- Nhận đường liên kết
- X
- Ứng dụng khác
Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2018
PHỤC HỒI: DANH DỰ- TỔ QUỐC- TRÁCH NHIỆM QL.VNCH
TỔ QUỐC -DANH DỰ -TRÁCH NHIỆM
Chim có tổ người có tông thế nên trong một góc nào đó của trái tim, người lính VNCH dều có một ngăn để chứa tổ quốc. Hình ành trong tim về một Tổ quốc, chính là hình hài của mẹ VN, một dãy giang sơn gấm vóc từ Ải Nam Quan đến mủi Cà Mau theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp.-sau Hiệp định Genève 1954, Bắc Việt và Pháp đã cùng nhau ký kết chia tổ quốc VN ra làm 2 vùng địa lý chính trị khác nhau. VNCH từ vỉ tuyến 17 cho tới mủi Cà Mau. Cho dù chỉ hiện diện trong khoảng 20 năm, nước Việt Nam Cộng Hoà cũng kịp thời ghi lại nhiều hồi ức đẹp về một tổ quốc chân- thiện- mỹ, về cấu trúc một xã hội nhân văn, chính trị dân chủ đa đảng, với một nền giáo dục nhân bản, và một nền kinh tế. thị trường phồn thịnh tạo được sự hạnh phúc cho nhân dân miền nam VN..
(
Trích thơ "Vá Cờ"-Ngô Minh Hằng)
Trích thơ "Vá Cờ"-Ngô Minh Hằng)
Tôi lại trách mình hèn hơn giun kiến
Không dám dấn thân lấy lại cõi bờ
Rồi tôi hỏi mình có còn nguyên vẹn
Tổ quốc trong tim và một màu cờ ?
Còn danh dự, còn tự hào, trách nhiệm
Của một người trai mang nợ kiếm cung ...
Hay đã quên rồi quê hương cộng chiếm
Và mặc muôn dân dâu biển bão bùng???
Suốt thời gian chiến tranh Việt Nam cũng như sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, rất nhiều quan điểm cho rằng chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến (?) đã hiện diện trong đầu óc phần đông người ngoại quốc cũng như một số người Việt thiếu thông tin khi tìm hiễu bản chất của cuộc chiến. Nguyên nhân chính của cuộc chiến tranh Việt Nam, đó tham vọng của đảng cộng sản Việt Nam nằm trong chiến lược nhuộm đỏ toàn cầu của cộng sản quốc tế.
Căn cứ vào bản chất cuả cuộc chiến tranh Việt Nam ta sẽ thấy đó là một cuộc chiến tranh xâm lăng do cộng sản Bắc Việt chủ trương dưới sự hậu thuẫn của CS quốc tế, qua tên tay sai là Hồ chí Minh. Cần phải biết thế nào là "nội chiến"? đó là cuộc chiến tranh bắt nguồn từ những mâu thuẫn về quyền lợi giữa các thế lực trong cùng một quốc gia, giống như thời Trịnh Nguyễn phân tranh (1627-1775), còn xâm lăng là cuộc chiến tranh của một quốc gia nhằm thôn tính bờ cõi, lãnh thổ một quốc gia khác có chủ quyền. VNCH và VNDCCH là hai quốc gia có chủ quyền riêng biệt được nhiều nước trên thế giới công nhận.
Phần đất từ vỉ tuyến 17 tới mủi Cà Mau là vùng trách nhiệm mà Quân lực VNCH có bổn phận ngày đêm trông chừng, ngăn ngừa sự phá hoại của cộng sản Bắc Việt và các thế lực từ bên ngoài VN, làm nguy hại trên vùng đất mà họ phải bảo đãm an ninh. Đây chính là một mãnh đất (quốc gia) có chủ quyền được 86 quốc gia trên thế giới công nhận và đặt liên hệ ngoại giao.
Vùng đất trách nhiệm của QL.VNCH phải tận lực để bảo vệ cho cuộc sống của 20 triệu dân.Trách nhiệm của người chiến sĩ quân lực VNCH là không bao giờ được hành quân ra bắc để quậy phá sự yên tỉnh của đồng bào ruột thịt đang sinh sống. Nếu csVN gọi VNCH là nguỵ quân, thì dành câu nói nầy phải được dành cho bộ đội cs Bắc Việt trong cuộc chiến gọi là giải phóng, vì chưa bao giờ quân VNCH được phép vượt vĩ tuyến 17 xâm nhập vào lãnh thổ Bắc Việt để phá hoại vùng sinh sống của người miền Bắc trong suốt thời gian mà QL.VNCH còn tồn tại. Trong quá khừ từ 1965-1967, không quân Việt Mỹ mỡ các cuộc oanh tạc miền bắc, việc nầy không thể gọi là sự xâm lăng như tuyên truyền của CSBV. Những phi vụ bắc phạt mang tính trã đủa về sự leo thang phá hoại tại phần đất miền nam VN của những người mang danh là " Giải Phóng Miền Nam". CSBV đã chôn giấu vũ khí, phá hoại miền nam từ sau khi hiệp định Genève chưa ráo mực. Trong nghị quyết hội nghị lần thứ 15 của ban chấp hành trung ương đảng cộng sản khóa 2 thông qua vào tháng 1 năm 1959 cũng ghi rõ sách lược đưa bộ đội chính quy cùng vũ khí của Nga, Hoa từ Bắc vô Nam để thực hiện cuộc xâm lăng Miền Nam
https://youtu.be/DWFkArRMfSw
Bắc phạt csBắc Việt là để cảnh cáo, trừng trị các hành động tiếp tế vũ khí đạn dược và đưa bộ đội xâm nhập vào nam bằng đường Trường Sơn và đường HCM trên biển của cộng quân kể từ năm 1959, đồng thời phá hủy hậu cần tiếp tế của csBV cho chiến tranh xâm lược. Bắc phạt là đòn trả đủa VNCH cho việc tăng cường áp lực quân sự của cộng sản Bắc Việt trên phần đất của VNCH. Nó không mang ý nghĩa chiếm đóng hay xâm lược trong quân sự. Qui luật của chiến tranh là không bao giờ chỉ biết đưa lưng cho kẻ thù đánh, mà phải đánh trả, một qui luật rất công bằng trong binh pháp từ đông tới tây: http://ccnmacvsog.blogspot.de/2012/11/he-thong-uong-mon-ho-chi-minh.html
Đường mòn HCM trên bộ
Theo bản tin của BBC.com ngày 10-5-2006 , Viện Lịch sử Quân sư. CSVN đã công bố những số liệu về nguồn chi viện của Liên Xô, Tàu và các nước xã hội chủ nghĩa dành cho miền Bắc trong cuộc chiến với khối lượng hàng quân sư cụ thể như sau:. Liên Xô, Tàu và các nước XHCN viện trợ trong giai đoạn 1955-1960: Tổng số 49,585 tấn gồm: 4,105 tấn hàng hậu cần, 45,480 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật. Phần lớn số vũ khí nầy đã được đưa vào chiến trường miền nam VN. CSBV khoe khoang về các số lượng vũ khí nầy có đăng trên báo CA Nhân Dân ngày 27/3/2015:
https://youtu.be/P62V0qjvi7Q
Đường Hồ Chí Minh trên biển
Tài liệu VC về con đường HCM trên biển
2. Đường mòn HCM được Bắc Việt khoe khoang như sau (nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_S%C6%A1n
"Trong 16 năm, hệ thống hậu cần đường Trường Sơn đã chuyển được hơn một triệu tấn hàng, vũ khí vào cho các chiến trường, bảo đảm chỉ huy hành quân cho hơn hai triệu lượt người vào chiến trường hoặc từ chiến trường ra Bắc; vận chuyển cơ động 10 lượt sư đoàn, 3 quân đoàn, hộ tống 90 đơn vị binh chủng kỹ thuật vào chiến trường.
Ngược lại với CSBV, VNCH chưa bao giờ có ý mang xe tăng, bộ binh ào ạt hành quân ra bắc để thực hiện việc chiếm đóng miền bắc, gây bất an trong sinh hoạt của nhân dân miền bắc. Trong khi đó thì trên mảnh đất trách nhiệm của VNCH, nơi sinh sống của 20 triệu dân miền nam hết sư đoàn nầy đến sư đoàn kia của Bắc Việt dẫm nát ruộng đồng của những người mà họ đã gọi là đồng bào.
Các cuộc phá hoại đã bắt đầu từ những năm 1957 khi mà nước VNCH mới thành lập được 2 năm, đất nước còn đang đối phó với nhiều sự hỗn loạn về mọi mặt. Trong cuốn" Hai mười năm qua 1945 đến 1964, tác giả Đoàn Thêm đã ghi nhận những việc hàng ngày xãy ra trên đất nước VNCH, từ chính trị, kinh tế, văn hoá , quân sự, sách xuất bản tại Sài Gòn nằm 1965: Trích vài đoạn trong sách nầy môt số các cuộc hành quân của QL.VNCH từ năm 1957 cho đến tháng 8.1960, vào nhhững thời điễm mà cái công cụ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam chưa xuất hiện và ra mắt.
Ngày 22.10.1957, lúc 20 giờ15 phút, vc đặt mìn tại một khách sạn ở chợ An Đông chợ lớn làm 4 ngườì ngoại quốc chết, 1 ngưòi Việt bị thương, khách sạn bị hư hại nặng.
Ngày 7.11.1957 Quân đội VNCH hành quân ở Ô Môn ( Cần Thơ) bắt được 12VC và thu được nhiều vũ khí.
Ngày 15.7 1960, quân đội VNCH hành quân ở Phong Dinh, hạ sát được 76 VC, bắt 26, bắn bị thương hơn 100 tên.
Ngày 17.7.1960 Hành quân ở Cai Lậy ( tỉnh Vĩnh Long) chạm súng với một trung đoàn VC, hạ tại chồ 46 tên.
Ngày 3.8.1960, hành quân ở Phước tân-Tây Ninh hạ đợợc 10 tên VC.( nguồn: Hai mươi năm qua 1945-1964 của Đoàn Thêm).
Với các dẩn chứng phía trên, người ta tự hỏi:" quân đội nào đã có mặt ở miền nam vào những năm 1957, 58, 59, 60 nầy, đó là những năm mà quân đội Hoa Kỳ chưa có mặt trên lãnh thổ VNCH ?? BCT/ Đảng csVN có thể nào tiết lộ cho người dân biết quân đội khủng bố nầy là của ai không? Vì bị bưng bít thông tin, nên đồng bào miền bắc đã bị đảng cs lường gạt một cách trắng trợn, cả nước cũng bị đảng lường gạt thê thãm về sự nghiệp mà đảng gọi là "Giải Phóng".
TRÁCH NHIỆM
Hiệp định Genève 1954 chưa ráo mực là hàng loạt vụ khủng bố, phá hoại của cộng sản Bắc Việt đã cướp đi sinh mạng của nhiều thường dân vô tội miền nam VN vào lúc bấy giờ. Vũ khí mà họ có để phá hoại miền nam là bắt nguồn từ những vũ khí mà họ đã chôn dấu lại miền nam VN trước khi lên đường tập kết ra bắc theo hiệp định Genève 1954. Việc chôn dấu vũ khí lại miền nam trước khi di chuyễn vă bắc là một bằng chứng về tham vọng chiếm đoạt miền nam của tên tay sai QTCS III Hồ chí Minh và đảng csVN.
Trước những âm mưu đen tối của csBắc Việt, người lính VNCH đã rất vất vả trong những ngày đầu thành lập nước VNCH. Trách nhiệm của một người chiến sĩ vì dân vì nước ngày càng đè nặng lên hai vai của họ.

Người lính QL.VNCH đã được huấn luyện cẩn thận về tinh thần trách nhiệm với đồng bào miền nam lẩn đồng bào ruột thịt của mình đang còn sinh sống ở miền Bắc. Trên đầu súng của những chiến sĩ QL.VNCH không có Chủ Nghĩa. Đầu súng của các chiến sĩ QL.VNCH chỉ được trang bị bằng lý tưởng BẢO QUỐC AN DÂN hay còn gọi là Tổ Quốc -Danh Dự-Trách Nhiệm mà QL.VNCH đã được mẹ VN âu yếm đặt lên vai của họ. Trong suốt thời gian tồn tại, người lính VNCH đã tuyệt đối tôn trọng huấn lệnh của QL.VNCH. Đánh giặc cộng trong vùng trách nhiệm là để khữ bạo! "Lấy chí nhân thay cường bạo"- Binh Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi.
Vũ khí mà người lính VNCH cầm trên tay dùng để tự vệ, dùng để trừng trị hành động thảo khấu lấn đất lấn sân của CSBV. Chổ khác biệt giửa người lính Bắc Việt khác với người lính VNCH là vì nòng súng của họ là gắn chủ nghĩa lên đầu súng, dùng vũ khí để đấu tranh giai cấp, cướp chính quyền chứ không mang ý nghĩa vì dân vì nưóc.
Song song với trách nhiệm " bảo quốc an dân", người chiến sĩ VNCH với tinh thần khoan dung, độ lượng với kẻ thù đã ban hành những huấn lệnh về cách đối xử với tù binh cộng sản, để người chiến sĩ VNCH am tường và xứng đáng với lý tưởng trừ gian diệt bạo. Xin mời xem đoạn Video Clip về một phóng sự chiến trường tại mặt trận Sài Gòn trong ngày tết Mậu Thân 1968, đây là những điều mà người cộng sản dấu diếm rất kỷ, không bao giờ cho người dân và các thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên sau cuộc chiến biết về những hình ảnh nầy.
https://youtu.be/5uiYVCaNTms
https://youtu.be/5uiYVCaNTms
Trách nhiệm của QL.VNCH là chăm sóc an ninh cho 4 vùng chiến thuật. Đến tháng 7/1970 được đổi tên là Quân khu. Lúc đầu có 3 vùng chiến thuật được đánh số 1, 2, 3, đến năm 1964 lập thêm vùng chiến thuật 4. Mỗi vùng chiến thuật do 1 quân đoàn phụ trách. Dưới vùng chiến thuật là các khu chiến thuật do 1 sư đoàn phụ trách. Bộ tư lệnh quân đoàn đồng thời là Bộ tư lệnh vùng chiến thuật (trừ quân đoàn 2), còn Bộ tư lệnh sư đoàn đồng thời là Bộ tư lệnh khu chiến thuật. Các vùng chiến thuật có địa giới như sau:
Vùng 1 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Đà Nẵng, gồm 5 tỉnh:
Khu 11 chiến thuật, gồm 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên
Khu 12 chiến thuật, gồm 2 tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngãi
Đặc khu Quảng Nam, gồm tỉnh Quảng Nam và thị xã Đà Nẵng
Vùng 2 chiến thuật, Bộ tư lệnh vùng 2 chiến thuật ở Nha Trang, nhưng Bộ tư lệnh quân đoàn 2 ở Pleiku (từ giữa tháng 3 năm 1975 phải chuyển vể Nha Trang), gồm 12 tỉnh:
Khu 22 chiến thuật, gồm 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn
Khu 23 chiến thuật, gồm 7 tỉnh Darlac, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tuyên Đức, Quảng Đức, Lâm Đồng, và thị xã Cam Ranh
Biệt khu 24, gồm 2 tỉnh Kon Tum, Pleiku
Vùng 3 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Biên Hòa, gồm 10 tỉnh:
Khu 31 chiến thuật, gồm 3 tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An
Khu 32 chiến thuật, gồm 3 tỉnh Phước Long, Bình Long, Bình Dương
Khu 33 chiến thuật, gồm 4 tỉnh Bình Tuy, Phước Tuy, Long Khánh, Biên Hòa và thị xã Vũng Tàu
Vùng 4 chiến thuật, Bộ chỉ huy ở Cần Thơ, gồm 15 tỉnh:
Khu chiến thuật Định Tường, gồm 4 tỉnh Kiến Tường, Định Tường, Gò Công, Kiến Hòa
Khu 41 chiến thuật, gồm 6 tỉnh Kiến Phong, Châu Đốc, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, An Giang, Kiên Giang; sau thêm Sa Đéc
Khu 42 chiến thuật, gồm 5 tỉnh Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu, An Xuyên
Tóm lại trách nhiệm của người lính VNCH khác hoàn toàn với trách nhiệm của người lính bộ đội cs Bắc Việt trong việc yêu tổ quốc và đồng bào vì thế danh dự người lính VNCH có và phong cách thể hiện với đối phương (kẻ thù của nhân dân miền nam VN) rất nhân bản. Điều đó đáng được tôi phải viết bài nầy. Danh dự và trách nhiệm của ngưòi lính VNCH luôn bị phe gọi là thắng cuộc mạ lỵ mấy thập niên qua nhằm đảo ngược thị phi xoá bõ tội ác của họ trong cái gọi là " giải phóng miền nam" một nguỵ từ của nguỵ quyền cs Bắc Việt được các cấp chỉ huy của bô đội Bắc Việt bắt phải người lính cộng sản học tập. Có như thế nguỵ quân và nguỵ quyền cộng sản mới sơn được màu chủ nghĩa lên nòng súng của những người bô đội lên đường vào miền nam,- để gọi là thi hành trách nhiệm giải phóng đúng theo tiến trình xâm lược miền nam của tay sai HCM và BCT/ Đảng csVN.
Trách nhiệm đó của người lính VNCH đã chấm dứt sau khi bị chính đồng minh của mình bán linh hồn cho Tàu Cộng và Việt cộng.
NHỮNG CỐ GẮNG CHO ĐẾN KHI BỊ BỨC TỬ
Nhìn vào những tài khoá về số tiền viện trợ quân sự cho VNCH, để cảm thông cho trách nhiệm quá lớn của họ trong những cuối của cuộc chiến.
CON SỐ VỀ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CHO VNCH
Trong cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng nói về quân phí và quân viện như sau.“Để dễ so sánh, ta nên coi lại những chi tiêu và sự viện trợ quân sự những năm trước đó:
– Trong thời gian 1966-1970: Mỹ tiêu 25 tỷ đô la một năm.
– Trong hai năm 1970-1971: tiêu 12 tỷ một năm (vì đang rút quân).
– Sau khi Mỹ rút, viện trợ quân sự cho VNCH:
– Tài khóa 1973: hai tỷ mốt (2,1 tỷ)
– Tài khóa 1974: một tỷ tư (1,4 tỷ)
– Tài khóa 1975: bẩy trăm triệu (0,7 tỷ).
(Trang 223)
Ngày 12-3 -1975 Hạ Viện Mỹ biểu quyết cắt 300 triệu Mỹ kim quân viện bổ túc cho Việt Nam Cộng Hoà do Tổng Thống Ford đệ trình Quốc Hội, Đại sữ Mỹ Martin cũng thông báo cho Tổng thống Thiệu biết quân viện năm tới từ tháng 6 sẽ không được chuẩn chi. Trong khi nhu cầu của về quốc phòng của VNCH để đũ trang trải cho 4 vùng chiến thuật ỡ mức tối thiểu là 1tỷ 1 đô la/năm. Trước số tiền quá ít ỏi cho chiến trường. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã có quyết định triệt thoái vùng I và vùng II Để tập trung hoả lực cho 2 vùng còn lại, tự cắt giãm được 1/2 kinh phí quốc phòng vào cuối quí I của năm 1975.
Các nổ lực cuối cùng của Ông Thiệu chỉ là biện pháp vá víu, dù cho có hiệu quả cũng không kéo dài được bao lâu cho cơn hấp hối của VNCH. Vi số quân viện cho Bắc Việt đã gia tăng quá nhiều, vũ khí và đạn dược quá phong phú cho cho việc cướp miền nam.Trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế viện trợ cho miền Bắc 70,295 tấn hàng quân sự, mười năm sau giai đoạn 1973-1975 viện trợ ấy đã tăng lên 724,512 tấn, gấp hơn 10 lần. Khi CSBV dồi dào về quân viện, thì VNCH đang rơi vào tình trạng bị cắt giãm tư từ cho đến tháng 4/1975.
Hậu quả của cắt giảm quân viện, cựu Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội VNCH trong cuốn Những Ngày Cuối VNCH đã cho biết về ảnh hưởng tai hại của quyết định giảm thiểu viện trợ quân sự của Quốc hội Mỹ đối với quân đội VNCH, nó đã khiến quân đội thiếu thốn và giảm hỏa lực rất nhiều, không thể tồn tại lâu được nếu không có tăng viện.
“Ngân khoản 700 triệu chỉ cung cấp được phân nửa nhu cầu tối thiểu của quân đội VNCH, trong năm 1975 hoạt động quân sự của CSBV gia tăng 70% hơn năm trước” Những Ngày Cuối của VNCH, trang 85 (cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng).
- Theo Đại tướng Cao Văn Viên (Những Ngày Cuối Của VNCH trang 86, 87, 92) Hậu quả của cắt giảm quân viện khiến cho Không quân VNCH phải giải tán hơn 200 phi cơ chiến đấu, oanh tạc, vận tải thám thính, giảm giờ bay thực tập và yểm trợ , yểm trợ giảm 50%, vận chuyễn trực thăng giảm 70%, không vận bằng vận tải cơ bị cắt giảm 50%. Hoạt động Hải quân bị cắt giảm 50%, hoạt động từ tháng 7-1974 ở sông ngòi giảm 70%, giải tán 600 giang thuyền. Từ tháng 7-1974 quân đội chỉ xử dụng khoảng 19 ngàn tấn đạn một tháng so với 73 ngàn tấn một tháng thời gian trước đó, hoả lực giảm 60%. Vào tháng 2-1975, số lượng đạn tồn kho của tất cả các loại súng trường, phóng lựu, súng cối, đại bác, lựu đạn… tuột xuống con số nguy hiểm, chỉ còn đủ xử dụng từ 25 đến 31 ngày…Tháng 4-1975 , đạn tồn kho ở bốn kho dự trữ tuột dốc xuống mức thấp nhất chỉ đủ xài từ 14 đến 20 ngày…Kể từ sau Hiệp định Paris VNCH không còn trông cậy vào yểm trợ của B-52 nữa.
- “Quân nhân VNCH bị bắt buộc phải chiến đấu trong một nhu cầu dưới mức bình thường khiến khả năng cũng như sự chu toàn nhiệm vụ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày đã làm sút giảm khả năng của họ. Tình trạng này không cho phép kéo dài nếu muốn duy trì một lực lượng quân sự có khả năng”.
- Người Mỹ ký hiệp định Paris với mục đích rút ra khỏi vũng lầy VN đồng thời trao đổi tù binh Mỹ. Quyền lợi chính của miền Nam VN không được chú trọng đến.
- Giới hạn quân trang, quân dụng, vũ khí, đạn dược cùng với nền kinh tế lạm phát khiến tinh thần binh sĩ QL.VNCH xuống thấp. Tình hình ngoài chiến trường con số bị thương và tử trận lên cao, phương tiện tải thương không còn như những năm trước.
Súng còn đó, nhưng hết đạn thì làm sao mà đánh? không khác gì là những khúc sắt vô tri. Vì quá tin vào người Bạn Đồng Minh Hoa Kỳ đã làm dân Miền Nam phải trả một giá quá đắt!
Trong bài ‘Đại bàng bị buộc cánh’ nói về tình trạng bi đát của Không quân VNCH, bài này ghi lại những con số và diễn biến đã xẩy ra cho việc tiếp vận đạn dược của Quân lực VNCH vào thời điểm đầu năm 1975.
Rất nhiều Tác giả, kể cả Tướng Cao văn Viên đã viết về tình trạng kiệt quệ tiếp liệu của QL VNCH vào đầu năm 1975, hậu quả của việc cắt giảm ngân sách viện trợ cho VN của Quốc Hội Hoa Kỳ, Những con số quân viện cũng đã được ghi nhận rất rõ ràng, tuy nhiên một số vần đề và hậu quả cũng cần phải do những người trong cuộc lên tiếng..
Bài này xin giới hạn trong vấn đề đạn và vũ khí dành cho Lục quân VNCH, về KQ VNCH, xin đọc bài ‘Đại bàng bị buộc cánh’ http://www.banvannghe.com/D_1-2_2-59_4-5784/khong-quan-vnch-thang-tu-nam-1975-dai-bang-bi-buoc-canh-tran-ly.html .
Việc cắt giảm viện trợ của Hoa Kỳ cho VNCH và các con số liên hệ đã được ghi lại rất rõ ràng với nhiều chi tiết trong các tài liệu Việt-Mỹ:
- Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa (Cao văn Viên)
- Khi Đổng Minh tháo chạy (Nguyễn Tiến Hưng)
- The Fall of South Vietnam : Statements by Vietnamse Military and Civilian Leaders (Stephen Hosmer & Konrad Kellen & Brian Jenkins [RAND Corporation]
- Vietnam from Cease-Fire to Capitulation (William Le Gro)
Tình trạng quân cụ của VNCH ( phần Lục quân )
Trong chương trình ‘Việt Nam Hóa’ chiến tranh, sửa soạn cho Hiệp định Paris, Hoa Kỳ đã chuyển giao cho VNCH:
- Kế hoạch ENHANCE (từ thàng 5 đến tháng 10, 1972)
- 100 Hệ thống chống chiến xa TOW
- 32 giàn đôi (mỗi giàn 2 đại bác phòng không) 40 ly, gắn trên chiến xa
- 96 giàn đại liên (mổi giàn 4 khẩu ) phòng không 30.cal
- Kế hoạch ENHANCE PLUS (Tháng 10-11, 1972)
- 72 Thiết giáp M-48A3
- 117 Thiết vận xa M 113
- 8 Xe M-706
- 44 Đại bác 105 ly howitzer
- 12 Đại bác 155 ly
- 1302 xe vận tải 2 tấn ½
- 425 xe vận tải nặng loại 5 tấn
(Các con số trên dựa theo Báo cáo của Bộ QP HK gửi cho Dân biểu Paul Mc Closkey, hơi khác với tài liệu của ĐT LeGro)
Nhìn trên văn bản và cứ theo báo chí HK thì số quân cụ (gồm thêm các phi cơ, chiến hạm, chiến thuyền..quân trang, quân dụng) thì trị giá tổn cộng được chuyển giao lên đến cả tỷ USD! Nhưng trên thực tế có những vấn đề.đặt ra cho QL VNCH trong việc tiếp nhận và sử dụng các quân cụ này.
Đại Tuớng Cao văn Viên, Tổng Tham mưu truởng của QLVH đã ghi trong tập sách của Ông (trang 86-94) khá nhiều chi tiết về tình trạng khó khăn về tiếp liệu của QL VNCH:
‘Vào cuối năm 1974, tổng số nhu cầu cần được thay thế lên đến 400 triệu mỹ kim. Những quân dụng cần thiết nhất như là vũ khí và đạn thì chỉ được thay thế khoảng 70 %. Một vài chương trình thay đổi quân dụng bị đình chỉ vì thiếu ngân quỹ..’
'Chỉ có 33 % (tương đương 24 triệu mỹ kim ) tổng số quân cụ/vũ khí cần thiết được thay thế. Thiếu phụ tùng thay thế càng tạo thêm trở ngại cho vấn đề bảo trì. Nhiều quân cụ/vũ khí tại các đơn vị tác chiến phải chờ từ 30 đến 45 ngày để được thay thế, sửa chữa’
Tướng Viên đưa ra một bảng nhu cầu thay thế khá chi tiết về các chiến cụ bao gồm xe tăng, đại bác, quân xa.. Mà phần trăm cần thay thế lên đến từ 60 (cho đại bác 175) đến 95% (cho đại bác 155ly) chưa kể hơn 4000 quân xa..nằm ụ.
Quan trọng nhất là số lượng đạn tồn kho (tháng 2 năm 1975), giảm đến mức nguy hiểm: so với mức dự trữ căn bản là 60 ngày chỉ còn cung ứng được 30-40 ngày!
| Đạn | Số ngày tồn kho | |
| Đạn M-16 | 31 | |
| Phóng lựu 40 ly | 29 | |
| Súng cối 60 | 27 | |
| Súng cối 81 | 30 | |
| Đại bac 105 | 34 | |
| Đại bac 155 | 31 | |
| Lựu đạn | 25 |
‘ Với thời gian là 45 ngày từ lúc đặt hàng và chuyên chở tới VN bằng tàu, thì thờì gian..quá lâu cho trường hợp khẩn cấp.. Sau tháng 3-1975, với tất cả các đơn vị di tản từ Vùng I và II về, tình trạng đạn tồn kho trở nên tuyệt vọng. Tháng 4-1975, đạn tồn kho ở 4 kho đạn dự trữ tuột xuống chỉ còn đủ dùng trong 14 đến 20 ngày.
https://youtu.be/1zUUOEJkwz0
Khác với thời Thế Chiến Thứ Hai các nước Anh, Mỹ, Nga, Đức, Nhật … đã tự sản xuất được vũ khí để giao tranh, hai miền Nam, Bắc VN đều phụ thuộc vào viện trợ quân sự của các nước ngoài như Mỹ, Tàu, Nga Sô… bên nào bị cắt giảm viện trợ là thua ngay như VNCH năm 1975. Đối với cả hai miền Nam, Bắc, viện trợ quân sự là một vấn đề sinh tử như đồ ăn thức uống vậy. Đây chính là vấn đề mà tôi cần nhấn mạnh để các thê hệ hậu duệ phẩi nghiền ngẫm về chính lực của VN sau nầy trong tinh thần tự quyết.
Nhưng nổ lực cuối cùng của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã xãy ra ngoài dự liệu về tâm lý khi triệt thoái Cao Nguyên và vùng I chiến thuật, đã làm lòng quân tan rã. Địch quân lúc đó thừa thắng xông lên, không đánh mà thắng vì tất cã thành phố bõ ngõ. Sau nầy phe thắng cuộc gọi đó " không đánh mà chạy", thật là cay đắng cho thân phận người chiến sĩ QL.VNCH trong những ngày tháng cuối cùng của tháng tư đen. Sự triệt thoái chiến thuật là ván bài cuối cùng của vị tổng tư lệnh tối cao của QL.VNCH nhằm bảo vệ thành trì Sài Gòn và vùng IV chiến thuật.
Câu chuyện đau buồn nầy tới nay vẩy còn có lời trách móc, vẩn còn lôi ông Thiệu ra mắng nhiếc đũ điều thay vì chia sẽ nổi khó khăn của ông với số tiền quân viện 700 triệu đôla.
Tôi viết những dòng nầy không phải để bênh vực cho ông Thiệu, nhưng đó là trách nhiệm trộn lẩn danh dự của một người cựu sĩ quan và trong chừng mực tôn nghiêm nào đó của một con người chiến sĩ, khi tổng kết lại sự thất bại của QL.VNCH và đi tìm các góc khuất của cuộc chiến, đi tìm nổi oan khiên cho các chiến hữu của tôi đã nằm xuống một cách bẽ bàng trong ngày cuối của cuộc chiến. Cá nhân tôi không có lời trách móc gì đến các cấp chỉ huy của tôi. Tôi không trách ông Thiệu, ngược lại rất thông cãm với ông....tôi thấy thương cho các cấp chỉ huy của tôi trong cuộc chiến loạn vừa qua mà không có dịp để một lần được chia sẽ với các chiến hữu của tôi cho đến ngày trình diện đi cải tạo, rồi vượt biên đến quốc gia tự do..Quốc hận 30.4.195 trong tôi của riêng tôi, là cái hận của cuộc cờ đang chơi chưa hết quân, thì bị chiếu bí. Cái hận thứ hai là chưa có một lần được thắp nhang trước mộ của các chiến hữu tôi và lời an ủi đến các chiến hữu đã hy sinh một phần thân thể của mình trong cuộc chiến vừa qua, nổi đau đớn của họ theo tôi nghĩ họ vẫn còn rỉ máu, những vết thương khó lành. Vết thương của các chiến hữu tôi cũng giống như vết thương lòng của tôi chưa bao giờ lành kể từ ngày ấy đến nay.
Còn danh dự, còn tự hào, trách nhiệm
Của một người trai mang nợ kiếm cung ...
Hay đã quên rồi quê hương cộng chiếm
Và mặc muôn dân dâu biển bão bùng???
Một sự thật rất đau buồn, đó là VNCH không tự túc được ngân sách quốc phòng bằng nền kinh tế quốc dân, lại lệ thuộc hoàn toàn vào viện trợ của đồng minh Hoa Kỳ. Cuộc chiến đã kết thúc trong oan khiên, tiếng súng chấm dứt nhưng trách nhiệm của người chiến sĩ VNCH vẩn chưa bao giờ dứt, giờ đây trách nhiệm của người lính VNCH là truyền lại kinh nghiệm của họ cho thế hệ nối tiếp về lý tưởng Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm....đào tạo một hàng ngủ hậu duệ VNCH cho đất nước VN trong thời hậu cộng sản cung ứng cho mặt trận văn hoá trên Internet.... Trách nhiệm sau cùng là châm lữa cho ngọn đuốc cách mạng dân tộc dân chủ trên quê hương VN vì đó chính là ước vọng của họ.
Được cầm súng bảo vệ quê hương và đồng bào của mình chính là danh dự, là đạo đức của người trai miền nam VN trong thời loạn ly. Nhìn lại lịch sử cổ đại đến cận đại của Đông hay Tây sử. Thì sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975 của Việt Nam chứng minh được một điểm. Chưa có một quân đội của một quốc gia nào trên thế giới có số lượng tướng lãnh và binh sĩ tuẫn tiết theo lý tưởng nhiều như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Vị quốc vong thân là tầng cao nhất của TỔ QUỐC-DANH DỰ- TRÁCH NHIỆM niềm hãnh diện và vinh dự cho cuộc đời của một người cầm súng. Danh dự đó chỉ thấy được nơi QL.VNCH: các thần tướng Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Nguyễn Khoá Khoa Nam, Trần văn Hai,Phạm văn Phú, Trung Tá Nguyễn Văn Long....và vô số chiến sĩ các cấp đã tuẩn tiết bằng súng, bằng lựu đạn, bằng thuốc độc để bảo toàn khí tiết, danh dự của QL.VNCH. Tôi kính trọng họ, và tưởng nhớ đến họ, nhất là khi mùa quốc hận 30.4.lại về.....Một nén tâm nhang trong mùa tưởng niệm ngày quốc hận dành cho các chiến hữu của tôi đã nằm xuống cho miền nam Tự Do. Một nén tâm nhang khác dành cho các anh hùng tử sĩ VNCH đã hiên ngang đi vào lòng đất mẹ trong suốt cuộc chiến vừa qua, để nhân dân miền nam được hạnh phúc cho đến ngày 30.4.1975
Vị quốc vong thân là tầng cao nhất của TỔ QUỐC-DANH DỰ- TRÁCH NHIỆM niềm hãnh diện và vinh dự cho cuộc đời của một người cầm súng. Danh dự đó chỉ thấy được nơi QL.VNCH: các thần tướng Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Nguyễn Khoá Khoa Nam, Trần văn Hai,Phạm văn Phú, Trung Tá Nguyễn Văn Long....và vô số chiến sĩ các cấp đã tuẩn tiết bằng súng, bằng lựu đạn, bằng thuốc độc để bảo toàn khí tiết, danh dự của QL.VNCH. Tôi kính trọng họ, và tưởng nhớ đến họ, nhất là khi mùa quốc hận 30.4.lại về.....Một nén tâm nhang trong mùa tưởng niệm ngày quốc hận dành cho các chiến hữu của tôi đã nằm xuống cho miền nam Tự Do. Một nén tâm nhang khác dành cho các anh hùng tử sĩ VNCH đã hiên ngang đi vào lòng đất mẹ trong suốt cuộc chiến vừa qua, để nhân dân miền nam được hạnh phúc cho đến ngày 30.4.1975
Người chiến sĩ như Thiếu tá Nguỵ văn Thà, hạm trưởng HQ.10 đã từng dũng cãm viết lên hai chử danh dự cho QL.VNCH khi thân xác theo con tàu minh chỉ huy đi vào lòng đất mẹ.
Cộng quân cưỡng chiếm miền nam ngày 30.4.1975, người chiến sĩ QL.VNCH không ngừng chiến đấu tiếp tục để làm tròn trách nhiệm của minh trước tổ quốc, tuy nhiên các cố gắng đó cũng chưa đạt được kết qủa mong muốn. Họ vẩn phải kiên trì đấu tranh tiếp tục để quê hương sóm có được ngày quang phục đất nước theo tinh thần Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm. Không biết bao nhiều là chiến sĩ QL.VNCH đã từ hải ngoại trỡ về để cùng với các lực lượng người Việt tự do trong nước mưu cầu giải thể chế độ khát máu, buôn dân bán nước.
https://youtu.be/3xXtF1OgBac
Cuộc chiến đấu vẩn tiếp tục cho ngày quang phục quê hương vì họ vẫn luôn nghĩ tới những chiến hữu của họ đã VỊ QUỐC VONG THÂN, vì DANH DỰ và TRÁCH NHIỆM của một quân nhân QUÂN LỰC VNCH… Danh dự đó rất xứng đáng dành cho những quân nhân ưu tú của QUÂN LỰC VNCH.
Cuộc chiến đã đi qua từ 40 năm qua nhưng âm vang còn lưu lại trong tâm khảm người Việt tỵ nạn lưu vong với nhiều cay đắng, uất hận về thực trạng phũ phàng của biến cố, người ta tưởng như nó mới diễn ra ngày hôm quạ, quá khứ đau lòng ấy vẫn còn sống mãi trong ký ức họ, chưa bao giờ phai nhoà. Cho đến nay họ vẩn âm thầm vá lại ngọn cờ vàng để phất lên trong ngày đất nước hoàn toàn tự do và dân chủ.
Vá Cờ
*Cảm đề tác phẩm Vá Cờ của Nguyễn Ngọc Hạnh
*Cảm đề tác phẩm Vá Cờ của Nguyễn Ngọc Hạnh
Đường chỉ thẳng, một đường gươm bén
Chém ngang đời vết chém như mơ
Vá tim tan tác như cờ
Vá hồn vị quốc chưa mờ linh quang

Vá hạo khí dọc ngang trời đất
Bốn ngàn năm bất khuất kiêu hùng
Trên cờ thấy núi thấy sông
Người vì nghĩa cả đã dâng hiến đời
Nhấm dòng máu còn tươi nỗi hận
Nghiêng mái đầu súng trận còn vang
Yêu người, yêu lá cờ vàng
Lệ thầm nuốt nghẹn từng hàng mỗi đêm
Đời chinh phụ thoắt chìm trong tối
Tình yêu quê réo gọi đầy lòng
Lửa tim hận nước, thù chồng
Lửa thiêng còn cháy bập bùng ngàn thu/.
(hahuyenchi)
Chém ngang đời vết chém như mơ
Vá tim tan tác như cờ
Vá hồn vị quốc chưa mờ linh quang
Vá hạo khí dọc ngang trời đất
Bốn ngàn năm bất khuất kiêu hùng
Trên cờ thấy núi thấy sông
Người vì nghĩa cả đã dâng hiến đời
Nhấm dòng máu còn tươi nỗi hận
Nghiêng mái đầu súng trận còn vang
Yêu người, yêu lá cờ vàng
Lệ thầm nuốt nghẹn từng hàng mỗi đêm
Đời chinh phụ thoắt chìm trong tối
Tình yêu quê réo gọi đầy lòng
Lửa tim hận nước, thù chồng
Lửa thiêng còn cháy bập bùng ngàn thu/.
(hahuyenchi)
Trịnh Khánh Tuấn người lính già
trên quê hương tạm dung 3/4/2015
trên quê hương tạm dung 3/4/2015
Eingestellt von Kim Anh Le
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nguồn:http://kimanhl.blogspot.com/2015/04/to-quoc-danh-du-trach-nhiem-linh-vnch.html

Hồn Việt là Chân Thiện Mỹ. Lưu lấy Hồn Việt để còn là con dân nước Việt; để khỏi phụ công ơn dựng nước của Hùng Vương, công ơn mở mang bờ cõi của các triều Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn . . ., công ơn giữ nước của các anh hùng VNCH –sống cũng như thác- của đệ I và đệ II Cộng Hòa đã không để mất một tấc đất, tấc biển, một hòn đảo nào của tiền nhân để lại và để khỏi phụ lòng sự hy sinh của các anh hùng bảo quốc trong suốt chiều dài lịch sử




Sau gần 5 năm đàm phán với 204 lần công khai và 24 lần mật đàm giữa Mỹ và Cộng sản Bắc Việt để giải quyết cuộc chiến Việt Nam, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris ra đời gồm có chữ ký của Ngoại trưởng Hoa Kỳ William Rogers, Ngoại trưởng Cộng sản Bắc Việt Nguyễn duy Trinh, Ngoại trưởng Chính Phủ Lâm Thời Cộng hòa Miền Nam Nguyễn thị Bình tức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và Ngoại trưởng Việt Nam Cộng Hòa Trần văn Lắm.
.Lam Sơn 719 Phần 1: Việt Nam hoá chiến trah
https://youtu.be/NYpfQXBuf9A
Danh Dự VNCH Được Khôi Phục Như Thế Nào
TT TRUMP ra THÔNG CÁO công nhận CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ là cờ DÂN TỘC Việt Nam
Thủ tướng Đào Minh Quân thông báo: Thời gian đã đến để giải thể chế độ CS Việt Nam
Liên Hiệp Quốc đang soạn bản CẤM VẬN VIỆT NAM vì trục xuất hai lãnh đạo nhân quyền quốc tế? #VoteTv
CP Mỹ CHÍNH THỨC rút khỏi Nhân Quyền LHQ Việt Nam chuẩn bị nhận lệ/nh T/R/Ừ/N/G P/H/Ạ/T mới
Ông Đào Minh Quân: Khởi kiện TQ & VN, đòi bồi thường 36 ngàn tỷ đô la
Dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy Việt Nam Cộng Hòa sắp trở lại từ vĩ tuyến 17 trở vào
ĐẠN NỔ TRONG TÙ CẢI TẠO LONG KHÁNH
{RIVER BRIDGE KWAII OF SOUTH VIETNAM}
Tác giả: Huỳnh Mai St.8872. Bh: Dạ Lệ ...
http://vietnamesebooks.blogspot.com/2011/03/no-trong-tu-cai-tao-long-khanh-huynh.html

Tập hồi ký
Đạn Nổ Trong Tù Cải Tạo Long Khánh!!!
{RIVER BRIDGE KWAII OF SOUTH VIETNAM}
Tác giả: Huỳnh Mai St.8872
Bh: Dạ Lệ Huỳnh
Đã nói lên cuộc chiến đấu âm thầm, uy dũng của những người tù chính trị cộng sản Việt Nam, những cựu sĩ quan các cấp Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nơi trại tù Long Khánh. Một thời được gọi với danh xưng "cải tạo".
Cuộc chiến đấu âm thầm, uy dũng này đã làm sáng thêm trang sử vàng son cận đại của dân tộc Việt Nam.
Chúng tôi trân trọng giới thiệu đến quý độc giả trong và ngoài nước "Tập hồi ký Đạn nổ trong tù Cải tạo Long Khánh" của tác giả Dạ Lệ Huỳnh.
Dạ Lệ Huỳnh
Cựu Đại úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Đơn vị sau cùng: Bộ Tổng Tham Mưu/QL.VNCH/TCQH
2 năm rưỡi tù Cộng sản.
Ban biên tập Lịch Sử Quân Sử Việt Nam (http://quansuvn.info)
http://vietnamesebooks.blogspot.com/2011/03/no-trong-tu-cai-tao-long-khanh-huynh.html
https://youtu.be/u5Gp7taqm14

https://www.voatiengviet.com/a/chien-tranh-viet-nam-chinh-nghia-thuoc-ve-ai/4575435.htm
Chúng tôi là những chiến sĩ Miền Nam VNCH , thấy mấy ông Mỹ phản bội đồng minh VNCH, đem 2 tàu chiến ra tuần tra vòng quanh 2 đảo Subi và Vành Khăn nhân tạo của VN; không làm cho Trung cộng run sợ đâu??!. Vì công ước quốc tế về biển Đông- Unclos 1982, Tầu Công có quyền phủ quyết chiến tranh nếu xẩy ra..nếu có.tranh chấp với Mỹ.. và chỉ bắn súng nước như VNCS mà thôi;.cho đến khi làm chủ 90% biển Đông về tay Tầu công?!
Chỉ còn giải pháp " VNCH TRỞ LAI " Là lái bài lật ngửa cuối cùng cho Mỹ và LHQ giải quyết tranh chấp Hoàng Sa & Trường Sa VN, để khai thông " Quốc tế hóa hàng hải biển Đông ".cho kinh tế đối tác TPP. Bắt buộc Trung Cộng và Quân CS Bắc Việt Hà Nội phải rút quân về Vĩ tuyến 17. Và Hoàng + Trường Sa, phải trả lại cho VNCH, theo HĐ hòa bình Paris 1973 vả Genève 54, mà Trung Cộng đã bút ký, và không thể dùng quyền phủ quyết được?!. Đây là nhược điểm của Trung Cộng, mà Mỹ cần phải thi hành HĐ Parrs/73, vì đó là giải pháp toàn vẹn nhất để Mỹ phục hồi lai danh dự và uy tín với đồng minh truyền thống làm ăn, buôn bán... với Hoa Kỳ tại Châu ÁTBD, và để Mỹ còn ở lai- ' không bị Trung cộng ' hất chưng Mỹ ra khỏi khu vực Châu Á/TBD
Huỳnh Mai St.8872
THOÁT - " TRUNG...!! "
Nguồn:http://kimanhl.blogspot.com/2015/04/to-quoc-danh-du-trach-nhiem-linh-vnch.html
Hồn Việt

Hồn Việt là Chân Thiện Mỹ. Lưu lấy Hồn Việt để còn là con dân nước Việt; để khỏi phụ công ơn dựng nước của Hùng Vương, công ơn mở mang bờ cõi của các triều Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn . . ., công ơn giữ nước của các anh hùng VNCH –sống cũng như thác- của đệ I và đệ II Cộng Hòa đã không để mất một tấc đất, tấc biển, một hòn đảo nào của tiền nhân để lại và để khỏi phụ lòng sự hy sinh của các anh hùng bảo quốc trong suốt chiều dài lịch sử
NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HOÀ BỊ BỨC TỬ (Vanuxem – Dương Hiếu Nghĩa dịch)

Để kính dâng lên những vị anh hùng trẻ tuổi
người Việt Nam, người Mỹ và người Pháp,
những người đã anh dũng nằm xuống
trong một cuộc chiến cùng chung một mục đích thiêng liêng:
“TỰ DO CHO TỔ QUỐC VÀ DÂN TỘC “

người Việt Nam, người Mỹ và người Pháp,
những người đã anh dũng nằm xuống
trong một cuộc chiến cùng chung một mục đích thiêng liêng:
“TỰ DO CHO TỔ QUỐC VÀ DÂN TỘC “
Xin đốt một nén tâm hương, kính cẩn cầu nguyện cho anh linh
Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa
đã hy sinh cho Tổ Quốc và cho Chánh Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc
Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa
đã hy sinh cho Tổ Quốc và cho Chánh Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc
Xin thành tâm kính cẩn cầu nguyện cho tất cả Anh Linh
Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa
đã anh dũng tuẩn tiết hay đã thảm thương chết tức tưởi trong ngục tù cộng sản,
hoặc trên đường đi tìm tự do từ sau ngày mất nước 30 tháng 4/1975
ĐƯỢC SỚM VỀ NƠI AN NGHỈ TRÊN CÕI THIÊN ĐÀNG, CỰC LẠC.

Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa
đã anh dũng tuẩn tiết hay đã thảm thương chết tức tưởi trong ngục tù cộng sản,
hoặc trên đường đi tìm tự do từ sau ngày mất nước 30 tháng 4/1975
ĐƯỢC SỚM VỀ NƠI AN NGHỈ TRÊN CÕI THIÊN ĐÀNG, CỰC LẠC.
THAY LỜI TỰA
Ngày quốc hận 30/4/1975 đã qua đi trên 20 năm rồi.
Trong khoảng thời gian 20 năm đó đã có rất nhiều người viết hay nói về những ngày cuối cùng của tháng tư đen lịch sử nầy, và gần đây nhất chúng ta thấy có ông Mac Namara cựu bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, với quyển hồi ký “Nhìn Lại Thảm Kịch và Những Bài Học Việt Nam” (In Retrospect, The Tragedy And Lessons Of Việt Nam). Ông cho tung ra quyển nầy vào đúng lúc cộng sản Việt Nam làm lễ lớn khắp nước ăn mừng 20 năm ngày mà họ cho là “Đại Thắng Mùa Xuân”, mừng ngày chiến thắng “Mỹ-Ngụy”!
Hồi ký của ông đã để lộ hẳn cái hèn của một chánh khách Mỹ có tầm cỡ, vì ông không biết thẹn là đã có hành động phản bội với đồng minh, vừa bàn giao Việt Nam Cộng Hòa cho bọn cộng sản (nếu không muốn nói là bán đứng), vừa đổ hết trách nhiệm mất nước cho quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa.
Ông đã khóc (nước mắt cá sấu!) khi bị phỏng vấn trên đài ABC, thật tội nghiệp ! có lẽ khóc vì quá mắc cở và vì có quá nhiều mặc cảm tội lỗi trong chiến lược “phải để cho ta bị chiến bại”. Ông không hề khóc cho 58,000 quân nhân Mỹ các cấp dưới quyền ông đã phải bị hy sinh oan uổng cho cái “thuyết domino” mà đến giờ nầy ông mới cho là sai, làm tủi hổ vong linh những người đã bỏ mình cho chính nghĩa chống Cộng của Thế Giới Tự Do (trong thời kỳ còn chiến tranh lạnh) đồng thời làm nhục cả quân nhân các cấp thuộc đủ mọi quân binh chủng Hoa Kỳ đã từng tham gia anh dũng trong cuộc chiến ở Việt Nam.
Dĩ nhiên ông cũng không bao giờ nghĩ đến hay nhắc đến quân dân cán chính miền Nam Việt Nam mà hai đời Tổng Thống Hoa Kỳ vẫn gọi và xem họ là người đồng minh kiên cường trong nhiệm vụ chống Cộng, giữ vững tiền đồn chống cộng của Thế Giới Tự Do ở Đông Nam Châu Á.
Người ta còn thấy rõ cái tồi của ngài Mc Namara là ngài “phải khóc” để được Cộng Sản cấp chiếu khán cho ông qua Việt Nam vào tháng 9/95 nầy (cũng lại là quyền lợi trên hết!) chớ không phải khóc vì trách nhiệm lịch sử của một “kiến trúc sư” về chánh sách của Hoa Kỳ từ thập niên 60 để nướng sống trên 50 ngàn chiến binh Mỹ và trên 3 triệu quân dân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa.
Thật đáng tội nghiệp cho một người khoác áo chánh khách Mỹ có tên tuổi như ông mà cho đến 20 năm sau cuộc chiến ông vẫn còn chưa hiểu tý gì về con người Cộng Sản, mãi đến 20 năm sau mới vừa “biết được ta mà chưa biết được người” nên thua nhục là quá đúng!!!
Bây giờ chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với anh chị em trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản của chúng ta một quyển sách nhỏ có tựa đề là “LA MORT DU VIệT NAM” . Lẽ ra chúng tôi phải dịch là “SỰ SỤP ĐỔ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA”. (Hai chữ “Việt Nam” mà người Pháp thường dùng là để chỉ cho quốc gia VNCH, và “Bắc Việt” là danh từ họ thường gọi để chỉ cho VNDCCH), hoặc để tỏ lòng kính trọng tác giả chúng tôi phải dịch sát nghĩa là: “Cái chết của nước Việt Nam “, nhưng chúng tôi xin dịch là “Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử” để cho thêm rõ nghĩa sự kiện lịch sử ngày 30/4/1975.
Tác giả quyển sách bé nhỏ nầy là Đại Tướng Vanuxem, từng là sĩ quan cao cấp của quân đội Pháp tại chiến trường Bắc Việt cho đến 1954, sau đó thỉnh thoảng vẫn có sang thăm Việt Nam với tư cách một tướng Pháp, thượng khách của Việt Nam Cộng Hòa.
Ông là sĩ quan trừ bị trong quân đội Pháp. Lúc bị động viên ông là giáo sư, đã có bằng tiến sĩ Văn Chương (Docteur ès Lettres), bằng tiến sĩ Toán (Agrégé ès Math.) và bằng tiến sĩ Khoa Học (Agrégé ès Sciences). Ông được Tướng De Lattre de Tassigny gọi sang Việt Nam như một sĩ quan tùy viên với cấp bậc trung úy. Nhưng khi sang đến Việt Nam ông lại xin tình nguyện ra chỉ huy một đơn vị tác chiến để được ra mặt trận, và xin được phục vụ ở chiến trường Bắc Việt, lúc đó đang thật sôi động. Trong hai năm liền ông được thăng cấp 3 lần, toàn là tại mặt trận. Sau đó ông được gọi về chỉ huy Trường “đào tạo chỉ huy trưởng binh đoàn”, với cấp bậc trung tá, rồi đại tá (lúc bấy giờ được gọi nôm na là “cours tactiques”, tiền thân của trường Chỉ Huy và Tham Mưu của QLVNCH sau nầy). Hầu hết các tướng lãnh của VNCH chúng ta đều xuất thân từ trường nầy.
Ông là một sĩ quan rất bình dân, ăn mặc rất xuề xòa không giống như các sĩ quan Pháp khác, nhưng tất cả các sĩ quan khóa sinh đều rất mến phục ông sau vài ngày nhập trường vì tài giảng dạy của ông cũng như về đức tính của ông.
Sau đó Ông ra coi binh đoàn chiến thuật số 3, hoạt động ở Khu Nam, thuộc lực lượng bộ binh Bắc Việt (Groupement Tactique No 3/ Zone Sud/FTNV). Ông về nước năm 1954 với cấp bậc đại tá và thỉnh thoãng ông vẫn sang VN. Đầu năm 1975 ông có mặt thường trực tại VN và bị cộng sản trục xuất về Pháp khoản tháng 5/75.
Ông qua đời năm 1982, nhưng trước khi nhắm mắt ông vẫn còn nhớ đến VN, nên đã có trao lại cho trung tướng Trần văn Trung Chủ Tịch hội Cựu Chiến Sỉ tại Pháp, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa, một kỹ vật rất quý mà ông đã được Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long trao tặng lúc Ông tháp tùng Tổng Thống Thiệu đáp trực thăng xuống An Lộc trong mùa hè đỏ lửa 1972.
Đặc biệt từ đầu năm l975 Ông Vanuxem đã thường xuyên có mặt tại Sài Gòn, nên ông đã phân tách rất chính xác về những sự kiện, những nguyên nhân và những hậu quả của sự việc “Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử”, chẳng những đối với quốc gia Việt Nam mà còn đối với nước Pháp và cả Thế Giới nữa.
Những nhận xét rất tỷ mỉ và tế nhị, có lúc hơi tếu và lộ vẻ biếm nhẻ, của từng sự việc một mà ông đã đích thân mắt thấy tai nghe tại chỗ trong những ngày lịch sử nầy, khác hẳn những tiếng “khóc dở hơi” của “ngài” Mc Namara.
Văn ông chan chứa tình cảm rạt rào, khóc cho người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa và xót thương cho số phận đau thương của người dân Miền Nam Việt Nam dưới ách thống trị và gông cùm của người Cộng Sản.
Chúng tôi cố gắng dịch sao cho được sát ý sát nghĩa chừng nào hay chừng nấy, miễn là không “phản ý hay phản nghĩa”, vì tiếng Pháp là tiếng ngoại quốc mà trình độ học vấn của tác giả cao hơn bậc thầy của chúng tôi, trong lúc chúng tôi thì ngoại ngữ còn quá thấp, văn thì luộm thuộm, chỉ mong sao lột được hết những lời hay ý đẹp của tác giả, những lời tâm tình của một người không phải chiến hữu mà như một chiến hữu thân thương, một người không hẳn là một đồng minh mà như một đồng minh trung tín… Hơn thế nữa, về mặt chánh trị và quân sự, đại tướng là một nhân vật thuộc đẳng cấp quốc tế, những nhận xét của ông rất chính xác, có tầm mức chiến lược, đôi lúc ngoài tầm hiểu biết nông cạn của chúng tôi.
Do vậy, xin quý anh chị em độc giả niệm tình thông cảm cho những sơ sót của chúng tôi. Chúng tôi sẵn sàng xin được đón nhận những sự góp ý, chỉ bảo và sửa chửa nếu có, để bản dịch được thêm phần đúng đắn và phong phú thêm.
Kính,


Kính Tặng Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn
Người đã sưu tầm được quyển sách có giá trị lịch sử nầy và đã khuyến khích chúng tôi dịch ra trong mục đích vinh danh tinh thần và ý chí bất khuất của quân nhân các cấp trong QLVNCH trong nhiệm vụ chống cộng bảo vệ quê hương, bảo vệ chánh nghĩa quốc gia dân tộc……đồng thời cho người dân Việt Nam trong nước cũng như ở hải ngoại nầy, thuộc thế hệ hiện tại hay thế hệ trẻ mai sau thấy được bộ mặt thật của người cộng sản Việt Nam, thấy rõ bản chất tàn ác vô nhân đạo của họ khi họ xé bỏ hiệp định Paris 1973 ngang nhiên xua quân vào cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam năm 1975.
VIỆT NAM CỘNG HOÀ BỊ BỨC TỬ
(LA MORT DU VIETNAM)
Tác giả: Đại Tướng Vanuxem
Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa
(LA MORT DU VIETNAM)
Tác giả: Đại Tướng Vanuxem
Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa
CHƯƠNG 1
SỰ THẬT ĐÓ ĐÂY
Ở xa lắm, xa thật xa phía bên kia trái đất, cách Paris của chúng ta khoảng 12.000 cây số, dọc theo bờ biển Đông, có những quốc gia giống như trong truyền thuyết hơn là trong thực tế, nơi đó có những câu chuyện gần như hoang đường rất hấp dẫn, coi như trong tưởng tượng mà là có thật.
Như những biến cố tại nước Việt Nam, có gì đâu mà những người dân của Thế Giới Tự Do phải quan tâm đến? Vì lúc nào họ cũng đang bù đầu đối phó với những khó khăn triền miên về kinh tế… và ngay như những người Mỹ cũng vậy, mặc dầu họ vừa mới khéo léo rút chân ra được khỏi một cuộc chiến mà họ từng theo đuổi, họ cũng không muốn nghe đến những biến cố đó… Nhất là người Pháp chúng ta, khi nói đến Việt Nam thì ai cũng chỉ nghĩ đến các món ăn Việt Nam rất ngon miệng của các tiệm ăn người Việt ở Paris mà họ cứ gọi là “món ăn Tàu”. Họ không còn muốn nghĩ gì cả ngoài những kỹ niệm không mấy vui của một cuộc chiến đau thương mà người ta thường đề cao là “cuộc chiến đòi độc lập của các quốc gia thuộc địa”, mà nếu là một cuộc chiến đúng theo trào lưu của lịch sử như người ta nói thì cũng không một ai muốn tìm hiểu xem vì lý do gì nước Pháp chúng ta đã phải đổ vào đó quá nhiều công sức, tiền của, và sinh mạng.
Để làm gì ? khi người ta đưa những người lính Pháp vượt trùng dương…trên những con tàu mà những thú vui đường dài chỉ có một tác dụng nhất thời làm cho họ quên đi nỗi buồn xa nhà, nhớ quê hương mà thôi, chớ không thể nào làm cho họ quên được những người chiến hữu thân thương đã được những con tàu nầy đưa đi luôn, đi mãi mãi không bao giờ trở về lại cố quốc …
Và như thế thì có ai tin được là người Pháp chúng ta vẫn còn bị xúc động trước những biến cố mới đây của Việt Nam? Dù sao thì cũng chỉ là một việc nội bộ giữa người Việt và người Việt với nhau mà thôi phải không? Một cuộc nội chiến đẫm máu, tàn khốc… kéo dài trên 30 năm mà chỉ đưa đến một nền hòa bình không một ai mong đợi…
Có ai tin được là nền hòa bình nầy đây, dù có đạt được với bất cứ giá nào, thì đó cũng chỉ là một sự thất bại của Thế Giới Tự Do, đặc biệt là của Hoa Kỳ, kéo theo những nguy cơ mới cho nền an ninh của nước Pháp chúng ta?
Tất cả giới chánh trị người Pháp chúng ta đều không đồng ý một nền hòa bình như vậy, nhưng giới lãnh đạo của cái gọi là “thượng từng luân lý đạo đức” của thế giới lại tỏ vẻ thích thú! Thực tế hơn bao giờ hết, người dân Pháp chúng ta chỉ có hai chuyện phải bận tâm, đó là vấn đề kinh tế ở địa phương, và nhất thời vui hưởng hạnh phúc của chúng ta. Có cái gì quấy rầy chúng ta được nữa đâu? Người ta muốn đưa ra những chuyện vớ vẫn để khuấy động sự yên tĩnh của người Pháp chúng ta được sao? Vì làm sao tin được rằng cái hoa hòa bình vừa mới nở kia lại là một hột giống chiến tranh sắp nẩy mầm?
Dù sao thì Tổng Thống Pháp cũng đã đoan chắc là người Pháp chúng ta vẫn có thể đi nghỉ hè một cách yên lành rồi!
NƯỚC VIỆT NAM XA XÔI QUÁ !
Viện thăm dò dư luận Sofres vừa đưa ra câu hỏi:“Cuộc chiến ở Việt Nam vừa được kết thúc bằng một sự thắng trận của phe cách mạng và sự ra đi của người Mỹ, một sự kết thúc như thế, anh có bằng lòng hay không bằng lòng?”
– Có 57% những người được hỏi trả lời là bằng lòng.
– Có 15% những người được hỏi trả lời là không bằng lòng
– Có 28% trả lời không có ý kiến, tức là dững dưng.
Nhìn từ xa xa, thì người ta có thể tưởng là chiến thắng của phe cách mạng là một cuộc giải phóng mà toàn dân hô hào đòi hỏi (có vài nhà báo đã có nhận định thiển cận như thế), và dân chúng đã tỏ vẻ vui mừng không tả được, giống như niềm vui của người Pháp chúng ta về ngày đình chiến 11/11/1918 hay niềm vui của người dân Paris khi Sư Đoàn 2 Thiết Giáp Pháp tiến vào giải phóng thủ đô nước Pháp hồi thế chiến 2 vậy.
Có vài người trong số không ít phóng viên nói trên đã có mặt tại Sài Gòn hy vọng nắm bắt được biến cố lịch sử nầy, họ có vẻ bực mình vì không thấy có biển máu như họ đã mong đợi để cho họ có được những tấm ảnh đẹp và đắt giá… Như thế là họ chưa biết gì về những người Cộng Sản, thật tội nghiệp !
Sài Gòn năm 1975 cũng giống như Hà Nội năm 1954 vậy mà thôi!
– “Bộ-đội họ cũng đứng đắn quá chứ nhỉ?”
Các phóng viên nầy nói như thế vì họ không biết chờ đợi để mà xem! Họ không còn nhớ là hồi năm 1940 ngay tại nước Pháp cũng có nhiều người đã từng nói:
– ’Người lính Đức cũng đàng hoàng quá chứ nhỉ?”
Họ cũng ghi lại được một vài mẩu chuyện nho nhỏ, cũng thu được một vài hình ảnh mà họ luýnh quýnh lượm lặt được một cách vô bổ, có khi không còn có một giá trị gì nữa cả, trong một thời gian dài họ bị giữ lại tại Sài Gòn; trong khi đó thì người Nga họ bay ngay về Moscou để bán ngay những hình ảnh, tài liệu và tin tức sốt dẻo với một giá đắt hơn vàng, cho người Mỹ lúc đó đang đói tin.
Hầu hết các nhà báo người Pháp chúng ta quá thật thà, tuy tin tức có trung thực nhưng cũng quá chậm so với tin tức mà cơ quan tuyên truyền của Cộng Sản đã “xào nấu sẵn” và “tung ra từ trước rồi”, nên ít được ai tin nghe.
Vài tuần lễ sau khi Sài Gòn bị thất thủ, người Pháp chúng ta không một ai còn muốn nghĩ gì nữa cả, ngoài sự nhộn nhịp trên khắp các xa lộ đầy ấp các đoàn xe đi nghỉ hè.
Thời sự có nóng bỏng thật, hấp dẫn thật, giật gân và có gây xúc động thật, nhưng rồi cũng theo thời gian mà trôi qua đi trong quên lảng, chỉ có ghi lại được một sự kiện lịch sử quá bi thảm:
“Một quốc gia bị bức tử; Một dân tộc bị mất tự do và sẽ “bị sống” trong gọng kềm nô lệ: nước Việt Nam Cộng Hòa bị xóa tên trên bản đồ của thế giới.”
Có một cái gì đó, giữa người Pháp chúng ta và cái miền Viễn Đông xa xôi kia, như một mối tình thắm thiết mà nước Pháp như một kẻ thất tình muốn cố quên đi… nhưng làm sao có thể làm ngơ cho được khi mà giữa đôi bên vẫn còn có một vài kỷ niệm tình cảm quá nồng thắm, và vẫn còn một vài việc chưa giải quyết xong?
Hai chục năm về trước (1954), lúc đó vì quyền lợi nhất thời, người ta đã thỏa thuận chia cắt nước Việt Nam ra làm đôi thành hai miền Nam Bắc, tạm thời chỉ trong vòng hai năm thôi. Giải pháp nầy không tốt hơn biện pháp cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam bằng võ lực để tái thống nhất đất nước hay sao? Nếu cho biện pháp nầy là một điều hợp lý thì tại sao người Pháp chúng ta lại không bằng lòng? Hơn thế nữa các chánh phủ Pháp kế tiếp sau đó chỉ nhìn sự việc trên khía cạnh chánh trị mà không đánh giá được lòng thành thật của con người nên vô tình có những hoạt động theo chiều hướng thuận lợi cho một biện pháp như vậy, như bài “diễn văn PnomPenh” của tướng De Gaulle chẳng hạn (quá thiên cộng), do đó đã dẫn đến một sự kết thúc bi thảm như vừa rồi, âu cũng là một điều hợp lý mà thôi!
Dù sao thì cũng là một việc đã rồi! Người ta đã xé nát những Hiệp Ước Genève và Hiệp Định Paris quá đắc tiền, quá vô ích và quá lỗi thời, theo đó những quốc gia có trách nhiệm bảo đãm cho sự thi hành đã không hề “nhúc nhích” theo đúng bổn phận của họ. Thế đấy, vũ khí và võ lực đã giải quyết thay cho những nhà ngoại giao tất cả những gì mà họ không thể giải quyết được. Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa đã mất, một chánh phủ cách mạng lên nắm quyền, gọi là để mang lại trật tự và phồn thịnh cho Miền Nam Việt Nam mà họ cho là ở đó chỉ có hỗn loạn và tham nhũng!
Người Pháp chúng ta cũng chẳng biết phải làm gì hơn, vì dù sao cũng là chuyện nội bộ của một quốc gia xa lạ, chúng ta lấy quyền gì để “xía vào” để rồi phải gánh lấy tội vạ lây?
Mặc kệ! Chế độ nào cũng vậy thôi! Chỉ có những sự thật là đáng kể, nếu xét trên khía cạnh chánh trị. Chúng ta chẳng có gì cần phải thắc mắc để tự đặt ra cho mình những câu hỏi về một sự việc mà nó chỉ có đem lại phiền não cho lương tâm của chúng ta mà thôi.
Dù sao thì người ta cũng cho đó là một nền hòa bình, một nền hòa bình mà Đức Thánh Cha cũng đã khen ngợi… nhưng có một điều mà ai cũng tò mò muốn biết, đó là sau Lê Đức Thọ và Kissenger (giải Nobel về Hòa Bình năm 1954), ai là người sẽ được giải thưởng Nobel về hòa bình (1975) đây ???
Tuy nhiên xuyên qua cái tang mà chúng ta phải chịu về cái chết của một quốc gia bạn, một quốc gia coi như có họ hàng gần với nước Pháp, một quốc gia mà người dân chỉ mong cầu có được sự tự do mà thôi, vẫn còn một vài điều mà vì quyền lợi của người Pháp, chúng ta cần phải rút ra những bài học từ biến cố bi thảm nầy, vì có rất nhiều nguyên nhân đủ loại đã đưa một dân tộc đến chỗ tuyệt vọng để từ đó phải tự hủy mình sau một cơn hấp hối thật ngắn, nhưng thật kinh khủng. Vì, nếu hằng ngày vẫn có từ 15 đến 20 vụ tự tử, cá nhơn có tập thể có, chỉ nội trong một thành phố lớn và đẹp như Sài Gòn mà người ta gọi là “đã được giải phóng”, thì phải chăng đây là cả một quốc gia, cả một dân tộc đang thật sự lao mình vào cái chết…
LÁO! ÔNG LÀ MỘ̣T NGƯỜ̀I NÓI LÁO !
Người Pháp chúng ta đã bước qua thử thách rồi, nước Pháp chúng ta đã từng chịu nhiều cay đắng dưới thời chiếm đóng của người Đức rồi! Những mối hiểm nguy mà nước Pháp chúng ta đang còn gặp phải trong cái thế giới đầy đe dọa triền miên nầy và những ảo ảnh không mấy sáng sủa của tương lai, bắt buộc chúng ta phải sẵn sàng đón lấy và phải biết dùng những bài học mà biến cố lịch sử nầy đã mang đến cho chúng ta. Hơn thế nữa, nhìn những điểm yếu và những sai sót, yếu kém ghi nhận được trong công cuộc phòng vệ của nước Việt Nam khiến cho quốc gia nầy phải đi đến cái chết đau thương, bắt buộc người Pháp chúng ta phải lưu tâm đề phòng cho chính mình…
Đó là những bài học từ những biến cố của các quốc gia Việt Nam, Lào và Cam Bốt. Có thể chúng ta không muốn ghi nhận, vì con người khi đã có được sự tự do và sung sướng rồi thì đâu có thể thấy được đó là hạnh phúc của mình, và thường nhắm mắt trước những cảnh đau lòng của người khác, có khi còn nhún vai không muốn tin nghe những sự việc như thế nữa.
Một vị linh mục thuộc giòng “Truyền Giáo Hải Ngoại” (Mission Étrangère) đã thuật lại là ông đã nói chuyện trước một cử tọa Thiên Chúa Giáo hạt Lyon rằng: “Đây là những gì đã xảy ra cho tôi, đây là những gì chính mắt tôi đã thấy, chính tai tôi đã nghe được”, tức thì có một vị linh mục trong phòng đứng dậy và nói thẳng với ông rằng: “Láo! Ông là một người nói láo!”. Phải chăng người ta sợ không muốn nhận chân một sự thật vì nó có thể chạm đến sự yên tĩnh trong con người chúng ta và có thể khuấy động lương tri mà chúng ta tưởng là đã được bằng an rồi!
Người Pháp chúng ta không có tin tức đầy đủ, lại không chịu tò mò tìm hiểu thêm và với một cố tật là không chuẩn bị trước hay chỉ có ý kiến giới hạn trong chừng mực nào đó thôi về mọi diễn biến chánh trị, vì thế có lẽ người ta muốn tránh cho chúng ta những phản ứng bảo thủ trước một sự kết thúc được cố ý giữ “mật” nhưng rất đáng được lo ngại. Hơn nữa có ai muốn làm rộn người dân Pháp chúng ta làm gì khi họ đang yên ổn trên con đường đi nghỉ hè?
Thật vậy, người ta chỉ cần đọc tờ “Le Courrier Du Viêt Nam”, (tờ báo Cộng Sản in thì in tại Hà Nội, nhưng phát hành thì nói là in tại Paris, phát ra rất nhiều và cùng khắp nước Pháp), người ta sẽ biết diễn tiến của cái mà người ta gọi là “giải phóng Sài Gòn” như sau :
“Giải-phóng-quân chúng tôi tiến vào trung tâm thành phố Sài Gòn giữa những rừng “cờ và tiếng hoan hô vang dậy của hằng trăm hằng trăm ngàn đồng bào (..?..). Từ “hai bên đường, từ những đại lộ, trên nhiều, nhiều cây số, đồng bào tràn ra hoan hô “chào đón đoàn quân giải phóng chúng tôi (.?..). Phối hợp hành động với lực lượng “của giải-phóng-quân, dân chúng Sài Gòn đã nổi dậy (..?..) trong tất cả các khu “phố, tiếp tục truyền thống đấu tranh lâu đời xứng đáng được mang tên “Hồ chí Minh”. Sài Gòn đã được giải phóng. Đó là một món quà rất đẹp được kính dâng lên “cho vị lãnh tụ kính mến vào đúng ngày sinh thứ 85 của Người. Cuộc xâm lăng của “đế quốc Mỹ đã bắt đầu từ thành phố Sài Gòn, Sài Gòn đã đi đầu trong cuộc chiến, “và Sài Gòn là nơi đã diễn ra trận đánh vinh quang cuối cùng của cuộc chiến, một “trận chiến thắng cuối cùng…”
Và đó là sự thật của lịch sử được họ chánh thức đưa ra. Nhưng chỉ là một “sự thật hoang tưởng” mà Bắc Việt và Việt Cộng dựng lên để dựa theo đó để còn “cai trị” dân chúng sau khi chiếm được Miền Nam.
MỘT CHIẾN BẠI CỦA CẢ HAI NƯỚC PHÁP VÀ HOA KỲ
Thực tình mà nói thì sự thật lại không đúng như vậy!
Những hậu quả sau đó ngay tại Việt Nam không giống như những hậu quả của một chiến thắng mà những người mang danh là giải phóng trong một cuộc chiến tranh cách mạng chỉ nhằm vào một mục đích cuối cùng là “giải phóng” thật sự cho đất nước và dân tộc Việt Nam.
Biến cố nầy có hậu quả là gây được tiếng vang quốc tế, và có một tầm quan trọng đặc biệt đến cả tình hình chiến lược toàn cầu.
Thật vậy, không những nước Pháp phải quan tâm vì những thiệt hại trực tiếp mà quốc gia nầy phải gánh chịu, mà cả Thế Giới Tự Do cũng phải duyệt lại sách lược phòng thủ, và an ninh và cho sự tự do của mình. Nếu cần có một sự bảo đãm nào đó thì không gì hơn là hãy nghe chính miệng ông Phạm văn Đồng, Thủ Tướng của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã tuyên bố tại Hà Nội về “ba chiến thắng đã đạt được” như sau:
– “Quốc gia chúng ta được mang một dấu ấn danh dự, hãnh diện là một nước đã oanh liệt đánh bại hai đế quốc lớn, đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, đồng thời bằng hai chiến thắng nầy đã đóng góp rất thích đáng vào phong trào giải phóng các dân tộc trên thế giới”
Như vậy là chiến dịch Hồ chí Minh xua quân đội Miền Bắc tiến chiếm Sài Gòn, chấm dứt cuộc chiến vào năm 1975 thật ra là một sự chiến bại của cả hai nước Pháp và Hoa Kỳ, đồng thời Cộng Sản đã đạt được một trong những mục tiêu quan trọng trên con đường chiến lược toàn cầu của họ.
Thế nhưng, người ta phải hiểu rằng tất cả những người dân tự do đều rất quan tâm đến những gì đang xảy ra tại Miền Nam Việt Nam, vì chúng ta ai cũng dư biết rằng một chánh thể độc tài Cộng Sản khi đã chiếm được chính quyền rồi thì không bao giờ biết đến hai chữ “nhân đạo” như họ thường rêu rao, và đối với người Pháp chúng ta hai chữ “tự-do” lúc nào cũng vẫn là một tài sản quý báu hàng đầu, không ai chạm đến được!
One Response to NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HOÀ BỊ BỨC TỬ (Vanuxem – Dương Hiếu Nghĩa dịch)
Từ Hiệp định Paris 01/1973 đến sự bức tử Việt Nam Cộng Hòa 04/1975

Sau gần 5 năm đàm phán với 204 lần công khai và 24 lần mật đàm giữa Mỹ và Cộng sản Bắc Việt để giải quyết cuộc chiến Việt Nam, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris ra đời gồm có chữ ký của Ngoại trưởng Hoa Kỳ William Rogers, Ngoại trưởng Cộng sản Bắc Việt Nguyễn duy Trinh, Ngoại trưởng Chính Phủ Lâm Thời Cộng hòa Miền Nam Nguyễn thị Bình tức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và Ngoại trưởng Việt Nam Cộng Hòa Trần văn Lắm.

Hòa đàm 4 bên
Sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, ngày 29/3/73, tại Bộ Tư Lệnh MAC-V trong phi trường Tân Sơn Nhứt, 42 quân nhân Mỹ đại diện cho các quân binh chủng từng tham chiến tại VN làm lễ cuốn cờ dưới sự có mặt của Đại sứ Bunker và tướng Weyand, Tự Lệnh Quân Lực Mỹ tại VN. Và trong buổi chiều cùng ngày người quân nhân cuối cùng của quân đội Mỹ đã rời Việt Nam dưới sự chứng kiến của Ủy Hội Quốc Tế kiểm soát đình chiến. Thế là vài trò quân sự của Mỹ tại VN đã chấm dứt.

Đi đêm Kiss & Thọ
Trong bản Hiệp Định Paris ký ngày 27/1/73, có ghi rõ: “Nhằm mục đích tái lập hòa bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam góp phần củng cố hòa bình ở Châu Á và thế giới “.

KýKết ?
Trong chương 4 điều 10 bản Hiệp Định viết: “Hai bên Miền Nam cam kết tôn trọng ngưng bắn và giữ hòa bình ở Miền Nam Việt Nam, giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực”. Ấy vậy! Mà chỉ vài ngày sau khi ký kết cộng quân đã mở những cuộc tấn công nhắm vào các đơn vị QLVNCH và chiếm nhiều khu vực để lấn quyền kiểm soát buộc lòng QLVNCH phải đánh trả, đã tạo nên tình trạng phi hòa – phi chiến. Chính phủ của TT. Nguyễn văn Thiệu đòi CSBV phải rút quân về Bắc – không Liên Hiệp với Chính Phủ Lâm Thời VC – không hợp tác với hành phần thứ ba. Cộng sản Bắc Việt chẳng những không rút quân mà còn gởi thêm vũ khí và chiến cụ tối tân vào Nam bằng đường mòn Hồ chí Minh một cách trắng trợn vì không còn sợ bị phi cơ Mỹ oanh kích.
Việc hòa hợp, hòa giải giữa Việt Nam Cộng Hòa và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam không thành. Chiến tranh lại tiếp diễn. Nguyên do, một phần do thái độ cứng rắn của ông Thiệu, nhưng phần lớn là do quyết tâm phải nuốt trọn miền Nam của CSBV theo lệnh của quan thầy Nga -Tàu.
Trước tình trạng Hiệp Định Ba Lê bị vi phạm nghiêm trọng, tháng 6/1973, Kissingers và Lê đức Thọ lại gặp nhau tại Paris tìm biện pháp cải thiện việc thi hành. Nhưng từ đó trở về sau thì việc thi hành Hiệp Định Paris không còn được CSBV quan tâm đến khi biết chắc chắn Hoa Kỳ đã phủi tay.
Đến cuối năm 73, áp lực quân sự của cộng quân mỗi ngày mỗi đè nặng lên VNCH, viện trợ quân sự Hoa Kỳ dành cho VNCH từ 1,126 triệu đô la giảm xuống còn 900 triệu. Tính đến tháng 4/74 thì số đạn đại bác – vũ khí nồng cốt của QLVNCH tồn kho chỉ còn đủ dùng không đầy 60 ngày với điều kiện cuộc chiến không gia tăng cường độ. Trong khi ấy chiến cụ của QLVNCH có khoảng 35% quân xa, 50% thiết giáp và phi cơ bất khiển dụng vì thiếu phụ tùng thay thế. Trong khi VNCH gặp khó khăn, thì CSBV lại được Nga -Tàu viện trợ tối đa. Cán cân lực lượng quân sự giữa hai bên đã nghiêng phần bất lợi cho VNCH một cách rõ rệt.
Vào năm 1974, thì chiến cụ và tiếp liệu của QLVNCH đã bắt đầu thiếu thốn. Lợi dụng tình trạng đó cộng quân gia tăng các hoạt cộng tấn công, phá hoại, khiến nhiều khu vực VNCH lâm vào tình trạng mất an ninh.
Về mặt chính trị thì các phong trào trong nước rần rộ nổi lên tố cáo TT. Thiệu bè phái và tham nhũng. Nhiều đoàn thể, đảng phái, tôn giáo trước đó ủng hộ ông Thiệu cũng lên tiếng phản đối, đồng thời họ kêu gọi hai bên Quốc gia cũng như Cộng sản hãy ngưng chiến và thi hành Hiệp Định Ba Lê một cách đứng đắn.
Lợi dụng tình hình chính trị rối loạn tại Sài Gòn, cộng quân đã mở trận đánh thăm dò trên quốc lộ 14, cắt đứt con đường nối liền tỉnh Phước Long với Bộ Tư Lệnh SĐ 5 BB đóng tại Lai Khê. Sau đó đến ngày 6/1/75, cộng quân huy động 2 sư đoàn cùng với chiếc xa, pháo binh, súng phòng không đánh chiếm tỉnh Phước Long. Đó là lần đầu tiên cộng sản Bắc Việt chiếm trọn một tỉnh của VNCH kể từ khi phát động chiến tranh xâm lược.
Ngày 8/1/75, trong diễn văn đọc bế mạc đại hội tại Hà Nội, Lê Duẫn công khai tuyên bố thời cơ chiếm miền Nam đã đến vì: “quân Mỹ đã rút ra rồi, quân đội ta có sẵn trong Nam và cuộc chiến đấu ở miền Nam được thực lực mạnh ở miền Bắc dấy lên thành sức mạnh cả nước”. (Văn tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, NXB/QĐND, Hà nội,1976, tr.39).
Trước việc cộng quân chiếm tỉnh Phước Long, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Ba Lê, chính phủ VNCH đã lên tiếng phản đối, nhưng Ủy Hội Quốc tế và Hoa Kỳ vẫn im hơi lặng tiếng. Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford, người thay thế TT. Nixon sau vụ Watergate vẫn không có phản ứng gì, trái với lời hứa lúc nhậm chức là không bỏ rơi Việt Nam. Lúc ấy, ông Ford chỉ yêu cầu quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn gấp để viện trợ cho VNCH 300 triệu.
Vào lúc 2 giờ sáng ngày 10/3/1975, cộng quân tấn công Ba Mê Thuộc. Cộng sản Bắc Việt đã dùng 3 sư đoàn chính quy tấn công Bộ Tư Lênh sư đoàn 23 BB và Bộ chỉ huy Tiểu khu Darlac mở màn cho chiến dịch Tây Nguyên.
Để tìm biện pháp ngăn chận cuộc tiến quân của cộng sản Bắc Việt. Ngày 14/3/75, TT. Nguyễn văn Thiệu ra Cam Ranh họp với 4 tướng Tư lệnh 4 Vùng chiến thuật với sự có mặt của 3 cố vấn cật ruột là các tướng Trần thiện Khiêm, Cao văn Viên và Đặng văn Quang. Buổi họp đã đi đến quyết định bỏ ngỏ cao nguyên vì TT. Thiệu cho rằng, trong tình trạng thiếu quân viện QLVNCH không đủ khả năng bảo vệ toàn bộ lãnh thổ nên phải bỏ bớt những vùng kém trù phú, gom lực lượng về bảo vệ vùng duyên hải và đồng bằng. Sau buổi họp, tướng Phạm văn Phú Tư Lệnh Quân Đoàn II nhận chỉ thị lo việc di tản quân dân VNCH khỏi vùng cao nguyên, tướng Phú ủy thác nhiệm vụ lại cho Đại tá Tất vừa được vinh thăng chuẩn tướng. Cuộc di tản do thiếu tổ chức, không có kế hoạch chu đáo đã diễn ra một cách hỗn loạn trên đường bộ. Đoàn người di tản kẹt cứng tại bến phà sông Ba làm mồi cho những trận mưa pháo của quân thù. Rốt cuộc chỉ có 1/6 trong số 260 ngàn dân và 3 tiểu đoàn trong số 8 tiểu đoàn chạy thoát được về vùng duyên hải.
Thừa thắng, cộng quân xua quân chiếm Quảng Trị ngày 19/3/75, dân chúng cố đô Huế hốt hoảng ùn ùn chạy về Đà Nẳng. TT. Thiệu cho rút toàn bộ Sư Đoàn Dù và Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến về bảo vệ thủ đô vì sợ bị đảo chính. Không đủ lực lượng phòng thủ, tướng Ngô quang Trưởng Tư Lệnh Vùng I Chiến thuật phải lui binh về cố thủ Đà Nẵng. Cuộc thoái quân cũng không kém phần hỗn loạn. Chừng khi tướng Trưởng được lệnh phải trở lại cố thủ Huế thì đã muộn, không dễ dàng, vì gặp khó khăn bởi làn sóng người di tản ào ào như nước chảy đang đổ về phương Nam.
Ngày 30/3/75, thành phố Đà Nẵng hoàn toàn lọt vào quyền kiểm soát của cộng quân. Việt Nam Cộng Hòa đang trên đà sụp đổ. Năm sư đoàn bộ binh và các lực lương Không quân, Hải quân, Địa phương quân, Nghĩa quân và nhiều lực lượng Tổng Trừ Bị, tổng cộng gần 300 ngàn quân đã tan rã. Một tỷ đô la vũ khí đạn dược, 16 tỉnh, 5 thành phố lớn của VNCH chỉ trong vòng 15 ngày 1/3 lãnh thổ đã lọt vào tay kẻ thù vì cuộc triệt thoát quân vô tổ chức, thiếu kế hoạch của ông Thiệu và tập đoàn tham mưu bất tài. Với chiến thắng bất ngờ không đổ nhiều xương máu, không tốn nhiều gian khổ, cộng sản Bắc Việt quyết định mở chiến dịch Hồ chí Minh tiến đánh Sài Gòn sớm hơn kế hoạch chúng dự trù là đến năm 1976.
Tính đến trung tuần tháng 4/75 thì Vùng I và Vùng II chiến thuật, các vùng duyên hải trung phần đã hoàn toàn lọt vào tay cộng quân. Từ cao nguyên Trung phần cộng quân tiến về Sài Gòn. Khi đến phòng tuyến Xuân Lộc quân CSBV phải khựng lại vì chạm phải sức kháng cự mãnh liệt, anh dũng của các chiến sĩ QLVNCH. Phòng tuyến Xuân Lộc đã đứng vững vàng trong suốt một tuần lễ từ 9-15/4/75. Chính tướng Homer Smith, Tùy viên Quân sự sứ quán Hoa Kỳ đã gởi thơ cho tướng George S. Brown Chủ tịch Hội Đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ ca ngợi lòng dũng cảm và ý chí chiến đấu của các quân nhân QLVNCH trong tình thế vô cùng bất lợi về hỏa lực cũng như quân số. (Nguyễn tiến Hưng, Hồ sơ mật Dinh Độc Lập, C&K Promotion, Los Angeles, 1987, tr. 568).
Ngày 21/4/75, TT. Nguyễn văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho Phó TT. Trần văn Hương theo quy định của hiến pháp, chấm dứt thời kỳ quân đội điều hành quốc gia trong cuộc chiến Quốc-Cộng. Vào chiều ngày 25/4/75, ông Thiệu, ông Khiêm với gia đình và đoàn tùy tùng rời Việt Nam đi Đài Loan an toàn với sự hộ tống trùm CIA Sàigòn Thomas Polar, tướng Charles Times và đại sứ Martin.
Sau khi nhận chức TT. Trần văn Hương mời Dương văn Minh đứng ra thành lập chính phủ để nói chuyện với phía cộng sản, nhưng Dương văn Minh đòi TT. Hương phải bàn giao trọn quyền tổng thống thì ông ta mới có uy thế nói chuyện với phía bên kia. Tổng thống Hương biết Dương văn Minh là kẻ bất tài, thiển cận về chính trị nên đã không làm theo ý của ông Minh. Tổng thống Hương đành phải tự giải quyết việc thương thuyết với CSBV, nhưng CSBV trả lời rằng họ chỉ muốn nói chuyện với Dương văn Minh.
Ngày 24 tháng 4/75, tổng thống Pháp D’Estaing gọi điện thoại cho ông Merillon ra lệnh phải giải quyết gấp việc hòa giải giữa Sàigòn và Hà Nội mà Pháp đang làm vai trò trung gian. Được lệnh TT. Pháp, đại sứ Merillon đã vào Dinh Độc Lập thuyết phục TT. Trần văn Hương rút lui và bàn giao chức vụ cho Dương văn Minh, nhưng ông Hương không đồng ý. Ông cho biết theo hiến pháp ông sẵn sàng trao quyền lại cho Chủ tịch quốc hội là ông Trần văn Lắm.
Sáng ngày 26/4/75, TT. Trần văn Hương điều trần trước lưỡng viện quốc hội đã đưa ra hai vấn đề:
– Nếu quốc hội đồng ý, ông sẽ trao quyền cho Dương văn Minh.
– Nếu quốc hội đồng ý ông sẽ chỉ định thành lập chính phủ thương thuyết với CSBV trong tinh thần hòa giải – hòa hợp để vãn hồi hòa bình cho đất nước.
Trong ngày điều trần, TT. Hương đã nhấn mạnh: ”Nếu cộng sản đưa ra điều kiện của kẻ thắng cho người bại trận, thì không còn cách gì hơn là nếu được, chúng ta cứ việc chiến đấu đến cùng… Chừng đó dẫu Sài Gòn này có biến thành biển máu, tôi nghĩ rằng người Việt Nam vì thể diện mình không thể nào mà từ chối được, trừ một số người mới chấp nhận cái chuyện đó… VNCH có thể phải chịu một vài điều kiện khó khăn đau đớn, nhưng điều kiện đó không phải là những bước hoàn toàn để đầu hàng. Nếu thương thuyết để đầu hàng thì thương thuyết gì nữa, thà là chết, chiến đấu đến cùng…chớ không thể chấp nhận đầu hàng được”. ( trong diễn văn của TT. Trần văn Hương đọc trước quốc hội ngày 26/4/75).
Vào ngày 27/4/75 trong lúc quốc hội đang thảo luận nên trao quyền lãnh đạo cho ai thì một phái đoàn gồm có ông Nguyễn văn Hảo Phó thủ tướng, Trần văn Đôn Phó thủ tướng (thay thế ông Nguyễn bá Cẩn Thủ tướng đã bỏ đi hôm trước), và tướng Cao văn Viên đến quốc hội thúc giục biểu quyết trao quyền tổng thống cho ông Dương văn Minh. Cuối cùng quốc hội đã biểu quyết với số phiếu 134 thuận và 2 chống. Chiều ngày 28/4/75, Dương văn Minh lên nhậm chức tổng thống VNCH. Sau khi Dương văn Minh lên nắm quyền, các ông Trần văn Đôn, Cao văn Viên và nhiều tướng lãnh cao cấp khác thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH mạnh ai nấy tìm đường cao bay xa chạy trong khi các chiến sĩ QLVNCH đang bảo vệ thủ đô, và những phần đất còn lại không hay biết gì hết nên vẫn tiếp tục kiên cường chiến đấu. Riêng TT. Trần văn Hương mặc dù được Hoa Kỳ đặc biệt cung cấp phương tiện để rời nước, nhưng ông từ chối không đi. Ông ở lại đối đầu với VC cho tới giờ phút Sài Gòn thất thủ và mãi mãi.
Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, đại sứ Martin và những người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, bốn quân đoàn Cộng sản Bắc Việt từ từ siết chặt vòng vây quanh thủ đô Sài Gòn với những đợt pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhứt, Bộ Tổng Tham Mưu, Dinh Độc Lập. 10 giờ sáng ngày hôm đó, Dương văn Minh lên đài phát thanh kêu gọi toàn thể quân nhân QLVNCH ngưng bắn, nằm yên tại chỗ để bàn giao chính quyền cho chính phủ của MTGPMN. Đến11 giờ 30, hai xe tăng đầu tiên của CSBV tiến vào ủi sập cổng Dinh Độc Lập.
Một tên cộng quân trên xe tăng nhảy xuống đất hét to: “Minh lớn đâu? Minh lớn đâu?… ra đây quỳ xuống”. Khi tên thượng tá VC Bùi văn Tùng bước vào phòng khánh tiết của Dinh Độc Lập, toàn thể nội các của ông Vũ văn Mẫu và ông Dương văn Minh đã có mặt sẵn tại đó. Dương văn Minh đứng dậy nói ngay: “Sáng hôm nay chúng tôi sốt ruột quá. Chúng tôi chờ các ngài đến bàn giao”. Bùi văn Tùng trả lời: “Chính quyền của các anh từ trung ương đến cơ sở đã sụp đỗ tan tành thì còn có cái gì để bàn giao? Có lẽ nào người ta có thể bàn giao những cái người ta không còn nữa. Các anh đã bại trận và chỉ có đầu hàng vô điều kiện”. Sau đó Tùng đưa Dương văn Minh và Vũ văn Mẫu đến đài phát thanh đọc lệnh đầu hàng nguyên văn như sau: “Nhân danh tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, tôi đại tướng Dương văn Minh, kêu gọi toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hãy bỏ súng và đầu hàng vô điều kiện với Quân Đội Giải Phóng Miền Nam. Tôi tuyên bố giải tán tất cả các cơ quan chính quyền từ trung ương đến địa phương”.(Saigon, the Historic Hours, 1975- VNTVB, Lê quế Lâm, NXB Ngọc Thu, Sydney 93).
Lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh đã giết chết nền Cộng Hòa Việt Nam và giết chết Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – một đơn vị thiện chiến – dũng cảm trong lịch sử chiến tranh thế giới đã làm cộng quân khiếp sợ.
Năm 1982, khi nhắc đến chiến tranh Việt Nam, học giả Hoa Kỳ Norman Podheretz, người từng lên án Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam đã nói: “Chế độ tự do ở Miền Nam Việt Nam sụp đổ không phải “trước những du kích quân mặc áo bà ba đen” thực hiện cuộc chiến tranh nổi dậy của nhân dân Miền Nam Việt Nam, mà họ đã thua trước một đội quân xâm lăng được trang bị khí giới tối tân. Thua một đạo quân như thế thì không thể nói là Miền Nam Việt Nam tồi tệ như nước Pháp đã thua Đức Quốc Xã như hồi năm 1940”. (Norman Podheretz, Why We Were In Vietnam, Simon &Schuster, NY 1982,p.117-Bản dịch Phạm kim Vinh, Nước Mắt Việt nam ,Tr.740)
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bất tử trong dòng sử Việt

Việc hòa hợp, hòa giải giữa Việt Nam Cộng Hòa và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam không thành. Chiến tranh lại tiếp diễn. Nguyên do, một phần do thái độ cứng rắn của ông Thiệu, nhưng phần lớn là do quyết tâm phải nuốt trọn miền Nam của CSBV theo lệnh của quan thầy Nga -Tàu.
Trước tình trạng Hiệp Định Ba Lê bị vi phạm nghiêm trọng, tháng 6/1973, Kissingers và Lê đức Thọ lại gặp nhau tại Paris tìm biện pháp cải thiện việc thi hành. Nhưng từ đó trở về sau thì việc thi hành Hiệp Định Paris không còn được CSBV quan tâm đến khi biết chắc chắn Hoa Kỳ đã phủi tay.
Đến cuối năm 73, áp lực quân sự của cộng quân mỗi ngày mỗi đè nặng lên VNCH, viện trợ quân sự Hoa Kỳ dành cho VNCH từ 1,126 triệu đô la giảm xuống còn 900 triệu. Tính đến tháng 4/74 thì số đạn đại bác – vũ khí nồng cốt của QLVNCH tồn kho chỉ còn đủ dùng không đầy 60 ngày với điều kiện cuộc chiến không gia tăng cường độ. Trong khi ấy chiến cụ của QLVNCH có khoảng 35% quân xa, 50% thiết giáp và phi cơ bất khiển dụng vì thiếu phụ tùng thay thế. Trong khi VNCH gặp khó khăn, thì CSBV lại được Nga -Tàu viện trợ tối đa. Cán cân lực lượng quân sự giữa hai bên đã nghiêng phần bất lợi cho VNCH một cách rõ rệt.

Vào năm 1974, thì chiến cụ và tiếp liệu của QLVNCH đã bắt đầu thiếu thốn. Lợi dụng tình trạng đó cộng quân gia tăng các hoạt cộng tấn công, phá hoại, khiến nhiều khu vực VNCH lâm vào tình trạng mất an ninh.
Về mặt chính trị thì các phong trào trong nước rần rộ nổi lên tố cáo TT. Thiệu bè phái và tham nhũng. Nhiều đoàn thể, đảng phái, tôn giáo trước đó ủng hộ ông Thiệu cũng lên tiếng phản đối, đồng thời họ kêu gọi hai bên Quốc gia cũng như Cộng sản hãy ngưng chiến và thi hành Hiệp Định Ba Lê một cách đứng đắn.
Lợi dụng tình hình chính trị rối loạn tại Sài Gòn, cộng quân đã mở trận đánh thăm dò trên quốc lộ 14, cắt đứt con đường nối liền tỉnh Phước Long với Bộ Tư Lệnh SĐ 5 BB đóng tại Lai Khê. Sau đó đến ngày 6/1/75, cộng quân huy động 2 sư đoàn cùng với chiếc xa, pháo binh, súng phòng không đánh chiếm tỉnh Phước Long. Đó là lần đầu tiên cộng sản Bắc Việt chiếm trọn một tỉnh của VNCH kể từ khi phát động chiến tranh xâm lược.
Ngày 8/1/75, trong diễn văn đọc bế mạc đại hội tại Hà Nội, Lê Duẫn công khai tuyên bố thời cơ chiếm miền Nam đã đến vì: “quân Mỹ đã rút ra rồi, quân đội ta có sẵn trong Nam và cuộc chiến đấu ở miền Nam được thực lực mạnh ở miền Bắc dấy lên thành sức mạnh cả nước”. (Văn tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, NXB/QĐND, Hà nội,1976, tr.39).

Trước việc cộng quân chiếm tỉnh Phước Long, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Ba Lê, chính phủ VNCH đã lên tiếng phản đối, nhưng Ủy Hội Quốc tế và Hoa Kỳ vẫn im hơi lặng tiếng. Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford, người thay thế TT. Nixon sau vụ Watergate vẫn không có phản ứng gì, trái với lời hứa lúc nhậm chức là không bỏ rơi Việt Nam. Lúc ấy, ông Ford chỉ yêu cầu quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn gấp để viện trợ cho VNCH 300 triệu.
Vào lúc 2 giờ sáng ngày 10/3/1975, cộng quân tấn công Ba Mê Thuộc. Cộng sản Bắc Việt đã dùng 3 sư đoàn chính quy tấn công Bộ Tư Lênh sư đoàn 23 BB và Bộ chỉ huy Tiểu khu Darlac mở màn cho chiến dịch Tây Nguyên.
Để tìm biện pháp ngăn chận cuộc tiến quân của cộng sản Bắc Việt. Ngày 14/3/75, TT. Nguyễn văn Thiệu ra Cam Ranh họp với 4 tướng Tư lệnh 4 Vùng chiến thuật với sự có mặt của 3 cố vấn cật ruột là các tướng Trần thiện Khiêm, Cao văn Viên và Đặng văn Quang. Buổi họp đã đi đến quyết định bỏ ngỏ cao nguyên vì TT. Thiệu cho rằng, trong tình trạng thiếu quân viện QLVNCH không đủ khả năng bảo vệ toàn bộ lãnh thổ nên phải bỏ bớt những vùng kém trù phú, gom lực lượng về bảo vệ vùng duyên hải và đồng bằng. Sau buổi họp, tướng Phạm văn Phú Tư Lệnh Quân Đoàn II nhận chỉ thị lo việc di tản quân dân VNCH khỏi vùng cao nguyên, tướng Phú ủy thác nhiệm vụ lại cho Đại tá Tất vừa được vinh thăng chuẩn tướng. Cuộc di tản do thiếu tổ chức, không có kế hoạch chu đáo đã diễn ra một cách hỗn loạn trên đường bộ. Đoàn người di tản kẹt cứng tại bến phà sông Ba làm mồi cho những trận mưa pháo của quân thù. Rốt cuộc chỉ có 1/6 trong số 260 ngàn dân và 3 tiểu đoàn trong số 8 tiểu đoàn chạy thoát được về vùng duyên hải.

Thừa thắng, cộng quân xua quân chiếm Quảng Trị ngày 19/3/75, dân chúng cố đô Huế hốt hoảng ùn ùn chạy về Đà Nẳng. TT. Thiệu cho rút toàn bộ Sư Đoàn Dù và Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến về bảo vệ thủ đô vì sợ bị đảo chính. Không đủ lực lượng phòng thủ, tướng Ngô quang Trưởng Tư Lệnh Vùng I Chiến thuật phải lui binh về cố thủ Đà Nẵng. Cuộc thoái quân cũng không kém phần hỗn loạn. Chừng khi tướng Trưởng được lệnh phải trở lại cố thủ Huế thì đã muộn, không dễ dàng, vì gặp khó khăn bởi làn sóng người di tản ào ào như nước chảy đang đổ về phương Nam.
Ngày 30/3/75, thành phố Đà Nẵng hoàn toàn lọt vào quyền kiểm soát của cộng quân. Việt Nam Cộng Hòa đang trên đà sụp đổ. Năm sư đoàn bộ binh và các lực lương Không quân, Hải quân, Địa phương quân, Nghĩa quân và nhiều lực lượng Tổng Trừ Bị, tổng cộng gần 300 ngàn quân đã tan rã. Một tỷ đô la vũ khí đạn dược, 16 tỉnh, 5 thành phố lớn của VNCH chỉ trong vòng 15 ngày 1/3 lãnh thổ đã lọt vào tay kẻ thù vì cuộc triệt thoát quân vô tổ chức, thiếu kế hoạch của ông Thiệu và tập đoàn tham mưu bất tài. Với chiến thắng bất ngờ không đổ nhiều xương máu, không tốn nhiều gian khổ, cộng sản Bắc Việt quyết định mở chiến dịch Hồ chí Minh tiến đánh Sài Gòn sớm hơn kế hoạch chúng dự trù là đến năm 1976.

Tính đến trung tuần tháng 4/75 thì Vùng I và Vùng II chiến thuật, các vùng duyên hải trung phần đã hoàn toàn lọt vào tay cộng quân. Từ cao nguyên Trung phần cộng quân tiến về Sài Gòn. Khi đến phòng tuyến Xuân Lộc quân CSBV phải khựng lại vì chạm phải sức kháng cự mãnh liệt, anh dũng của các chiến sĩ QLVNCH. Phòng tuyến Xuân Lộc đã đứng vững vàng trong suốt một tuần lễ từ 9-15/4/75. Chính tướng Homer Smith, Tùy viên Quân sự sứ quán Hoa Kỳ đã gởi thơ cho tướng George S. Brown Chủ tịch Hội Đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ ca ngợi lòng dũng cảm và ý chí chiến đấu của các quân nhân QLVNCH trong tình thế vô cùng bất lợi về hỏa lực cũng như quân số. (Nguyễn tiến Hưng, Hồ sơ mật Dinh Độc Lập, C&K Promotion, Los Angeles, 1987, tr. 568).
Ngày 21/4/75, TT. Nguyễn văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho Phó TT. Trần văn Hương theo quy định của hiến pháp, chấm dứt thời kỳ quân đội điều hành quốc gia trong cuộc chiến Quốc-Cộng. Vào chiều ngày 25/4/75, ông Thiệu, ông Khiêm với gia đình và đoàn tùy tùng rời Việt Nam đi Đài Loan an toàn với sự hộ tống trùm CIA Sàigòn Thomas Polar, tướng Charles Times và đại sứ Martin.

Sau khi nhận chức TT. Trần văn Hương mời Dương văn Minh đứng ra thành lập chính phủ để nói chuyện với phía cộng sản, nhưng Dương văn Minh đòi TT. Hương phải bàn giao trọn quyền tổng thống thì ông ta mới có uy thế nói chuyện với phía bên kia. Tổng thống Hương biết Dương văn Minh là kẻ bất tài, thiển cận về chính trị nên đã không làm theo ý của ông Minh. Tổng thống Hương đành phải tự giải quyết việc thương thuyết với CSBV, nhưng CSBV trả lời rằng họ chỉ muốn nói chuyện với Dương văn Minh.

Ngày 24 tháng 4/75, tổng thống Pháp D’Estaing gọi điện thoại cho ông Merillon ra lệnh phải giải quyết gấp việc hòa giải giữa Sàigòn và Hà Nội mà Pháp đang làm vai trò trung gian. Được lệnh TT. Pháp, đại sứ Merillon đã vào Dinh Độc Lập thuyết phục TT. Trần văn Hương rút lui và bàn giao chức vụ cho Dương văn Minh, nhưng ông Hương không đồng ý. Ông cho biết theo hiến pháp ông sẵn sàng trao quyền lại cho Chủ tịch quốc hội là ông Trần văn Lắm.

Sáng ngày 26/4/75, TT. Trần văn Hương điều trần trước lưỡng viện quốc hội đã đưa ra hai vấn đề:
– Nếu quốc hội đồng ý, ông sẽ trao quyền cho Dương văn Minh.
– Nếu quốc hội đồng ý ông sẽ chỉ định thành lập chính phủ thương thuyết với CSBV trong tinh thần hòa giải – hòa hợp để vãn hồi hòa bình cho đất nước.
Trong ngày điều trần, TT. Hương đã nhấn mạnh: ”Nếu cộng sản đưa ra điều kiện của kẻ thắng cho người bại trận, thì không còn cách gì hơn là nếu được, chúng ta cứ việc chiến đấu đến cùng… Chừng đó dẫu Sài Gòn này có biến thành biển máu, tôi nghĩ rằng người Việt Nam vì thể diện mình không thể nào mà từ chối được, trừ một số người mới chấp nhận cái chuyện đó… VNCH có thể phải chịu một vài điều kiện khó khăn đau đớn, nhưng điều kiện đó không phải là những bước hoàn toàn để đầu hàng. Nếu thương thuyết để đầu hàng thì thương thuyết gì nữa, thà là chết, chiến đấu đến cùng…chớ không thể chấp nhận đầu hàng được”. ( trong diễn văn của TT. Trần văn Hương đọc trước quốc hội ngày 26/4/75).

Vào ngày 27/4/75 trong lúc quốc hội đang thảo luận nên trao quyền lãnh đạo cho ai thì một phái đoàn gồm có ông Nguyễn văn Hảo Phó thủ tướng, Trần văn Đôn Phó thủ tướng (thay thế ông Nguyễn bá Cẩn Thủ tướng đã bỏ đi hôm trước), và tướng Cao văn Viên đến quốc hội thúc giục biểu quyết trao quyền tổng thống cho ông Dương văn Minh. Cuối cùng quốc hội đã biểu quyết với số phiếu 134 thuận và 2 chống. Chiều ngày 28/4/75, Dương văn Minh lên nhậm chức tổng thống VNCH. Sau khi Dương văn Minh lên nắm quyền, các ông Trần văn Đôn, Cao văn Viên và nhiều tướng lãnh cao cấp khác thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH mạnh ai nấy tìm đường cao bay xa chạy trong khi các chiến sĩ QLVNCH đang bảo vệ thủ đô, và những phần đất còn lại không hay biết gì hết nên vẫn tiếp tục kiên cường chiến đấu. Riêng TT. Trần văn Hương mặc dù được Hoa Kỳ đặc biệt cung cấp phương tiện để rời nước, nhưng ông từ chối không đi. Ông ở lại đối đầu với VC cho tới giờ phút Sài Gòn thất thủ và mãi mãi.

Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, đại sứ Martin và những người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, bốn quân đoàn Cộng sản Bắc Việt từ từ siết chặt vòng vây quanh thủ đô Sài Gòn với những đợt pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhứt, Bộ Tổng Tham Mưu, Dinh Độc Lập. 10 giờ sáng ngày hôm đó, Dương văn Minh lên đài phát thanh kêu gọi toàn thể quân nhân QLVNCH ngưng bắn, nằm yên tại chỗ để bàn giao chính quyền cho chính phủ của MTGPMN. Đến11 giờ 30, hai xe tăng đầu tiên của CSBV tiến vào ủi sập cổng Dinh Độc Lập.

Một tên cộng quân trên xe tăng nhảy xuống đất hét to: “Minh lớn đâu? Minh lớn đâu?… ra đây quỳ xuống”. Khi tên thượng tá VC Bùi văn Tùng bước vào phòng khánh tiết của Dinh Độc Lập, toàn thể nội các của ông Vũ văn Mẫu và ông Dương văn Minh đã có mặt sẵn tại đó. Dương văn Minh đứng dậy nói ngay: “Sáng hôm nay chúng tôi sốt ruột quá. Chúng tôi chờ các ngài đến bàn giao”. Bùi văn Tùng trả lời: “Chính quyền của các anh từ trung ương đến cơ sở đã sụp đỗ tan tành thì còn có cái gì để bàn giao? Có lẽ nào người ta có thể bàn giao những cái người ta không còn nữa. Các anh đã bại trận và chỉ có đầu hàng vô điều kiện”. Sau đó Tùng đưa Dương văn Minh và Vũ văn Mẫu đến đài phát thanh đọc lệnh đầu hàng nguyên văn như sau: “Nhân danh tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, tôi đại tướng Dương văn Minh, kêu gọi toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hãy bỏ súng và đầu hàng vô điều kiện với Quân Đội Giải Phóng Miền Nam. Tôi tuyên bố giải tán tất cả các cơ quan chính quyền từ trung ương đến địa phương”.(Saigon, the Historic Hours, 1975- VNTVB, Lê quế Lâm, NXB Ngọc Thu, Sydney 93).
Lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh đã giết chết nền Cộng Hòa Việt Nam và giết chết Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – một đơn vị thiện chiến – dũng cảm trong lịch sử chiến tranh thế giới đã làm cộng quân khiếp sợ.

Năm 1982, khi nhắc đến chiến tranh Việt Nam, học giả Hoa Kỳ Norman Podheretz, người từng lên án Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam đã nói: “Chế độ tự do ở Miền Nam Việt Nam sụp đổ không phải “trước những du kích quân mặc áo bà ba đen” thực hiện cuộc chiến tranh nổi dậy của nhân dân Miền Nam Việt Nam, mà họ đã thua trước một đội quân xâm lăng được trang bị khí giới tối tân. Thua một đạo quân như thế thì không thể nói là Miền Nam Việt Nam tồi tệ như nước Pháp đã thua Đức Quốc Xã như hồi năm 1940”. (Norman Podheretz, Why We Were In Vietnam, Simon &Schuster, NY 1982,p.117-Bản dịch Phạm kim Vinh, Nước Mắt Việt nam ,Tr.740)

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bất tử trong dòng sử Việt
Mấy chục năm đã trôi qua, kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, Miền Nam Việt Nam lọt vào tay bạo quyền Việt cộng, bọn chúng đã tìm đủ mọi cách để chà đạp lên ý nghĩa cuộc chiến đấu bảo vệ tự do của người lính VNCH. Nhưng chắc chắn bây giờ và cho mãi đến ngàn sau, chúng sẽ không bao giờ đạt thành ý nguyện.
Điều này, được chứng minh hùng hồn qua hiện tượng hàng năm người Việt tha hương khắp mọi nơi trên thế giới đã long trọng tổ chức ngày quốc hận 30 tháng 4, ngày Quân Lực 19/6, để nói lên tinh thần chiến đấu bảo vệ tự do của một dân tộc và một quân lực hào hùng, dũng cảm.
Trong các ngày lễ này quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa, quân kỳ của các quân binh chủng trong QLVNCH bay phất phới giữa lòng các thành phố nơi hải ngoại. Tới nay, hình ảnh này đã là một thực tế làm Cộng sản Việt Nam nhức nhối, điên đầu, khó chịu, không vui.
Việt cộng nhức nhối, điên đầu, khó chịu, không vui vì hình ảnh ngày 30 tháng 4 là hình ảnh của sự xâm lăng, chà đạp nhân quyền. Đây cũng là biểu tượng của sự tham lam, nghèo đói, chết chóc, đau khổ, bịnh tật và ngục tù mà cộng sản Bắc Việt đã gieo rắc lên nhân dân hai miền Nam Bắc khi chúng cam tâm hiến đất, dâng biển chịu làm thân trâu, ngựa cho Tàu Cộng.
Đặng thiên Sơn
(ĐĐ1/Trinh Sát/SĐND/QLVNCH)
Điều này, được chứng minh hùng hồn qua hiện tượng hàng năm người Việt tha hương khắp mọi nơi trên thế giới đã long trọng tổ chức ngày quốc hận 30 tháng 4, ngày Quân Lực 19/6, để nói lên tinh thần chiến đấu bảo vệ tự do của một dân tộc và một quân lực hào hùng, dũng cảm.
Trong các ngày lễ này quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa, quân kỳ của các quân binh chủng trong QLVNCH bay phất phới giữa lòng các thành phố nơi hải ngoại. Tới nay, hình ảnh này đã là một thực tế làm Cộng sản Việt Nam nhức nhối, điên đầu, khó chịu, không vui.

Việt cộng nhức nhối, điên đầu, khó chịu, không vui vì hình ảnh ngày 30 tháng 4 là hình ảnh của sự xâm lăng, chà đạp nhân quyền. Đây cũng là biểu tượng của sự tham lam, nghèo đói, chết chóc, đau khổ, bịnh tật và ngục tù mà cộng sản Bắc Việt đã gieo rắc lên nhân dân hai miền Nam Bắc khi chúng cam tâm hiến đất, dâng biển chịu làm thân trâu, ngựa cho Tàu Cộng.
Đặng thiên Sơn
(ĐĐ1/Trinh Sát/SĐND/QLVNCH)
Advertisements
Nguồn: https://ongvove.wordpress.com/2009/04/25/t%E1%BB%AB-hi%E1%BB%87p-d%E1%BB%8Bnh-paris-011973-d%E1%BA%BFn-s%E1%BB%B1-b%E1%BB%A9c-t%E1%BB%AD-vi%E1%BB%87t-nam-c%E1%BB%99ng-hoa-041975/

Bình luậnChia sẻ
Bình luận:
Mai Nguyễn Huỳnh - Đại sư huynh- Th/Tá Phạm Châu Tài
Thưa các chiến hữu mọi quân binh chũng và các bạn trẻ Hậu duệ VNCH. Chúng tôi, đã tập hợp về đây để tham trận chiến cuối cùng, bão vệ Bộ TTM.QL.VNCH trong biến cố lịch sử 30 Tháng 4/1975. Chúng tôi là dân tác chiến...khắp mọi miền đất nước. Và đã từng ' nhảy toán bệt kích ' ra đất Bắc theo kế hoạch 34.A của cơ quan tình báo DAO Hoa Kỳ. Chúng tôi thừa nhận " Cọp xám, Th/Tá Phạm Châu tài " là một thiên tài chỉ huy đánh trận rất xứng đáng anh hùng...bảo vệ đất Việt Miền Nam VNCH. Nhưng ' thời thế chưa tạo được anh hùng ' vì gặp phải tướng hèn Dương văn Minh . Rất cảm ơn Tứ Đai anh Thư, Bichthuy Ly các cháu đã bỏ công sưu tầm về vị đại sư huynh Cọp Xám, Th/Tá Phạm Châu Tài là môn sinh Viêt Võ Đạo, có truyền thống dân tộc bảo vệ Tự Do Miền Nam!!!
Bichthuy Ly Con cám ơn chia sẻ của bác Mai Nguyễn Huỳnh. Thời Vovianm trước 1975, con chỉ được biết qua nội con và các bác trong gia đình đã từng học qua bộ môn văn hoá nghệ thuật này, Tất cã đều rất trân trọng tình sư môn trong cùng một môn phái. Nhưng rất tiếc bộ môn tốt dẹp đã đóng góp không ít trong việc giử gìn miền nam VN chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Ngày xưa được phổ cập trong các trường trung học ở miền nam VN và trong các hàng ngũ QL.VNCH, Cảnh sát Quốc Gia, Quân cảnh.....Ngày nay VVN bị phân hoá vì cộng sản đã quốc doanh hoá Vovinam trong nước và một số cơ sở ở Hải Ngoại, do đó bản chất nguyên thủy của VoViNam đã biến chất, giống như tình trạng các tôn giáo ở VN. Đó là một vấn đề lớn cần phải giải quyết tận gốc thời hậu cộng sản một cách triệt để và toàn diện, để trả Vovinam về đúng với chổ đứng của nó.
Thu Pham Cháu xin cám ơn Chú Mai Nguyên Huỳnh. Tại Bộ TTM QLVNCH những ngày cưới tháng 4/75 còn có Thiểu Tá Lê Mình, Chiến Đoàn Trưởng Lôi Hổ. Bác Lê Minh ngày trước cùng học khóa Nhảy Dù tại Hoàng Hoa Thám với Ba của cháu.
Kính, Thư
Bichthuy Ly Bác ui! Người Đại sư huynh Phạm Châu Tài này thiệt là hết ý đó. Ông từng có ý định bắt sống Dương Văn Minh ngay trong sáng ngày 3o.4.1975 trước lúc bàn giao cho VC.. câu chuyện này có rất nhiều chiến sĩ thuộc Liên Đoàn 3 BKND biết, Ông Nguyễn văn Huyền biết, ông Vũ văn Mẩu biết, ông Dương văn Minh biết, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh biết và VC cũng có biết... Việc này 20 năm sau 30.4.1975 vc có
Quốc N...
Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016
BẮT CÓC CON TIN LÍNH MỸ?!

Bichthuy Ly đã thêm 5 ảnh mới — cùng với Phuoc Nguyenhuu và 97 người khác.
NGƯỜI MÔN SINH VOVINAM-THIẾU TÁ PHẠM CHÂU TÀI VÀ CUỘC CHIẾN CUỐI CÙNG TẠI BỘ TTM/QL.VNCH
Lời người viết: Bài viết xin được kính tặng đến cựu môn sinh Vovinam, Thiếu tá Phạm Châu Tài, Liên Đoàn Trưởng LĐ3/BCND81. Bài được biên soạn dựa theo các tài liệu tổng hợp: từ bài viết của các nhân chứng, từng giữ các chức vụ trọng yếu trong Chính phủ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, của nhà văn Hoàng Khởi Phong, tài liệu của chính Thiếu Tá Phạm Chàu Tài viết. Hình ảnh do người con thứ hai của Thiếu tá Phạm Châu tài là sư huynh Phạm hoàng Thư cung cấp cho người viết.
VINH DANH NGƯỜI LÍNH MŨ XANH
(Thi sĩ Tôn Nữ Mậu Thân)
An Lộc địa chiến tích ghi dấu
Biệt cách dù lừng lẫy công lao
Những chiến sĩ mũ xanh vạn kiếp lưu danh
Trong lòng toàn dân miền Nam yêu dấu
Đất Quảng Trị gót giày người để lại
Chiếm cổ thành xác giặc cộng phanh thây
Móng vuốt mãnh hồ xé tan âm mưu xâm lược
Lộng cánh dù làm khiếp vía quân thù
Dẫu vận nước điêu linh đành buông súng
Nhưng chí hùng VNCH vẫn uy linh
Hậu duệ các anh sẽ trở về dưới bóng cờ chính nghĩa
Cứu dân tộc qua thời quốc nhục, phản quốc & đợ dân
(Tôn Nữ Mậu Thân)
HỔ XÁM PHẠM CHÂU TÀI
Cựu Thiếu tá Phạm Châu Tài, trước 1975 khi còn trong quân lực VNCH, ông đã được theo học khoá "Đặc Huấn Hoàng Đai" trong thời kỳ môn phái Vovinam phát động phong trào Việt Võ Đạo hoá học đường và quân đội vào những năm 1966-67-68, do Tổng Đoàn Thanh Niên phụ trách. Đơn vị Biệt Cách Dù 81 của Thiếu tá Tài, là đơn vị theo học khoá đặc huấn này rất đông và ông cũng nhập môn từ dạo đó. Trong đơn vị do ông chỉ huy còn có sự hiện diện của hai võ sư Vovinam Việt võ đạo là: Nguyễn Tiến Hoá và Trần Huy Quyền bào đệ của cố chưởng môn đời III Trần Huy Phong.
Được biết, trước khi theo học Vovinam, ông Phạm ChâuTài từng là người đoạt giải nam lực sĩ đẹp của thủ đô Sài Gòn vào tháng 7/1960.
Thiếu tá Phạm Châu Tài tốt nghiệp khoá 17 trường sĩ quan Bộ Binh Thủ Đức. Trường BB/Thủ Đức là nơi đã cung cấp cho QL.VNCH 23 vị tướng và hàng chục ngàn sĩ-quan, trường này đã từng đào tạo cho đất nước những vị chỉ huy xứng-đáng với châm ngôn Cư An Tư Nguy, sống yên vui phải biết nghĩ tới lúc khó khăn, muốn hưởng hòa-bình phải chuẩn bị chiến-tranh. Trong suốt cuộc chiến bảo vệ tổ quốc chống lại họa xâm lăng của Cộng sản, trường Bộ Binh Thủ Đức đã đóng góp không nhỏ trong việc đào tạo các sĩ quan ưu tú cho quân lực VNCH. những vị trung đội trưởng các đơn vị tác chiến.
Các vị tướng ưu tú của VNCH như từng theo học tại trường BB/Thủ Đức:
-Trung-tướng Ngô Quang Trưởng (Tư-lệnh Quân-đoàn IV & I) *
-Thiếu-tướng Bùi Thế Lân (Tư-lệnh Thuỷ Quân Lục Chiến)
-Thiếu-tướng Lê Quang Lưỡng (Tư-lệnh Nhảy Dù)
-Chuẩn-tướng Hồ Trung Hậu (Tư lệnh Sư-đoàn 2 Bộ-binh) *
-Chuẩn-tướng Trần Quốc Lịch (Tư lệnh Sư-đoàn 5 Bộ-binh) *
-Chuẩn-tướng Lê Văn Hưng (Tư-lệnh phó Quân-đoàn IV, tuẫn-tiết ngày miền Nam bị cưởng chiếm bởi Cộng Sản Bắc Việt)
-Chuẩn tướng Trang sĩ Tấn (Chỉ-huy-trưởng BCH Cảnh Sát Đô-thành Sàigòn).
BIỆT KÍCH DÙ
Trước Mậu Thân 1968 LLĐB có 1 Tiểu Đoàn mang tên là 81 Biệt Cách để yểm trợ hành quân cho các toán Delta. TĐ này hoàn toàn là lính QĐVNCH chứ không có CIDG (Dân sự chiến đấu do Mỹ trả lương). Khi các toán Delta đi nhảy toán khám phá ra sự chuyển quân, nơi đóng quân hay kho tàng của VC thì thường gọi Không Quân đến thanh toán, nhưng cũng đôi khi cần đến lực lượng bộ chiến thì đã có đơn vị Biệt Cách Dù này. Họ chiến đấu dũng mãnh còn hơn Tổng Trừ Bị nữa. Đến Mậu Thân 1968, vị Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Cách 81 là Thiếu tá Tú tử trận. Đến năm 1970, LLĐB giải tán, các căn cứ LLĐB dọc biên giới đổi thành Tiểu đoàn BĐQ Biên Phòng, còn các căn cứ sâu trong nội địa chuyển qua Địa Phương Quân trực thuộc Tiểu Khu của Tỉnh sở tại.
Các SQ và HSQ kỳ cựu danh tiếng hầu hết được rút về Phòng 7 TTM, hoặc BĐQ còn thì về BCD hết. Lúc này TĐ 81 BCD đã tăng quân số và trở thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, đổi huy hiệu của LLĐB từ con cọp nhảy qua dù thành con chim ưng lồng trong hình tam giác. Họ vẫn giữ bê rê nồi màu xanh, có dù màu đỏ. Những chiến sĩ này vì nhớ tới nguồn gốc đơn vị cũ nên vẫn còn mang trên vai áo huy hiệu LLĐB còn bên kia là BCD.
Như vậy LLĐB chính là tiền thân của BCD.
NHỮNG MÔN SINH HOÀNG ĐAI CỦA ĐƠN VỊ BCND TẠI TRẬN AN LỘC
Thiếu tá Phạm Châu Tài ngoài từng giử chức vụ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn còn là Trưởng Khối Đặc Huấn Thần Phong của 81 BCND. Thần Phong là tên do Thiếu Tá Tài đặt cho khối Đặc Huấn (Đặc Biệt Huấn Luyện) LD 81 hơn 3000 quân chỉ có 6 toán Thần Phong. Mỗi toán gồm 10 người, hầu hết là huấn luyện viên Vovinam. Liên Đội Thần Phong (6 toán) là cảm tử của Biệt Cách Nhảy Dù. Chuyên xử dụng vũ khí nặng để bảo vệ 3 Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật của Lữ Đoàn.
Cũng cần nhác lại, đơn vị Biệt Cách Dù là một đơn vị đã hy sinh rất nhiều môn sinh hoàng đai trong trận tử thủ An Lộc năm 1972. Nói đến trận An Lộc thì người miền nam trước 1975 không ai mà không biết đến hai câu thơ của cô giáo Pha được đi vào lịch sử của Trận Chiến Thắng An Lộc:
AN LỘC ĐỊA, SỬ GHI CHIẾN TÍCH
BIỆT CÁCH DÙ VỊ QUỐC VONG THÂN
Tưởng cũng nên nhắc lại : Lệnh của Trung Ương Cục Miền Nam, tức là lệnh của Hà Nội như sau “Phải dứt điểm An Lộc trước ngày 20 tháng 04 năm 1972”. Mục đích là để ra mắt Mặt Trận Giải Phóng MIền Nam và tối hậu, dùng An Lộc làm điểm tựa, đánh thẳng vào Sài Gòn, Thủ đô Việt Nam Cộng Hoà. Vì thế được coi
Trận An Lộc là trận thư hùng giửa các đại đơn vị thiện chiến của QL.VNCH với các lực lượng của Cộng quân đã tung vào chíến trường Lộc Ninh, Quận Lỵ của Tỉnh Bình Long, khoảng 30 cây số Bắc An Lộc, toàn bộ Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, gồm có Trung Đoàn 275, Trung Đoàn 174, Trung Đoàn E.6, được tăng cường Trung Đoàn 95C của Công Trường 9, + Trung Đoàn địa phương + đại đội chiến xa trực thuộc trung đoàn 203 Chiến Xa hỗn hợp (T.54, PT.76), tổng cộng 10 chiếc tham chiến + Trung Đoàn phòng không cơ động 271, dưới sự yểm trợ hoả lực của Trung Đoàn Pháo nặng 42D 130 ly (tầm xa 30 cây số) + các giàn phóng hoả tiễn 122 ly và 107 ly. Tổng cộng quân số địch tham dự trận mở màn Lộc Ninh vào khoảng 15,000 cán binh cộng sản (Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh). Quân số của phía VNCH chỉ bằng 1/5 so với quân Bắc Việt. Lực lượng phòng thủ Bình Long lúc đó tổng cộng quân số khoảng 3,000 chiến binh Việt Nam Cộng Hoà. (Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát). Xem thêm " Chiến thắng An Lộc Phần 1 và 2:
http://batkhuat.net/tl-chienthang-anloc-01.htm
http://batkhuat.net/tl-chienthang-anloc-02.htm
CÂU CHUYỆN VỀ BIỆT DANH "HỔ XÁM"
Theo lời kể của Bác sĩ Ngô Thế Vinh khi nói với bạn, không bao giờ dùng tên hay cấp bậc. Với ông, Thiếu Tá Phạm Châu Tài là “Hổ Xám”. Danh hiệu này đã thành từ nhiều năm do một sự tình cờ, từ khi Thiếu Tá Phạm Châu Tài còn là các toán A trưởng, hoạt động song song với các toán Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ. Các người bạn Mỹ khi phát âm TÀI không chuẩn, nghe như TAI (TIGER), và danh hiệu HỔ XÁM ra đời từ đó. Hổ Xám không phải là một danh hiệu gọi cho kêu, cho oai. Để có được danh hiệu này, Thiếu Tá Phạm Châu Tài đã cống hiến cho quân đội toàn bộ tuổi trẻ của ông, đã lao mình vào không biết bao nhiêu trận đánh trong suốt mười năm chinh chiến. Và nếu như HỔ XÁM phải nằm xuống, sẽ có rất nhiều máu của địch quân phải đổ ra. Chính vì vậy mà trong những ngày sau cùng, đã có rất nhiều lần Thiếu Tá Phạm Châu Tài được các người quen có thế lực, có tiền của rủ ra ngoại quốc, song chưa bao giờ ông có ý nghĩ bỏ lại anh em, bỏ lại đồng đội. Chẳng những thế từ khi cơn bão lửa dấy lên từ bờ sông Thạch Hãn, thổi dọc theo dãy Trường Sơn, thổi xuôi theo Quốc Lộ 1 xuống phía Nam, Hổ Xám Phạm Châu Tài chưa bao giờ có ý nghĩ đầu hàng, ông toàn chỉ nghĩ đến cách nào để chiến đấu với quân địch ở ngay trước mắt. Ông cũng không có thời giờ để nghĩ đến vợ con, ngay cả lúc đã được đưa về trấn cửa Bộ Tổng Tham Mưu, chỉ cách nơi vợ con ông trú ngụ trên đường Trương Minh Giảng gần Đại Học Vạn Hạnh không đầy ba cây số.
CUỘC CHIẾN ĐẤU CUỐI CÙNG CỦA NGƯỜI CHIẾN SĨ HÀO HÙNG BIỆT CÁCH DÙ PHẠM CHÂU TÀI - CỰU MÔN SINH VOVINAM VIỆT VÕ ĐẠO
Đầu năm 1975 vì nhu cầu chiến trường, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù phải chia ra làm hai cánh quân hoạt động cách xa nhau. Đại Tá Phan Văn Huấn và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 1 và Số 2 đang hành quân nhảy toán trong khu vực Bắc Tân Uyên, Biên Hòa. Riêng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy tăng phái cho Sư Đoàn 25 Bộ Binh hành quân tại Tây Ninh. Giữa Tháng Tư 1975, lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu gọi toàn bộ liên đoàn rút về trấn giữ Saigon, và được trải ra để hoạt động trong một vùng khá rộng chung quanh đô thành Saigon – Chợ Lớn – Gia Định.
Ngày 26 Tháng Tư, Đại Tá Phan Văn Huấn – Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn BCD 81, sau khi nhận lệnh từ Bộ Tổng Tham Mưu, đã ra lệnh cho Thiếu Tá Phạm Châu Tài – Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn, đem toàn bộ cánh quân do Thiếu Tá Tài chỉ huy, gồm một ngàn quân thiện chiến về phòng thu Bộ Tổng Tham Mưu. Thiếu Tá Phạm Châu Tài chuyển quân xong thì trời đã về chiều. Tại Bộ Tổng Tham Mưu Thiếu Tá Tài được Đại Tá Tòng Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Mưu đón tiếp niềm nở.
Kế đó Đại Tá Tòng giao việc phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu lại cho Trung Tá Đức, Chỉ Huy Phó Tổng Hành Dinh phối hợp với quân số tăng phái của Thiếu Tá Phạm Châu Tài. Đó lần duy nhất Thiếu Tá Phạm Châu Tài được tiếp xúc với Đại Tá Tòng, sau đó ông đại tá này biến mất cho tới tận bây giờ.
Trung Tá Đức đưa Thiếu Tá Tài đi quan sát chung quanh bức tường thành bao quanh Bộ Tổng Tham Mưu, và đề nghị toàn bộ đơn vị của Thiếu Tá Tài vào nằm trong vòng thành, để cố thủ bên trong vòng đai của Bộ Tổng Tham Mưu. Thiếu Tá Phạm Châu Tài khựng lại trước đề nghị cố thủ bên trong vòng đai. Dường như cả hai vị sĩ quan của Bộ Tổng Tham Mưu mà ông tiếp xúc không một ai nắm vững khả năng của lực lượng Biệt Cách Dù, bởi vì cố thủ hay tử thủ gì đó không phải là chiến thuật sở trường của Biệt Cách Dù.. Từ Mậu Thân cho đến Mùa Hè 72, Biệt Cách Dù nổi danh nhất là đánh đêm trong thành phố. Những trận đánh tại Ngã Ba Cây Thị, khi địch đã tràn vào trà trộn trong dân chúng, hay đã lẩn vào trú ẩn trong các căn nhà dân chạy loạn bỏ trống. Trong tình hình đó lối đánh sát phạt của Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân chắc chắn sẽ giải quyết được chiến trường nhưng cũng sẽ làm cho nhà cửa, sinh mạng của dân chúng bị vạ lây không ít. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã dương danh trong những trận đánh này, tiến chiếm từng ngôi nhà, từng con ngõ, từng khu phố… Nếu bỏ toàn đơn vị của Thiếu Tá Tài vào nằm bẹp trong Bộ Tổng Tham Mưu, thì chẳng khác gì nhốt một con chim vào trong một cái lồng hẹp, sẽ bị dụ vào thế phòng thủ hoàn toàn thụ động, không có chỗ xoay trở. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thẳng thắn trình bày ý niệm phòng thủ của ông là tấn công địch trước, và được Trung Tá Đức đồng ý để Thiếu Tá Tài hoàn toàn tự do bố trí, trải quân của Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.
Trong buổi sáng 28 Tháng Tư tại Bộ Tổng Tham Mưu, văn phòng của Đại Tướng Cao Văn Viên trống trơn. Các phòng, ban của Bộ Tổng Tham Mưu chỉ vài tháng trước nhộn nhịp kẻ ra người vào, quân nhân các cấp ra vào áo quần thẳng tắp, giờ đây sáng ngày 28, Thiếu Tá Phạm Châu Tài thấy cơ quan đầu não của Quân Lực VNCH vắng lặng như tờ. Ông chua chát nhận chân được thế nào là một đoàn quân không có tướng cầm đầu. Ông nghiệm lại từ lúc về trình diện tăng phái về trấn cửa cho Bộ Tổng Tham Mưu, được Đại Tá Tòng – Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh, tiếp vào lúc xế chiều của ngày 26 Tháng Tư, tới bây giờ là 10 giờ sáng của ngày 28 Tháng Tư, chưa một lần nào Thiếu Tá Tài nhìn thấy bóng dáng ông Đại Tướng Cao Văn Viên. Không hiểu trong những giờ phút thập tử nhất sinh như thế này, ông đại tướng ở đâu, làm gì. Ngay cả ông Đại Tá Tòng cũng biến mất không thấy tăm hơi. Trong sân Bộ Tổng Tham Mưu, quân nhân các cấp người chạy lên, kẻ chạy xuống như là những quân đèn cù. Xe Jeep, xe Dodge phun khói mờ trời đất. Nhiều chiếc xe còn kéo theo cả móc hậu, bên trong đầy đồ đạc, dụng cụ. Ai nấy đều như mê sảng.
Trong hoàn cảnh đó, Thiếu Tá Phạm Châu Tài cho dù muốn xin một cái lệnh của cấp trên, cũng sẽ không tìm ra một sĩ quan cao cấp nào để ban hành lệnh.
Khoảng 11 giờ trưa ngày 28 Tháng Tư, Thiếu Tá Phạm Châu Tài gọi điện thoại liên lạc với Đại Tá Phan Văn Huấn, lúc đó đang đóng quân ở Suối Máu – Biên Hòa, để trình bày tình hình ở Bộ Tổng Tham Mưu. Trong khoảng hai, ba tiếng đồng hồ liền Bộ Tổng Tham Mưu như là cảnh tan chợ chiều. Vào khoảng 3 giờ chiều, Đại Tá Phan Văn Huấn đích thân lái xe từ Suối Máu về gặp Thiếu Tá Phạm Châu Tài, thì tình hình ở Bộ Tổng Tham Mưu đã dịu xuống, những ai muốn TAN HÀNG khi chưa có lệnh TAN HÀNG đã không còn hiện diện tại đơn vị. Hai vị chỉ huy của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù trao đổi với nhau vài câu ngắn ngủi, rồi chia tay để mỗi người quay về với nhiệm vụ của mình.
Khoảng 4 giờ rưỡi chiều, một nhân viên của Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Tham Mưu liên lạc với Thiếu Tá Tài, mời lên gặp Đại Tá Trần Văn Thăng, một sĩ quan thâm niên của Cục An Ninh Quân Đội, không hiểu do lệnh của ai, đã được đưa về thay thế cho Đại Tá Tòng trong chức vu. Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Tham Mưu. Khi hội kiến xong trở ra, Thiếu Tá Tài nhận thấy Đại Tá Thăng có lẽ là người phúc hậu, một cấp chỉ huy đàng hoàng tử tế, chứ không phải một sĩ quan tác chiến dầy kinh nghiệm. Thật tình mà nói thì Đại Tá Thăng không phù hợp với tình thế dầu sôi lửa bỏng trong lúc này.
Khoảng 5 giờ chiều ngày 28 Tháng Tư, trong lúc Thiếu Tá Phạm Châu Tài đang đứng trên nóc một cao ốc gần Bộ Tổng Tham Mưu, nơi bố trí của một toán Biệt Cách Dù thì thấy một phi đội A37 bay vụt qua trên đầu, Thiếu Tá Tài nghĩ là phi cơ của Không Quân đi oanh tạc ở đâu về.. Bốn chiếc A37 bay thật thấp xẹt qua các nóc cao ốc, rồi hướng về phía phi trường Tân Sơn Nhất. Thế rồi Thiếu Tá Tài thấy những cụm lửa, khói bốc lên ở phi trường. Té ra không phải là máy bay của phe ta mà là phi cơ địch bỏ bom xuống phi trường. Phản ứng đầu tiên của Thiếu Tá Tài là ra lệnh cho binh sĩ của ông phòng thủ trên các cao ốc chĩa hết súng, kể cả súng cá nhân lên trời đề bắn hạ các phi cơ này, nếu chúng quay lại bỏ bom vào Bộ Tổng Tham Mưu là nơi mà ông chịu trách nhiệm phòng thủ. Tất cả chỉ xảy ra trong vòng vài phút, chỉ một pass bom, song phi đạo chính của phi trường Tân Sơn Nhất đã bị hư hại nặng. Mãi mấy tiếng đồng hồ sau, qua làn sóng của đài phát thanh VC, Thiếu Tá Phạm Châu Tài mới biết được mấy chiếc A37 đó là của Không Quân VNCH, bị bỏ lại ở ngoài miền Trung khi các đơn vị ở đó triệt thoái xuống phía Nam. Các phi cơ này do tên phản bội Nguyễn Thành Trung hướng dẫn, bay từ phi trường Phan Rang vào oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất.
Sau khi Đại Tá Thăng nhận nhiệm vụ, lệnh đầu tiên và có lẽ cũng là lệnh duy nhất của ông ban ra trong tư cách Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh là kể từ giờ không một ai được phép RA khỏi Bộ Tổng Tham Mưu, còn người VÀO, thì có lẽ trong giờ thứ 25 này, mấy ai còn nghĩ đến việc quay trở lại một địa điểm sắp làm mồi cho lửa đạn. Sau khi phi trường bị mấy chiếc A37 bỏ bom bất ngờ, vào khoảng 6 giờ chiều, Tướng Nguyễn Văn Chức từ Bộ Tổng Tham Mưu lái xe Jeep ra ngoài, bị lính Quân Cảnh chặn lại, nhưng ông Chức vẫn muốn lái xe ra ngoài, thấy vậy các binh sĩ Biệt Cách Dù can thiệp, và yêu cầu Tướng Chức quay trở lại. Suốt đêm 28, tiếng súng lớn nhỏ ở khắp nơi vọng về, song tại khu vực phòng thủ của Thiếu Tá Phạm Châu Tài tình hình lắng dịu.
Ngày 29 Tháng Tư, Bộ Tổng Tham Mưu đã có một Tổng Tham Mưu Trưởng khác: Trung Tướng Vĩnh Lộc. Vì Tướng Cao Văn Viên đã chuồn, cho nên không hề có lễ bàn giao giữa hai ông tân và cựu Tổng Tham Mưu Trưởng. Dầu sao thì sự hiện diện của một ông tướng cũng vãn hồi phần nào bộ mặt của Bộ Tổng Tham Mưu, khiến cho cơ quan đầu não này có một chút sinh khí. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thấy một số tướng lãnh khác cũng tới cùng với khá nhiều sĩ quan cấp đại tá.
Buổi chiều ngày 29 Tháng Tư, Tướng Vĩnh Lộc và một số tướng lãnh hội họp với nhau ngay tại phòng khánh tiết của Tổng Tham Mưu Trưởng. Buổi họp giống như một buổi tiếp tân nhiều hơn là một cuộc họp trong tình thế cực kỳ khẩn trương. Hầu như không một vị sĩ quan nào ngồi trên ghế, có tới vài chục vị đứng quây quần với nhau thành nhiều nhóm. Thiếu Tá Phạm Châu Tài được gọi lên tương kiến trong buổi họp kỳ lạ này. Cùng đi với Thiếu Tá Tài là bốn người lính cận vệ, và cả Thiếu Tá Tài ai nấy đều trang bị vũ khí khắp người. Thiếu Tá Tài được giới thiệu như là một người hùng. Ông ghi nhận được trong buổi họp này ngoài Trung Tướng Vĩnh Lộc, tân Tổng Tham Mưu Trưởng còn có sự hiện diện của Trung Tướng Nguyễn Hữu Có,
Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, và một chuẩn tướng nữa có bảng tên là Hỷ (không có họ) và sau cùng có chừng mười mấy vị phần lớn là đại tá. Sau khi được các sĩ quan cao cấp bắt tay khích lệ, Thiếu Tá Tài được Trung Tướng Có hỏi thăm về tình trạng đơn vị, và nhắn nhủ:
– Em ráng giữ Bộ Tổng Tham Mưu cho tới sáng ngày mai. Ráng giữ nguyên vẹn cho tới ngày mai. Đã có giải pháp.
Thiếu Tá Phạm Châu Tài ngửng mặt lên nhìn thẳng vào mắt các tướng lãnh trong phòng họp rồi bằng một thái độ quả quyết, một giọng nói tự tin trả lời cho Trung Tướng Nguyễn Hữu Có:
– Tôi xin cam đoan với quý vị tướng lãnh và các vị sĩ quan trong phòng họp này, là trong đêm nay sẽ không có một con kiến, một con ruồi nào lọt được vào Bộ Tổng Tham Mưu chứ đừng nói tới một thằng VC. Kế đó Trung Tướng Có hỏi Thiếu Tá Tài có cần ông giúp đỡ gì không. Thiếu Tá Tài nhân đó xin rút một biệt đội của ông đang phải nằm án ngữ tại Lục Quân Công Xưởng về, để tăng cường cho quân số phòng thu? Bộ Tổng Tham Mưu, vì cả đơn vị có một ngàn người còn phải chia mất một phần tư lực lượng, bị xé quá mỏng không có được một đại đội làm tuyến phòng thủ cuối cùng trong Bộ Tổng Tham Mưu.
Nghe vậy Trung Tướng Có bốc điện thoại gọi và cho kết quả ngay. Buổi họp cấp kỳ tại Bộ Tổng Tham Mưu diễn ra không lâu, sau khi các sĩ quan cao cấp rời khỏi phòng khánh tiết, cái không khí đìu hiu của buổi sáng lại diễn ra. Tuy nhiên buổi chiều đó biệt đội phòng thủ tại Lục Quân Công Xưởng được trả về cho Thiếu Tá Tài. Đêm 29 Tháng Tư súng nổ ở nhiều nơi vọng về chỗ đóng quân của Thiếu Tá Tài. Binh sĩ dưới quyền ông chạm súng lẻ tẻ với địch ở nhiều nơi, nhưng các đứa con được bung ra không bị một thiệt hại nhỏ nhoi nào. Thiếu Tá Phạm Châu Tài cảm nhận được một điều là tinh thần chiến đấu cũng như hàng ngũ của đơn vị ông vô cùng vững chãi. Cho dù trên cái vòm chỉ huy của quân đội, các ngôi sao cứ tuần tự băng trong bóng tối của trận chiến sau cùng. Ông vững lòng với binh sĩ thuộc hạ, không hề có một ổ kháng cự nào bị bỏ ngỏ. Đêm 29 Tháng Tư năm 1975, có thể là một đêm dài vô tận với hầu hết mọi người quân như dân, ai nấy đều co mình lại chờ sáng, thậm chí mắt căng ra không ngủ được, nhưng với Thiếu Tá Phạm Châu Tài thì khác, ngoại trừ những lúc phải đi kiểm soát binh sĩ dưới quyền, ngoại trừ những lúc phải chỉ huy, ông đã ngủ rất ngon trong những giờ trống. Sở dĩ Thiếu Tá Phạm Châu Tài ngủ ngon, vì ông đã xác định hẳn cho cá nhân mình cũng như toàn đơn vị một ý chí duy nhất: Giữ cho được Bộ Tổng Tham Mưu không phải chỉ một đêm nay, mà là nhiều đêm sau nếu cần, cho tới khi nào có được giải pháp cuối cùng cho miền Nam.
Tờ mờ sáng ngày 30 Tháng Tư 1975, Cộng Quân tiến vào Saigon qua nhiều ngả. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thầm nhủ với mình là giờ phút cuối cùng đã điểm. Ông liên lạc với các thuộc cấp, dặn dò họ những khẩu lệnh cuối. Qua các máy truyền tin, ông biết bộ binh của CS đã được các xe tăng dẫn đầu bứng các chốt kháng cự một cách nhanh chóng. Phía trước của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, những khóa sinh chưa kịp ra trường đã tiến ra mặt trận, mà mặt trận đâu có xa xôi gì. Bên ngoài vòng đai trung tâm huấn luyện chính là nơi trận chiến cuối cùng đang diễn ra. Thế những những người lính chưa kịp ra lò này đã có một bài thực tập tốt về chống chiến xa. Hai chiến xa của địch đã bị bắn hạ tại đây, thế nhưng những chiếc khác vẫn cứ thẳng đường tiến về Saigon. Núp theo sau những chiến xa này, là những chiếc xe vận tải chuyển quân, trên đó chất đầy những cán binh CS, với quần áo còn có lá cây ngụy trang trên nón.
Tới Ngã Tư Bảy Hiền, cánh quân này bắt đầu đụng độ với Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, và bị bắn hạ một chiếc dẫn đầu tại Ngã Tư Bảy Hiền. Những chiếc sau vẫn tuần tự tiến tới, thậm chí Cộng quân cũng không hề ngừng lại phản công tại những địa điểm có ổ kháng cự của những người LÍNH cuối cùng. Cánh quân này lướt qua để tiến về trung tâm thủ đô. Các binh sĩ Biệt Cách Dù vừa đánh vừa rút theo với đà tiến của địch. Hai chiếc tăng khác của Cộng Quân bị bắn hạ ở cổng Phi Long, một chiếc bị bắn hạ ở Lăng Cha Cả. Và bây giờ thì Cộng Quân đã có mặt tại vòng đai của Bộ Tổng Tham Mưu. Hai chiếc tăng nữa bị hạ ngay gần cổng Bộ Tổng Tham Mưu. Các binh sĩ Biệt Cách cũng đã rút về, tập họp khá đầy đủ chung quanh cấp chỉ huy của họ, và tuyến phòng thủ cuối cùng cũng đã thiết lập xong. Mấy trăm người LÍNH hờm súng về phía trước, mắt căng ra chờ địch quân tiến vào.
Vào khoảng hơn 9 giờ sáng của ngày 30 Tháng Tư 1975, qua tần số của máy truyền tin, Thiếu Tá Phạm Châu Tài nhận được lệnh của một sĩ quan Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu yêu cầu ngưng bắn. Ông đã khước từ tuân hành lệnh này, và trả lời cho vị sĩ quan này là ông chỉ nhận lệnh trực tiếp với ông Tổng Tham Mưu Trưởng mà thôi. Những người lính Biệt Cách Dù vẫn giữ nguyên vị trí phòng thủ trong vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu.
Vào khoảng mười giờ, Thiếu Tá Phạm Châu Tài nghe trên đài phát thanh truyền đi lệnh của Đại Tướng Dương Văn Minh, yêu cầu tất cả quân nhân các cấp của Quân Lực VNCH buông súng. Thiếu Tá Tài bỏ phòng tuyến trở vào một văn phòng của Bộ Tổng Tham Mưu, đích thân gọi điện thoại lên Dinh Độc Lập và được Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh tự nhận là Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH.. Thiếu Tá Phạm Châu Tài cho biết là bây giờ ông muốn được nói chuyện với Đại Tướng Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Đội. Khoảng chừng 15 phút chờ đợi dài như một thế kỷ, bên kia đâu dây điện thoại mới nghe giọng nói của Đại Tướng Dương Văn Minh cất lên:
– Đại Tướng Dương Văn Minh tôi nghe.
– Thưa đại tướng, tôi là Thiếu Tá Phạm Châu Tài đang chỉ huy Biệt Kích Dù phòng thu? Bộ Tổng Tham Mưu. Chúng tôi được ủy thác phòng thủ tại đây cho tới khi có giải pháp cuối cùng. Cách đây một giờ chúng tôi được lệnh ngưng bắn gọi qua máy siêu tần số, và vừa mới rồi được nghe lệnh của đại tướng trên đài phát thanh kêu gọi ngưng bắn. Chúng tôi xin hỏi lại cho rõ về ngưng bắn là thế nào?
Sau một khắc ngần ngừ, Đại Tướng Minh nói:
– Mình không còn một cái gì để đánh cả. Em chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia.
– Thưa đại tướng, thế có nghĩa là đầu hàng vô điều kiện.
Đầu dây bên kia lại một phút im lặng nặng nề trôi qua, Thiếu Tá Tài nói tiếp vào điện thoại:
– Thưa đại tướng, chúng tôi được lệnh là cố thủ tại đây, và từ sáng tới giờ chúng tôi đã ngăn chặn được các mũi tấn công của địch. Chúng tôi đã bắn cháy 6 chiếc tăng của CS trong khu vực này, mà không hề hấn gì cả. Thưa đại tướng, chúng ta không thể đầu hàng được. Công lao của Quân Lực VNCH trong bao nhiêu năm sẽ…
– Tùy các em.
– Thưa đại tướng, nếu đầu hàng đại tướng có bảo đảm cho sinh mạng của hai ngàn người đang tử thủ tại Bộ Tổng Tham Mưu không.
Lại một phút nặng nề nữa trôi qua. Sau cùng Tướng Minh nói:
– Xe tăng của địch quân sắp tiến vào đây. Tùy các em.
Và rồi điện thoại bị cúp.
Thiếu Tá Phạm Châu Tài buông điện thoại xuống, quay trở lại với phòng tuyến của mình. Ông đã đi qua những hành lang rộng, những văn phòng khang trang của Bộ Tổng Tham Mưu, song ông không bắt gặp một tướng lãnh nào, một sĩ quan cao cấp nào. Khi nghe câu nói cuối cùng của Đại Tướng Dương Văn Minh cho biết là xe tăng của Cộng quân đang sắp tới Dinh Độc Lập, Thiếu Tá Tài đã định trình bày cho Đại Tướng Minh biết, là nếu cần ông sẽ mang quân về cứu đại tướng, vì không thể đầu hàng vô điều kiện được, mà phải có một giải pháp nào đó cho quân đội, cho những người lính.
Quay trở ra phòng tuyến của mình, Thiếu Tá Phạm Châu Tài thấy toàn thể đơn vị của ông vẫn còn súng lăm lăm trong tay, mắt hướng ra ngoài chờ địch quân tiến tới.
Đúng vào lúc đó thì tiếng Đại Tướng Dương Văn Minh lại vang lên trên làn sóng phát thanh. Bây giờ không phải là lệnh ngưng chiến tại chỗ, chờ bên kia tới bàn giao, mà lệnh đầu hàng vô điều kiện. Cuộc chiến kút thúc
Thiếu Tá Mai trở về với gia đình, rồi những sau đó cùng chung số phận của những chiến hữu khác trong QL.VNCH, ông phải trải qua nhiều trại cải tạo khắc nghiệt của kẻ thù. Đến khi được thả về ông và gia đình đã định cư tại California cho tớí ngày hôm nay.
Cuộc chiến đau thương đã cướp đi không biết bao nhiêu hoàng đai của môn phái Vovinam trong trận An Lộc và các chiến trận khác. Bích Thuỷ xin được ghi lại nét hào hùng của một người môn sinh Vovinam, đại sư huynh Phạm Châu Tài, Liên đoàn trưởng Liên Đoàn 3 Biệt Cách Nhảy Dù , một đơn vị thiện chiến của QL.VNCH, cũng là một đơn vị có nhiều Huấn Luyện Viên cấp Hoàng Đai của môn phái Vovinam -Việt Võ Đạo, ông đã nêu cao lý tưởng Tổ Quốc Danh Dự và Trách Nhiệm của một một quân nhân trong việc bảo quốc an dân đến giây phút cuối của cuộc chiến. Với tinh thần Việt Võ Đạo đầy ấp trong trái tim từ ái, môn sinh Phạm Châu tài một cấp chỉ huy thật xứng đáng để được tuyên dương trước quân đội vì đã không bỏ rơi đồng đội, các thuộc cấp, đồng môn của mình để rời nơi chiến đấu như một số tướng tá khác trong QL.VNCH, môn sinh Phạm Châu Tài còn xứng đáng là một tấm gương cho các hậu bối trong môn phái Vovinam.
Đại sư huynh Phạm Châu Tài đã hy sinh trọn đời trai cho sự tự do của miền nam và tổ quốc VNCH, ông thật xứng đáng là một đại sư huynh của chúng tôi, những hậu duệ VNCH, những hậu bối trong hàng ngũ Vovinam. Thiếu tá Phạm Châu Tài đã từ chối hết các việc di tản để giử trọn tình huynh đệ chi binh tình, đồng môn cho đến khi tan hàng. Tôi kính phục và ngưỡng mộ nên viết tặng người đại sư huynh Phạm Châu Tài. Một cấp chỉ huy hào hùng của QL.VNCH!!
Hậu bối, môn sinh Lý Bích Thuỷ không quên dâng nén tâm nhang và nghiêm lễ tưởng nhớ đến các đại sư huynh khác của môn phái Vovinam, những người chiến sĩ thuộc Lực Lượng Biệt Cách Nhảy Dù 81 đã nằm xuống vì tự do cho dân tộc và tổ quốc VNCH. Cám ơn sư huynh Phạm hoàng Thư, người con trai thứ hai của Đại Sư huynh Phạm Châu Tài, đã cung cấp một số hình ảnh để làm tư liệu cho bài viết này.
Xin mời xem tiếp tại:http://lybichthuy.blogspot.de/…/nguoi-mon-sinh-vovinam-h-ao…
Lý Bích Thuỷ
12/8/2016
Tài liệu tham khảo:
1.LĐ81/BCND Và Những Ngày Tháng Tư
http://www.bcdlldb.com/LD81BCND.htm
2.Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH: Những Ngày Cuối CùngVƯƠNG HỒNG ANH/ Việt Báo:http://motgoctroi.com/StLich…/LSCandai/…/Ngaycuoi_BTTMuu.htm
3. Hổ xám Phạm Châu tài
https://ongvove.wordpress.com/…/h%E1%BB%95-xam-ph%E1%BA%A1…/
4. An Lộc chiến trường đi không hẹn, tác gỉa Phạm Châu tài
https://phunulamvien.wordpress.com/…/an-loc-chien-truong-d…/
5. Chú Quế- Vương Mộng Long http://batkhuat.net/van-chu-que.htm
Lời người viết: Bài viết xin được kính tặng đến cựu môn sinh Vovinam, Thiếu tá Phạm Châu Tài, Liên Đoàn Trưởng LĐ3/BCND81. Bài được biên soạn dựa theo các tài liệu tổng hợp: từ bài viết của các nhân chứng, từng giữ các chức vụ trọng yếu trong Chính phủ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, của nhà văn Hoàng Khởi Phong, tài liệu của chính Thiếu Tá Phạm Chàu Tài viết. Hình ảnh do người con thứ hai của Thiếu tá Phạm Châu tài là sư huynh Phạm hoàng Thư cung cấp cho người viết.
VINH DANH NGƯỜI LÍNH MŨ XANH
(Thi sĩ Tôn Nữ Mậu Thân)
An Lộc địa chiến tích ghi dấu
Biệt cách dù lừng lẫy công lao
Những chiến sĩ mũ xanh vạn kiếp lưu danh
Trong lòng toàn dân miền Nam yêu dấu
Đất Quảng Trị gót giày người để lại
Chiếm cổ thành xác giặc cộng phanh thây
Móng vuốt mãnh hồ xé tan âm mưu xâm lược
Lộng cánh dù làm khiếp vía quân thù
Dẫu vận nước điêu linh đành buông súng
Nhưng chí hùng VNCH vẫn uy linh
Hậu duệ các anh sẽ trở về dưới bóng cờ chính nghĩa
Cứu dân tộc qua thời quốc nhục, phản quốc & đợ dân
(Tôn Nữ Mậu Thân)
HỔ XÁM PHẠM CHÂU TÀI
Cựu Thiếu tá Phạm Châu Tài, trước 1975 khi còn trong quân lực VNCH, ông đã được theo học khoá "Đặc Huấn Hoàng Đai" trong thời kỳ môn phái Vovinam phát động phong trào Việt Võ Đạo hoá học đường và quân đội vào những năm 1966-67-68, do Tổng Đoàn Thanh Niên phụ trách. Đơn vị Biệt Cách Dù 81 của Thiếu tá Tài, là đơn vị theo học khoá đặc huấn này rất đông và ông cũng nhập môn từ dạo đó. Trong đơn vị do ông chỉ huy còn có sự hiện diện của hai võ sư Vovinam Việt võ đạo là: Nguyễn Tiến Hoá và Trần Huy Quyền bào đệ của cố chưởng môn đời III Trần Huy Phong.
Được biết, trước khi theo học Vovinam, ông Phạm ChâuTài từng là người đoạt giải nam lực sĩ đẹp của thủ đô Sài Gòn vào tháng 7/1960.
Thiếu tá Phạm Châu Tài tốt nghiệp khoá 17 trường sĩ quan Bộ Binh Thủ Đức. Trường BB/Thủ Đức là nơi đã cung cấp cho QL.VNCH 23 vị tướng và hàng chục ngàn sĩ-quan, trường này đã từng đào tạo cho đất nước những vị chỉ huy xứng-đáng với châm ngôn Cư An Tư Nguy, sống yên vui phải biết nghĩ tới lúc khó khăn, muốn hưởng hòa-bình phải chuẩn bị chiến-tranh. Trong suốt cuộc chiến bảo vệ tổ quốc chống lại họa xâm lăng của Cộng sản, trường Bộ Binh Thủ Đức đã đóng góp không nhỏ trong việc đào tạo các sĩ quan ưu tú cho quân lực VNCH. những vị trung đội trưởng các đơn vị tác chiến.
Các vị tướng ưu tú của VNCH như từng theo học tại trường BB/Thủ Đức:
-Trung-tướng Ngô Quang Trưởng (Tư-lệnh Quân-đoàn IV & I) *
-Thiếu-tướng Bùi Thế Lân (Tư-lệnh Thuỷ Quân Lục Chiến)
-Thiếu-tướng Lê Quang Lưỡng (Tư-lệnh Nhảy Dù)
-Chuẩn-tướng Hồ Trung Hậu (Tư lệnh Sư-đoàn 2 Bộ-binh) *
-Chuẩn-tướng Trần Quốc Lịch (Tư lệnh Sư-đoàn 5 Bộ-binh) *
-Chuẩn-tướng Lê Văn Hưng (Tư-lệnh phó Quân-đoàn IV, tuẫn-tiết ngày miền Nam bị cưởng chiếm bởi Cộng Sản Bắc Việt)
-Chuẩn tướng Trang sĩ Tấn (Chỉ-huy-trưởng BCH Cảnh Sát Đô-thành Sàigòn).
BIỆT KÍCH DÙ
Trước Mậu Thân 1968 LLĐB có 1 Tiểu Đoàn mang tên là 81 Biệt Cách để yểm trợ hành quân cho các toán Delta. TĐ này hoàn toàn là lính QĐVNCH chứ không có CIDG (Dân sự chiến đấu do Mỹ trả lương). Khi các toán Delta đi nhảy toán khám phá ra sự chuyển quân, nơi đóng quân hay kho tàng của VC thì thường gọi Không Quân đến thanh toán, nhưng cũng đôi khi cần đến lực lượng bộ chiến thì đã có đơn vị Biệt Cách Dù này. Họ chiến đấu dũng mãnh còn hơn Tổng Trừ Bị nữa. Đến Mậu Thân 1968, vị Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Cách 81 là Thiếu tá Tú tử trận. Đến năm 1970, LLĐB giải tán, các căn cứ LLĐB dọc biên giới đổi thành Tiểu đoàn BĐQ Biên Phòng, còn các căn cứ sâu trong nội địa chuyển qua Địa Phương Quân trực thuộc Tiểu Khu của Tỉnh sở tại.
Các SQ và HSQ kỳ cựu danh tiếng hầu hết được rút về Phòng 7 TTM, hoặc BĐQ còn thì về BCD hết. Lúc này TĐ 81 BCD đã tăng quân số và trở thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, đổi huy hiệu của LLĐB từ con cọp nhảy qua dù thành con chim ưng lồng trong hình tam giác. Họ vẫn giữ bê rê nồi màu xanh, có dù màu đỏ. Những chiến sĩ này vì nhớ tới nguồn gốc đơn vị cũ nên vẫn còn mang trên vai áo huy hiệu LLĐB còn bên kia là BCD.
Như vậy LLĐB chính là tiền thân của BCD.
NHỮNG MÔN SINH HOÀNG ĐAI CỦA ĐƠN VỊ BCND TẠI TRẬN AN LỘC
Thiếu tá Phạm Châu Tài ngoài từng giử chức vụ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn còn là Trưởng Khối Đặc Huấn Thần Phong của 81 BCND. Thần Phong là tên do Thiếu Tá Tài đặt cho khối Đặc Huấn (Đặc Biệt Huấn Luyện) LD 81 hơn 3000 quân chỉ có 6 toán Thần Phong. Mỗi toán gồm 10 người, hầu hết là huấn luyện viên Vovinam. Liên Đội Thần Phong (6 toán) là cảm tử của Biệt Cách Nhảy Dù. Chuyên xử dụng vũ khí nặng để bảo vệ 3 Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật của Lữ Đoàn.
Cũng cần nhác lại, đơn vị Biệt Cách Dù là một đơn vị đã hy sinh rất nhiều môn sinh hoàng đai trong trận tử thủ An Lộc năm 1972. Nói đến trận An Lộc thì người miền nam trước 1975 không ai mà không biết đến hai câu thơ của cô giáo Pha được đi vào lịch sử của Trận Chiến Thắng An Lộc:
AN LỘC ĐỊA, SỬ GHI CHIẾN TÍCH
BIỆT CÁCH DÙ VỊ QUỐC VONG THÂN
Tưởng cũng nên nhắc lại : Lệnh của Trung Ương Cục Miền Nam, tức là lệnh của Hà Nội như sau “Phải dứt điểm An Lộc trước ngày 20 tháng 04 năm 1972”. Mục đích là để ra mắt Mặt Trận Giải Phóng MIền Nam và tối hậu, dùng An Lộc làm điểm tựa, đánh thẳng vào Sài Gòn, Thủ đô Việt Nam Cộng Hoà. Vì thế được coi
Trận An Lộc là trận thư hùng giửa các đại đơn vị thiện chiến của QL.VNCH với các lực lượng của Cộng quân đã tung vào chíến trường Lộc Ninh, Quận Lỵ của Tỉnh Bình Long, khoảng 30 cây số Bắc An Lộc, toàn bộ Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt, gồm có Trung Đoàn 275, Trung Đoàn 174, Trung Đoàn E.6, được tăng cường Trung Đoàn 95C của Công Trường 9, + Trung Đoàn địa phương + đại đội chiến xa trực thuộc trung đoàn 203 Chiến Xa hỗn hợp (T.54, PT.76), tổng cộng 10 chiếc tham chiến + Trung Đoàn phòng không cơ động 271, dưới sự yểm trợ hoả lực của Trung Đoàn Pháo nặng 42D 130 ly (tầm xa 30 cây số) + các giàn phóng hoả tiễn 122 ly và 107 ly. Tổng cộng quân số địch tham dự trận mở màn Lộc Ninh vào khoảng 15,000 cán binh cộng sản (Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh). Quân số của phía VNCH chỉ bằng 1/5 so với quân Bắc Việt. Lực lượng phòng thủ Bình Long lúc đó tổng cộng quân số khoảng 3,000 chiến binh Việt Nam Cộng Hoà. (Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát). Xem thêm " Chiến thắng An Lộc Phần 1 và 2:
http://batkhuat.net/tl-chienthang-anloc-01.htm
http://batkhuat.net/tl-chienthang-anloc-02.htm
CÂU CHUYỆN VỀ BIỆT DANH "HỔ XÁM"
Theo lời kể của Bác sĩ Ngô Thế Vinh khi nói với bạn, không bao giờ dùng tên hay cấp bậc. Với ông, Thiếu Tá Phạm Châu Tài là “Hổ Xám”. Danh hiệu này đã thành từ nhiều năm do một sự tình cờ, từ khi Thiếu Tá Phạm Châu Tài còn là các toán A trưởng, hoạt động song song với các toán Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ. Các người bạn Mỹ khi phát âm TÀI không chuẩn, nghe như TAI (TIGER), và danh hiệu HỔ XÁM ra đời từ đó. Hổ Xám không phải là một danh hiệu gọi cho kêu, cho oai. Để có được danh hiệu này, Thiếu Tá Phạm Châu Tài đã cống hiến cho quân đội toàn bộ tuổi trẻ của ông, đã lao mình vào không biết bao nhiêu trận đánh trong suốt mười năm chinh chiến. Và nếu như HỔ XÁM phải nằm xuống, sẽ có rất nhiều máu của địch quân phải đổ ra. Chính vì vậy mà trong những ngày sau cùng, đã có rất nhiều lần Thiếu Tá Phạm Châu Tài được các người quen có thế lực, có tiền của rủ ra ngoại quốc, song chưa bao giờ ông có ý nghĩ bỏ lại anh em, bỏ lại đồng đội. Chẳng những thế từ khi cơn bão lửa dấy lên từ bờ sông Thạch Hãn, thổi dọc theo dãy Trường Sơn, thổi xuôi theo Quốc Lộ 1 xuống phía Nam, Hổ Xám Phạm Châu Tài chưa bao giờ có ý nghĩ đầu hàng, ông toàn chỉ nghĩ đến cách nào để chiến đấu với quân địch ở ngay trước mắt. Ông cũng không có thời giờ để nghĩ đến vợ con, ngay cả lúc đã được đưa về trấn cửa Bộ Tổng Tham Mưu, chỉ cách nơi vợ con ông trú ngụ trên đường Trương Minh Giảng gần Đại Học Vạn Hạnh không đầy ba cây số.
CUỘC CHIẾN ĐẤU CUỐI CÙNG CỦA NGƯỜI CHIẾN SĨ HÀO HÙNG BIỆT CÁCH DÙ PHẠM CHÂU TÀI - CỰU MÔN SINH VOVINAM VIỆT VÕ ĐẠO
Đầu năm 1975 vì nhu cầu chiến trường, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù phải chia ra làm hai cánh quân hoạt động cách xa nhau. Đại Tá Phan Văn Huấn và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 1 và Số 2 đang hành quân nhảy toán trong khu vực Bắc Tân Uyên, Biên Hòa. Riêng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy tăng phái cho Sư Đoàn 25 Bộ Binh hành quân tại Tây Ninh. Giữa Tháng Tư 1975, lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu gọi toàn bộ liên đoàn rút về trấn giữ Saigon, và được trải ra để hoạt động trong một vùng khá rộng chung quanh đô thành Saigon – Chợ Lớn – Gia Định.
Ngày 26 Tháng Tư, Đại Tá Phan Văn Huấn – Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn BCD 81, sau khi nhận lệnh từ Bộ Tổng Tham Mưu, đã ra lệnh cho Thiếu Tá Phạm Châu Tài – Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn, đem toàn bộ cánh quân do Thiếu Tá Tài chỉ huy, gồm một ngàn quân thiện chiến về phòng thu Bộ Tổng Tham Mưu. Thiếu Tá Phạm Châu Tài chuyển quân xong thì trời đã về chiều. Tại Bộ Tổng Tham Mưu Thiếu Tá Tài được Đại Tá Tòng Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Mưu đón tiếp niềm nở.
Kế đó Đại Tá Tòng giao việc phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu lại cho Trung Tá Đức, Chỉ Huy Phó Tổng Hành Dinh phối hợp với quân số tăng phái của Thiếu Tá Phạm Châu Tài. Đó lần duy nhất Thiếu Tá Phạm Châu Tài được tiếp xúc với Đại Tá Tòng, sau đó ông đại tá này biến mất cho tới tận bây giờ.
Trung Tá Đức đưa Thiếu Tá Tài đi quan sát chung quanh bức tường thành bao quanh Bộ Tổng Tham Mưu, và đề nghị toàn bộ đơn vị của Thiếu Tá Tài vào nằm trong vòng thành, để cố thủ bên trong vòng đai của Bộ Tổng Tham Mưu. Thiếu Tá Phạm Châu Tài khựng lại trước đề nghị cố thủ bên trong vòng đai. Dường như cả hai vị sĩ quan của Bộ Tổng Tham Mưu mà ông tiếp xúc không một ai nắm vững khả năng của lực lượng Biệt Cách Dù, bởi vì cố thủ hay tử thủ gì đó không phải là chiến thuật sở trường của Biệt Cách Dù.. Từ Mậu Thân cho đến Mùa Hè 72, Biệt Cách Dù nổi danh nhất là đánh đêm trong thành phố. Những trận đánh tại Ngã Ba Cây Thị, khi địch đã tràn vào trà trộn trong dân chúng, hay đã lẩn vào trú ẩn trong các căn nhà dân chạy loạn bỏ trống. Trong tình hình đó lối đánh sát phạt của Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân chắc chắn sẽ giải quyết được chiến trường nhưng cũng sẽ làm cho nhà cửa, sinh mạng của dân chúng bị vạ lây không ít. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã dương danh trong những trận đánh này, tiến chiếm từng ngôi nhà, từng con ngõ, từng khu phố… Nếu bỏ toàn đơn vị của Thiếu Tá Tài vào nằm bẹp trong Bộ Tổng Tham Mưu, thì chẳng khác gì nhốt một con chim vào trong một cái lồng hẹp, sẽ bị dụ vào thế phòng thủ hoàn toàn thụ động, không có chỗ xoay trở. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thẳng thắn trình bày ý niệm phòng thủ của ông là tấn công địch trước, và được Trung Tá Đức đồng ý để Thiếu Tá Tài hoàn toàn tự do bố trí, trải quân của Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.
Trong buổi sáng 28 Tháng Tư tại Bộ Tổng Tham Mưu, văn phòng của Đại Tướng Cao Văn Viên trống trơn. Các phòng, ban của Bộ Tổng Tham Mưu chỉ vài tháng trước nhộn nhịp kẻ ra người vào, quân nhân các cấp ra vào áo quần thẳng tắp, giờ đây sáng ngày 28, Thiếu Tá Phạm Châu Tài thấy cơ quan đầu não của Quân Lực VNCH vắng lặng như tờ. Ông chua chát nhận chân được thế nào là một đoàn quân không có tướng cầm đầu. Ông nghiệm lại từ lúc về trình diện tăng phái về trấn cửa cho Bộ Tổng Tham Mưu, được Đại Tá Tòng – Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh, tiếp vào lúc xế chiều của ngày 26 Tháng Tư, tới bây giờ là 10 giờ sáng của ngày 28 Tháng Tư, chưa một lần nào Thiếu Tá Tài nhìn thấy bóng dáng ông Đại Tướng Cao Văn Viên. Không hiểu trong những giờ phút thập tử nhất sinh như thế này, ông đại tướng ở đâu, làm gì. Ngay cả ông Đại Tá Tòng cũng biến mất không thấy tăm hơi. Trong sân Bộ Tổng Tham Mưu, quân nhân các cấp người chạy lên, kẻ chạy xuống như là những quân đèn cù. Xe Jeep, xe Dodge phun khói mờ trời đất. Nhiều chiếc xe còn kéo theo cả móc hậu, bên trong đầy đồ đạc, dụng cụ. Ai nấy đều như mê sảng.
Trong hoàn cảnh đó, Thiếu Tá Phạm Châu Tài cho dù muốn xin một cái lệnh của cấp trên, cũng sẽ không tìm ra một sĩ quan cao cấp nào để ban hành lệnh.
Khoảng 11 giờ trưa ngày 28 Tháng Tư, Thiếu Tá Phạm Châu Tài gọi điện thoại liên lạc với Đại Tá Phan Văn Huấn, lúc đó đang đóng quân ở Suối Máu – Biên Hòa, để trình bày tình hình ở Bộ Tổng Tham Mưu. Trong khoảng hai, ba tiếng đồng hồ liền Bộ Tổng Tham Mưu như là cảnh tan chợ chiều. Vào khoảng 3 giờ chiều, Đại Tá Phan Văn Huấn đích thân lái xe từ Suối Máu về gặp Thiếu Tá Phạm Châu Tài, thì tình hình ở Bộ Tổng Tham Mưu đã dịu xuống, những ai muốn TAN HÀNG khi chưa có lệnh TAN HÀNG đã không còn hiện diện tại đơn vị. Hai vị chỉ huy của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù trao đổi với nhau vài câu ngắn ngủi, rồi chia tay để mỗi người quay về với nhiệm vụ của mình.
Khoảng 4 giờ rưỡi chiều, một nhân viên của Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Tham Mưu liên lạc với Thiếu Tá Tài, mời lên gặp Đại Tá Trần Văn Thăng, một sĩ quan thâm niên của Cục An Ninh Quân Đội, không hiểu do lệnh của ai, đã được đưa về thay thế cho Đại Tá Tòng trong chức vu. Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Tham Mưu. Khi hội kiến xong trở ra, Thiếu Tá Tài nhận thấy Đại Tá Thăng có lẽ là người phúc hậu, một cấp chỉ huy đàng hoàng tử tế, chứ không phải một sĩ quan tác chiến dầy kinh nghiệm. Thật tình mà nói thì Đại Tá Thăng không phù hợp với tình thế dầu sôi lửa bỏng trong lúc này.
Khoảng 5 giờ chiều ngày 28 Tháng Tư, trong lúc Thiếu Tá Phạm Châu Tài đang đứng trên nóc một cao ốc gần Bộ Tổng Tham Mưu, nơi bố trí của một toán Biệt Cách Dù thì thấy một phi đội A37 bay vụt qua trên đầu, Thiếu Tá Tài nghĩ là phi cơ của Không Quân đi oanh tạc ở đâu về.. Bốn chiếc A37 bay thật thấp xẹt qua các nóc cao ốc, rồi hướng về phía phi trường Tân Sơn Nhất. Thế rồi Thiếu Tá Tài thấy những cụm lửa, khói bốc lên ở phi trường. Té ra không phải là máy bay của phe ta mà là phi cơ địch bỏ bom xuống phi trường. Phản ứng đầu tiên của Thiếu Tá Tài là ra lệnh cho binh sĩ của ông phòng thủ trên các cao ốc chĩa hết súng, kể cả súng cá nhân lên trời đề bắn hạ các phi cơ này, nếu chúng quay lại bỏ bom vào Bộ Tổng Tham Mưu là nơi mà ông chịu trách nhiệm phòng thủ. Tất cả chỉ xảy ra trong vòng vài phút, chỉ một pass bom, song phi đạo chính của phi trường Tân Sơn Nhất đã bị hư hại nặng. Mãi mấy tiếng đồng hồ sau, qua làn sóng của đài phát thanh VC, Thiếu Tá Phạm Châu Tài mới biết được mấy chiếc A37 đó là của Không Quân VNCH, bị bỏ lại ở ngoài miền Trung khi các đơn vị ở đó triệt thoái xuống phía Nam. Các phi cơ này do tên phản bội Nguyễn Thành Trung hướng dẫn, bay từ phi trường Phan Rang vào oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất.
Sau khi Đại Tá Thăng nhận nhiệm vụ, lệnh đầu tiên và có lẽ cũng là lệnh duy nhất của ông ban ra trong tư cách Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh là kể từ giờ không một ai được phép RA khỏi Bộ Tổng Tham Mưu, còn người VÀO, thì có lẽ trong giờ thứ 25 này, mấy ai còn nghĩ đến việc quay trở lại một địa điểm sắp làm mồi cho lửa đạn. Sau khi phi trường bị mấy chiếc A37 bỏ bom bất ngờ, vào khoảng 6 giờ chiều, Tướng Nguyễn Văn Chức từ Bộ Tổng Tham Mưu lái xe Jeep ra ngoài, bị lính Quân Cảnh chặn lại, nhưng ông Chức vẫn muốn lái xe ra ngoài, thấy vậy các binh sĩ Biệt Cách Dù can thiệp, và yêu cầu Tướng Chức quay trở lại. Suốt đêm 28, tiếng súng lớn nhỏ ở khắp nơi vọng về, song tại khu vực phòng thủ của Thiếu Tá Phạm Châu Tài tình hình lắng dịu.
Ngày 29 Tháng Tư, Bộ Tổng Tham Mưu đã có một Tổng Tham Mưu Trưởng khác: Trung Tướng Vĩnh Lộc. Vì Tướng Cao Văn Viên đã chuồn, cho nên không hề có lễ bàn giao giữa hai ông tân và cựu Tổng Tham Mưu Trưởng. Dầu sao thì sự hiện diện của một ông tướng cũng vãn hồi phần nào bộ mặt của Bộ Tổng Tham Mưu, khiến cho cơ quan đầu não này có một chút sinh khí. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thấy một số tướng lãnh khác cũng tới cùng với khá nhiều sĩ quan cấp đại tá.
Buổi chiều ngày 29 Tháng Tư, Tướng Vĩnh Lộc và một số tướng lãnh hội họp với nhau ngay tại phòng khánh tiết của Tổng Tham Mưu Trưởng. Buổi họp giống như một buổi tiếp tân nhiều hơn là một cuộc họp trong tình thế cực kỳ khẩn trương. Hầu như không một vị sĩ quan nào ngồi trên ghế, có tới vài chục vị đứng quây quần với nhau thành nhiều nhóm. Thiếu Tá Phạm Châu Tài được gọi lên tương kiến trong buổi họp kỳ lạ này. Cùng đi với Thiếu Tá Tài là bốn người lính cận vệ, và cả Thiếu Tá Tài ai nấy đều trang bị vũ khí khắp người. Thiếu Tá Tài được giới thiệu như là một người hùng. Ông ghi nhận được trong buổi họp này ngoài Trung Tướng Vĩnh Lộc, tân Tổng Tham Mưu Trưởng còn có sự hiện diện của Trung Tướng Nguyễn Hữu Có,
Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, và một chuẩn tướng nữa có bảng tên là Hỷ (không có họ) và sau cùng có chừng mười mấy vị phần lớn là đại tá. Sau khi được các sĩ quan cao cấp bắt tay khích lệ, Thiếu Tá Tài được Trung Tướng Có hỏi thăm về tình trạng đơn vị, và nhắn nhủ:
– Em ráng giữ Bộ Tổng Tham Mưu cho tới sáng ngày mai. Ráng giữ nguyên vẹn cho tới ngày mai. Đã có giải pháp.
Thiếu Tá Phạm Châu Tài ngửng mặt lên nhìn thẳng vào mắt các tướng lãnh trong phòng họp rồi bằng một thái độ quả quyết, một giọng nói tự tin trả lời cho Trung Tướng Nguyễn Hữu Có:
– Tôi xin cam đoan với quý vị tướng lãnh và các vị sĩ quan trong phòng họp này, là trong đêm nay sẽ không có một con kiến, một con ruồi nào lọt được vào Bộ Tổng Tham Mưu chứ đừng nói tới một thằng VC. Kế đó Trung Tướng Có hỏi Thiếu Tá Tài có cần ông giúp đỡ gì không. Thiếu Tá Tài nhân đó xin rút một biệt đội của ông đang phải nằm án ngữ tại Lục Quân Công Xưởng về, để tăng cường cho quân số phòng thu? Bộ Tổng Tham Mưu, vì cả đơn vị có một ngàn người còn phải chia mất một phần tư lực lượng, bị xé quá mỏng không có được một đại đội làm tuyến phòng thủ cuối cùng trong Bộ Tổng Tham Mưu.
Nghe vậy Trung Tướng Có bốc điện thoại gọi và cho kết quả ngay. Buổi họp cấp kỳ tại Bộ Tổng Tham Mưu diễn ra không lâu, sau khi các sĩ quan cao cấp rời khỏi phòng khánh tiết, cái không khí đìu hiu của buổi sáng lại diễn ra. Tuy nhiên buổi chiều đó biệt đội phòng thủ tại Lục Quân Công Xưởng được trả về cho Thiếu Tá Tài. Đêm 29 Tháng Tư súng nổ ở nhiều nơi vọng về chỗ đóng quân của Thiếu Tá Tài. Binh sĩ dưới quyền ông chạm súng lẻ tẻ với địch ở nhiều nơi, nhưng các đứa con được bung ra không bị một thiệt hại nhỏ nhoi nào. Thiếu Tá Phạm Châu Tài cảm nhận được một điều là tinh thần chiến đấu cũng như hàng ngũ của đơn vị ông vô cùng vững chãi. Cho dù trên cái vòm chỉ huy của quân đội, các ngôi sao cứ tuần tự băng trong bóng tối của trận chiến sau cùng. Ông vững lòng với binh sĩ thuộc hạ, không hề có một ổ kháng cự nào bị bỏ ngỏ. Đêm 29 Tháng Tư năm 1975, có thể là một đêm dài vô tận với hầu hết mọi người quân như dân, ai nấy đều co mình lại chờ sáng, thậm chí mắt căng ra không ngủ được, nhưng với Thiếu Tá Phạm Châu Tài thì khác, ngoại trừ những lúc phải đi kiểm soát binh sĩ dưới quyền, ngoại trừ những lúc phải chỉ huy, ông đã ngủ rất ngon trong những giờ trống. Sở dĩ Thiếu Tá Phạm Châu Tài ngủ ngon, vì ông đã xác định hẳn cho cá nhân mình cũng như toàn đơn vị một ý chí duy nhất: Giữ cho được Bộ Tổng Tham Mưu không phải chỉ một đêm nay, mà là nhiều đêm sau nếu cần, cho tới khi nào có được giải pháp cuối cùng cho miền Nam.
Tờ mờ sáng ngày 30 Tháng Tư 1975, Cộng Quân tiến vào Saigon qua nhiều ngả. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thầm nhủ với mình là giờ phút cuối cùng đã điểm. Ông liên lạc với các thuộc cấp, dặn dò họ những khẩu lệnh cuối. Qua các máy truyền tin, ông biết bộ binh của CS đã được các xe tăng dẫn đầu bứng các chốt kháng cự một cách nhanh chóng. Phía trước của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, những khóa sinh chưa kịp ra trường đã tiến ra mặt trận, mà mặt trận đâu có xa xôi gì. Bên ngoài vòng đai trung tâm huấn luyện chính là nơi trận chiến cuối cùng đang diễn ra. Thế những những người lính chưa kịp ra lò này đã có một bài thực tập tốt về chống chiến xa. Hai chiến xa của địch đã bị bắn hạ tại đây, thế nhưng những chiếc khác vẫn cứ thẳng đường tiến về Saigon. Núp theo sau những chiến xa này, là những chiếc xe vận tải chuyển quân, trên đó chất đầy những cán binh CS, với quần áo còn có lá cây ngụy trang trên nón.
Tới Ngã Tư Bảy Hiền, cánh quân này bắt đầu đụng độ với Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, và bị bắn hạ một chiếc dẫn đầu tại Ngã Tư Bảy Hiền. Những chiếc sau vẫn tuần tự tiến tới, thậm chí Cộng quân cũng không hề ngừng lại phản công tại những địa điểm có ổ kháng cự của những người LÍNH cuối cùng. Cánh quân này lướt qua để tiến về trung tâm thủ đô. Các binh sĩ Biệt Cách Dù vừa đánh vừa rút theo với đà tiến của địch. Hai chiếc tăng khác của Cộng Quân bị bắn hạ ở cổng Phi Long, một chiếc bị bắn hạ ở Lăng Cha Cả. Và bây giờ thì Cộng Quân đã có mặt tại vòng đai của Bộ Tổng Tham Mưu. Hai chiếc tăng nữa bị hạ ngay gần cổng Bộ Tổng Tham Mưu. Các binh sĩ Biệt Cách cũng đã rút về, tập họp khá đầy đủ chung quanh cấp chỉ huy của họ, và tuyến phòng thủ cuối cùng cũng đã thiết lập xong. Mấy trăm người LÍNH hờm súng về phía trước, mắt căng ra chờ địch quân tiến vào.
Vào khoảng hơn 9 giờ sáng của ngày 30 Tháng Tư 1975, qua tần số của máy truyền tin, Thiếu Tá Phạm Châu Tài nhận được lệnh của một sĩ quan Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu yêu cầu ngưng bắn. Ông đã khước từ tuân hành lệnh này, và trả lời cho vị sĩ quan này là ông chỉ nhận lệnh trực tiếp với ông Tổng Tham Mưu Trưởng mà thôi. Những người lính Biệt Cách Dù vẫn giữ nguyên vị trí phòng thủ trong vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu.
Vào khoảng mười giờ, Thiếu Tá Phạm Châu Tài nghe trên đài phát thanh truyền đi lệnh của Đại Tướng Dương Văn Minh, yêu cầu tất cả quân nhân các cấp của Quân Lực VNCH buông súng. Thiếu Tá Tài bỏ phòng tuyến trở vào một văn phòng của Bộ Tổng Tham Mưu, đích thân gọi điện thoại lên Dinh Độc Lập và được Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh tự nhận là Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH.. Thiếu Tá Phạm Châu Tài cho biết là bây giờ ông muốn được nói chuyện với Đại Tướng Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Đội. Khoảng chừng 15 phút chờ đợi dài như một thế kỷ, bên kia đâu dây điện thoại mới nghe giọng nói của Đại Tướng Dương Văn Minh cất lên:
– Đại Tướng Dương Văn Minh tôi nghe.
– Thưa đại tướng, tôi là Thiếu Tá Phạm Châu Tài đang chỉ huy Biệt Kích Dù phòng thu? Bộ Tổng Tham Mưu. Chúng tôi được ủy thác phòng thủ tại đây cho tới khi có giải pháp cuối cùng. Cách đây một giờ chúng tôi được lệnh ngưng bắn gọi qua máy siêu tần số, và vừa mới rồi được nghe lệnh của đại tướng trên đài phát thanh kêu gọi ngưng bắn. Chúng tôi xin hỏi lại cho rõ về ngưng bắn là thế nào?
Sau một khắc ngần ngừ, Đại Tướng Minh nói:
– Mình không còn một cái gì để đánh cả. Em chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia.
– Thưa đại tướng, thế có nghĩa là đầu hàng vô điều kiện.
Đầu dây bên kia lại một phút im lặng nặng nề trôi qua, Thiếu Tá Tài nói tiếp vào điện thoại:
– Thưa đại tướng, chúng tôi được lệnh là cố thủ tại đây, và từ sáng tới giờ chúng tôi đã ngăn chặn được các mũi tấn công của địch. Chúng tôi đã bắn cháy 6 chiếc tăng của CS trong khu vực này, mà không hề hấn gì cả. Thưa đại tướng, chúng ta không thể đầu hàng được. Công lao của Quân Lực VNCH trong bao nhiêu năm sẽ…
– Tùy các em.
– Thưa đại tướng, nếu đầu hàng đại tướng có bảo đảm cho sinh mạng của hai ngàn người đang tử thủ tại Bộ Tổng Tham Mưu không.
Lại một phút nặng nề nữa trôi qua. Sau cùng Tướng Minh nói:
– Xe tăng của địch quân sắp tiến vào đây. Tùy các em.
Và rồi điện thoại bị cúp.
Thiếu Tá Phạm Châu Tài buông điện thoại xuống, quay trở lại với phòng tuyến của mình. Ông đã đi qua những hành lang rộng, những văn phòng khang trang của Bộ Tổng Tham Mưu, song ông không bắt gặp một tướng lãnh nào, một sĩ quan cao cấp nào. Khi nghe câu nói cuối cùng của Đại Tướng Dương Văn Minh cho biết là xe tăng của Cộng quân đang sắp tới Dinh Độc Lập, Thiếu Tá Tài đã định trình bày cho Đại Tướng Minh biết, là nếu cần ông sẽ mang quân về cứu đại tướng, vì không thể đầu hàng vô điều kiện được, mà phải có một giải pháp nào đó cho quân đội, cho những người lính.
Quay trở ra phòng tuyến của mình, Thiếu Tá Phạm Châu Tài thấy toàn thể đơn vị của ông vẫn còn súng lăm lăm trong tay, mắt hướng ra ngoài chờ địch quân tiến tới.
Đúng vào lúc đó thì tiếng Đại Tướng Dương Văn Minh lại vang lên trên làn sóng phát thanh. Bây giờ không phải là lệnh ngưng chiến tại chỗ, chờ bên kia tới bàn giao, mà lệnh đầu hàng vô điều kiện. Cuộc chiến kút thúc
Thiếu Tá Mai trở về với gia đình, rồi những sau đó cùng chung số phận của những chiến hữu khác trong QL.VNCH, ông phải trải qua nhiều trại cải tạo khắc nghiệt của kẻ thù. Đến khi được thả về ông và gia đình đã định cư tại California cho tớí ngày hôm nay.
Cuộc chiến đau thương đã cướp đi không biết bao nhiêu hoàng đai của môn phái Vovinam trong trận An Lộc và các chiến trận khác. Bích Thuỷ xin được ghi lại nét hào hùng của một người môn sinh Vovinam, đại sư huynh Phạm Châu Tài, Liên đoàn trưởng Liên Đoàn 3 Biệt Cách Nhảy Dù , một đơn vị thiện chiến của QL.VNCH, cũng là một đơn vị có nhiều Huấn Luyện Viên cấp Hoàng Đai của môn phái Vovinam -Việt Võ Đạo, ông đã nêu cao lý tưởng Tổ Quốc Danh Dự và Trách Nhiệm của một một quân nhân trong việc bảo quốc an dân đến giây phút cuối của cuộc chiến. Với tinh thần Việt Võ Đạo đầy ấp trong trái tim từ ái, môn sinh Phạm Châu tài một cấp chỉ huy thật xứng đáng để được tuyên dương trước quân đội vì đã không bỏ rơi đồng đội, các thuộc cấp, đồng môn của mình để rời nơi chiến đấu như một số tướng tá khác trong QL.VNCH, môn sinh Phạm Châu Tài còn xứng đáng là một tấm gương cho các hậu bối trong môn phái Vovinam.
Đại sư huynh Phạm Châu Tài đã hy sinh trọn đời trai cho sự tự do của miền nam và tổ quốc VNCH, ông thật xứng đáng là một đại sư huynh của chúng tôi, những hậu duệ VNCH, những hậu bối trong hàng ngũ Vovinam. Thiếu tá Phạm Châu Tài đã từ chối hết các việc di tản để giử trọn tình huynh đệ chi binh tình, đồng môn cho đến khi tan hàng. Tôi kính phục và ngưỡng mộ nên viết tặng người đại sư huynh Phạm Châu Tài. Một cấp chỉ huy hào hùng của QL.VNCH!!
Hậu bối, môn sinh Lý Bích Thuỷ không quên dâng nén tâm nhang và nghiêm lễ tưởng nhớ đến các đại sư huynh khác của môn phái Vovinam, những người chiến sĩ thuộc Lực Lượng Biệt Cách Nhảy Dù 81 đã nằm xuống vì tự do cho dân tộc và tổ quốc VNCH. Cám ơn sư huynh Phạm hoàng Thư, người con trai thứ hai của Đại Sư huynh Phạm Châu Tài, đã cung cấp một số hình ảnh để làm tư liệu cho bài viết này.
Xin mời xem tiếp tại:http://lybichthuy.blogspot.de/…/nguoi-mon-sinh-vovinam-h-ao…
Lý Bích Thuỷ
12/8/2016
Tài liệu tham khảo:
1.LĐ81/BCND Và Những Ngày Tháng Tư
http://www.bcdlldb.com/LD81BCND.htm
2.Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH: Những Ngày Cuối CùngVƯƠNG HỒNG ANH/ Việt Báo:http://motgoctroi.com/StLich…/LSCandai/…/Ngaycuoi_BTTMuu.htm
3. Hổ xám Phạm Châu tài
https://ongvove.wordpress.com/…/h%E1%BB%95-xam-ph%E1%BA%A1…/
4. An Lộc chiến trường đi không hẹn, tác gỉa Phạm Châu tài
https://phunulamvien.wordpress.com/…/an-loc-chien-truong-d…/
5. Chú Quế- Vương Mộng Long http://batkhuat.net/van-chu-que.htm
Bình luận:
Mai Nguyễn Huỳnh - Đại sư huynh- Th/Tá Phạm Châu TàiThưa các chiến hữu mọi quân binh chũng và các bạn trẻ Hậu duệ VNCH. Chúng tôi, đã tập hợp về đây để tham trận chiến cuối cùng, bão vệ Bộ TTM.QL.VNCH trong biến cố lịch sử 30 Tháng 4/1975. Chúng tôi là dân tác chiến...khắp mọi miền đất nước. Và đã từng ' nhảy toán bệt kích ' ra đất Bắc theo kế hoạch 34.A của cơ quan tình báo DAO Hoa Kỳ. Chúng tôi thừa nhận " Cọp xám, Th/Tá Phạm Châu tài " là một thiên tài chỉ huy đánh trận rất xứng đáng anh hùng...bảo vệ đất Việt Miền Nam VNCH. Nhưng ' thời thế chưa tạo được anh hùng ' vì gặp phải tướng hèn Dương văn Minh . Rất cảm ơn Tứ Đai anh Thư, Bichthuy Ly các cháu đã bỏ công sưu tầm về vị đại sư huynh Cọp Xám, Th/Tá Phạm Châu Tài là môn sinh Viêt Võ Đạo, có truyền thống dân tộc bảo vệ Tự Do Miền Nam!!!
Mai Nguyễn Huỳnh BẮT CÓC CON TIN LÍNH MỸ?!
Chúng tôi là những nhân viên sĩ quan của các sở, ban, phòng , bệ... trực thuộc Bộ TTM, nhưng khi có biến động an ninh, thì chúng tôi là lính cơ hữu phòng vệ cho Bộ TTM. Những ngày áp chót 30 tháng 4/ năm 1975, trước áp lực của cộng quân, chúng tôi khẩn cấp đào hầm trú ẩn cho binh sĩ và vợ con lính tráng trong khu dân sinh ' gia binh trại Hưng Đạo trong B.TTM. chúng tôi chịu sự điều hành chỉ huy chủa Th/Tá Tài đào hầm cho vợ con lính trú ẩn; sự thật chiến trường,.. lính chúng tôi đánh tăng -Tanks địch bằng chiến thuật xung kích, tấn công...Chúng tôi đào hầm hố trước sân TCQH: Sở Quân trường + Sở Ttung tâm Huấn luyện. và cũng là trươc ngỏ cơ quan DAO & NACV- Trung tâm tình báo CIA Hoa Kỳ cùng chung làm việc thường ngày. và muốm mượn 2 cơ quan đầu não Hoa Kỳ này làm rào chắn bảo vệ vợ con lính BộTTM, nếu có cuộc tấn công quân cs Bắc việt từ hướng Tân Sơn Nhất tràn qua rào phòng thủ.
Sĩ quan Bộ TTM chúng tôi và Th/Tá Tài có kế hoạch phòng thủ vô cùng hiệu quả và chắc chắn trước sức tấn côngcủa quân CSBV được phép bật đèn xanh của Mỹ phản bội d0o62ng mimh VNCH và hèn tướng Dương Văn Minh đầu hàng Bắc CsHN. Chúng tôi, sẽ thực hiện kế sách chiến lược bắt cóc con tin người Mỹ, bao gồm 73 chuyên viên hàng đầu điện toán CIA- Trung ương tình báo Hoa Kỳ đang kẹt lại tai Bộ TTM, tai DAO + NACV, là ân nhân của Hà Nội; Giấu đi bức mật điện đầu hàng vô điều kiện Hoa Kỳ trng chiến dịch Operation Line Backer I + II, d0oi2 san bắng Hà Nội, để đưa Lê Đức Thọ trở lại bàn hội nghị Ba Lê, ký H Đ Paris/73, bán đứng đồng minh VNCH, để đổi lấy thị trường đông dân, 1,4 tỷ người Tàu tiêu thụ hàng hóa Hoa Kỳ... ,lại còn khuyến mãi Hoàng Sa & Trường Sa VNCH cho tàu công để chung sống Biển Đông Á'TBD với Tàu cộng /TQ. Chúng tôi muốn giữ lại trên 73 nhân viên tình báo CIA Hoa Kỳ này làm lá chắn bảo vệ cho sinh mạng đồng bào và đồng đội mình di tản ra khỏi Sài Gòn để tránh một cuộc tẩm máu của csHa Nội, đối với Sài Gòn, nếu không có một tiể đoàn TQLC Hoa Kỳ- toán Biệt Hãi Mỹ dổ bộ từ đệ thất hạm đội Mỷ từ ngoài khơi vũng tàu vào Sài gòn giải cứu con tin tại Bộ TTM/QL.VNCH. Mà Hà Nội hoảng hồn cứ tưở là Nỹ phản phé- nuốt lời khi trói tay bức tữ Miền Nam bán đứng VNCH. Và hậu quả d8e63 lại... cho nhóm sĩ quan phòng vệ TTM là bị Đại Tá Tòng bắt nhốt vào nhà lao Tổng Hành Dinh Bộ TTM, cùng chung với các tướng lãnh quân sự tại mặt trận chiến trường về Bộ TTM bắt nhốt tù, để binh lính mất cấp chỉ huy như rắn mất đầu...Dễ bề cho hàng tướng Dương văn Minh đầu hàng Cộng sản- Vận nước Miền Nam nỗi trôi theo gót chân phong trần của người lính chiến Ql.VNCH. "Nó nhỏ- nhưng nó có võ "là nhờ tinh thần " Việt Võ Đạo" un đúc tinh thần chiếm đấu vì Tự Do dân tộc bết yêu VoViMam võ học...!!!- Huỳnh Mai St.8872
Chúng tôi là những nhân viên sĩ quan của các sở, ban, phòng , bệ... trực thuộc Bộ TTM, nhưng khi có biến động an ninh, thì chúng tôi là lính cơ hữu phòng vệ cho Bộ TTM. Những ngày áp chót 30 tháng 4/ năm 1975, trước áp lực của cộng quân, chúng tôi khẩn cấp đào hầm trú ẩn cho binh sĩ và vợ con lính tráng trong khu dân sinh ' gia binh trại Hưng Đạo trong B.TTM. chúng tôi chịu sự điều hành chỉ huy chủa Th/Tá Tài đào hầm cho vợ con lính trú ẩn; sự thật chiến trường,.. lính chúng tôi đánh tăng -Tanks địch bằng chiến thuật xung kích, tấn công...Chúng tôi đào hầm hố trước sân TCQH: Sở Quân trường + Sở Ttung tâm Huấn luyện. và cũng là trươc ngỏ cơ quan DAO & NACV- Trung tâm tình báo CIA Hoa Kỳ cùng chung làm việc thường ngày. và muốm mượn 2 cơ quan đầu não Hoa Kỳ này làm rào chắn bảo vệ vợ con lính BộTTM, nếu có cuộc tấn công quân cs Bắc việt từ hướng Tân Sơn Nhất tràn qua rào phòng thủ.
Sĩ quan Bộ TTM chúng tôi và Th/Tá Tài có kế hoạch phòng thủ vô cùng hiệu quả và chắc chắn trước sức tấn côngcủa quân CSBV được phép bật đèn xanh của Mỹ phản bội d0o62ng mimh VNCH và hèn tướng Dương Văn Minh đầu hàng Bắc CsHN. Chúng tôi, sẽ thực hiện kế sách chiến lược bắt cóc con tin người Mỹ, bao gồm 73 chuyên viên hàng đầu điện toán CIA- Trung ương tình báo Hoa Kỳ đang kẹt lại tai Bộ TTM, tai DAO + NACV, là ân nhân của Hà Nội; Giấu đi bức mật điện đầu hàng vô điều kiện Hoa Kỳ trng chiến dịch Operation Line Backer I + II, d0oi2 san bắng Hà Nội, để đưa Lê Đức Thọ trở lại bàn hội nghị Ba Lê, ký H Đ Paris/73, bán đứng đồng minh VNCH, để đổi lấy thị trường đông dân, 1,4 tỷ người Tàu tiêu thụ hàng hóa Hoa Kỳ... ,lại còn khuyến mãi Hoàng Sa & Trường Sa VNCH cho tàu công để chung sống Biển Đông Á'TBD với Tàu cộng /TQ. Chúng tôi muốn giữ lại trên 73 nhân viên tình báo CIA Hoa Kỳ này làm lá chắn bảo vệ cho sinh mạng đồng bào và đồng đội mình di tản ra khỏi Sài Gòn để tránh một cuộc tẩm máu của csHa Nội, đối với Sài Gòn, nếu không có một tiể đoàn TQLC Hoa Kỳ- toán Biệt Hãi Mỹ dổ bộ từ đệ thất hạm đội Mỷ từ ngoài khơi vũng tàu vào Sài gòn giải cứu con tin tại Bộ TTM/QL.VNCH. Mà Hà Nội hoảng hồn cứ tưở là Nỹ phản phé- nuốt lời khi trói tay bức tữ Miền Nam bán đứng VNCH. Và hậu quả d8e63 lại... cho nhóm sĩ quan phòng vệ TTM là bị Đại Tá Tòng bắt nhốt vào nhà lao Tổng Hành Dinh Bộ TTM, cùng chung với các tướng lãnh quân sự tại mặt trận chiến trường về Bộ TTM bắt nhốt tù, để binh lính mất cấp chỉ huy như rắn mất đầu...Dễ bề cho hàng tướng Dương văn Minh đầu hàng Cộng sản- Vận nước Miền Nam nỗi trôi theo gót chân phong trần của người lính chiến Ql.VNCH. "Nó nhỏ- nhưng nó có võ "là nhờ tinh thần " Việt Võ Đạo" un đúc tinh thần chiếm đấu vì Tự Do dân tộc bết yêu VoViMam võ học...!!!- Huỳnh Mai St.8872
Bichthuy Ly Con cám ơn chia sẻ của bác Mai Nguyễn Huỳnh. Thời Vovianm trước 1975, con chỉ được biết qua nội con và các bác trong gia đình đã từng học qua bộ môn văn hoá nghệ thuật này, Tất cã đều rất trân trọng tình sư môn trong cùng một môn phái. Nhưng rất tiếc bộ môn tốt dẹp đã đóng góp không ít trong việc giử gìn miền nam VN chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Ngày xưa được phổ cập trong các trường trung học ở miền nam VN và trong các hàng ngũ QL.VNCH, Cảnh sát Quốc Gia, Quân cảnh.....Ngày nay VVN bị phân hoá vì cộng sản đã quốc doanh hoá Vovinam trong nước và một số cơ sở ở Hải Ngoại, do đó bản chất nguyên thủy của VoViNam đã biến chất, giống như tình trạng các tôn giáo ở VN. Đó là một vấn đề lớn cần phải giải quyết tận gốc thời hậu cộng sản một cách triệt để và toàn diện, để trả Vovinam về đúng với chổ đứng của nó.ThíchHiển thị thêm cảm xúc
·
Thu Pham Cháu xin cám ơn Chú Mai Nguyên Huỳnh. Tại Bộ TTM QLVNCH những ngày cưới tháng 4/75 còn có Thiểu Tá Lê Mình, Chiến Đoàn Trưởng Lôi Hổ. Bác Lê Minh ngày trước cùng học khóa Nhảy Dù tại Hoàng Hoa Thám với Ba của cháu.Kính, Thư
Bichthuy Ly Bác ui! Người Đại sư huynh Phạm Châu Tài này thiệt là hết ý đó. Ông từng có ý định bắt sống Dương Văn Minh ngay trong sáng ngày 3o.4.1975 trước lúc bàn giao cho VC.. câu chuyện này có rất nhiều chiến sĩ thuộc Liên Đoàn 3 BKND biết, Ông Nguyễn văn Huyền biết, ông Vũ văn Mẩu biết, ông Dương văn Minh biết, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh biết và VC cũng có biết... Việc này 20 năm sau 30.4.1975 vc cóviết trên tờ Tuổi Trẻ.. Con cám ơn những chia sẻ của Bác Mai Nguyễn Huỳnh về Hổ xám Vovinam Phạm Châu Tài.
https://youtu.be/NYpfQXBuf9A
Danh Dự VNCH Được Khôi Phục Như Thế Nào
https://youtu.be/avy1haO6kK8
NGƯỜI DÂN VN MONG CHỜ MỸ SẼ TÁI KHỞI ĐỘNG HIỆP ĐỊNH PARI (Tháng 1/1973)
https://youtu.be/rRIdoKhFy3Q
Gs LÊ NGUYỄN CÔNG TÂM: THỈNH NGUYỆN THƯ ĐẾN TT DONALD TRUMP
https://youtu.be/z2H1rJ3e1-Q
TT TRUMP ra THÔNG CÁO công nhận CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ là cờ DÂN TỘC Việt Nam
https://youtu.be/lYjHOJk5Kx8
Tin Vui: TT Mỹ GẤP RÚT tái xét Hiệp Định Pari 1973 đưa VNCH trở lại trước khi VN mất tên trên bản đồ
https://youtu.be/L372ZlOyW1w
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc chứng nhận Hiệp định Paris còn hiệu lực và có thể tái hợp VNCH #VoteTv
https://youtu.be/CtRnWU72L9o
LHQ mở lại hồ sơ Hiệp Định Paris 1973 tái lập VNCH - Reopening Paris Accords 1973 by UN? #VoteTv
https://youtu.be/On0uWruX_M8
Để khôi phục VNCH trở lại trước năm 2020, mỗi người dân chúng ta phải làm gì?
https://youtu.be/MEti6kMtvtU
CHẤN ĐỘNG: Chết chưa kịp cứng xác, John McCain lộ sự thật ít ai biết về Chương trình HO
https://youtu.be/qOnoFXT4Xpk
Thủ tướng Đào Minh Quân thông báo: Thời gian đã đến để giải thể chế độ CS Việt Nam
https://youtu.be/ddeRPmp5BaU
#thờisựhoakỳ #thoisuhoaky
Thời Sự Hoa Kỳ 14/9/2018: OBAMA SẼ CHẲNG BAO GIỜ CÓ THỂ SO SÁNH ĐƯỢC TỔNG THỐNG VĨ ĐẠI DONALD TRUMP
https://youtu.be/WVwrF4Bs1Sw
NGUYỄN TẤN DŨNG tuyên bố THỜI CƠ ĐÃ ĐẾN lúc GIẢI THỂ đảng Nguyễn Phú Trọng
https://youtu.be/3fqwfNLX_rw
Nguyễn Tấn Dũng hiệu triệu Đảng viên Miền Nam ĐẢO CHÍNH thành lập ĐỆ TAM VNCH
https://youtu.be/3bgPyvBbZd4
Đảng Cộng Sản Miền Nam yêu cầu tách Đảng để đưa Việt Nam Cộng Hòa trở lại
https://youtu.be/pExBeKE4wRc
Quân đội quân khu 9 và quân khu 7 kéo về chiếm Sài Gòn tuyên bố thành lập chính phủ VN lâm thời
https://youtu.be/4jQeHSOZFRA
CTPT ĐỆ TAM VNCH - Đồng bào hãy tỉnh táo đừng để mắc mưu CSMN trá hình VNCH để tiếp tục cai trị dân
https://youtu.be/o_8OgmhADgQ
#tintucvietnam #tintuc #tintrongnuoc
Tin Nóng Cộng Sản Bắt Đầu Chiến Dịch Tẩy Não Người Miền Nam
https://youtu.be/eCf_MEjYShM
TIN KHẨN🔴👉 Danh sách 326 quan chức VN xin định cư Canada bị trả lại Hồ sơ do vướng nguồn gốc Tài sản
https://youtu.be/mSLWYZmnLlQ
#tintucvietnam #tintuc #tintrongnuoc
Tuyên Bố Chiến Với Cộng Sản
https://youtu.be/ZPpr8dM6ZqE
Liên Hiệp Quốc ra THÔNG CÁO yêu cầu Việt Nam phải trả tự do cho anh Trần Huỳnh Duy Thức
https://youtu.be/m6ooleyiNiQ
Hà Nội ( 1974 ) & Sài Gòn ( 1969 )
https://youtu.be/Y5dgcjIcnPw
Liên Hiệp Quốc đang soạn bản CẤM VẬN VIỆT NAM vì trục xuất hai lãnh đạo nhân quyền quốc tế? #VoteTv
https://youtu.be/hfV2ZrJ8P_I
CP Mỹ CHÍNH THỨC rút khỏi Nhân Quyền LHQ Việt Nam chuẩn bị nhận lệ/nh T/R/Ừ/N/G P/H/Ạ/T mới
https://youtu.be/gvShk1NMSEE
Mỹ và Canada quyết định ĐUỔI Việt Nam ra khỏi mọi hoạt động của EU khiến Trọng Lú KHÓC RÒNG
https://youtu.be/kWMuApDNgAA
#tintucvietnam #tintuc #tintrongnuoc
Dân Oan 3 Miền Trỗi Dậy
https://youtu.be/TOPOL_XZnyw
KHẨN: HÀNG LOẠT QUAN CHỨC CAO CẤP BỎ CHẠY RA NƯỚC NGOÀI BẰNG BẰNG NGẢ ĐẦU TƯ.
https://youtu.be/HageN3K3KeU
Ông Đào Minh Quân: Khởi kiện TQ & VN, đòi bồi thường 36 ngàn tỷ đô la
Ông Đào Minh Quân và tổ chức “Chính phủ QGVN Lâm thời” công bố phát hành tiền ảo, hệ thống bầu cử bằng điện thoại, kiện chính quyền Trung Quốc & Việt Nam ra tòa hình sự quốc tế: Khởi kiện Trung Quốc & Việt Nam, đòi bồi thường 36 ngàn tỷ đô la. Tặng Hoa Kỳ 15 ngàn tỷ, tặng nhân dân Việt Nam 21 ngàn tỷ.
https://youtu.be/latDXgtVetI
TT | Ðào Minh Quân | với cpqgvnlt | hay | csvn là | khủng bố |
https://youtu.be/joL6uZ7infE
CPQGVNLT || 12-09-2018 Chương trình phát thanh TIẾNG NÓI VIỆT NAM CỘNG HÒA - P2
https://youtu.be/Kg-ScxUi5
🆕 CPQGVNLT || TÌNH HÌNH NGUY HIỂM KHẨN CẤP TRƯNG CẦU DÂN Ý
https://youtu.be/_l1MKyiTBus
TOÀN DÂN VIỆT NAM QUYẾT TÂM BẢO VỆ CHỦ QUYỀN TỔ QUỐC
https://youtu.be/PirrFH-27hA
Vinh danh VNCH trở lại bằng màn diễu hành hùng tránh tại Washington DC
https://youtu.be/eX80JDdhohY
20180915 CTPT Huấn Từ THỦ TƯỚNG ĐÀO MINH QUÂN ngày 12 09 2018
https://youtu.be/GcYhgyMjUX8
Dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy Việt Nam Cộng Hòa sắp trở lại từ vĩ tuyến 17 trở vào
https://youtu.be/mQmW5NEyaF8
#tintucvietnam #tintuc #tintrongnuoc
Dùng tên VNCH để giao đất Mẹ VN
https://youtu.be/cTH3311QYbc
#TròChuyệnĐêmKhuya
Hồi Ký Trại Cải Tạo Kale #1 - Hồi Ký của Kale | Trò Chuyện Đêm Khuya
https://youtu.be/1TQ4UFZv_48
#TròChuyệnĐêmKhuya
Hồi Ký Trại Cải Tạo Kale #2 - Hồi Ký của Kale | Trò Chuyện Đêm Khuya
https://youtu.be/rp1Xo38Wghc
#TròChuyệnĐêmKhuya
Hồi Ký Trại Cải Tạo Kale #3 End - Hồi Ký của Kale | Trò Chuyện Đêm Khuya
https://youtu.be/_clWXZklyPE
ĐẠN NỔ TRONG TÙ CẢI TẠO LONG KHÁNH {RIVER BRIDGE KWAII OF SOUTH VIETNAM} Tác giả: Huỳnh Mai St.8872. Bh: Dạ Lệ ...
Nguồn: http://mainguyenhuynh.blogspot.com/2017/08/an-no-trong-tu-cai-tao-long-khanh-river_1.htmlThứ Ba, 1 tháng 8, 2017
ĐẠN NỔ TRONG TÙ CẢI TẠO LONG KHÁNH
{RIVER BRIDGE KWAII OF SOUTH VIETNAM}
Tác giả: Huỳnh Mai St.8872. Bh: Dạ Lệ ...
http://vietnamesebooks.blogspot.com/2011/03/no-trong-tu-cai-tao-long-khanh-huynh.html

Đạn Nổ Trong Tù Cải Tạo Long Khánh!!!
{RIVER BRIDGE KWAII OF SOUTH VIETNAM}
Tác giả: Huỳnh Mai St.8872
Bh: Dạ Lệ Huỳnh
Đã nói lên cuộc chiến đấu âm thầm, uy dũng của những người tù chính trị cộng sản Việt Nam, những cựu sĩ quan các cấp Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nơi trại tù Long Khánh. Một thời được gọi với danh xưng "cải tạo".
Cuộc chiến đấu âm thầm, uy dũng này đã làm sáng thêm trang sử vàng son cận đại của dân tộc Việt Nam.
Chúng tôi trân trọng giới thiệu đến quý độc giả trong và ngoài nước "Tập hồi ký Đạn nổ trong tù Cải tạo Long Khánh" của tác giả Dạ Lệ Huỳnh.
Dạ Lệ Huỳnh
Cựu Đại úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Đơn vị sau cùng: Bộ Tổng Tham Mưu/QL.VNCH/TCQH
2 năm rưỡi tù Cộng sản.
Ban biên tập Lịch Sử Quân Sử Việt Nam (http://quansuvn.info)
http://vietnamesebooks.blogspot.com/2011/03/no-trong-tu-cai-tao-long-khanh-huynh.html
HIỆP ĐỊNH PARIS 1973 CHẤM DỨT CHIẾN TRANH VIỆT NAM HAY SỰ PHẢN BỘI HÈN HẠ CỦA CSVN
https://youtu.be/PUfJcp9y2Zk
Bông Hồng Trên Nấm Mồ Hoang - Trại Cải Tạo Đèo Ban, Sơn La
https://youtu.be/
NGUYỄN ĐẠT THỊNH 🌶️ TRẠI CẢI TẠO
https://youtu.be/WKI1y6_VHXU
Giải pháp nào Hoa Kỳ có thể nhảy vào Việt Nam
https://youtu.be/DJTYEStPWkc
TIN VUI CHO NHÂN LOẠI - TRUMP QUYẾT ĐÁNH GỤC TRUNG QUỐC BẰNG GÓI THUẾ MỚI 200 TỶ ĐÔ LA
https://youtu.be/u5Gp7taqm14
LOA LOA 12/09/2018 CTPT - Người Việt Quốc Gia Chờ đón HỒI HƯƠNG khi ĐẤT NƯỚC SẠCH CỘNG SẢN- hihihi
https://youtu.be/MgFSQbhg-qI
Liên minh châu âu tuyên bố CSVN phải lãnh HẬU QUẢ khi BẮT GIAM và TRỤC XUẤT lãnh đạo nhân quyền QT
https://youtu.be/rtj7HiJ53yA
CSVN GIẢ MẠO hậu duệ VNCH để giao đất cho Tàu Cộng và LỪA ĐẢO hội AE Dân Chủ
https://youtu.be/Qf8JDMEy0t0
TIN VUI CHO NHÂN LOẠI - TRUMP QUYẾT ĐÁNH GỤC TRUNG QUỐC BẰNG GÓI THUẾ MỚI 200 TỶ ĐÔ LA
https://youtu.be/u5Gp7taqm14
#thờisựhoakỳ #thoisuhoaky
18/9/2018 HƠN 90 TRIỆU DÂN VIỆT NAM VUI MỪNG VÌ MỸ THỔI BAY ĐẢO NHÂN TẠO CỦA TRUNG CỘNG
https://youtu.be/AVK3iACx3DA
Khẩn Cấp: Bộ Chính Trị Đã Có Giải Pháp 'LÀM CÁCH NÀO LẤY VÀNG CỦA DÂN' Bỏ Túi Riêng?
https://youtu.be/7YoJiOH7O3U
Cộng Sản Dùng tên VNCH để cướp tài sản Miền Nam
https://youtu.be/G6_x8gEp1II
#tintuchot365 #tinmoinhat #tinmoi
Quá Bất ngờ Tập Cận Bình tuyên bố rút lui bành trướng trả lại biển Đông cho Việt Nam
https://youtu.be/fnv6QCoOntU
Chiến tranh Việt Nam: chính nghĩa thuộc về ai?
18/09/2018

Embed
Embed
The code has been copied to your clipboard.
The URL has been copied to your clipboard
No media source currently available
0:00 0:03:28
2:44
Đường dẫn trực tiếp
#VOATIENGVIET Tin tức: http://www.facebook.com/VOATiengViet, http://www.youtube.com/VOATiengVietVideo, http://www.voatiengviet.com. Nếu không vào được VOA, xin các bạn hãy vào http://vn3000.com để vượt tường lửa. Trong cuộc chiến tại Việt Nam (1954 -1975) vì sao Hoa Kỳ và đồng minh lại thất bại? Đó là câu hỏi mà giới học giả và rất nhiều người quan tâm tại Mỹ vẫn đang tiếp tục tìm câu trả lời cho tới ngày hôm nay, khi cuộc chiến đã đi qua gần nửa thế kỷ. Và đó cũng là nội dung chính của một cuộc hội thảo vừa được tổ chức cuối tuần qua tại trung tâm thủ đô Washington, Hoa Kỳ, với sự tham gia của những học gia và chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu chính trị và lịch sử...
Mai Huỳnh Mai St.8872 qua Google+
VÁN BÀI LẬT NGỬA- VNCH TRỞ LẠIChúng tôi là những chiến sĩ Miền Nam VNCH , thấy mấy ông Mỹ phản bội đồng minh VNCH, đem 2 tàu chiến ra tuần tra vòng quanh 2 đảo Subi và Vành Khăn nhân tạo của VN; không làm cho Trung cộng run sợ đâu??!. Vì công ước quốc tế về biển Đông- Unclos 1982, Tầu Công có quyền phủ quyết chiến tranh nếu xẩy ra..nếu có.tranh chấp với Mỹ.. và chỉ bắn súng nước như VNCS mà thôi;.cho đến khi làm chủ 90% biển Đông về tay Tầu công?!
Chỉ còn giải pháp " VNCH TRỞ LAI " Là lái bài lật ngửa cuối cùng cho Mỹ và LHQ giải quyết tranh chấp Hoàng Sa & Trường Sa VN, để khai thông " Quốc tế hóa hàng hải biển Đông ".cho kinh tế đối tác TPP. Bắt buộc Trung Cộng và Quân CS Bắc Việt Hà Nội phải rút quân về Vĩ tuyến 17. Và Hoàng + Trường Sa, phải trả lại cho VNCH, theo HĐ hòa bình Paris 1973 vả Genève 54, mà Trung Cộng đã bút ký, và không thể dùng quyền phủ quyết được?!. Đây là nhược điểm của Trung Cộng, mà Mỹ cần phải thi hành HĐ Parrs/73, vì đó là giải pháp toàn vẹn nhất để Mỹ phục hồi lai danh dự và uy tín với đồng minh truyền thống làm ăn, buôn bán... với Hoa Kỳ tại Châu ÁTBD, và để Mỹ còn ở lai- ' không bị Trung cộng ' hất chưng Mỹ ra khỏi khu vực Châu Á/TBD
Huỳnh Mai St.8872
Xem tiếp:
THOÁT - " TRUNG...!! "
http://mainguyenhuynh.blogspot.com/2018/09/thoat-trung.html
Đăng ký: Bài đăng (Atom)
- Nhận đường liên kết
- X
- Ứng dụng khác






.jpg)



.gif)













Nguồn: https://baovecovang2012.wordpress.com/2013/03/07/lamortduvn/
CIA Giữ Bí Mật Bắc Việt Đầu Hàng Vô Điều Kiện năm 1973
Xem tiếp: http://mainguyenhuynh.blogspot.com/2017/12/cia-giu-bi-mat-bac-viet-au-hang-vo-ieu.html
Mai Huỳnh Mai St.8872
8 tháng trước - Được chia sẻ công khaiApril 7, 2015 by vivi099 CIA Giữ Bí Mật Bắc Việt Đầu Hàng Vô Điều Kiện năm 1973 CIA ém
nhẹm Bắc Việt tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” năm 1973 . Chiến dịch
Nixon cho ném bom 12 ngày đêm tại Bắc Việt năm 1972 . Được gọi là chiến
dịch Linebacker II là chi...
[Tôi cũng đã nhận được một số thông tin gần đây trong những chuyến đi và thuyết trình, v.v.. của tôi. Tôi đã thực hiện một chương trình truyền hình ở Long Beach, California. Một trong những người liên quan trong chương tình có thời đã phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Ông ta nói với tôi rằng chúng ta đã dội bom tất cả những đường tiếp tế của cộng sản Bắc Việt, chúng ta đã gài mìn những bến cảng của họ, chúng đã bị cắt đứt; và một trong những cộng sự viên của ông lúc bấy giờ đang làm việc tại trung tâm truyền tin ở Sài gòn, và đương nhiên đó là một công tác tối mật. Khi đang ở trong phòng, ông ta nhận được điện tín nầy của Bắc Việt, “Chúng tôi đầu hàng vô điều kiện.” Ông ta chuyển điện tín đó lên cho thượng cấp; và tất cả nhân viên quân sự lập tức bị thuyên chuyển hết và được thay thế bởi nhân viên của Bộ Ngoại Giao. Chẳng bao lâu sau Kissinger đã họp với các viên chức Bắc Việt ở Paris. Tại sao lại xảy ra những chuyện như thế?)
2. Sự thật về Chiến Tranh VN : Đánh nhưng không được thắng – Bruce Herschensohn, Prager University
Dưới đây là nguyên văn Tiếng Anh do Đỉnh Sóng chép ra từ YouTube cùng với phần chuyển ngữ, tất cả dựa theo khả năng hạn chế:
Người Mỹ Cần Phải Lên Tiếng cho "Kẻ Thua Trận"
Suốt 38 năm qua, kể từ khi Mỹ rút quân, chấm dứt chiến tranh VN. Hoa Kỳ giải mã những bí mật chiến tranh khi còn tham chiến VN. Nhưng biến cố lịch sử hàng đầu chiến tranh VN, khi Cộng Sản Bắc Việt Hà Nội "Đầu hàng vô điều kiện Đồng Minh Hoa Kỳ và QL. VNCH"vào đêm giao thừa, cuối năm 1972, đầu xuân 1973. Tại sao, không công bố VC Hà Nội đầu hàng cho cả thế giới yêu chuộng tự do hòa bình và nhân dân cả nước vui mừng tự do, dân chủ, hòa bình Việt Nam.
Để đi sâu vào bí mật, còn tàng ẩn trong chiến tranh VN và đang kéo dài trăn trở mất niền tin của "Của người thua cuộc" Và làm cho " Kẻ thắng cuộc"- Cộng Sản BV vừa hô hào chống Mỹ cứu nước..."Điện Biên Phủ trên không"; vừa run sợ...Hoa Kỳ huỵt toẹt công bố Hà Nội đầu hàng vô điều kiện Hoa Kỳ và dồng minh chiến hữu QL.VNCH...Lòi tẩy sự thật: chiến thắng Miền Nam: "là chiến thắng giùm cho Nga và Tàu", như tuyên bố của ông Lê Duẫn, Cộng sản BV.
Vì sao Mỹ hủy bỏ ý định tấn công nguyên tử VN? (154)
Vào thời kỳ ác liệt của cuộc chiến, Mỹ từng có ý định tấn công hạt nhân đối với Việt Nam. Tuy nhiên sau khi cân nhắc nhiều mặt lợi hại, cuối cùng Mỹ đã bỏ ý định này. Những lý do nào đã ngăn cản Mỹ thực hiện việc hủy bỏ ý đồ đó?
Tổ quốc - Danh dự - Trách nhiệm