ắt đã phát hiện. Nếu những người lính mang tên Trương Quang Ân, Nguyễn Viết Thanh, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trần văn Hai, Lê văn Hưng nắm quyền thống lĩnh quân đội, trọng trách vận mệnh quốc gia từ thập niên 60, đầu những năm 70, thì đâu có ngày đau thương oan nghiệt 30 tháng 4, 1975. Chúng ta phải kêu lên tiếng uất hận vỡ trời cùng anh linh Chiến Sĩ – Tướng Quân.

Một ngày hè giữa năm 1970 sau buổi thuyết trình buổi sáng tại trung tâm hành quân, Chuẩn tướng tư lệnh cùng cố vấn sư đoàn, vị sĩ quan Phòng 3 ra bãi đáp trực thăng cạnh bộ tư lệnh để đi thanh tra, kiểm soát những đơn vị thuộc quyền đang hành quân trong phạm vi quận Đức Lập.

Click image for larger version

Name:	!01-gan.jpg
Views:	345
Size:	14.4 KB
ID:	49064

Trương Quang Ân (1932-1968)
Dương Thị Kim Thanh (1931-1968)

Theo thường lệ, Tướng quân đi cùng những giới chức trên bằng trực thăng UH-1D của hệ thống cố vấn Mỹ, nhưng bởi sáng nay có bà tháp tùng theo cùng để đến thăm gia đình binh sĩ của đơn vị có hậu cứ tại quận lỵ, nên hai người quyết định sử dụng trực thăng H-34 của Không quân Việt Nam, cũng cốt để chở được nhiều nhu yếu phẩm, quà tặng cho binh sĩ và gia đình của họ.

Hai vợ chồng Người Lính lớn nhất của đơn vị đi thăm hỏi mỗi gia đình binh sĩ, bà ngồi xuống giữa những người vợ lính, những em bé xao xác do thiếu dinh dưỡng, trú ngụ nơi những lều trại dã chiến mà người lính tạm dựng lên tại tiền trạm vùng hành quân. Bà bối rối, băn khoăn về nỗi khổ của từng người, bà ôm không hết những em nhỏ với nước mắt rưng rưng thương cảm. Ông yên lặng đi đến tại mỗi vị trí phòng thủ, xem xét những khẩu pháo, hỏi kỹ về nhu cầu của đơn vị và luôn nhắc nhở cán bộ sĩ quan:

– Phải luôn cố gắng chăm sóc đời sống anh em, họ đã quá thiếu thốn, quá gian khổ, bổn phận của cấp chỉ huy là phải tận tụy hết lòng với mỗi người lính của mình. Ai cũng có thể có khuyết điểm nhưng cần nhất là biết phục thiện, sửa chữa.

Buổi thăm viếng đã quá lâu, cố vấn Mỹ, toán sĩ quan tham mưu, cũng như cá nhân tướng tư lệnh phải trở về Ban Mê Thuột; những người vợ binh sĩ vây quanh bà, bà bước đi ngập ngừng. “Về mình ạ, mình còn trở lại nhiều lần nữa, mình nói với các chị, các cháu như thế!”

Ông bắt tay từng sĩ quan, ân cần đáp lại ánh mắt lưu luyến của binh sĩ. Cánh quạt chiếc H-34 bắt đầu quay, Tướng quân đỡ phu nhân, chiến hữu sắc son của Người suốt đời dài binh đao, bước lên cửa máy bay vì sức gió mạnh xô đẩy. Hai Người Lính nhìn lại những bóng người dưới đất bắt đầu mờ dần do nước mắt của bà đã thấm nhòa cảm xúc.

Người dưới đất đưa tay ngoắc từ biệt. Bỗng như tia chớp cực mạnh lóe sáng, con tàu bùng vỡ thành khối lửa hung hản ác độc và lao nhanh xuống như một mũi tên. Khu trại gia binh đồng la lớn kinh hoàng:

– Chết rồi! Chết rồi trời ơi! – Ông bà tướng chết rồi trời ơi! Trời ơi là trời ơi!!

Những người vợ lính bật khóc cùng với những đứa con gào ngất trong tay bởi ánh lửa đỏ rực sáng loáng khoảng trời.

Tướng quân Trương Quang Ân cùng phu nhân Dương thị Thanh trở về cùng mặt đất quê hương như trong tuổi thanh xuân hai Người Lính đã kết hợp giữa bầu trời Tổ Quốc.

Trong buổi phát tang nhị liệt vị, sĩ quan nghi lễ kê khai phần tài sản để lại gồm: 53,000 đồng, tiền lương tháng cuối cùng của Tướng quân, và 8 chiếc áo dài nội hóa của phu nhân.

Chúng ta hôm nay cùng sông núi kính cẩn nghiêng mình trước Anh Linh Người Lính Thanh Cao, Trung Liệt đã vô vàn tận hiến với nước Việt Miền Nam: Thiếu Sinh Quân – Người Lính Cộng Hòa Trương Quang Ân.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ
Nguồn: http://vnchtoday.blogspot.com/2021/10/co-thieu-tuong-truong-quang-hien-tuong.html

Trận Long Tân 17-18 tháng 8 năm 1966 – Trần Lý

Trần Lý

Facts & Figures - The Battle of Long Tan

       Hàng năm vào những ngày 17 và 18 tháng 8, các Cựu chiến binh Úc thường tổ chức Ngày Long Tân để kỷ niệm chiến thắng quan trọng của Quân đội Hoàng Gia Úc trong thời gian tham chiến tại VNCH. Các Cựu chiến binh VNCH  tại Úc cũng tham dự các cuộc diễn hành bên cạnh các cựu chiến binh Úc

     Chiến thắng Long Tân được ghi trong Quân sử Úc và được xếp ngang hàng với chiến tháng lẫy lừng Agincourt của Quân lực Hoàng Gia Anh.

      Trận Long Tân đã được viết lại với nhiều chi tiết rất tỉ mỉ từ các bản báo cáo ‘hậu hành quân’ của các đơn vị Úc tham chiến, ghi rõ ràng con số thương vong của binh si Úc, cùng với con số thiệt hại của CSBV, số lượng võ khí bị tịch thu.. Nhưng nếu dựa trên ‘Quân sử‘ của CSBV thì..họ chiến thắng và tiêu diệt toàn bộ..quân Úc đóng trên địa bàn Núi Đất (Phước Tuy) !? Và cho đến tháng 4/2015 , vẫn còn những bài báo trên ‘Quốc Phòng VN’..viết lại những sự kiện tưởng tượng theo kiểu ’..đồng chí Lê Tấn Tào súng AK, B40..bắn chết tại chỗ 36 tên Úc thu nhiều súng !!!

The Battle of Long Tan: How 100 Australian soldiers held off 2,000 Viet  Cong - ABC News

Những sự kiện liên quan :

Sau khi chính thức đưa quân vào tham chiến tại Nam VN, và để chứng tỏ HK không phải là quốc gia duy nhất chống lại sự xâm lăng VNCH của CSBV, tháng 4 năm 1964 TT Lyndon Johnson đã kêu gọi ‘more flags’ vận động các Đồng Minh tham gia gửi quân đến VN..Úc (ngay từ 1962 đã có những cố vấn chống chiến tranh du kích tại VN), năm 1965 đã gửi 1400 binh sĩ chiến đấu đến VN (con số binh sĩ Úc cao nhất, vào năm 1967 là 7672 binh sĩ)

    Lực luợng Hoàng Gia Úc đã chính thức nhận nhiệm vụ hoạt động độc lập tại Tỉnh Phước Tuy từ tháng 4 năm 1966. Tất cả các đơn vị Úc tại VN (trừ các đon vị KQ và HQ) được tổ chức thành Lực lượng Đặc nhiệm Úc Số 1 (1st Australian Task Force). Lực lượng này do Chuẩn tướng O.D Jackson chỉ huy gồm 2 TĐ 5 và 6 BB yểm trợ bởi hai Phi đoàn (PĐ 35 vận tải Caribou và PĐ 9 Trực thăng UH-1), một Trung đoàn Pháo binh 105mm gồm các Pháo đội 161 Tân Tây Lan, Pháo đội 103 Úc, một chi đoàn Thiết quân vận M113..

    Lực lượng Đặc nhiệm Úc chọn Núi Đất (Phước Tuy) làm nơi đóng quân. Núi Đất nằm cách Thị xã Bà Rịa 8 km về hướng Bắc. Về phương diện địa danh quân sự có 3 địa điểm được ghi là Núi Đất:

     –  Căn cứ Úc (Núi Đất 1) NuiDat Basecamp YS 436-6767, nằm trên Đường 2, cách Saigon 60 km Đông Đông-Nam; 8 km Đông-Bắc Bà Rịa, trong một khu vực đồn điền cao su, trên một đồi cao 100m , rộng 800 m x 600 m.

     – Núi Đất 2, cao chừng 160 m, cách Đất Đỏ 9km về phía Bắc.

     – Núi Đất 3, cách Núi Đất 1 16 km về phía Đông, khoảng 2 km Bắc/Tây-Bắc Xuyên Mộc

   Long Tân, noi xẩy ra trận đánh nằm về phía Bắc Đuờng 52, khoảng 6 km Đông/Đông-Nam Núi Đất 1 (cách Vung Tàu 30 km về Đông-Bắc và khoảng 5 km Bắc Đất Đỏ..

Recalling the horror of Long Tan: 'I was too bloody busy to be frightened'  | Australian military | The Guardian

* Thành phần tham chiến

Vào thời điểm xẩy ra Trận Long Tân, thành phần tham chiến giữa Úc và CSBV đuợc ghi nhận

   – Phía Úc:

– 1 ATF (First Australian Task Force) gồm 2 Tiểu đoàn BB : 5 RAR và 6 RAR; các đon vị yểm trợ gồm 1 Chi đoàn APC (thiết vận xa), Trung đoàn 1 Pháo binh dã chiến Hoàng gia gồm 2 pháo đội Úc và 1 Pháo đội Tân Tây Lan trang bị đại bác 105 mm; các phi đội 3rd SAS, phi đội quan sát 161st trang bị phi co Cessna 180 và trực thăng Sioux H-13..Phi đội trực thăng gồm 8 chiếc UH-1 của Phi đội 9 RAAF đuợc đặt tại Vung Tàu. Riêng Căn cứ Núi Đất còn đuợc yểm trợ trực tiếp bởi Pháo đội A (6 đại bác 155) của Tiểu đoàn Pháo binh  2/35th Hoa Kỳ

   Trong trận Long Tân:  ĐĐ D (106 nguời) của 6 RAR là đon vị trực tiếp đụng độ với CQ

        Các ĐĐ A và B là những đon vị tiếp ứng. ĐĐ A là đon vị tiếp cứu dùng Thiết vận Xa để đến chiến truởng.

From the Archives, 1966: Australian victory in the Battle of Long Tan

    – Phía CSBV:

  Hoạt động trong khu vực Phuớc Tuy là các đon vị thuộc Su đoàn 5 CSBV gồm 2 đon vị chính là các Trung đoàn 274 và 275. (Tr/Đ 274 là đon vị đa tham dự Trận Bình Giả-1965). SĐ 5 CSBV đặt căn cứ tại Mật Khu Mây Tào TrĐ 274 gồm 3 TĐ D800, D265 và D308 , có khoảng 2000 quân, hoạt động chính quanh Mật khu Hát Dịch. TrĐ 275, ở Mây Tào gồm các TĐ H421,H422 và H425, quân số khoảng 1800 nguời. Các đon vị yểm trợ gồm TĐ Súng nặng/Pháo binh trang bị các loại SKZ 75 mm, Cối 82mm, và Súng máy, 1 TĐ truyền tin, 1 TĐ công binh, 1 TĐ Đặc công cùng các đon vị y tế, hậu cần..

    Lực luợng địa phuong gồm TĐ Co động Tỉnh Bà rịa D445 gồm 3 ĐĐ BB C1-C2 và C3 cùng ĐĐ súng nặng C4, lực luợng khoảng 550 nguời. Ngoài ra còn khoảng 400 du kích địa phuong hoạt động trong vùng..

   Lực luợng chính trực tiếp trong Trận Long Tân là 3 TĐ thuộc Tr/Đ 245 Chính quy và TĐ 445 (địa phuong) cùng các đon vị dân công, y tế..

  Tổng số quâm tham chiến : khoảng 1000 nguời.

* Diễn tiến trận đánh : (tóm luợc)

Tác giả Nguyễn Đức Phuong trong ‘Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập (trang 318) đa tóm luợc diễn tiến trận đánh nhu sau (phần trong ngoặc là do Trần Lý bổ xung)

      2 giờ 30 sáng ngày 17.8.1966 CS đa pháo nhiều đạn súng cối và súng không giật vào Căn cứ Núi Đất. Pháo binh Úc đa phản pháo với tất cả 480 đạn truớc khi CS ngung pháo kích. Một pháo thủ Úc tử thuong cùng 23 binh si khác bị thuong. Thiệt hại vật chất tuong đối nhẹ (Truớc khi xẩy ra các cuộc pháo kích, QĐ Úc qua các tin tức tình báo,  và theo dõi các cuộc điện đam của CQ, đa ghi nhận đuợc sự có mặt của một lực luợng quan trọng của CS tập trung trong vùng. Các toán tuần tiễu Úc đa đuợc gửi đi thám sát nhung không gặp quân CS.)

Battle Timeline - The Battle of Long Tan

      Thiếu tá H. Smith, đại đội truởng ĐĐ D/ TĐ 6 đuợc lệnh càn quét vùng nghi ngờ đặt súng của quân CS. Quân số của  ĐĐ gồm 108 nguời, phần lớn là binh si quân dịch, ĐĐ đuợc chia thành 3 Trung đội 10, 11, và 12.

       11 giờ sáng ngày 18, ĐĐ D bắt đầu di chuyển về phía Đông, với Tr/đ 12 tiến truớc.  Một giờ sau ĐĐ B bàn giao vùng trách nhiệm lại cho ĐĐ D. Sau đó ĐĐ D đi vào rừng cao su Long Tân với Tr/đ 10 bên cánh trái , Tr/đ 11 bên cánh phi và Tr/đ 12 phía sau. Đến 3 giờ 40 chiều, 6 VC xuất hiện phía truớc Tr/đ 11, Tr/đ nổ súng, bắn bị thuong 1 VC, khiến các cán binh VC bỏ chạy , Tr/đ 11 ảiếp tục truy lùng các cán binh CS này. ( Trung đội 11 đi đầu (do Trung úy (quân dịch) Gordon Sharp chỉ huy) đụng độ với một toán CQ, toán CQ này bỏ chạy sau khi để lại một xác chết. Toán tuần tiễu tiếp tục tiến )  Gần 2 giờ sau đó (khoảng 4 giờ 08) quân CS tác xạ mạnh vào Tr/đ 11 gây tử thuong tức khắc 2 khinh binh (CQ tấn công rất mạnh dùng hỏa lực gồm cả súng cối, lẫn đại liên) Tr/đ 10 bên cánh trái tiến xuống đề giải vây, cung đụng mạnh với quân CS. Th/tá Smith ra lệnh cho các Tr/đ thu hẹp tuyến phòng thủ duới hỏa lực rất mạnh của quân CS. Tuy nhiên Tr/đ 11 không thể lui quân vì đang bị bao vây: Tr/đ truởng đa tử thuong, cả Tr/đ chỉ còn khoảng 10 binh si đủ khả năng chiến đấu. (Duới con mua tầm tã, Lực luợng Úc chống trả bằng hỏa lực co hữu và đuợc pháo binh  từ Núi Đất (cách noi đụng độ khoảng 5 km về huớng Tây) yểm trợ. Không yểm cung đuợc yêu cầu nhung không thực hiện đuợc do điều kiện thời tiết, không thể xác định mục tiêu để oanh kích chính xác). Đến 6 giờ chiều, pháo binh ngung tác xạ để các trực thăng có thể tiếp tế và tải thuong  Quân CS lợi dụng tình thế đa gửi TĐ D445 sang phia Tây để bao vây hoàn toàn ĐĐ D. (Đến 5 giờ chiều, Thiếu tá Harry Smith, Đại đội truởng ĐĐ D đa nhận đuợc yêu cầu tiếp tế đạn cho các đon vị đang đụng trận. 2 trực thăng UH-1 của Không lực Úc đa bay sát ngọn cây trong đem để thả các thùng đạn xuống các vị trí yêu cầu (2 trực thăng này truớc đó đa đua các toán hòa nhạc đến biểu diễn tại Căn cứ Núi Đất) Sự phối hợp hỏa lực giữa các đon vị thuộc ĐĐ D cùng với sự yểm trợ Pháo binh từ Núi Đất là ngăn chặn đuợc cuộc tấn công của CQ, nhung CQ vẫn còn bao vây  các toán quân Úc đang cố thủ).

   ĐĐ A thuộc TĐ 6 RAR cùng với chi đoàn thiết vận trên đuờng đến cứu viện đa đụng độ mạnh với TĐ D445 VC này. (Một ĐĐ khác của 6RAR đa đuợc lệnh tiếp viện để giải tỏa áp lực của CQ. Đoàn quân tiếp viện đa dùng các thiết vận xa của Chi đoàn 1st TQV vuợt các khe suối và đụng độ với toán CQ phục kích. 2 Trung đội của ĐĐ A đa rời xe và phản kích đánh tan đon vị CQ. Đon vị giải cứu đa bắt tay đuợc với ĐD D vào lúc 6 giờ 55 chiều, tuy CQ còn lẩn quất trong vùng. Quân Úc lập vị trí phòng thủ đem  duới thời tiết mua-lạnh và di tản thuong binh duới ánh đen của các TV xa) Đon vị tăng viện của Úc đa bắt tay đuợc với Bộ chỉ huy ĐĐ D. ĐĐ B cùng với Tiểu đoàn truởng TĐ 6 cung đa đến chiến truờng. Quân CS bắt đầu rút lui.

   Sáng 19 2 Đ D/5 và D/6 Úc cùng với các thiết vận xa bắt đầu lục soát chiến truờng.

Diễn tiến trận đánh đuợc ‘Quân sử CSBV’ của Lực luợng võ trang QK 7 ghi lại nhu sau :

– ‘ Theo chỉ thị của SĐ, Tr/đoàn 5 (275) đa tổ chức tiến công quân Úc ở Núi Đất. Tháng 8/1966 đoàn cán bộ Su doàn và Tr/Đ 5 do đồng chí Trần Minh Tâm SĐ phó đa về Long Tân bám địa bàn, nắm quy luật hoạt động của quân Úc và bàn kế hoạch hiệp đồng tác chiến với lực luợng địa phuong.. Ban chỉ huy trận đánh gồm TM Tâm và Đặng Hữu Thuấn (Tỉnh đội truởng Bà Rịa ) tiến hành phuong án vận động phục kích để diệt quân Úc tại khu vực Long Tân.

     Vè lực luợng, ta sử dụng TR/Đ 5 (245) và TĐ 445 (Bà Rịa) tổ chức trận địa phục kích tại đoạn đuờng số 52 khu sở cao su Long Tân (còn gọi là sờ “đất gai”) trên một chính diện dài 2 km. TĐ 2 /TrĐ 5 và một ĐĐ của TĐ 445 đuợc tăng cuờng B40, DKZ57, bố trí phía Nam và Tây-Bắc của  Ngã 3 đuờng bò và đuờng 52 làm nhiệm vụ chặn đầu địch. TĐ 3 bố trí phía Tây-Bắc đuờng 52 khoảng 800 m làm nhiệm vụ đột phá chính diện tại chùa Thất. TĐ 1, tăng cuờng thêm 2 ĐĐ của 445, bố trí ở 800 m Đông-Bắc đuờng 52, làm nhiệm vụ khóa đuôi’

  Theo quân sử CS thì đây là một trận phục kích có kế hoạch để ‘diệt’ quân Úc. Tuy nhiên cứ theo những lời kể tiếp thì ..hoàn toàn không phù hợp với các diễn tiến kể trên, chua kể những chi tiết tuởng tuợng nhu ‘quân Úc lọt ổ phục kích.. bị bắn chết cả đoàn, bỏ chạy tán loạn., thiết giáp bị bắn cháy.. Quân Úc có cả ..hải pháo yểm trợ !?

* Tổng kết thiệt hại của 2 bên tham chiến

    Theo ghi nhận chính thức của Quân lực Úc :

    – Úc 17 binh si tử trận tại chiến truờng, một binh si khác chết do vết thuong quá nặng sau khi đuợc di tản. 24 binh si bị thuong. (Trong số binh si hy sinh  17 nguời thuộc ĐĐ D; 1 thuộc  Thiết đoàn 1st APC) Tỷ lệ khoảng 1/3 quân số (106 nguời) tham chiến lúc đầu. Phần lớn binh si hy sinh và bị thuong là những binh si quân dịch, đua đến một số chỉ trích tại Úc về vấn đề sử dụng lính quân dịch trên chiến truờng.

    – Phía CQ (bao gồm Cán binh BV và quân địa phuong ) : 245 xác để lại trên chiến truờng, một số thuong vong mang đi khi rút chạy (Úc uớc luợng khoảng gần 350 cán binh) , gần nhu quân số của 2 Tiễu đoàn CQ. Khoảng 50 % thuong vong do pháo binh, số còn lại do súng nhỏ tại chiến truờng. Võ khí bị tịch thu gổm : 33 AK-47 ; 5 súng truờng SKS ; 7 trung liên nhẹ RPD ; 4 súng phóng rocket RPG-2; 2 súng không giật 57 mm; 2 carbine M1, 1 tiểu liên PPSh-41 ; 1 đại liên, 1 garand M1 và 1 tiểu liên Thompson. Trên 10,500 viên đạn súng nhỏ đủ loại; 300 lựu đạn; 40 đạn súng cối; 22 quả đan SKZ và 28 đạn RPG-2..3 Cán binh bị thuong bị bắt sống.

   Kết quả trận đánh theo CSBV thì là một thảm bại của Quân Úc ! :

   – Truyền đon của ‘Quân Giải phóng’ ghi ‘’đa diệt đuợc 700 lính Úc, đánh tan một tiểu đoàn và 2 Đại đội, phá hủy 2 chi đoàn thiết giáp Úc ‘ (!?). Tin này đuợc loan báo trên Đai Phát thanh HàNội ngày 27 tháng 8 năm 1966 và sau đó đuợc Đai Bắc Kinh loan tiếp !

 Sau 1975, dù chiến tranh VN đa chám dứt, những nhà viết ‘Lịch sử QĐND’ của CSBV vẫn giữ nguyên quan điểm : ‘Lịch sử để phục vụ CS Chủ nghia’ nên tiếp tục đua ra những bài tuyên truyền, đối nghịch nhau về Trận đánh này.

– ‘Lịch sử SĐ 5 BB (VC) ‘ ..Lực luợng ta lại thuong vong lớn, hy sinh 32, bị thuong 60 đồng chí..Tuy vậy, trận đánh quân Úc tại Long Tân có ý nghia rất quan trọng: lần đầu tiên trên chiến truờng ta tiêu diệt 1 đại đội lính Úc..(!?)..’

– Quân sử (!) của ‘Lực luợng võ trang QK 7’ còn ghi ‘chiến tích’..ghê gớm hon : ..’Là trận đầu tổ chức vận động phục kích tiêu diệt quân Úc, có ý nghia rất quan trọng:..ta đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn quân đội Hoàng gia Úc, trong đó diệt gọn một đại đội lính Úc, bắn cháy 2 xe thiất giáp, giết và làm bị thuong hàng trăm lính Úc. Đồng chí Lế Tấn Tao dùng súng AK, B40 bắn chết tại chỗ tên, thu nhiều súng(!)…(Bài này..không nói đến thiệt hại của quân BVCS ?)

   Thậm chí TĐ Co động D 445 (dù sau đó phải giải tán) còn đuợc thuởng ‘Huân chuong Đon vị Anh hùng của Quân Giải Phóng’.!

VIETNAM. 19 AUGUST 1966. A WOUNDED VIET CONG PRISONER FOUND ON THE  BATTLEFIELD AFTER DELTA ... | Australian War Memorial

Nhận xét và Tổng kết :

Trên phuong diện quân sự Long Tân là một chiến thắng không thể chối cãi của Quân đội Úc tại VNCH. Ký giả Úc Terry Smyth gọi là ‘ chiến thắng của Úc trong một trận đánh quan trọng của một cuộc chiến mà Hoa Kỳ đa thất bại’

Tác giả Nguyễn Đức Phuong ghi : ‘Trận Long Tân đa gây thiệt hại nặng cho TĐ D 445 VC và Tr/Đ 275 CSBV. Khoảng 1 năm sau đó, CS muốn lập TĐ D 440, nhung không tìm đuợc quân số tại địa phuong, nên thành phần hoàn toàn do cán binh xâm nhập từ miền Bắc. Tình báo cho biết nhiều bất đồng Nam-Bắc nên CS phải cho giải tán TĐ này vào cuối năm 1970. Đầu năm 1971 TĐ D 445 chỉ còn khoảng 80 binh si, nên phải phân tán thành những toán nhỏ..15 nguời..’

Tuớng Westmoreland trong ‘A Soldier Report’ (trang 258) đa nhận xét về Trận Long Tân nhu sau : ‘ Trận đánh dữ dội nhất liên quan đến quân Úc xẩy ra vào mùa Hè năm 1966, khi 1 ĐĐ quân Úc càn quét khu rừng cao su đụng trận với một lực luợng CS gồm 1500 quân  Trong 3 tiếng đồng hồ chạm súng duới con mua mùa tầm tã không quân không thể yểm trợ; một ĐĐ với hon 100 binh si đa chống trả lại các đợt tấn công biển nguời. Khi quân Úc can đạn, các phi công Úc đa  can đảm liều mình bay trong đem và duới mua để đem đạn tiếp tế. Cung nhờ mua bão át tiếng động nên 2 ĐĐ thiết vận xa đa đến đuợc chiến truờng truớc khi quân CS kịp phát giác. Lực luợng tiếp cứu đa đánh tan đuợc cuộc bao vây của CS, buộc chúng phải rút lui bỏ lại 265 xác..’

Mãi đến năm 2006, trong một cuộc phỏng vấn của Đai Truyền hình Úc,Nguyễn Minh Ninh, nguyên TĐ phó của TĐ Địa phuong D 445 mới chịu nhận ‘ Úc đa thắng trận Long Tân’ nhung còn co thêm là ‘VC đa thắng trận chiến’ (!)

                                                                              Trần Lý (8-2015)

Tài liệu sử dụng:

– Chiến tranh Việt Nam Toàn tập (Nguyễn Đức Phuong)

– The Battle of Long Tân (Mc Neill)

– Where We Were in VietNam (Michael Kelly)

– Australia Armour in Viet Nam (Simon Dunstan)

– Vietnam Anzacs (Kevin Lyles)

Nguồn: Cảm ơn Mr. TL chuyển bài.

Chuyện ít người biết về Tượng Đức Thánh Trần ở Bến Bạch Đằng – Phan Lạc Tiếp

Phan Lạc Tiếp

Công trường Mê Linh do Mạnh Hải sưu tầm

Việc suy tôn Đức Trần Hưng Đạo TRẦN HƯNG ĐẠ0 làm Thánh Tổ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa do quyết định từ đâu, văn kiện nào, tôi không thể truy cứu được. Nhưng riêng việc dựng tượng Ngài thì tôi biết, vì có ít nhiều tham dự vào việc này.

Năm 1967, khi Chính Phủ Quân Nhân do Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (tức Thủ tướng) sửa soạn trao quyền lại cho Chính Phủ Dân Sự, Chính Phủ muốn để lại một cái gì cho thành phố Sàigòn, đánh dấu thời gian Quân Đội tham chánh, nhất là tạo cho Thủ Đô Sài gòn thành một thành phố có màu sắc lịch sử và đẹp xứng đáng là một Thủ Đô, Chính Phủ muốn dựng các tượng danh nhân lịch sử tại các công trường trong Thủ Đô. Việc này Chính Phủ giao cho Quân Đội thực hiện, cụ thể là Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, Bộ Quốc Phòng phụ trách.

Lúc ấy Cục Tâm Lý Chiến do Đại tá Vũ Quang làm Cục trưởng. Một buổi họp tại Cục Tâm Lý Chiến do Đại tá Vũ Quang chủ tọa, để phân nhiệm cho các Quân Binh Chủng trách nhiệm dựng tượng Thánh Tổ của mình tại các công trường được chỉ định. Đa số các Quân Binh Chủng đều tôn vinh các vị anh hùng, danh nhân trong lịch sử làm Thánh Tổ. Riêng Không Quân không tìm được vị anh hùng nào trong lịch sử, nên công trường được giao phó là khuôn viên trước Tòa Đô Chánh Sài Gòn, Không Quân đã dựng một tác phẩm điêu khắc kỷ hà, nói lên tinh thần bảo vệ không gian của Tổ Quốc. Thủy Quân Lục Chiến cũng vậy. Anh em Thủy Quân Lục Chiến dựng tượng hai người lính trong tư thế xung phong tại vườn hoa trước tòa nhà Quốc Hội. Cả hai công trường này, sau 30 tháng 4 năm 1975, đã bị dẹp đi.

Riêng Hải Quân, được giao dựng tượng tại công trường Mê Linh, sau đổi là công trường Bạch Đằng, ở ngay bờ sông , cuối đường Hai Bà Trưng. Việc tế nhị và khó khăn của việc dựng tượng Thánh Tổ Hải Quân ở đây là làm thế nào có thể sử dụng được cái bệ đã có sẵn. Nguyên khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa đây là công trường Mê Linh, được ông Ngô Viết Thụ lập đồ án dựng tượng Hai Bà Trưng. Kiến trúc đẹp, mới được coi là một công trình nghệ thuật của Thủ Đô Sài gòn, tạo một hấp lực cho cảnh trí bến Bạch Đằng, xứng đáng là cửa ngõ của Thủ Đô Việt Nam Cộng Hòa.

Tượng Hai Bà Trưng đẹp, nét điêu khắc sắc và mới, được dựng trên một bệ cao 3 chân phảng phất một đầu voi với hai chân trước và cái vòi voi. Khi khánh thành công trình này, chính Bà Ngô Đình Nhu, với tư cách là Chủ tịch Hội Phụ Nữ Liên Đới tới khánh thành. Tất nhiên đây là tượng Hai Bà Trưng, nhị vị nữ lưu lừng lẫy của lịch sử nước nhà, nhưng việc điêu khắc mới quá, phảng phất như hai mẹ con bà Nhu. Dân Sài gòn đã nhìn tượng này qua ấn tượng là hình ảnh của bà Nhu, nên khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ năm 1963, lòng người trong cơn cuồng nộ, đã ào ào kéo tới công trường này và đã kéo đổ tượng Hai Bà xuống, như muốn xóa sạch vết tích của bà Nhu. Đầu hai pho tượng đã được để lên xe xích lô đi diễu trên các phố, nhiều báo đã có in hình này. Sau này không hiểu đầu hai pho tượng ấy lưu lạc nơi đâu. Vì thế, từ năm 1963 đến năm 1967, 4 năm trời “đầu voi” tại công trường bỏ trống, không có tượng nào trên đó cả.

Khi công trường này được giao cho Hải Quân được đổi tên là công trường Bạch Đằng, vừa là quân cảng, và bến sông tiếp nhận các tàu bè từ biển tới Thủ Đô Sài gòn. Công việc dựng tượng do Chính Phủ Quân Nhân khởi xướng, như trên đã nói, muốn làm cho nhanh, trong vòng năm bảy tháng, hầu kịp thời gian khi chuyển quyền từ Quân Đội qua Dân Sự. Trên căn bản các chi phí do Chính Phủ cung cấp. Tôi không còn nhớ kỹ, nhưng đâu như Chính Phủ cấp cho mỗi Quân Binh Chủng một ngân khoản độ mấy chục ngàn mà thôi. Ngân khoản quá nhỏ. Hầu như tất cả Quân Binh Chủng, muốn làm tượng Thánh Tổ của mình cho thật đẹp, các Quân Binh Chủng liên hệ đều phải bỏ công và của vào rất nhiều. Riêng Hải Quân, đây là một công trình to tát và mang nhiều ý nghĩa. Vì vị Thánh Tổ Hải Quân, Đức Trần Hưng Đạo, chẳng những văn võ song toàn, một vị đại anh hùng của dân tộc, và đây còn là cửa ngỏ của Thủ Đô, sát ngay Bộ Tư Lệnh Hải Quân, nên Hải Quân đã tích cực và thi hành công trình thật chu đáo và to tát.

Lúc ấy, vị Tư lệnh Hải Quân là HQ. Đại tá Trần Văn Chơn, người cùng mang họ Trần, người rất sùng kính và ngưỡng mộ công đức của Đức Thánh Trần. Ông là vị Tư Lệnh thứ nhì, (vị Tư lệnh đầu tiên của HQVN là HQ. Đại tá Lê Quang Mỹ) từ năm 1957 đến năm 1959. Ông rời chức vụ để đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ, và trao chức vụ này cho HQ. Đại tá Hồ Tấn Quyền làm Tư lệnh. Khi từ Mỹ du học về, là thời gian nhiều biến động trên chính trường Miền Nam. Các chức vụ quan trọng của các đơn vị lớn trong Quân Đội cũng bị ảnh hưởng và xáo trộn. Từ năm 1963, HQ. Đại tá Quyền bị giết chết trong ngày binh biến 1 tháng 11 năm 1963, có các vị sau đây lần lượt đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Hải Quân:

– HQ Đại tá Chung Tấn Cang (sau thăng Phó Đô Đốc) từ năm 1964 đến 1965. Và cũng là vị Tư lệnh cuối cùng của Hải Quân khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ.

– HQ. Đại tá Trần Văn Phấn từ 1965 đến 1966.

Trung tướng Cao Văn Viên và Trung tướng Lê Nguyên Khang từ các năm 1965 đến 1966. Đó là thời gian rối loạn nhất của đất nước, và cũng nhiều xáo trộn nhất của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Như thế, từ năm 1959 đến năm 1966, qua nhiều vị Tư lệnh, HQ. Đại tá Trần Văn Chơn, được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Liên Đoàn Tuần Giang, một tổ chức phụ thuộc của Hải Quân, có nhiệm vụ hổ trợ cho các tỉnh trong Vùng 3 và Vùng 4 chiến thuật. Một đơn vị khiêm tốn, hầu như ít được nhắc đến vì ít có công trận, không có công tác gì quan trọng. Khi các Tiểu khu cần hoạt động lớn, thì các địa phương lại nhờ các đơn vị thiện chiến của Hải Quân là các giang đoàn xung phong, và đôi khi có các chiến hạm loại đổ bộ, với hỏa lực hùng hậu, hổ trợ. Từng là Tư lệnh Hải Quân, bây giờ là Chỉ huy trưởng Liên Đoàn Tuần Giang, một cái bóng mờ bên cạnh một Hải Quân đang bắt đầu lớn mạnh. Dù bình tĩnh cách nào, ai cũng thấy là Đại tá Chơn, sau khi du học Mỹ về đã xuống chức thấy rõ.

Bộ chỉ huy Liên Đoàn Tuần Giang đóng bên bờ sông Sàigòn, Thủ Thiêm, hầu như đối diện với Bộ Tư Lệnh Hải Quân đồ sộ ở bên này bờ sông. Suốt mấy năm ở chức vụ này, anh em Hải Quân hầu như đã quên Đại tá Chơn. Ngoài công việc điều hành Liên Đoàn Tuần Giang, nhiều người nói lại, Đại tá Chơn có rất nhiều hoạt động liên hệ với Hội Thánh Trần tại Thủ Thiêm. Do đó khi được trở lại đảm nhiệm vài trò Tư lệnh Hải Quân lại có dịp dựng tượng Đức Thánh Trần, vị đại anh hùng của đất nước, mà ông cũng tình cờ mang cùng họ : Họ Trần, nên nỗi vui, niềm hãnh diện ở nơi ông về việc dựng tượng Đức Thánh Trần, quả là một việc làm rất phấn khởi và cũng đã có một phần huyền nhiệm. Đức Thánh Trần, vị Thánh tổ của Hải Quân đã được Hải Quân cố gắng làm sáng danh ngài và nức lòng học tập, noi gương Ngài. Các chiến hạm, ngoài quốc kỳ, chiến kỳ được chính thức có thêm Thánh kỳ để cắm nơi mũi tàu khi có đại lễ, Thánh kỳ là một lá cờ ngũ sắc, có tua răng cưa, một loại cờ cổ ta thường gặp tại các đền thờ, các nơi đình đám của ngày hội tổ chức theo phong tục cũ. Giữa lòng lá cờ có một chữ đại tự bằng chữ nho: chữ Trần. Trong các ngày đại lễ, toán hầu kỳ gồm có : Quân, Quốc và Thánh kỳ. Suốt bao nhiêu năm Hải Quân hoạt động, các ngày lễ lớn, các chiến hạm kéo Đại kỳ rực rỡ, xa đã thấy Thánh kỳ sặc sỡ cắm nơi cột tại mũi tàu. Đó là một hình ảnh rất khác lạ so với các chiến hạm của các quốc gia khác. Một trang trí rất đẹp và đầy uy linh của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa một thời.

Trở lại với việc dựng tượng Thánh Tổ Hải Quân, Đức Trần Hưng Đạo tại công trường Bạch Đằng, sau nhiều bàn cãi, có những quyết định như sau. Về bệ tượng, cần hủy bỏ 3 chân của bệ, và vị Thánh Tổ Hải Quân được biết đến như một vị tướng tài chỉ huy thủy chiến, không, hoặc ít có liên hệ đến hình ảnh của con voi, nhất là cần phải làm khác, hầu như xóa đi cái ấn tượng và liên hệ đến bà Nhu. Nhưng việc phá đi bệ này vừa không phải dễ làm, và còn phí phạm một công trình kiến trúc rất đồ sộ, khó khăn. Cuối cùng đi tới kết luận là vẫn để nguyên 3 chân bệ, nhưng được xây kín lại thành một bệ hình khối tam giác, mà mũi nhọn hướng ra sông, như một mũi thuyền trong tư thế lướt sóng.

Còn lúc đầu nhờ điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu, người nổi tiếng với tượng Tiếc Thương tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa thực hiện. Ông Thu (do tôi giới thiệu) nghĩ rằng, Đức Thánh Trần là một vị tướng mà cốt tủy của công trạng là tinh thần tham mưu, đó là điều khởi đầu và quan trọng hơn là việc xông pha nơi đầu sóng ngọn gió. Do đó ông Thu đã tạo một mẫu tượng Đức Thánh Trần trong tư thế ngồi, tay trái đè lên đốc kiếm tay phải cầm cuốn sách, được coi như là Binh thư. Ngài hướng mặt về phương Bắc, vừa là biểu tượng của người đi biển hướng về sao Bắc đẩu, vừa là nỗi lo âu muôn đời của người Việt, phải đối đầu với Bắc phương. Ý này một phần góp ý của chính tôi với điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu.

Mẫu tượng này được đem ra một Hội Đồng của Hải Quân để xem xét, và so sánh với mẫu tượng khác. Mẫu khác của người nào đó bên Hội Thánh Trần bên Thủ Thiêm đề nghị, đó là mẫu tượng được chấp nhận làm nên tượng Ngài hiện nay. Đó là hình ảnh của vị Đại tướng trong y phục võ tướng, một tay tỳ lên độc kiếm, một tay chỉ xuống lòng sông và nói : “Phen này nếu ta không phá xong giặc Nguyên, thề không trở lại khúc sông này nữa”

Lời thề của Ngài đã được sử sách ghi lại, như một lời nguyền làm nức lòng bao nhiêu thế hệ sau này, mỗi khi giở lại trang sách cũ. Do đó, mẫu tượng đó, của một người ít được biết đến, lại được chấp thuận. Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu rất buồn. Buồn vì mất một cơ hội góp công, góp tim óc cho một công trình đầy sử tính của một Sài gòn, Thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa. Tôi cũng buồn, vì đã giới thiệu một người bạn, một điêu khắc gia nổi tiếng bậc nhất lúc ấy, mà lại không thành công. Nhưng tôi cũng phải nhận rằng, lời thề trên sông Hóa quả mang nhiều ý nghĩa, đã gắn liền với các chiến công của Đức Thánh Trần, với tước hiệu đầy đủ của Ngài.

Thánh Tổ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa

Bình Bắc Đại Nguyên Soái – Hưng Đạo Đại Vương

Một Vài Câu Chuyện Bên Lề

Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa với nhiều phương tiện của Hải Quân Công Xưởng, và sự đóng góp tiền bạc của tất cả quân nhân Hải Quân các cấp, đã hoàn thành một công trình mang đầy ý nghĩa lịch sử, nghệ thuật cho Thủ Đô Sài gòn. Ngày khánh thành, vì một vài lý do bất khả kháng, Đại tướng Cao Văn Viên được chỉ định vào phút chót, thay mặt Chính Phủ đến chủ tọa, thay vì một giới chức cao hơn, khiến ban tổ chức gặp rất nhiều phiền toái. Vì các vị Bộ trưởng đã đến, ngoại giao đoàn đã đến. Trên hệ thống hành chánh, các vị Bộ Trưởng ở vị thế cao hơn Đại tướng. Nhưng làm sao được, và ghế đã xếp, chương trình đã định. Và Đại tướng Viên tới, mọi người cũng đương nhiên chấp nhận một cách vui vẻ.

Một trở ngại kỹ thuật khác, cho đến gần phút khánh thành, ban tổ chức mới thấy khó khăn. Tượng làm xong từ Hải Quân Công Xưởng do từng mảnh ghép lại, được cần trục câu lên ghép lại. Câu các mảnh ấy như câu các kiện hàng, nhưng ghép lại phải khéo để không thấy các mối ghép. Ghép xong mới tô và cho các vết ghép được nhuần nhuyễn như một khối đồng đen. Thực ra đó là các mảnh xi măng đúc từ Hải Quân Công Xưởng. Tượng làm xong, các giới chức Hải Quân ra ngắm nghía, ra điều ưng ý lắm. Nhưng theo nguyên tắc, và tạo sự linh thiêng, đột ngột, sau phần nghi lễ, tượng mới được mở ra để mọi người thưởng lãm và chiêm bái. Nhưng tìm vải phủ đã khó. Cái khó hơn, và khó nhất là làm cách nào để vị chủ lễ mở tượng ra, khó quá. Tìm vải cả mấy tuần mệt, tôi có ý kiến và thưa với vị Thiếu tá Phan Phi Phụng, Trưởng phòng Tâm Lý Chiến rằng : “không khó đâu Commandant, Commandant có nhớ tại Bắc Việt, các đền thờ Đức Thánh, người ta thường tìm đến để xin di vật của đền về yểm trừ tà ma…” Tôi vừa nói đến đó Thiếu tá Phụng cười : ” Cậu này, chắc cậu nhớ đến việc Ngài đã trừ diệt hồn ma Phạm Nhan…”. Tôi cười. Từ đó, chúng tôi đưa ý kiến là nhờ bên Hội Thánh Trần cung cấp các thước vải đỏ, độ 200 thước vuông, để phủ tượng. Khi xong lễ, các thước vải linh thiêng này sẽ được trao lại cho Hội Thánh Trần để phân chia cho những ai muốn có chút di vật của Ngài để cầu may và trừ tà ma…. Ý kiến ấy được Hội Thánh bên Thủ Thiêm tán thành nhiệt liệt, và cung cấp vải đỏ rất đầy đủ và rất mau.

Nhưng phần vải thì dễ rồi. Mở ra làm sao. Mở cho dễ, cho đẹp, và không vướng mắc vào giờ phút linh thiêng của buổi lễ. Ý kiến này, Hải Quân Công Xưởng chịu thua. Phủ thì được, mở ra khó quá. Sau một đêm, hôm sau ông Phụng vào sở, đem theo một cuộn giây chì, đường kính 3 milimetres. Cuộn giây chì được cắt ra từng đoạn, bẻ lại thành các vòng tròn, chì này vừa đủ mạnh để ghim các mảnh vải phủ tượng vào nhau. Khi cần mở vải phủ, từ giây thừng đã gài ở khoen cao nhất. Được Đại tướng Viên từ từ kéo xuống, các vòng chì rãn ra nhẹ nhàng. Và để chắc ăn, có thêm 2 giây như thế, tất cả là 3 giây, có thêm hai vị nữa, một là HQ. Đại tá Trần Văn Chơn, một là Hội trưởng Hội Thánh Trần, ba sợi giây cùng kéo, các mảnh vải đã được bóc ra như là bóc một quả cam bổ dọc. Các mảnh vải được gió sông Sài gòn thổi bay và từ từ là xuống, tượng Đức Thánh Tổ Hải Quân hiện ra trước mắt mọi người, hiện lên bầu trời cao xanh ngắt, giữa tiếng vỗ tay vang dội của quan khách, nhất là của phái đoàn dân sự của Hội Thánh Trần. Các mảnh vải này đã được Hội Thánh trân trọng thu góp lại, và cắt ra từng miếng nhỏ, phát cho những ai muốn được hưởng lộc của Ngài. Tôi cũng được thỉnh một vuông vải nhỏ bằng cái khăn ăn. Vuông vải linh thiêng này được vợ tôi giữ kỹ lắm, và sau đó còn phải cắt ra để chia cho các một số bạn làm vật cầu may. Sáng kiến cái khoen chì hoàn toàn là của Thiếu Tá Phan Phi Phụng, tôi chỉ có chút sáng kiến đi xin vải mà thôi.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một số tượng bị phá hủy, trong đó có công trình điêu khắc Tổ Quốc và Không Gian của Không Quân và tượng hai người lính Thủy Quân Lục Chiến. Riêng tượng Thánh tổ Hải Quân vẫn còn, tất nhiên huy hiệu và mấy chữ có liên hệ đến Hải Quân VNCH đã bị phá bỏ. Bến Bạch Đằng kể từ ngày đó là hình ảnh của chia lìa, đau khổ. Có những quân nhân Hải Quân cũ, trở lại khu này, bùi ngùi nhớ một thời vàng son, oai nghiêm cũ, nay nhìn lên chỉ thấy pho tượng đã cũ, như một nét bùi ngùi. Là quân nhân Hải Quân cũ, nhiều người đã đứng lại chiêm bái Ngài. Nhiều người buồn vì đã chậm chân không di tản được. Mà người ra đi, trong các năm sau 75 thì quá đông. Đa số ra đi bằng đường biển. Vì thế, nhìn lên tượng Ngài. Ngài vẫn chỉ ngón tay xuống dòng sông, con sông Hóa của lịch sử, hay là con sông Sài gòn, là cửa ngõ của biển khơi. Người ra đi đã vừa hài hước vừa vui mừng mà nói rằng:”Ngài nói lâu rồi. Theo ngón tay Ngài chỉ, tìm đường thủy mà đi”. Câu chuyện này một thời đã làm cả Sài gòn, cả Miền Nam biết đến, cả triệu người đã vượt biển tìm tự do.

 Phan Lạc Tiếp

Nguồn: https://mauaotran.blogspot.com/2021/10/chuyen-it-nguoi-biet-ve-tuong-uc-thanh.html

Chuyện bố láo : Cô vít.. ‘cấm đàn bà’ ? “Cô vít làm sưng.. bi !”

                                                           Lý sự Cùn

   Lý Toét đang viết vài chuyện ‘bá láp’ về Nàng Cô Vít, nay lại thêm chuyện bố láo’ về Nàng xẩm này.. ghen và.. cấm đàn bà ?

   Số là, không biết Bác Xã Xệ đọc ở đâu mà hỏi Lý Toét về.. ‘Cô vít tạo phong trào… lên đồng ?”. Lý Toét mê ‘lên đồng’ từ bé, xem các “Cô” đồng lên xiêm áo, xiêm mũ, múa dẻo và đẹp hơn các Vũ công.. băng nhạc bây giờ mà còn được ăn lộc Thánh .. hết xảy..

Ri cư 54 , Cô Đồng, Thẩy Pháp cũng .. ri cư theo Mỹ-Diệm (?).. Nhớn lên, nhà ở hẻm 220 Trương Minh Giảng có Đền ‘Quan Lớn Tuần Tranh”.. có “Cô” Đỏng Chung.. múa đẹp lắm. Các Bà.. xồn xồn tụ tập cùng các ‘lão’ yamaha’ xem múa.. Hồi đó VNCH có Bà Nhu cấm đa thê, nên ít có múa đôi.. nay XHCH, lên đồng xong, đệ tử nam nữ múa đôi, lam-ba-da tưng bừng.. tới mức luôn..Cô Đồng lên cấp thành Nhà Ngoại cảm?

   Bài của Cụ Nhà nghiên cứu Ngô Nhân Dụng về.. Thế giới lên đồng’ hay quá đi! Nhưng Lý Toét lại chỉ mê vụ ‘Cấm.. đàn bà’ của Cô Ca sĩ Nicki Minaj (Lý Toét tuy bố láo nhưng không .. xạo) . Ông Nhân Dụng viết (trích nguyên.. con) :

   “Cô tuýt ra một tin động trời : Một người bà con tôi ở xứ Trinidad nhất định không chích vaccin! Vì một người bạn của anh ta đi chích rồi hai hòn bị sưng lên to tướng, thành bất lực ! Anh chàng sắp cưới vợ, bây giờ cô dâu xin bãi hôn..” (hết trích)

Ông Dụng viết có sách và mách có chứng, cụ nào còn nghi ngờ, vào đây đọc chơi..

https://mobile.twitter.com/home

         https://www.wired.com/story/nicki-minaj-vaccine-twitter/vào xem còn được chiêm ngưỡng .. Cô Ca sĩ’ kinh’ lắm các Cụ ơi ! Ông Hoàng Hải Thủy, lúc sinh tiền, có viết về Cô Võ sĩ Ngọc Toác có miếng võ ‘Kim kê áp noãn’ thần sầu.. Cô Minaj này mà  có miếng đó thì.. chết cha các đấng mày râu !

The Week Nicki Minaj's Cousin's Friend's Balls Dominated Twitter | WIRED

The Week Nicki Minaj’s Cousin’s Friend’s Balls Dominated Twitter.

   Lý Toét, chỉ là Phó ‘ráo sư’ chăn lợn, gà  không rành vụ thuốc men, đành hỏi các Thày (thầy thuốc Tứ phương : Tây, Đông, Nam, Bắc..).. Bác Xã Xệ mách cứ hỏi Đốc tờ Gu-Gồ nhất là các Ông U-rổ-lô-zít.. Hay thật và nhờ vậy Lý Toét biết cái vụ sưng này Mỹ gọi là Swollen balls (Lý Toét không dám gọi là .. Sưng ‘banh’ hay ‘bóng’ .. vì..”bự’ quá ? Sưng bi có lý hơn ?

      Tưởng là Cô Minaj.. giỡn không ngờ.. “cũng dám có lắm đó ! :

BS U-rô-lô-zít Chris Deibert MD  (Nebraskamed.com) -Sept , 29, 2021  viết :

“ Một tỷ lệ đáng kể quý ông, sau  khi nhiễm Covid-19 có thể có triệu chứng Sưng bi (testicular swelling) : 10 đến 22% có thể bị các triệu chứng orchitis hay epididymo-orchitis..”  Ông Thầy thuốc nói : “COvid-19 không phải là con vi trùng duy nhất gây.. sưng bi, mà còn nhiều vụ nhiễm trùng khác cũng làm.. bi sưng ..như bệnh lậu, bệnh chlamydia và nhất là bệnh quai bị (mumps).. Quan Đốc thêm là..’Thuốc chủng gây sưng bi.. thì chưa xảy ra  tại.. Nebraska..

   Bên cạnh vụ Sưng bi, còn có vụ Bạn cô Mirja hủy hôn ? hay là Covid-19 gây thêm tai họa ‘Sìu sìu , ển ển’ Các Ngài Đốc gọi là “Rối loạn cương dương =Erectile dysfunction= ED.. Các Thày thuốc Nam ta gọi là ‘Dương nuy ?

   Lý Toét , thuộc loại hết hơi, mất hết uy quyền (trên bảo dưới chẳng nghe),  lại lạc thêm vào.. mê trận nữa !

    Ông Deibert phán tiếp :

Nghiên cứu tại Ý cho thấy có sự liên hệ giữa ED và Covid-19 :

  •  28% quý ông có vấn đề ED sau khi nhiễm covid
  • 9% .. nếu không bị covid phá đám”

Nghiên cứu ghi nhận Nàng xẩm Cô vìt này.. đi lung tung vào cơ thể người nhiễm bệnh.. Các con virus chết được tìm thấy rất nhiều trong các tế bào tạo cương (erectile tissues) của người bệnh’

Về con số tinh trùng trong tinh dịch : Con số nơi người bệnh.. Giảm khá rõ :

  • Không nhiễm : 21.5 triệu con còn nhúc nhích
  • Nhiễm covid-19 rồi : chỉ còn 12.5 triệu lăng quăng..

BS Deibert nói rõ : Các rối loạn trên là kết quả tìm thấy nơi người đã nhiễm covid-19; và chưa thấy ở người đã chủng ngừa , Thuốc chủng loại mRNA (Pfizer và Moderna) không gây các phản ứng trên.

Xin đọc nguyên văn :

https://www.nebraskamed.com/COVID/fact-check-erectile-dysfunction-swollen-testicles-and-sperm-count-after-covid-19-vaccination-or
  Lý Toét .. tò mò đi hỏi thêm :

  • Sưng bi.. nhưng có đau (pain) không ? Đốc tờ nói.. Đau ! biết dzậy nhen. (20 người trong số 90 người  sưng  có thêm vụ đau dó  .. (Xem PubMed)
  • Có điều đáng lưu ý là : Covid-19 xâm nhập tế bào qua các thụ thể  ACE2 (Angiotensin-converting enzyme II) và men này lại biểu hiện (express) nhiều trong các tế bào dịch hoàn và tuyến tiền liệt, là hai nơi sản xuất tinh dịch.. đến nay chưa có bằng chứng Covid-19 gây truyền nhiễm qua.. tinh dịch ! Mừng thiệt.. vì nếu có thì CDC lại bắt..bịt ! (cách nào đây?)
  • Siêu vi gây Bệnh Quai bị (Mumps) làm sưng bi và người bệnh sau khi lành.. bị ‘mất giống’.. Các loại thuốc chủng đang xài tại Hoa Kỳ như Pfizer, Moderna đều làm từ mảnh protein có mã di truyền . nên không gây phản ứng phụ của .. siêu vi trùng nguyên vẹn. J&J dùng mẫu protein nơi gai siêu vi nên cũng .. vô hại.. Còn hai loại thuốc chủng của Tàu : Sinopharm và Sinovac gọi là vaccin bất hoạt  dùng siêu vi Covid-19 còn sống làm bất hoạt (inactivated) bằng beta-propiolactone…. Và đây là câu hỏi : ‘rủi Cô vít.. vẫn còn.. hoạt (có thể do Ông Tàu bớt thuốc giảm hoạt)., làm loạn như siêu vi Mumps. thì sao?’ Không công hiệu đã đành nhưng ‘sưng bi’ bị.. Vợ sắp cưới bỏ thì quả là .. ô hô ai tai..!

  Lý Toét vốn sợ các đồ ‘made in china’ nên không dám xài vaccin Tàu đâu !

  Thật ra thì các Ngài Quan To tại VIệt Nam từng hô hào.. Thế giới đến Việt Nam học cách chống Cô vít, nếu dùng vaccin Tàu, luôn kèm theo Thang Minh Mạng ngự tửu, con nuôi không xuể (hình như trong số Vua Nguyễn có ngài.. vô sinh nhưng vẫn có.. thái tử nối ngôi mà)..?

                                     Lý Sự Cùn… 10/2021

Chuyện về một nữ khoa học gia gốc Việt của Hải Quân Hoa Kỳ

“Tôi may mắn không chỉ có gia đình mà còn nhiều bạn bè, đồng nghiệp ủng hộ để có sự thành công ngày hôm nay. Tôi phải chia sẻ lại, giúp đỡ lại cho thế hệ sau để họ cũng có cơ hội làm việc tốt. Đó là cách tôi hoài niệm cuộc sống!”
  • Kalynh Ngô
    7 tháng 10, 2021

Nữ khoa học gia người Mỹ gốc Việt Sharon Nicholas (Nguyễn Uyên Trang) tại Trung Tâm Tác Chiến Mặt Nước của Hải Quân Mỹ. Ảnh: Nathan Fite/US Navy

CORONA, CA  – “Lúc nào cũng phải cố gắng hết khả năng của mình, quan trọng là phải biết chấp nhận thất bại, biết điểm yếu của mình. Khi thành công rồi thì chia sẻ, hướng dẫn lại cho thế hệ sau.” Quan điểm này được nữ khoa học người Mỹ gốc Việt Sharon Nicholas (tên Việt là Nguyễn Uyên Trang), làm việc ở Trung Tâm Tác Chiến Mặt Nước của Hải Quân Mỹ (Naval Surface Warface Center – NSWC) ở Corona, CA, gọi là “một cách hoài niệm cuộc sống.”

Vượt qua nhiều thử thách

Như những gia đình Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) khác, sau biến cố 1975, cha của Sharon Nicholas, ông Nguyễn Phú Tấn, vốn là sĩ quan Hải Quân VNCH, phải chịu năm năm “tù cải tạo.” Đó là thời gian vô cùng khó khăn cho gia đình ông, khi để lại nhà người vợ vất vả nuôi bốn người con khôn lớn.

“Tất cả đều bị chế độ mới lấy hết. Chị em tôi còn nhỏ, nhưng đều phải phụ giúp mẹ làm mọi chuyện để sống qua ngày. Mẹ tôi làm rất nhiều việc để có tiền. Tôi là con thứ, nên vừa học vừa làm phụ mẹ vừa chăm em. Ví dụ như bán trái cây để phụ tiền mua gạo,” cô Sharon kể lại những năm tuổi thơ của mình.

Sharon không quên sự nhọc nhằn mà mẹ cô phải trải qua suốt những năm tháng đó. Ngoài việc “chạy ăn” từng bữa, nuôi bốn người con gái khôn lớn, bà phải chắt chiu tiền để đi thăm chồng đang “tù cải tạo” ở Kon Tum.

“Mỗi lần đi phải đón xe khuya từ Biên Hoà đến Kon Tum, có những ngày mưa gió nữa, rất cực,” cô nói.

Mẹ của Sharon Nicolas và năm người con gái. Ảnh: Sharon Nicolas cung cấp

“Người phụ nữ Việt Nam, nhất là người vợ, người mẹ của lính VNCH phải hy sinh rất nhiều. Mẹ của tôi cũng như thế. Bà vừa phải một mình nuôi bốn chị em tôi, vừa thăm nuôi chồng trong năm năm. Rồi sau khi cha tôi trở về, 10 năm sau đó, bà tiếp tục nuôi con một mình.”

Sau năm năm “tù cải tạo”, cha của cô “được” trở về nhà. Khó khăn cho ông và gia đình chưa dừng ở đó. Khi ấy, thẻ căn cước (chứng minh nhân dân) đối với người lính Việt Nam Cộng Hoà hay người tù cải tạo là điều “không thể mơ ước”. Cha của Sharon không ngoại lệ. Không có thẻ căn cước đồng nghĩa với việc nhân thân “không hợp lệ” đồng nghĩa với việc không thể tìm việc làm. Chị em của Sharon cũng chỉ có thể học hết trung học rồi đi tìm việc làm. Giảng đường đại học là giấc mơ xa vời với chị em cô vì “muốn thi vào đại học thì phải có đơn ký nhận của chính quyền địa phương chấp nhận cho mình có được đi thi hay không.”

Cha của Sharon quyết định phải tìm một nơi nào đó để sống và nuôi gia đình. Quyết định đó không gì khác hơn, là “vượt biên” vào năm 1980. Khi ấy, mẹ của Sharon đang mang thai người con gái thứ năm.

“May mắn là ông đã đến nơi an toàn vào. Ông được hàng không mẫu hạm USS Robinson (DDG12) của Hải Quân Mỹ cứu vớt. Ông cùng với USS Robinson trải qua 45 ngày phục hồi ở Thái Lan. Sau đó, ông lại được đưa sang Malaysia để dạy tiếng Anh cho những thuyền nhân Việt ở đó. Một thời gian sau thì ông đến Mỹ,” Sharon kể lại.

Khoảng mười năm sau, năm 1991, cũng vào Tháng Tư, gia đình cô trùng phùng ở Mỹ.

Ông Nguyễn Phú Tấn (trái) trên mẫu hạm USS Robinson đã cứu ông. Ảnh: Sharon Nicolas cung cấp.

Tin vào một chữ ‘Duyên’

Khi được hỏi: “Điều đầu tiên xuất hiện trong suy nghĩ của cô khi đặt chân đến Mỹ là gì?” Sharon trả lời ngay: “Đó là phải học tiếp!”

Cũng như những người gốc Việt không sinh trưởng ở Mỹ, tiếng Anh là rào cản lớn nhất với Sharon. Do đó, cô tự nhủ với bản thân phải “cố gắng gấp 10 lần người khác.”

Cô gái 19 tuổi thông minh, nghị lực tìm đủ mọi cách để vượt qua trở ngại đó. Một trong những cách “đỡ tốn kém” và nhanh nhất là “lấy kiến thức đổi ngôn ngữ.”

“May mắn cho tôi là khi tôi học ở college, tôi giỏi về Toán, Hoá, Lý. Thời gian rảnh, tôi làm ‘tutor’ cho các bạn sinh viên người Mỹ, ngược lại họ dạy tôi tiếng Anh. Đó là cách tôi học Anh ngữ nhanh hơn.”

Tấm bằng tốt nghiệp cử nhân Toán của trường University of California, Riverside là kết quả đẹp và hoàn toàn xứng đáng với sự nỗ lực không ngừng của cô con gái của người lính VNCH. Nhưng, may mắn chưa thật sự mỉm cười với Sharon. Bài toán cuộc đời kế tiếp cô phải giải là tìm việc làm đúng với chuyên ngành.

“Khi ra trường, ngành Toán của tôi rất khó tìm việc, trừ khi mình học lên tiếp lấy bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ hoặc mình phải đổi nghề. Trong thời gian đi học, mấy chị em tôi có lấy tấm bằng về làm đẹp (cosmetic). Thế là có cơ hội lấy ra dùng. Tôi đi làm trong một tiệm nail salon, và tự nhủ mình chưa có duyên tìm được việc,” cô kể lại giai đoạn thử thách của 20 năm trước.

Cô vui vẻ đón nhận những gì cuộc đời trao đến và tin vào chữ “duyên” của công việc sẽ đến. Nhớ lại những ngày đó, Sharon biết ơn người chủ tiệm nail tốt bụng đã luôn thông cảm cho cô tân cử nhân chưa tìm được việc làm, nên ưu ái cho cô được vắng mặt bất cứ khi nào cô có cuộc gọi phỏng vấn.

Sharon Nicolas và gia đình trong ngày cưới. Ảnh: Sharon Nicolas cung cấp.

Hàng trăm lá đơn xin việc được gửi ra. Sharon không nản chí. Cho đến một ngày, sự bền chí của cô được đền đáp. Tình cờ, một người khách của cô là nhân viên phòng nhân sự của Quest Diagnostics America cho biết công ty đang tuyển nhân viên. Thế là, lá đơn xin việc của cô gái với chuyên ngành Toán, và giỏi về Lý, Hoá được gửi đến. Cô được nhận vào làm nhân viên của Quest.

Vẫn chưa hết, vì đây là lúc “duyên” thật sự đến với Sharon. Cô kể:

“Tôi làm ở Quest được một năm. Rồi cũng là cái duyên, một chú người Việt cùng làm ở Quest biết được ‘major’ của tôi, khuyến khích tôi nộp Resumé vào NSWC. Năm đó, nhiều căn cứ Hải Quân Mỹ trong tình trạng thiếu người. Căn cứ ở Corona đang cần người có chuyên ngành về Toán. Thế là tôi được nhận và làm cho NSWC đến nay là 20 năm.”

Cô cười nói vui: “Khi duyên chưa đến, thì 200, 300 lá đơn xin việc không ai để ý. Khi duyên đến thì nó đến tới tấp.”

Quyết định độ an toàn của thiết bị kỹ thuật thuộc Hải Quân Mỹ

Sharon Nicolas là một trong những nữ khoa học gia hiếm hoi gốc Việt của Hải Quân Hoa Kỳ. Nhóm làm việc của cô có trách nhiệm phân tích dữ liệu, kiểm tra tính chuẩn xác, an toàn của các thiết bị kỹ thuật của hàng không mẫu hạm Mỹ cũng như của toàn bộ binh chủng Hải Quân Mỹ.

Trong phạm vi của những gì có thể chia sẻ, Sharon nói rõ hơn về công việc “nặng ký” này:

“Tất cả những dụng cụ, trang thiết bị của hải quân đều phải qua nhóm của tôi để kiểm tra, bảo dưỡng đúng thời hạn. Hãy hình dung thế này, mình chạy một chiếc xe, để cho nó vận hành tốt, an toàn thì mình phải đưa xe đi bảo trì thường xuyên. Những trang thiết bị của hải quân cũng thế. Nhóm của tôi làm việc chung với nhóm kỹ sư để kiểm tra, thu thập dữ liệu của các máy móc đó, đảm bảo độ an toàn, chính xác của máy móc trên tàu trong suốt thời gian các mẫu hạm đi triển khai quân sự.”

Các hàng không mẫu hạm Mỹ luôn có nhiệm vụ triển khai diễn tập quân sự (deploy), thường kéo dài từ vài tháng đến một năm. Áp lực của nhóm các khoa học gia, trong đó có Sharon, cũng chính là đây. Theo lời cô kể, cũng vài lần, khi một hạm đội chuẩn bị đi làm nhiệm vụ mà dụng cụ trên tàu mua về không kịp thời gian để chuẩn bị dữ liệu, đo lường độ chính xác.

“Đó là những áp lực mà hầu như tháng nào nhóm tôi cũng gặp phải. Mỗi khi có thiết bị kỹ thuật mới về cho mẫu hạm nào đó, chúng tôi có nhiệm vụ thiết lập thông số kỹ thuật cho máy đó,” cô nói.

Trong thời gian các hàng không mẫu hạm đi triển khai quân sự, nếu các dụng cụ kỹ thuật trên tàu bị lỗi vận hành, tàu sẽ gửi dữ liệu về nhóm của Sharon. Cô và các đồng nghiệp sẽ “chữa bệnh” từ xa, từ NSWC.

“Sau khi xem xét, chúng tôi sẽ quyết định sửa chữa hay đề nghị mua thiết bị mới,” cô nói.

Sharon Nicolas còn là thành viên nhóm Vietnamese American Community ở Garden Grove và Free Wheelchair Mission, là nhóm hỗ trợ xe lăn cho những đồng bào khuyết tật khó khăn trong nước. Ảnh: Sharon Nicolas cung cấp.

‘Ơn đền nghĩa trả’

Hạnh phúc của cô gái đầy nghị lực này còn mang một ý nghĩa khác lớn hơn, đó là ngày xưa, cha của cô là lính Hải Quân VNCH, được hàng không mẫu hạm USS Robinson cứu vớt. Ngày nay, tuy không là lính hải quân, nhưng cô được vinh dự phục vụ cho Hải Quân Mỹ, trả ơn cho đất nước đã cưu mang gia đình cô.

“Nước Mỹ mang đến cho mọi người, trong đó có tôi nhiều cơ hội để vươn lên và thành công. Điều quan trọng với tôi là mình phải ‘give back’ cho thế hệ sau. Có nhiều cách, ví dụ như mình là người đi trước, hướng dẫn, chỉ dạy cho các em. Trong phòng ban của tôi có nhiều người trẻ mới vào, mình phải tận tâm chỉ cho họ cách làm việc sao cho đúng. Thành quả công việc tốt, cũng là cách mình trả ơn cho nước Mỹ,” cô chia sẻ về cách sống mà cô hướng đến.

Đó là trong công việc, còn ngoài xã hội, cô luôn tự nhủ “những gì chúng ta có thể giúp được người khác thì nên làm.”

Sharon Nicolas là thành viên nhóm Vietnamese American Community ở Garden Grove và Free Wheelchair Mission, là nhóm hỗ trợ xe lăn cho những đồng bào khuyết tật khó khăn trong nước.

“Tôi may mắn không chỉ có gia đình mà còn nhiều bạn bè, đồng nghiệp ủng hộ để có sự thành công ngày hôm nay. Tôi phải chia sẻ lại, giúp đỡ lại cho thế hệ sau để họ cũng có cơ hội làm việc tốt. Đó là cách tôi hoài niệm cuộc sống,” Sharon Nicolas nói.

Nguồn: https://saigonnhonews.com/muon-neo-duong-doi/chuyen-ve-mot-nu-khoa-hoc-gia-goc-viet-cua-hai-quan-hoa-ky/

Thành Phố Của Tôi: Thủ Đô Canberra của Úc – Mai Khánh Thư – Phạm Doanh Môn

Mai Khánh Thư – Phạm Doanh Môn

Lời thưa: Trong dịp về thăm VN năm 2019, khi biết gia đình tôi đang sinh sống ở nước Úc (Australia), một vài bạn hỏi tôi: “Môn, mày ở thành phố nào bên Úc?”. Tôi trả lời: “Tao ở Canberra”. Một thoáng ngờ ngợ, người bạn hỏi tiếp: “Canberra có gần Sydney không? Có lớn không?”. Vâng, để trả lời câu hỏi đó, hôm nay, qua blogs NPN tôi xin phép được giới thiệu cùng qúy vị đôi nét về Canberra, nơi gia đình tôi đang sinh sống.

Theo từ điển bách khoa trực tuyến http://vi.wikipedia.org, nước Úc có diện tích khoảng 7,692,024 km vuông, gấp rưỡi diện tích châu Âu và gấp 23 lần diện tích Việt Nam và là nước có diện tích lớn thứ sáu trên thế giới, nhưng lại có mật độ dân số thấp nhất thế giới, chỉ có 3.4 người trên một cây số vuông. Dân số Úc tính dến ngày 4/10/2021 là 25,862,622 người.

Nước Úc gồm có 6 tiểu bang và 2 vùng lãnh thổ:

Các tiểu bang gồm New South Wales (viết tắt NSW), Queensland (viết tắt QLD), South Australia (viết tắt SA – tiếng Việt gọi là Nam Úc), Tasmania (viết tắt TAS), Victoria (viết tắt VIC) và West Australia (viết tắt WA – tiếng Việt gọi là Tây Úc).

Hai vùng lãnh thổ chính là Lãnh thổ phía Bắc (Northern Territory viết tắt NT)  và Lãnh thổ thủ đô (Australian Capital Territory viết tắt ACT).

Lãnh thổ thủ đô có thủ phủ là Canberra. Đây cũng là thành phố duy nhất của Úc nằm sâu trong nội địa. Canberra nằm về hướng Đông Nam của tiểu bang New South Wales, cách Sydney gần 300km và cách Melbourne hơn  600km, diện tích 814.2 km vuông, dân số 441,380 người, trong đó có khoảng hơn 4 ngàn con cháu vua Hùng (thống kê 2021 – xin tham khảo thêm trong www.act.gov.au).Cái tên “Canberra” được lấy từ tiếng thổ dân Ngunnawal, có nghĩa là “nơi hội họp”.
Nói đến nước Úc, cũng như bạn tôi, nhiều người hay nhắc đến Sydney, Melbourne, thậm chí còn nghĩ thành phố Sydney là thủ đô của Úc. Không ít người ngỡ ngàng khi biết Canberra mới thực sự là thủ đô của  xứ sở chuột túi này.

Canberra – thành phố dành cho những ai yêu thiên nhiên và môi trường trong lành.
Là thủ đô của một đất nước nổi tiếng Úc, nhưng Canberra cho đến nay vẫn là một thủ đô vắng vẻ, không thu hút dân cư như Melbourne hay Sydney. Vào những năm đầu thế kỷ 20, khi chính phủ liên bang Úc có ý định chọn một nơi làm thủ đô thì hai thành phố Sydney và Melbourne được xem là hai ứng viên sáng giá nhất vì khi đó, Sydney là thành phố đông dân và phát triển nhất, trong khi Melbourne được xem là thành phố lâu đời nhất. Để giải quyết mâu thuẫn này, chính phủ liên bang đã quyết định xây dựng một thành phố hoàn toàn mới, nằm giữa Sydney và Melbourne làm thủ đô của Úc. Đó là năm 1913.
Được quy hoạch hoàn toàn mới theo lối thành phố vườn, Canberra không có những những tòa nhà cao tầng (cao nhất cũng chưa tới 20 tầng) , thay vào đó là những ngôi nhà được bao bọc bởi cây cối tự nhiên. Khu vực cây xanh dầy đặc trong thành phố vì vậy mà Canberra luôn là lựa chọn đầu tiên cho những ai yêu thích thiên nhiên và môi trường trong lành. Khí hậu ở đây có 4 mùa rõ rệt: Mùa xuân (tháng 9, 10 và 11), mùa hạ (tháng 12, 1 va 2), mùa thu (tháng 3, 4 và 5) và mùa đông (tháng 6, 7 và 8). Mùa đông thời tiết lạnh, thỉnh thoảng có lúc nắng đẹp, gió nhẹ và buổi sáng sớm thường có sương mù. Những đêm đông tháng bảy, nhiệt độ thường xuống dưới 0 độ C nhưng ít khi có tuyết rơi.
Bây giờ xin mời quý vị cùng tôi vìếng thăm vài nơi nổi tiếng ở thủ đô Canberra.

Toà nhà Quốc Hôi Úc (The Parliament House): Cách trung tâm thủ đô Canberra khoảng 3 km, được mở cửa vào năm 1988, tòa nhà Quốc hội Úc là một trong những kiến trúc hiện đại nổi tiếng thế giới, được xây dựng trên một ngọn đồi rộng. Toà nhà chính có ngọn tháp bốn cạnh bằng thép trắng cao vút, chụm vào nhau để cùng nâng một trụ cờ cao đến 81 m với lá quốc kỳ Úc tung bay phất phới.
Toà nhà quốc hội được mở cửa cho các du khách đến tham quan chiêm ngưỡng vào những ngày nghỉ cuối tuần và những ngày nghỉ lễ. 

Toà nhà Quốc Hôi Úc (The Parliament House).

Bảo tàng Quốc gia Úc ( National Museum of Australia):Khánh thành vào năm 2001, Bảo tàng Quốc gia Australia là một tác phẩm tiêu biểu của đất nước Úc. Được xây dựng với lối kiến trúc đặc sắc và nhiều bộ sưu tập phong phú, công trình đã  đoạt rất nhiều giải thưởng về thiết kế kiến trúc cũng như về du lịch, và là một trong những điểm thu hút khách tham quan đông nhất của Australia với cả triệu du khách mỗi năm. 
Bên trong bảo tàng là nơi trưng bày các bộ sưu  tập của di sản của thổ dân, quá trình định cư từ năm 1788 và quá trình hình thành nước Úc, đặc biệt hơn là bộ sưu tập lớn nhất thế giới về tranh vỏ cây cùng dụng cụ bằng đá của thổ dân… ngoài ra còn vô số các bộ sưu tập về văn hóa, lịch sử cũng như quá trình hình thành phát triển của lịch sử và con người Úc. Quý vị cũng có thể xem một cuốn phim ngắn nói về những người Viet Nam vượt biên đến Úc trong một phòng chiếu phim nhỏ.

Bảo tàng Quốc gia Úc (National Museum of Australia).

Đài tưởng niệm chiến tranh Úc (Australian War Memorial): là nơi tưởng niệm những nạn nhân xấu số của Úc trong chiến tranh. Nơi đây cũng là một trong những bảo tàng lớn của thế giới, lưu trữ và tái hiện một cách đầy đủ, chân thực nhất lịch sử các cuộc chiến tranh của đất nước Úc, trong đó có cuộc chiến của miền Nam chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản Bắc Việt mà nước Úc có tham gia giúp đỡ.

Đài tưởng niệm chiến tranh (Australian War Memorial).

Công viên Commonwealth: là một công viên nổi tiếng, nơi được chọn tổ chức hội hoa xuân hàng năm ở thủ đô Canberra từ trung tuần tháng 9 đến trung tuần tháng 10 hàng năm với mục đích chào đón mùa xuân về. Lễ hội hoa Floriade được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1988 nhân kỷ niệm lần thứ 75 ngày thành lập thành phố Canberra và nó đã trở thành ngày hội hoa lớn nhất tại khu vực nam bán cầu.
Với diện tích trên 34 ha, công viên có rất nhiều hồ nước và suối phun, những con đường tản bộ, đường chạy xe đạp, các công trình điêu khắc tuyệt đẹp. Commonwealth là khu vực tuyệt vời để tổ chức những sự kiện quan trọng, khu vực dành cho cắm trại, những sân chơi được trang bị đầy đủ…

Cockington Green

Cockington Green là khu vườn hấp dẫn đông đảo du khách bởi những tòa nhà thu nhỏ được làm thủ công tỉ mỉ tọa lạc tại Gold Creek Village. Với những ngôi nhà và tượng đài từ hơn 30 quốc gia khác nhau, từ lâu đài Scotland’s Braemer cho đến Peru’s Machu Picchu, bạn sẽ bị mê hoặc bởi thế giới của những con người nhỏ bé. Đây là khu vườn thông minh nổi danh năm châu của xứ sở Kangaroo. Đến đây, bạn sẽ có cảm giác mình như người khổng lồ lạc vào xứ sở tí hon. Khu vườn này có những tác phẩm thuộc 6 chủ đề: trái đất, giao thông, nhận thức, khoa học, năng lượng và miniQ. MiniQ là chủ đề đặc biệt dành riêng cho trẻ nhỏ dưới 6 tuổi. Du khách còn được trải nghiệm với chuyến đi bằng tàu hơi nước thu nhỏ rất thú vị.

Ngoài ra còn có những tòa nhà quốc hội cũ, thư viện quốc gia, tháp viễn thông Telstra…. và ngôi nhà của gia đình tôi nữa …

…. nhà tôi ở trên đường Gundaroo, quận Gungahlin (lại danh từ của thổ dân Úc), cách trung tâm thủ đô Canberra khoảng 15km và nằm cách một hồ nước nhỏ gọi là Yerrabi Pond (hình duới) khoảng 200 mét. Mỗi buổi sáng (trừ mùa đông và những ngày mưa gió), chúng tôi thường tản bộ khoảng 30 phút vòng quanh một phần hồ.

Ước mong một ngày nào đó, chúng tôi được chào đón quý vị ở thủ đô Canberra của xứ chuột túi này.

Canberra những ngày đầu xuân 2021.

MAI KHÁNH THƯ – PHẠM DOANH MÔN

Nguồn: http://nguoiphuongnam52.blogspot.com/2021/10/thanh-pho-cua-toi-thu-o-canberra-cua-uc.html

CỌP BA ĐẦU RẰN Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân (Phần 2) – LÊ NGỌC BỬU

BĐQ LÊ NGỌC BỬU

Tiểu đoàn 43, Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân và Vị Tiểu đoàn Trưởng sau cùng –  dòng sông cũ

   Ngày 29/12/1964, Trung tướng Nguyễn Khánh, Thủ tướng chính phủ VNCH kiêm Tổng Tư Lệnh Quân đội, Thiếu tướng Nguyễn văn Thiệu và Chuẩn tướng Đặng văn Quang đến thị sát mặt trận trên một chiếc thiết vận xa M113 của Thiếu tá Nguyễn kim Định, Thiết đoàn trưởng thiết 9 kỵ binh thiết giáp. Trong lúc thuyết trình, vốn đã có biệt danh là “Biết đ.m”, bất chợt ông đã thốt ra một câu nhớ đời với Trung Tướng Khánh “Đ.M, Trung Tướng, tôi đánh như vậy có được không Trung Tướng?”. Tất cả những vị tướng cùng những người xung quanh ai cũng xanh mặt – Chính vì vậy mà Thiếu tá Biết và TĐ42 BĐQ đã bị thiệt thòi rất nhiều trong việc tưởng thưởng và tuyên dương công trạng (Cũng may là trận đánh vưà qua TĐ42 đã lập được công lớn, nên Thiếu tá Biết vẫn được tưởng thưởng huy chương mà chưa bị trừng phạt vì tội quen miệng).

Đón mừng chiến thắng hành quân Dân Chí 100, được tổ chức rất trọng thể tại Cần Thơ, Thiếu tá Nguyễn văn Biết không được thăng cấp đặc cách, nhưng may mắn vẫn được trao tặng Bảo quốc Huân chương đệ Tứ đẳng kèm anh dũng bội tinh với nhành dương liễu mà thôi. Một số anh em sĩ quan và quân nhân các cấp cững được đặc cách thăng cấp và trao gắn một số huy chương, tuy nhiên nếu so với các đơn vị bạn thấy rõ sự thua sút rất nhiều. Sau chiến thắng này và với 6 lần được tuyên dương công trạng trước Quân đội, Quân kỳ cuảTiểu đoàn 42 BĐQ, toàn thể quân nhân trong đơn vị được phép được mang giây mầu Bảo Quốc.
       Nhân đậy cũng nên nhắc lại một chuyên vui cuả đơn vị và cuả người thụ hưởng là trong thời gian diễn tiến cuộc hành quân Dân chí 100, TĐ 42 đón nhận 2 tân sĩ quan vừa tốt nghiệp khóa 19 VBQG/VN về trình diện đơn vị, đang khi lập hồ sơ thăng thưởng 2 ông Thiếu uý Đặng hữu Lộc, Đỗ văn Mười cũng đuợc ghi danh thêm, kết quả hai bạn được lên Trung uý, có lẽ đây là hai sĩ quan thăng cấp nhanh nhất Quân Lực nói chung và mau nhất khoá 19 Đàlạt nói riêng.
       Tuần lễ sau đó, trên đường trở về hậu cứ khi đến Khánh Hưng. Tỉnh /Tiểu khu Ba Xuyên đã phối hợp tổ chức buổi lễ đón chào, mừng đoàn quân chiến thắng trở về. Các nữ sinh thuộc các trường Trung học, trường nữ, trường Phụ huynh, trường Tố Như, v.v. đã choàng vòng hoa cho tất cả quân nhân của tiểu đoàn 42 BĐQ. Cũng trong lễ mừng này Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu tướng Đặng văn Quang gắn lon và huy chương cho một số quân nhân các cấp Việt, Mỹ. Thiếu Tá Nguyễn văn Biết được trao nhận cờ DANH DỰ cho tiểu đoàn trên đó ghi hàng chữ “Quyết Chiến, Quyết Thắng – Đơn Vị Xuất Sắc Nhất QLVNCH năm 1964”. Đêm liên hoan đã diễn ra hết sức tưng bừng, náo nhiệt tại tại Toà Hành Chánh tỉnh đã để lại trong lòng người một kỷ niệm khó quên
       Đã tưởng qua hôm sau đơn vị sẽ thẳng đường về hậu cứ, chẳng dè về tới Bạc Liêu Bộ Tư Lệnh SĐ 21 BB và tỉnh, tiểu khu Bạc Liêu, quân dân chính các cấp đã tổ chức một lễ mừng đoàn quân chiến thắng trở về hậu cứ nghỉ dưỡng quân ít ngày để sẽ tham dự những cuộc hành quân khác.
       Đúng như dự đoán, sau đó Thiếu tá Nguyễn văn Biết có lệnh thuyên chuyển về tỉnh An Xuyên làm phó tỉnh Nội An dưới sự chỉ huy cuả Thiếu tá Châu văn Tiên Tỉnh kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu An Xuyên. Sự ra đi cuả Thiếu tá Biết đã để lại cho toàn thể quân nhân trong đơn vị nỗi buồn man mác và tiếc nuối.
       BCH/BĐQ trung ương bổ nhiệm Đại uý Nguyễn tấn Giai về làm quyền Tiểu đoàn trưởng, nhưng Đại uý Giai, không được lòng sư đoàn cũng như quân đoàn nên chỉ vài tháng sau Quân đoàn đã bổ nhiệm Đại uý Lưu Trọng Kiệt, nguyên đại đội trưởng đại đội 21 thám sát sư đoàn, nguyên tiểu đoàn phó TĐ 3/33/21 BB về làm Tiểu đoàn trưởng. Đại uý Vương văn Trổ ĐĐ 1/42 về làm Tiểu đoàn trưởng TĐ 3/33 SĐ21 BB, và Đại uý Nguyễn Tấn Giai về BCH/TƯ/BĐQ. Sau đó ít tháng, ông được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng TĐ 51 BĐQ, trú đóng tại Gò Đen, tỉnh Long An.
       Vaò khoảng tháng 5-1965, với chiến công HQ Dân Chí 100, tiểu đoàn 42 BĐQ đuợc Tổng Thống Hoa Kỳ tặng huy chương danh dự “PRESIDENT UNIT CITATION”-https://www.presidency.ucsb.edu/documents/presidential-unit-citation-awarded-the-42d-ranger-battalion-21st-infantry-division-army và băng tuyên công cho Quân kỳ Tiểu đoàn. Buổi lễ được tổ chức long trọng tại phi trường Sóc Trăng do Đại Tướng Westmoreland, Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Viêt Nam đại diện Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, đại diện Quân Lực VNCH đồng trao gắn cho quân nhân các cấp thuộc tiểu đoàn 42 biệt động quân. (chúng ta thường gọi vui là Bàn Bi Da).

Army PUC

PRESIDENT UNIT CITATION.


       Đến đây tôi xin được viết vài dòng để tưởng nhớ đến Đại úy Lã Quý Phan, người anh hiền hoà dễ mến, xuất thân khóa 13 trường Võ bị Quốc Gia Việt Nam (Đàlạt). Trong lần tham dự hành quân, đóng quân đêm tại Sóc Trăng, tiểu đoàn đã bố trí quân quanh thị xã (trước phi trường hay sau vườn nhà dân), BCH/TĐ và ĐĐ 2/42 bố trí dọc theo đường Bồ Thảo (sau này là Trương Công Định). Đại đội 3/42 từ chùa Miên đến Cầu Đen (đường đi quân Thuận Hòa), đại đội 4/42 từ chuà Miên đi Đại Ngãi (quân Long Phú), đại độí 1/42 chùa Miên cạnh phi trường Sóc Trăng, (đường đi Bạc Liêu), anh Phan và tôi nghỉ tại nhà người yêu và là vợ tôi bây giờ. Sáng 28-12-1964, đơn vị thức dậy sớm để chuẩn bị vào phi trường để làm lực lượng Diều Hâu – Đom đóm, trừ bị trực thăng vận cho cuộc hành quân.
       Hôm đó, anh Phan làm vệ sinh cá nhân rất cẩn thận, cạo râu, quần áo thẳng nếp, kể cả đeo huy chương nữa. Người yêu của tôi ngạc nhiên hỏi: “Sáng nay đi hành quân sao chú Phan ăn diện như dạo phố vậy?” Anh vui vẻ bình thản trả lời: “Đã đem theo thì phải mặc cho đẹp chứ, kẻo ra đi mà không trở về nữa thì đâu còn dịp để diện nữa”. Người yêu của tôi cuời quay sang tôi hỏi: “Anh Bửu, chú Phan nói gì kỳ cục vậy – Xui lắm đó, không nên đâu”. Nào ngờ hôm ấy là chuyến đi, là cuộc hành quân cuối cùng của anh. Anh Phan đã bỏ anh em, bạn bè để ở lại nơi bờ kinh đó, không bao giờ còn đuợc nhìn thấy anh vào ra với dáng vẻ thong dong điềm đạm, vui vẻ với mọi người nuã -Ai cũng bùi ngùi thương tiếc anh Lã quý Phan, cấp chỉ huy khả kính, người anh tuyệt vời của chúng tôi.

This image has an empty alt attribute; its file name is 38879293801_aae5e359cb_z.jpg


       Từ HQ Dân Chí 100 đến HQ Dân Chí 128, các đơn vị việt cộng thường tránh né, trốn chạy nên không có trận đụng độ nào đáng kể xảy ra. Cho đến khi cuộc hành quân Dân Chí 129 đuợc mở ra tại Gò Quao, vùng giáp ranh hai tỉnh Chương Thiện-Kiên Giang (Rạch Giá), tiếp ứng cho TĐ 1/31/SĐ21 BB – Kết quả cuộc hành quân tiếp ứng này -TĐ 42 biệt động quân đã gây cho địch tổn thất đáng kể, bỏ lại 32 xác chết và ta tịch thu được 14 súng đủ loại.

Hành quân Long Phi 999 (kết hợp hành quân Long phi của SĐ 9 BB và HQ Dân chí của Sư đoàn 21 BB) do quân đoàn IV tổ chức. Hải quân vùng IV phát hiện được một chiếc tầu cuả hải quân Bắc Việt chở vũ khí, đạn dược và quân trang, quân dụng tiếp tế cho bọn MTGP/MN, đang neo tại vùng biển Ba Động tỉnh Vĩnh Bình, Tiểu đoàn được trực thăng vận từ phi trường Sóc Trăng, đổ thẳng xuống mục tiêu, để bắt giữ chiếc tầu này. Tiểu đoàn vừa nhảy ra khỏi trực thăng đã chạm súng rất nặng với đơn vị bảo vệ là tiểu đoàn Cửu Long của VC. Sau hơn hai giờ giao tranh, địch chiụ không nổi đã tháo chạy, bỏ lại nhiều xác chết (ước chừng 100), và nhiều vũ khí rải rác trên mặt đất. Quan trọng hơn là chiếc tầu tiếp tế đang xuống hàng nên không thể chạy và ta đã bắt đưọc với toàn bộ vũ khí quân trang, quân dụng số lượng phải kể là con số ngàn, đủ loại cộng đồng, cá nhân. Trung tướng Đặng văn Quang, Tư lệnh QĐIV, Chuẩn Tướng Lâm Quang Thi, Tư lệnh SĐ 9 BB đã bay đến ngay để thị sát mặt trận cũng tại đó Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu Trưởng Vĩnh Bình đã tặng TĐ/42 BĐQ số tiền 20.000 đồng để khao quân.
       Sau đó, lễ mừng chiến thắng đã được tổ chức long trọng tại Cần Thơ và quân nhân các cấp cùng với Quân kỳ cuả TĐ42 BĐQ được tuyên dương công trạng trước Quân đội lần thứ 7 (bảy).

Hành quân Dân Chí 135. Tiểu đoàn 42 BĐQ được trực thăng vận từ Phú Lộc (quận Thạnh Trị, Ba Xuyên). Mục tiêu là xã Giai Lăng (quận Vĩnh Châu, Bạc Liêu), nơi trú quân cuả tiểu đoàn cơ động tỉnh và tỉnh đội Ba Xuyên. Trong trận này, địch đã dùng hoả công để chống lại ta như sau: Lợi dụng sau mùa gặt, vc đã gom rơm rạ còn để ngoài đồng ruộng để đốt tạo thành một màn khói lửa với hy vọng làm cản bước tiến của ta, nhưng chúng không ngờ BĐQ đã nhảy thẳng ngay trên đầu chúng, và trước sức mạnh hoả lực, với tính quyết chiến thắng, BĐQ đã đẩy chúng ra khỏi nơi ẩn nấp và tháo chạy, bỏ lại chiến trường 130 xác chết. Tiểu đoàn 42 BĐQ đã tịch thu được trên100 súng đủ loại, bắt giữ 12 tù binh. Biệt động quân đã có 18 quân nhân hy sinh, 32 bị thương nặng nhẹ (Thiếu Úy Nguyễn văn Quảng, sĩ quan tiền sát pháo binh cuả TĐ 21 PB biệt phái dài hạn cho BĐQ đã hy sinh và Đại úy Nguyễn văn Biên (16VBQG/VN) bị thương nặng. Được biết sau khi điều trị chữa lành thương tích, Đại úy Biên được thuyên chuyển về phục vụ ngành CSQG, chức vụ Biệt đoàn trưởng Biệt đoàn CSDC tại Sàigon)
       Lễ mừng chiến thắng được tổ chức long trọng tại Sóc trăng,tiểu đoàn 42 BĐQ được tuyên dương công trạng lần thứ 8, quân kỳ tiểu đoàn và quân nhân các cấp TĐ 42 được mang giây biểu chương mầu Tam Hợp. Đại uý Lưu trọng Kiệt được thăng cấp Thiếu tá nhiệm chức, tưởng thưởng Đệ tứ Đẳng bảo Quốc Huân Chưong kèm anh dũng bội với nhành dương liễu. Các Trung uý Lê thành Long, đại đội trưởng ĐĐ 2/42 vàTrung uý Hồ ngọc Cẩn đại đội trưởng ĐĐ 4/42 cùng được thăng cấp đặc cách Đại Úy nhiệm chức. Cũng trong chiến thắng HQ Dân Chí 135, Tổng thống Hoa kỳ lại ký tặng thưởng TĐ 42 BĐQ Huy chương Danh Dự và băng Tuyên công cho quân nhân các cấp và quân kỳ của TĐ 42 BĐQ (anh em chúng tôi thường gọi là bàn bi da có con rệp)

Lễ trao tặng huy chương danh dự và băng tuyên công được tổ chức trọng thể tại sân bay CầnThơ. Đại tướng Abraham đại diện Tổng thống Hoa Kỳ đến chủ tọa và trao gắn huy chương.
       Từ HQ dân chí 135 đến Dân chí 178 không có chạm súng và đụng độ nào đáng kể. Địch luôn luôn tránh né, không dám đối mặt với BĐQ
       Tưởng cũng nên nhắc lại hai sự việc quan trọng đã đến với Tiểu đoàn 42 BĐQ:<
       1/- Thời gian tham dự các cuộc hành quân của TĐ cũng đã nhiều và khá lâu, quân nhân các cấp đã chịu đựng khá nhiều nguy hiểm, vất vả và gian khổ, ngoài ra cũng đã đến lúc đơn vị cần được đi tái huấn luyện theo đúng lịch ấn định để các cấp có dịp ôn luyện những điều cần phải nhớ lại. Do đó, TĐ 42 Biệt Động quân đã được đưa về Trung tâm huấn luyện Trung Hoà cuả binh chủng Biệt Động Quân, tại Củ Chi (Bình Dương- vùng 3 CT) để thụ huấn bổ túc, thời gian hai tháng.
       2/-Đại đội 4/42 bị địch nội tuyến. Thời gian đơn vị đang nghỉ, chờ tham dự cuộc hành quân khác, thì sự việc xẩy ra ngay tại trại gia binh của đơn vị. Trong lúc cả tiểu đoàn đang yên lành trong giấc ngủ thì vào khoảng 2 giờ sáng, tên nội tuyến đã ném một trái lựu đạn M.26 vào căn nhà do một trung đội thuộc đại đội 4, đã gây tử thương cho 5 quân nhân và 12 người bị thương. Sau khi sự việc xẩy ra, Đại uý Hồ ngọc Cẩn được điều động về BCH/TĐ. Trung uý Thảo, đại đội phó được lệnh trình diện khu 42 ANQĐ, rồi thuyên chuyển đi đơn vị khác vì bị nghi là có liên quan tới vụ nội tuyến. Trung uý Bùi Thế Thổ – Xuất thân khoá 19 VBQGVN được cử thay thế Đ/u Cẩn. Sau mấy tháng nằm chờ tại BCH/TĐ, Đại uý Hồ Ngọc Cẩn đượcTư lệnh SĐ 21 BB bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng TĐ1/33/SĐ21 BB.
       Hành Quân Dân chí 179 tại Chương Thiện. Tiểu đoàn 42 biệt động quân được lệnh di chuyển từ Bạc Liêu lên Sóc Trăng và nghỉ đêm tại đây, sáng ngày hôm sau sẽ là thành phần trừ bị cho cuộc hành quân. Đến khoảng chừng 9.00 giờ sáng thì Tiểu đoàn được lệnh di chuyển vào Chương Thiện. Đến ngã ba Cái Tắc (một ngả đi Cần Thơ, còn một ngả đi Chương Thiện) thì tiểu đoàn được lệnh dừng lại để tìm bãi đáp cho (LZ), đồng thời cũng ngay lúc đó, một đơn vị Việt cộng đã bị ta phát giác nơi vườn dừa Ông Mười nằm trên kinh Thác Lác (vùng giáp ranh giữa Chương Thiện và Phong Dinh). Khoảng 10.00 giờ, đợt trực thăng vận đầu tiên gồm hai đại đội 1/42 và 2/42 cùng với BCH/TĐ được thả xuống. Đợt đổ quân thứ hai gồm các đơn vị ĐĐ 3+ĐĐ 4 và phần còn lại cuả BCH TĐ. Nơi đổ quân cách xa mục tiêu khoảng chừng 500 mét là một cánh đồng sình lầy, nuớc ngập ngang ngực, việc điều động đội hình hành quân gặp rất nhiều trở ngại và khó khăn. Đến 11giờ 30, Tiểu đoàn trưởng cho lệnh tấn công. Đúng 15 phút sau, ta đã chiếm đưọc phòng tuyến thứ nhất cuả chúng, tiếp tục chọc thủng tuyến thứ 2. Địch bỏ chạy dọc theo các rặng trâm bầu. Chiến thắng đầu tiên, 42 BĐQ đã thu được hơn 30 súng đủ loại, bắt sống ba tên. Khai thác sơ khởi, được biết đây là trung đoàn D của địch. Trung Úy Úc,Thiếu Tá Biết, Trung Úy Buttler, Trung Úy Đỗ văn Mười, 1965
       Tiếp tục tiến chiếm, tiểu đoàn 42 đã gặp phản ứng rất mạnh cuả địch, trận chiến trở nên ác liệt. Mục tiêu vườn dừa Ông Mười, một ấp chiến lược cũ cuả ta. Việt cộng đã bố trí trong vòng đai phòng thủ, các công sự hầm hào được thiết lập rất kiên cố từ trước, do đó việc chiếm mục tiêu trở nên vô cùng khó khăn cho biệt động quân. Tiểu đoàn báo cáo tình hình về Bộ tư lệnh hành quân. Phòng 2 SĐ bảo là ở đấy chỉ có một đơn vị nhỏ cuả địch, phải thanh toán mục tiêu ngay cho xong. Cũng chính vì sự sai lầm này mà việc điều động quân tiếp ứng đã rất chậm chạp. Tiểu đoàn 42 BĐQ đã bị cầm chân tại chỗ, không thể tiến thêm đuợc nữa. Ta và địch cách nhau chưa đầy 100 mét. Địch có lợi thế bố trí ở địa thế cao hơn so với tuyến tấn công của ta, ngoài ra chúng cho những tên xạ thủ bắn xẻ ngồi trên ngọn dưà, nên bắn rất chính xác. Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt bị bắn trúng ngay ngực, thương thế rất nặng. Trung uý Lý, sĩ quan Trợ y băng bó, y tá thổi nệm hơi đặt anh Kiệt lên đẩy vào núp trong một rặng Trâm Bầu. Ngay lúc đó y tá cũng trúng đạn, hy sinh. Tôi (tác giả) và Đại uý cố vấn Mỹ (không nhớ được tên họ đầy đủ của cố vấn này), liên tục gọi xin tải thương khẩn cấp, nhưng trận đánh đang quyết liệt, tàn bạo, quá gần giữa ta và địch nên tải thương bị chậm lại. Các phi tuần khu trục, pháo binh đã đựơc gọi yểm trợ, khá hữu hiệu và chính xác, nhưng cũng vì lý do quá gần mà Biệt động quân cũng bị thiệt hại do phi pháo gây ra khá nhiều.
       Khoảng 2 giờ chiều,Trung úy Lý (sĩ quan trợ y), tổ quân báo và một trung sĩ cố vấn Mỹ (cũng quên tên) đang di chuyển Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt, các thương binh về phiá sau để tản thưong thì anh Kiệt bị trúng đạn lần thứ hai. Anh đã hy sinh ngay tại chỗ cùng với một chiến sĩ đang khiêng anh trên tay. Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt đã bình thản từ giã bạn bè, từ bỏ đơn vị, ra đi vĩnh viễn, lúc 2.30 giờ chiều. Thi hài anh cùng các chiến hữu khác đã được đưa Cần Thơ.
       Càng về chiều áp lực địch càng lúc càng mạnh, nhưng tiểu đoàn vẫn kiên quyết bám chặt mục tiêu để chờ tăng viện. Khoảng 4 giờ chiều thì TĐ 32 BĐQ, TĐ44 BĐQ được trực thăng vận đến mục tiêu. Nhẩy và giải toả bên cánh phải cho TĐ 42 BĐQ. Kế đó là TĐ 44 BĐQ đổ xuống, di chuyển dọc theo kinh Thác Lác, giải toả bên cánh trái cho 42. Đến đúng 6.00 giờ chiều thì TĐ 44 BĐQ bắt tay được với ĐĐ 4/42. Lúc này sức kháng cự cuả địch giảm dần. Thiếu Tá Hồ Viết Lượng, Tiểu đoàn trưởng TĐ 44 BĐQ, nóng lòng vì đơn vị cũ của mình đang bị kẹt, đã đốc thúc các chiến sĩ TĐ 44 giải toả nhanh chóng áp lực cho TĐ 42. Màn đêm đã buông xuống, hoả lực địch cũng giảm dần và chúng bắt đầu tìm cách rút chạy, bỏ lại vũ khí và xác đồng đội. Đúng 8.00 giờ tối, tất cả các đơn vị bạn tiếp viện đã bắt tay được với toàn bộ TĐ 42 BĐQ. Việt Cộng đã hoàn toàn mất dạng trong các rặng trâm bầu dọc theo các bờ kinh. Thu dọn chiến trường và kiểm điểm tình trạng quân số và vũ khí, Tiểu đoàn được coi như thiệt hại khá nặng với 34 chiến sĩ hy sinh, trong đó có vị Tiểu đoàn trưởng, Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt-cấp chỉ huy tài giỏi, anh dũng- cùng với 120 người bị thưong nặng nhẹ. Vũ khí của ta bảo toàn. Thu dọn chiến trường ta lấy được 45 súng đủ loại và khoảng chừng 140 xác địch (trời tối, mệt mỏi, không lục soát kỹ và rộng được). Đến 3.00 gìờ sáng thì tiểu đoàn 42 được trực thăng chở về Bạc Liêu, nghỉ.
       Một tuần sau, Bộ Tư lệnh SĐ21 BB và Tỉnh/tiểu khu Chương Thiện tổ chức mừng chiến thắng dưới sự chủ toạ cuả vợ chồng Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung Ương. Đồng thời Tiểu đoàn 42 BĐQ cũng được nghỉ dưỡng quân, tái bổ sung tại Bạc Liêu. Cũng trong dịp này, Trung uý Bùi Thế Thổ ĐĐT/ĐĐ4 được thăng cấp Đại uý nhiệm chức.
       Đến đây tôi cũng xin được viết vài dòng về Cố Trung tá Lưu Trọng Kiệt vị chỉ huy và cũng là một chiến hữu thân tình với cá nhân tôi: Anh Kiệt là một quân nhân chỉ huy đơn vị tác chiến đúng nghĩa, nghiêm khắc nhưng không độc, anh hoà nhã với mọi người kể cả lúc ban hành mệnh lệnh, nhưng không thể nhận mà không thi hành. Lúc xung trận, anh chỉ huy với phong cách bình tĩnh, điềm đạm nhưng gan lì và anh dũng. Tiểu đoàn trưởng luôn luôn sát cánh với các chiến sĩ trong đơn vị. Vậy mà, anh lại bỏ anh em ra đi quá sớm khi tương lai đang rực rỡ trước mặt. Điều làm tôi ân hận vẫn đeo đuổi tôi cho đến bây giờ và mãi mãi. Bên tai tôi văng vẳng tiếng anh Kiệt “Bửu ơi, cố gắng gọi tải thương, cố gắng gọi tải thưong, máu tao ra nhiều qua”.…Vì đó lúc giao tranh đang diễn ra căng thẳng và ác liệt, hai bên xáp chiến, trực thăng tải thương không xuống được.
       Hai giờ đồng hồ trôi qua đến lúc sắp tải thương được thì một loạt đạn thứ nhì đã cắt đứt cuộc đời ngang dọc, cuả anh. Mọi người thương tiếc anh lại càng ân hận hơn khi được biết, anh sẽ được bổ nhiệm giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 33/SĐ 21 BB, nhưng không hiểu vì sao đã cả tháng mà lệnh vẫn chưa ban hành để rồi anh bỏ lại sau lưng tất cả để ra đi vào miên viễn. Vị sĩ quan xuất thân khóa 7 Liên trường Võ khoa Thủ Đức Lưu Trọng Kiệt hay còn là Lưu Depart, say mê âm nhạc, hát rất hay. Anh thường sưu tầm những bản nhạc hay. Tôi ở kế bên phòng anh, và anh Hồ ngọc Cẩn, nên chúng tôi thường nghe chung và thưởng thức tiếng hát của Kiệt. Cũng cần viết thêm là Kiệt còn là một huyền đai đệ nhị đẳng nhu đạo.
       Trong thời gian tiểu đoàn 42 biệt động nghỉ duỡng quân, bổ sung quân trang, đạn dược, Bộ chỉ huy BĐQ Trung ương đã bổ nhiệm Đại uý Chung Thanh Tòng, một sĩ quan thâm niên, dày dạn kinh nghiệm chiến trường về làm Tiểu Đoàn trưởng TĐ 42 BĐQ, nhưng Bộ Tư lệnh QĐ IV và Bộ Tư lệnh SĐ 21 BB không vui vẻ đón nhận, và tỏ ra thờ ơ với anh.
       Thời gian nghỉ dưỡng đã đủ, Cọp ba đầu rằn đã mài lại nanh vuốt sắc nhọn để tiếp tục vồ những con mồi Việt cộng. Những cuộc hành quân Dân Chí, Long Phi được tiếp tục mở ra nhưng thành tích của tiểu đoàn cũng không có gì đáng kể vì lúc này địch luôn tìm cách tránh né, chạm trán với Biệt động quân. Cho đến khi Việt Cộng mở trận tổng công kích tết Mậu Thân, Tiểu đoàn lại ghi them các thành tích mới.
       Sáng mồng 1 tết, tiểu đoàn 42 hành quân giải toả áp lực địch cho thị xã Bạc Liêu. Sáng mồng 2 tết, (tiểu đoàn(-) đuợc trực thăng vận lên phi trường Sóc Trăng (Đại đội 1/42 ở lại bảo vệ BTL SĐ) để giải toả thị xã Khánh Hưng, tiểu khu Ba Xuyên, trại gia binh và BCH trung đoàn 33/21 BB. Chiều mồng 4 tết thì hoàn thành nhiệm vụ. Tổng kết, thật là phi thường trong mấy ngày hành quân giải tỏa vừa qua, BĐQ chỉ thiệt hại có 5 tử thương và 8 bị thương nặng nhẹ. Về phía địch, ta tịch thu 80 súng nặng nhẹ đủ loại, xác chêt Vc rải rác khắp thị xã, đếm được 120 tên, bắt sống 3 tù binh.
       Qua sáng ngày mồng 5 tết, tiểu đoàn nhận lệnh di chuyển lên Cần Thơ để đánh đuổi địch ra khỏi thành phố này. Tiểu đoàn 44 BĐQ, và Lữ đoàn A TQLC, Trung đoàn 33/SĐ 21 BB, cùng sát cánh đánh đuổi địch mở rộng vòng đai an ninh cho thành phố và Bộ Tư lệnh Quân Đoàn IV đến tận Miếu Đông, Phong Điền, Cầu Nhím. Khoảng 10 ngày sau, Giặc cộng đã bị thanh toán sạch tại thành phố Cần Thơ thì Tiểu đoàn 42 và 44 biệt động quân lại nhận được lệnh di chuyển về Rạch Giá để tham dự cuộc hành quân trực thăng vận vào mục tiêu kinh Kiểm Lâm để giải toả áp lực địch cho tỉnh Kiên Giang. Trận tổng công kích của Việt cộng trong đợt một đã hoàn toàn thất bại, trên toàn lãnh thổ thuộc Quân Khu IV/ Vùng IV chiến thuật/VNCH.
       -Việt cộng lại tiếp tục phát động cái gọi là tổng công kích tổng nổi dậy đợt 2 cũng trên khắp các thị thành miền nam VN. Tiểu đoàn 42 lại lên đường cùng các đơn vị bạn dẹp giặc an dân. Tham dự hành quân giải toả áp lực địch tại các thị xã Cà Mâu, thị xã Bạc Liêu, Cần Thơ cũng một lần nữa đuổi giặc chạy trốn về các bưng biền của chúng, thậm chí có đơn vị cộng quân gần như bị diệt gọn, những tên sống sót phải dội ngược vào lãnh thổ Campuchia để ẩn trốn.
       Thất bại nặng trong âm mưu úp một cái hốt trọng gói miền Nam, Cộng sản gỡ gạc bằng cách quay thực hiện những cuộc pháo kích bừa bãi vào các thành phố, thị xã, Bộ Tư lệnh Quân Đoàn. Do đó, sau khi tham dự các cuộc hành quân Dân Chí, tiểu đoàn 42 BĐQ đuợc xử dụng vào việc bảo vệ vòng đai an ninh xa, dự các cuộc hành quân để triệt phá các ổ trận điạ địch sẽ dùng để pháo kích. Cũng trong thời gian này, chỉ vì một sự sơ hở, ỷ y cuả đại đội 4/42 do Đại uý Bùì thế Thổ là Đại đội trưởng đã bị địch đột kích tại Vàm Láng (phía bắc Cái Dầy, nằm trên kinh Cái Dầy) gây tổn thất cho ta 4 chết,7 người khác bị thương. Đại uý Bùi Thế Thổ cũng hy sinh tại chỗ. Vì nguyên cớ này mà Đại Úy Chung Thanh Tòng đã được BTL/SĐ 21 trả về cho BCH/BĐQ TƯ và Đại Uý Lê Thành Long đuợc bổ nhiệm quyền Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn 42 Biệt động quân, thay thế Đ/U Tòng.

This image has an empty alt attribute; its file name is 25008251578_711f2dc8d9_z.jpg

Kể từ ngày thành lập vào cuối năm 1963 cho tới năm 1968, Tiểu đoàn 42 BĐQ với bao nhiêu khổ nhọc, vui, buồn – Bạn bè cũ, mới, các chiến hữu thân thương đã lần lượt ra đi-Tử thương,bị thưong nặng hay nhẹ hoặc thuyên chuyển đi các đơn vị mới- TĐ còn lại vẻn vẹn có mấy người.
       Các bạn tôi, chiến hữu của tôi: Thiểu, Phan, Kiệt, Khuôn, Quảng, Thổ, Úc, Quang đã vĩnh viễn từ giã tất cả, bạn bè, đồng đội, bỏ lại chiến trận sau lưng. Thương tiếc nuối nhớ của người ở lại họ cũng chẳng cần quan hoài. Những đồng đội thuyên chuyển đến những đơn vị mới như: Năm, Biết, Giai, Lượng,Trung, Trổ, Tịnh, Bửu, Khâm, Mạnh, Cẩn, Tấn, Hoàng, Ngôn, Thảo, Biên, Paul, Long, v.v., sau này thăng tiến trên đường binh nghiêp, làm rạng danh binh chủng
       VÀI GIAI THOẠI VỀ “CỌP BA ĐẦU RẰN”, “CỌP BA CHÂN – ĐIẾC KHÔNG SỢ SÚNG”.
       Lễ gắn huy chương Nhành Dương Liễu cho Tiểu đoàn tại Sóc Trăng, 19651/ Nhắc lại trận đánh phản phục kích trên đại lộ Cộng Hoà, tiếp viện cho TĐ 32 biệt động quân và quận Hiếu Lễ đang bị địch uy hiếp nặng nề. Đã xẩy ra một sự việc hy hữu là, sau khi thanh toán mục tiêu, ta thu dọn chiến trường. Vì tải thưong trong đêm nên có sự lẫn lộn. Tải thương một số thưong binh việt cộng về CàMâu, và Rạch Giá. Trong khi đó lại bỏ sót một chiến sĩ mũ nâu cuả đại đội 3/42 ở lại. Hai ngày sau, trên đuờng hành quân quay về lại Cà mâu, Tiểu đoàn đóng quân đêm tại Tân Bằng, trên bờ sông Trèm Trẹm, một chiến binh đã phát giác ra xác quân nhân bị bỏ quên, VC thả bè trôi trên sông trả về cho tiểu đoàn 42 BĐQ với những trò quái gở: Phù hiệu BĐQ cọp 13 răng đã bị xé rách nát, trên ngực có gắn miếng giấy với giòng chữ “trả cho cọp ba chân”. Như vậy, chứng tỏ chúng đã nhận ra những lần chạm súng với 42 BĐQ, Tiểu đoàn này chỉ xử dụng có ba đại đội. Từ đó TĐ42BĐQ có tên “Cọp Ba Chân hay cọp ba móng”.
       2/ Nhắc lại, khi Đại tá Đặng văn Quang về làm Tư Lệnh SĐ 21 BB, và Thiếu Tướng Nguyễn văn Thiệu là Tư Lệnh Quân Đoàn IV/Vùng IV chiến thuật, đã mở chiến dịch “Đom Đóm, Diều Hâu và trực thăng vận”, áp dụng tối đa cho các cuộc hành quân. Di chuyển, mở rộng đội hình luôn luôn. Tấn công vào sâu tận trong các khu rừng mắm, lau sậy, tràm.. Trực thăng võ trang yểm trợ tối đa. Vì thế đã có những lần ta, địch quá gần, không có làn ranh, không thể trải được biểu tín hiệu nên sự yểm trợ đã xẩy ra tổn thất cả cho quân bạn là 42 BĐQ. Trong một buổi họp Tham Mưu, Thiếu Tá TĐT Nguyễn Văn Biết đã ra lệnh cho, các đại đội sơn rằn ri trên nón sắt bằng ba mầu: Vàng, đỏ, xanh lá cây. Trên chóp nón là lòng đỏ đậm (trên nón không có đầu cọp hay huy hiệu). Chính nhờ đó, sau này trực thăng võ trang dễ dàng quan sát, phân biệt bạn và địch và cũng lại có thêm một tên nữa “Cọp Ba Đầu Rằn”. Thiếu tá Biết cũng cho đơn vị thực hiện huy hiệu của đơn vị là Đầu cọp rằn, xung quanh thêu dòng chữ “QUYẾT CHIẾN -TIỂU ĐOÀN 42 BĐQ QUYẾT THẮNG”, và may trên nắp túi áo trái.<
       3/ Mỗi đại đội đều thực hiện khăn quàng cổ với mầu sắc riêng, mỗi quân nhân đều có một còi đeo trên cổ đặng khi xung trận cùng nhất loạt thổi vang lừng lấn át tiếng súng đối phương và nâng cao tinh thần quyết chiến của anh em tiến mà không biết lùi và cũng lại có thêm tên nữa “Con bà phước – lũ điếc không sợ súng”.
       Thời gian như mây bay trên đỉnh trời, bao nhiêu biến đổi, bao nhiêu tang thương, mừng vui hoà trộn. Kẻ ở người đi. Chiến hữu người còn, người mất. Giờ đây kẻ lưu lạc xứ người, quê hương chỉ còn là nỗi nhớ. Thân bơ vơ trong lạc loài cô quạnh. Thôi, đành viết những dòng chữ mộc mạc gởi đến người xưa bạn cũ chút kỷ niệm đủ mùi tân khổ của đời chiến sĩ.
       Viết trong nỗi nhớ cố hương và bằng hữu./.
Nguồn: bietdongquan.com

Nguồn: 
Loading new page

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

CHIẾN LƯỢC HOA KỲ, hay CHIẾN LỢI PHẨM csVN ?!